1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

31 299 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 427 KB
File đính kèm Tieu luan Chung minh Chung cu (18-6-2014).rar (143 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa về chứng cứ Theo Bộ luật Tố tụng dân sự thì “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì cóthật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa á

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 4

1.1 Lý luận chung về chứng cứ trong tố tụng dân sự 4

1.1.1 Định nghĩa về chứng cứ 4

1.1.2 Đặc điểm của chứng cứ 4

1.1.3 Phân loại chứng cứ 5

1.1.4 Nguồn của chứng cứ 6

1.2 Lý luận chung về chứng minh 6

1.2.1 Khái niệm chứng minh 6

1.2.2 Chủ thể của hoạt động chứng minh 7

1.2.3 Quá trình chứng minh 8

1.2.4 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự 8

1.2.5 Các phương tiện chứng minh trong tố tụng dân sự 9

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH 11

2.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh 11

2.1.1 Nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ 11

2.1.2 Thu thập, giao nộp và bảo vệ chứng cứ 12

2.2 Trách nhiệm của tòa án nhân dân 15

2.2.1 Xác định chứng cứ 15

2.2.2 Thu thập chứng cứ 17

2.2.3 Bảo quản chứng cứ 19

2.2.4 Đánh giá chứng cứ 19

2.2.5 Bảo vệ chứng cứ 20

2.3 Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp chứng cứ 21

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 22

3.1 Thực trạng pháp luật về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 22

3.1.1 Điểm mới 22

3.1.2 Một số bất cập, hạn chế 24

3.2 Thực tiễn xét xử 25

3.3 Một số kiến nghị hoàn thiện 28

KẾT LUẬN 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay nước ta đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp và nền kinh tế đượcchuyển đổi sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhậpvới các nước trên tất cả các lĩnh vực của đồi sống xã hội Điều này tạo ra nhiều cơ hộinhưng cũng đặt ra nhiều thách thức Đòi hỏi hệ thống pháp luật, bao gồm cả luật nộidung và luật tố tụng, cần được hoàn thiện nhằm đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của

xã hội Trong bối cảnh đó, dự đoán số lượng tranh chấp dân sự sẽ ngày càng tăng vớitính chất tranh chấp đa dạng và phức tạp hơn Trước những yêu cầu của thực tiễn đặt ra,nước ta đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật của mình để điềuchỉnh tất cả các mặt của đồi sống xã hội, trong đó có luật tố tụng dân sự

Kế thừa có chọn lọc các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các tranh chấp lao động (1996) và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi,

bổ sung một số điều được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 3năm 2011 đã từng bước thể hiện được tính hoàn thiện và phát triển đúng đắn của ngànhluật này Mặc dù vậy, khi các quan hệ xã hội lại phát sinh và thay đổi một cách nhanhchóng, nên qua một thời gian áp dụng Bộ luật đã dần đã lộ rõ hạn chế, mâu thuẫn Đặcbiệt, trong vấn đề chứng cứ và chứng minh đã có nhiều cách hiểu khác nhau thậm chítrái ngược nhau gây khó khăn trong sử dụng, đánh giá chứng cứ làm ảnh hưởng khôngnhỏ trong việc giải quyết vụ án Trong công tác xét xử ở mỗi Tòa án, Viện kiểm sát,luật sư có cách vận dụng khác nhau, đánh giá về nguồn và xác định chứng cứ vàvấn đề chứng minh còn khác nhau Điều đó đã dẫn đến cùng một vụ án, cùng mộtloại chứng cứ, có chung cơ sở chứng minh mà mỗi Tòa án lại xử một kiểu, mỗiViện kiểm sát, Luật sư có quan điểm, nhìn nhận trái ngược nhau

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, với mong muốn nghiên cứu và làm sáng tỏthêm các lý luận và thực tiễn về chứng minh và chứng cứ trong các vụ việc dân sự, tác giả

chọn đề tài: “Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự” làm tiểu luận

tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản nhất, giúp cho việc nhận thức rõ hơn vềchứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự hiện nay Từ việc nghiên cứu những hạnchế, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn đề xuất những kiến nghị trong việc hoàn thiệncác quy định về chứng cứ

3 Phạm vi nghiên cứu

Với phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận thì không thể trình bày hết tất cả các vấn

đề có liên quan đến đề tài, vì thế bài Tiểu luận chỉ tập trung đề cấp đến một số vấn đề cơ

Trang 3

bản liên quan đến vấn đề chứng cứ và chứng minh trong phạm vi các vụ án dân sự truyềnthống (dân sự và hôn nhân gia đình), từ đó tìm nêu lên một vài kiến nghị của tác giả gópphần hoàn thiện hơn chế định này trong thời gian tới.

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự,người viết nghiên cứu theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và một sốphương pháp cụ thể như:

Chương 1 : Lý luận chung về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Chương 2 : Quy định của bộ luật tố tụng dân sự về chứng cứ và chứng minh

Chương 3 : Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện chế định chứng cứ vàchứng minh trong bộ luật tố tụng dân sự

Qua quá trình nghiên cứu đề tài, người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri

ân sâu sắc đối với các thầy cô của trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là các thầy cô khoaLuật của trường đã truyền đạt những kiến thức quan trọng trong quá trình học tập, làmnền tảng cho việc học tập, rèn luyện cho người viết, giúp người viết bổ sung kiến thứccho bản thân để trong quá trình công tác được thuận lợi Và em cũng xin chân thành cám

ơn cô Thân Thị Ngọc Bích đã nhiệt tình hướng dẫn hướng dẫn người viết hoàn thành tốttiểu luận của mình Trong quá trình làm tiểu luận khó tránh khỏi sai sót, rất mong cácThầy, Cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạnchế nên bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiếnđóng góp Thầy, Cô

Người viết xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Lý luận chung về chứng cứ trong tố tụng dân sự

1.1.1 Định nghĩa về chứng cứ

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự thì “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì cóthật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa

án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn

cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp haykhông cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”

Do vậy, nếu đương sự muốn chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình

bị xâm hại, phải cung cấp cho Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩmquyền những chứng cứ mà Bộ luật Tố tụng dân sự coi đó là một trong các nguồn củachứng cứ Để làm rõ sự thật khách quan khi thụ lý vụ việc dân sự, Tòa án phải làm sáng

tỏ những tình tiết liên quan đến vụ kiện như: Việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự trên

cơ sở nào? Các đương sự đã cung cấp được các chứng cứ gì? Và có khả năng thu thậpthêm được một số chứng cứ gì khác? Từ đó, Tòa án sẽ tiếp nhận vụ việc và thực hiện tất

cả các biện pháp để nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện, chính xác, đúng đắn các loạinguồn của chứng cứ mà pháp luật có quy định để có cơ sở giải quyết khách quan, đúngđắn vụ việc dân sự

Có thể hiểu chung: chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo đúng quyđịnh của Bộ luật Tố tụng dân sự dùng để làm căn cứ giải quyết đúng đắn vụ án

1.1.2 Đặc điểm của chứng cứ

1.1.2.1 Tính khách quan của chứng cứ

Chứng cứ trước hết là những gì có thật tồn tại khách quan không phụ thuộc vào

ý thức chủ quan của con người Đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng không đượctạo ra chứng cứ, nếu vậy tính khách quan sẽ không còn; do đó không thể coi là chứng cứ.Con người phát hiện tìm kiếm và thu thập chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá

để sử dụng nó

1.1.2.2 Tính liên quan của chứng cứ

Tính liên quan1 trong vụ việc dân sự được hiểu là các tình tiết, sự kiện có liênquan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết

Chứng cứ là những sự kiện, tình tiết, tài liệu tồn tại khách quan và có liên quanđến vụ việc mà Tòa án cần giải quyết Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam quy định cụ thểcác loại nguồn của chứng cứ, tuy nhiên Tòa án phải chọn lọc và đánh giá những gì cóthật liên quan đến vụ việc mà thôi Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp hoặc

1 Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998: "Tính liên quan là sự liên hệ, dính dáng nhau ở một hay một số

Trang 5

gián tiếp Mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ dựa vào đó có thể xác định được ngaynhững tình tiết, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự xem đây là tình tiết, sự kiệnkhông cần phải chứng minh Mối liên hệ gián tiếp là qua khâu trung gian mới tìm đượctình tiết, sự kiện Tuy nhiên, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì cũng phải có mối quan

hệ nội tại, có mối quan hệ nhân quả Từ việc đánh giá rõ tình tiết liên quan, Tòa án

có thể xác định đúng chứng cứ cần sử dụng để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự màkhông để xảy ra trường hợp thừa, hoặc không đầy đủ chứng cứ

1.1.2.3 Tính hợp pháp của chứng cứ

Các tình tiết, sự kiện phải được thu thập, bảo quản, xem xét, đánh giá, nghiêncứu theo thủ tục luật định, có như vậy mới bảo đảm giá trị của chứng cứ Trước hết,chứng cứ phải được pháp luật thừa nhận, các tình tiết, sự kiện chỉ được coi là chứng cứkhi mà pháp luật dân sự quy định nó là một trong các loại nguồn của chứng cứ Vậtchứng phải luôn là vật gốc có tính đặc định, liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giátrị pháp lý, nếu sao chép, tái hiện lại vật chứng thì không được coi là vật chứng Vì vậy:

Tòa án không chỉ thu thập đúng trình tự mà phải bảo quản, giữ gìn, đánh giáchứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện để đảm bảo đúng đắn tính hợp pháp của chứng cứ

Tính hợp pháp của chứng cứ được xác định cụ thể:

- Phải là một trong các nguồn hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định

- Phải từ phương tiện chứng minh hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định

- Phải được giao nộp trong một thời hạn hợp pháp (Bộ luật Tố tụng dân sựđang để trống quy định này)

- Phải được công bố công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

- Phải được thu thập, cung cấp đúng pháp luật tố tụng dân sự

- Các dấu vết, vật chứng là vật chất

Dựa vào hai dạng cơ bản trên mà có các cách gọi khác nhau như: chứng cứ giántiết, chứng cứ thuật lại, chứng cứ gốc, chứng cứ miệng, chứng cứ phủ định, chứng cứkhẳng định, chứng cứ viết ; nhưng dù có gọi như thế nào thì cũng không làm thay đổigiá trị của nó Việc phân loại có giá trị trong việc nghiên cứu và ban hành các quy định

về chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự có hệ thống và minh bạch

- Chứng cứ theo người: Là chứng cứ được rút ra từ lời khai của đương sự, ngườilàm chứng

Trang 6

- Chứng cứ theo vật: Là chứng cứ được rút ra từ những vật như vật chứng, tàiliệu, giấy tờ.

1.1.4 Nguồn của chứng cứ

Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ Tòa án chỉ có thể thu thập cácnguồn chứng cứ để từ đó rút ra các chứng cứ cần thiết để sử dụng vào việc tìm ra sự thật

vụ án và đưa ra quyết định đúng đắn để giải quyết vụ việc dân sự đó

Theo quy định tại điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì nguồn chứng cứđược quy định thì nguồn của chứng cứ bao gồm: “Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìnđược; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giámđịnh; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập quán; kết quả định giá tài sản, thẩmđịnh giá tài sản; các nguồn khác mà pháp luật có quy định”

Với quy định này thì nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự chỉ được quy địnhtrong 8 nguồn chính Ngoài 8 nguồn chứng cứ này Tòa án không được sử dụng thêm bất

cứ nguồn nào khác để thu thập làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự Tại

khoản 9 điều 82 của Bộ luật tố tụng tố tụng quy định: “Các nguồn khác mà pháp luật có quy định” cần được hiểu đây là một quy định dự phòng của pháp luật chứ không phải là

một quy định mở để Tòa án áp dụng trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án

Do vậy, cho đến khi pháp luật có quy định thêm một nguồn chứng cứ nào đó thì Tòa ánchỉ được phép thu thập chứng cứ theo qui định trên

Tuy nhiên, không phải bất cứ tài liệu, dữ kiện nào được thu thập từ các nguồnchứng cứ cũng đều được xem là chứng cứ và được sử dụng vào việc giải quyết vụ án màcác tài liệu, dữ kiện này phải đảm bảo được các thuộc tính cơ bản của chứng cứ, đồngthời phải phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự về xác định chứng cứ

Ví dụ: biên bản ghi lời khai của đương sự là một nguồn chứng cứ nhưng cónhững trường hợp toàn bộ lời khai đó là gian dối, bịa đặt thì lời khai đó không được coi

là chứng cứ của vụ án

Với những quy định về chứng cứ, nguồn chứng cứ và xác định chứng cứ trong

Bộ luật tố tụng dân sự cho thấy vai trò rất quan trọng trong việc tìm ra sự thật kháchquan của vụ án và để xác định chứng cứ nào là có thật giúp cho việc giải quyết đúng đắn

vụ việc dân sự đòi hỏi người Thẩm phán phải có trình độ nghiệp vụ, kiến thức xã hội vàkhả năng nhạy bén trong quá trình xác định, thu thập chứng cứ

1.2 Lý luận chung về chứng minh

1.2.1 Khái niệm chứng minh

Chứng minh dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trong đờithường nhằm “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ hoặc dùngsuy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng”2 Trong thế giới khách quan luôn tồn tại

Trang 7

nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá Ở mỗi

sự vật, hiện tượng lại có nhiều đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biếtmột cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan, nhưng thực tiễn cũng tồn tại nhữngđặc tính không thể nhận biết ngay mà phải trải qua một quá trình tư duy, giải thích, mócnối các sự kiện để đi đến được kết luận và việc đầu tiên là phải đưa ra những giả thuvết

để định hướng tư duy, sau đó tổng hợp các sự kiện khách quan để có thể đi đến kết luậncuối cùng Quá trình giải quyết giả thuyết bằng cách tư duy, logic các sự kiện đó chính làchứng minh

Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động, nhưng khôngphải là hoạt động trong đời thường mà là hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụngchứng cứ với mục đích tái hiện lại trước Tòa án vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứmột cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể có, qua đó, Tòa án có thể khẳng định có haykhông có các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của cácbên đương sự trong vụ, việc dân sự

1.2.2 Chủ thể của hoạt động chứng minh

Chủ thể chứng minh là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tham giavào hoạt động chứng minh nhằm xác định có hay không có những sự kiện, tình tiết làm

cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ việc dân sự Các chủ thểchứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm: Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người cóquyền lợi và nghĩa vụ liên quan), người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của đương sự; các cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền vàlợi ích của người khác Trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia tố tụng theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng dân sự thì Viện kiểm sát cũng trở thành chủ thể chứng minh

Quyền chứng minh là khả năng của các chủ thể chứng minh, bằng hành vi tốtụng của mình tham gia vào hoạt động chứng minh Việc thực hiện quyền chứng minh docác chủ thể chứng minh quyết định Ngược lại, nghĩa vụ chứng minh bao gồm nhữnghành vi tố tụng nhất định trong hoạt động chứng minh mà các chủ thể chứng minh bắtbuộc phải tiến hành hoặc không được tiến hành theo quy định của pháp luật Trongtrường hợp nghĩa vụ chứng minh bị vi phạm, chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậuquả pháp lý bất lợi

Chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ chứng minh, tham gia vào hoạt độngchứng minh, tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể chứng minh đều có quyền, nghĩa vụchứng minh như nhau Tùy thuộc vào vai trò, địa vị tố tụng của các chủ thể và ở từnggiai đoạn tố tụng cụ thể mà có quyền, nghĩa vụ tham gia vào quá trình chứng minh các sựkiện, tình tiết của vụ việc ở những phạm vi và mức độ khác nhau Ví dụ, quyền, nghĩa vụchứng minh của đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của Tòa án; quyền, nghĩa vụchứng minh của người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

Trang 8

đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát

1.2.3 Quá trình chứng minh

Chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Nhưhoạt động cung cấp, thu thập, xác định, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại Tòa án.Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể phải thực hiện đúng quyền vànghĩa vụ của mình mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trong quá trình tố tụng Kết quảgiải quyết vụ việc dân sự phụ thuộc phần lớn vào việc chứng minh; vì vậy, trong quátrình này đòi hỏi phải thận trọng, tỉ mỉ và có đủ thời gian để đạt kết quả tốt nhất

Theo quy định tại Điều 165, 175 Bộ luật Tố tụng dân sự thì ngay khi khởi kiện,đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh bằng việc nguyên đơn gửi kèmtheo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình; bịđơn, người có nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phải gửi choTòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ kèm theo Trong quátrình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng

cứ cho Tòa án (Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tại phiên tòa, các bên đương sự thamgia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình, thời gian tranh luận của họkhông hạn chế (Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự) Khi có kháng cáo, người kháng cáophải gửi cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho khángcáo của mình là có căn cứ và hợp pháp (khoản 3 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự)

1.2.4 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức quan trọng,

do đó khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải xác định được tất cả các tình tiết, sựkiện liên quan, những tình tiết này là đối tượng chứng minh trong vụ việc dân sự

Đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết sự kiện liên quan đến vụviệc dân sự, dùng nó làm cơ sở giải quyết vụ kiện dân sự

Các quan hệ cần giải quyết trong các vụ việc dân sự rất đa dạng nên các tìnhtiết, sự kiện cần phải xác định trong các vụ việc dân sự cụ thể rất phong phú Do vậy,trong quá trình giải quyết, việc xác định những tình tiết, sự kiện nào cần phải chứngminh Để xác định được đối tượng chứng minh của mỗi vụ việc dân sự, Tòa án phảidựa vào yêu cầu hay phản đối của đương sự Đương sự dựa vào tình tiết, sự kiện nào

để có yêu cầu, hay phản đối yêu cầu Nói tóm lại, đối tượng chứng minh bao gồmnhững tình tiết, sự kiện khẳng định của bên có yêu cầu và tình tiết, sự kiện có tính phủđịnh của bên phản lại yêu cầu liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định trong việc giảiquyết vụ việc dân sự

Để giải quyết đúng được các vụ việc dân sự theo quy định tại khoản 1, 2Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự phải đưa ra các chứng cứ để chứng minhcho yêu cầu đó là hợp pháp Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với

Trang 9

mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứngminh Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nướchoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải đưa rachứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợppháp Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại Điều 80 về những tình tiết, sự kiện cótính rõ ràng thì không phải chứng minh như: tình tiết sự kiện mọi người đều biết;những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơquan nhà nước có thẩm quyền; những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bảnđược công chứng, chứng thực hợp pháp Đối với những tình tiết, sự kiện mọi ngườiđều biết thì không phải chứng minh Tuy nhiên, tất cả các tình tiết, sự kiện không phảichứng minh phải được Tòa án thừa nhận Do đó, khi giải quyết các vụ việc dân sự,trách nhiệm của Tòa án phải xem xét từng tình tiết, sự kiện trong các trường hợp cụ thể

và trên cơ sở yêu cầu phải công khai, minh bạch trong các hoạt động xét xử mà đồng ý,thừa nhận hay không về các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh Ví dụ, sự thừanhận của đương sự phía bên này đối với các chứng cứ mà đương sự phía bên kia cóyêu cầu đưa ra xem như có giá trị miễn nghĩa vụ chứng minh đối với bên có yêu cầu.Một trong vấn đề thuộc bản chất của chứng minh là làm cho đương sự bên kia thấyđược sự tồn tại của tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự để họ thừa nhậnhay không thừa nhận

1.2.5 Các phương tiện chứng minh trong tố tụng dân sự

Để làm rõ những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thì các chủ thể chứng minhphải sử dụng những công cụ nhất định do pháp luật quy định như lời khai của đương sự,lời khai của người làm chứng, kết luận của người giám định… Những công cụ này đượcgọi là phương tiện chứng minh

Phương tiện chứng minh là những công cụ được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thông qua các chủ thể chứng minh thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh trong các vụ việc dân sự rất đadạng đã dẫn đến sự đa dạng các phương tiện chứng minh được sử dụng để làm rõ các vấn

đề của vụ việc dân sự Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội và thành tựu của lậppháp, các phương tiện chứng minh được thừa nhận sử dụng làm rõ các tình tiết, sựkiện của vụ việc dân sự ngày càng nhiều, càng phong phú

Mỗi vụ việc dân sự có đối tượng chứng minh riêng Việc sử dụng phương tiệnchứng minh nào trong mỗi vụ việc dân sự là tùy thuộc vào những tình tiết, sự kiện thuộcđối tượng chứng minh của vụ việc dân sự cần giải quyết Thông thường, mỗi phương tiệnchỉ có thể làm rõ một số tình tiết, sự kiện nhất định Trong khi đó, các tình tiết, sự kiệnchứng minh trong mỗi vụ việc dân sự rất đa dạng Do vậy, trong mỗi trường hợp cụ thể

Trang 10

các chủ thể chứng minh có thể phải sử dụng một hoặc nhiều phương tiện chứng minh

Hoạt động chứng minh có tính chất quyết định kết quả giải quyết vụ việc dân sự

Để đảm bảo việc phải giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, pháp luật quy định nhữngphương tiện chứng minh cụ thể mà các chủ thể chứng minh được sử dụng Các chủ thểchứng minh chỉ được sử dụng các phương tiện chứng minh do pháp luật quy định màkhông thể sử dụng bất kỳ phương tiện nào khác để chứng minh Đồng thời, đối vớimỗi phương tiện cụ thể cũng chỉ được sử dụng để chứng minh khi đáp ứng đượcnhững điều kiện nhất định do pháp luật quy định Chẳng hạn, các tài liệu đọc được phải

là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan nhànước có thẩm quyền cung cấp; các tài liệu nghe được, nhìn được phải có văn bảnxác nhận xuất xứ của nó; các vật chứng phải là hiện vật gốc có liên quan đến vụ việcdân sự; lời khai của đương sự, người làm chứng của pháp luật… Tuy vậy, trong Bộ luật

tố tụng dân sự chưa có quy định về các phương tiện chứng minh mà các chủ thể được sửdụng để làm rõ vấn đề của vụ việc dân sự

Trang 11

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH 2.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh

2.1.1 Nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ

Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự đã khẳng định quyền quyết định và tự định đoạtcủa đương sự Tại Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự lại quy định về việc cung cấp chứng cứ

và chứng minh trong tố tụng dân sự, trong đó nêu:

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứngminh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởikiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụcung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự

Vậy, vì sao pháp luật tố tụng dân sự lại đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đươngsự? Sở dĩ như vậy do: ở quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tựquyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được thì họcũng tự quyết định có yêu cầu Nhà nước hỗ trợ hay không? Mặt khác, các bên đương sự

là người hiểu rõ vụ việc của mình nhất, thường biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụviệc của mình có những gì, còn hay không còn, đúng hay không đúng và đang ở đâu Do

đó, khi các bên đưa tranh chấp của họ ra Tòa án, thì tòa án là trọng tài giúp các bên giảiquyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật, chứ tòa án không thể làm thay,chứng minh cho đương sự với những yêu cầu của họ Thời gian qua, trong một số vụ ánđương sự không hiểu về nghĩa vụ của mình về việc tự chứng minh nên đã không hợp tácvới Tòa án, gây ảnh hưởng và cản trở cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự Có ngườikhông đến tòa khi tòa triệu tập để lấy lời khai, không tham gia vào buổi định giá, hòagiải, đối chất, không cho tòa xem xét đối tượng tranh chấp

Ví dụ: Vụ án đòi nợ tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - Hà Nội Nguyên đơn

là anh Nguyễn Văn Lan thường trú tại thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh Bị đơn là bàHoàng Thị Hải trú tại Nam Hồng - Đông Anh - Hà Nội Sự việc bà Hải ký vay nợ20.000.000đ và mua anh Lan chiếc xe máy; anh Lan đã làm đơn khởi kiện, Tòa án nhândân huyện Đông Anh thụ lý giải quyết, Tòa án làm giấy triệu tập lần đầu bà Hải có mặt

và phản đối giấy vay nợ trong việc mua xe, và bảo xe đang đi không phải của anh Lan vàkhẳng định không phải chữ ký của bà Tòa án nhân dân huyện đã làm giấy triệu tập rấtnhiều lần nhưng bà Hải đều vắng mặt không có lý do: Vì vậy, việc lấy lời khai, hòa giải

và đối chất đều không thực hiện được Lý do bà Hải đưa ra là Tòa án phải có nhiệm vụchứng minh chữ ký của bà và chứng minh xe máy của anh Lan (xe máy không phảichính chủ của anh Lan mà của người khác anh Lan đã mua chỉ viết giấy trao tay) Hiệnnay, bà Hải đã tẩu tán chiếc xe máy Anh Lan đã đề nghị Tòa áp dụng biện pháp khẩn

Trang 12

cấp tạm thời, nhưng đối tượng vật - chiếc xe đã không còn Anh Lan đề nghị giám địnhchữ ký của bà Hải tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an nhưng bà Hải không cho lấymẫu chữ ký Vụ án từ khi khởi kiện đến nay vẫn trong vòng bế tắc.

Tòa án muốn căn cứ vào các chứng cứ bên kia cung cấp và các tài liệu đã thuthập được để xét xử trong một số vụ án cụ thể là không khả thi Có quan điểm cho rằng,nếu đương sự không cho xem xét, định giá, giám định thì cần có biện pháp cưỡng chếđối với bên không hợp tác với tòa án, để bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ được đầy

đủ và việc xử lý đúng đắn Đối với vấn đề này, pháp luật đã dành cho đương sự quyềnlựa chọn phương án hành động có lợi (đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu củamình hay phản đối yêu cầu của người khác) hoặc phương án hành động bất lợi cho mình(không cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình ) thì họ phải gánh chịuhậu quả tương ứng với phương án mà đương sự tự định đoạt, tự lựa chọn là quy định hợp

lý cả về quy phạm pháp luật và cả về thực tiễn xét xử Có như vậy mới là biện pháp tácđộng đến hành vi ứng xử của công dân phải sống theo hiến pháp và pháp luật mà khôngcần sử dụng đến biện pháp mạnh là cưỡng chế

Bởi vậy, việc quy định đương sự phải chịu hậu quả về việc chứng minh củamình vừa bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự vừa nâng cao trách nhiệm chođương sự

2.1.2 Thu thập, giao nộp và bảo vệ chứng cứ

Xuất phát từ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ chotòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình (Điều 06, Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự đãquy định quyền và nghĩa vụ trong việc giao nộp chứng cứ cho Tòa án Do đó, nếu bất kỳđương sự nào đang quản lý chứng cứ mà không giao nộp cho Tòa án hoặc không nộpđầy đủ chứng cứ cho tòa án thì cũng phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộpkhông đầy đủ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Giao nộp chứng cứ chỉ là mộthành vi cụ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêucầu của đương sự Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ liên quan đến bímật Nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư mà pháp luật quy định đương sự không

có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thì việc họ không giao nộp không được coi là căn cứ đểxét xử bất lợi cho họ Trong trường hợp này, dù đương sự không có nghĩa vụ giao nộpchứng cứ cho tòa án Do vậy không lưu trong hồ sơ chứng cứ này, các đương sự kháckhông được biết cụ thể chứng cứ này nhưng để việc xét xử đúng đắn phải cho thẩm phánxét xử vụ án biết được nội dung của chứng cứ đó

Trước đây, pháp luật không có quy định cụ thể việc thu thập chứng cứ, nên khiđương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ cho tòa án, các thẩm phán đưavào trong hồ sơ và không thể hiện rõ tài liệu hồ sơ đó từ đâu đến; do ai thu thập, do ainộp Từ đó mà đã gây khó khăn cho việc sử dụng, đánh giá các tài liệu đó, có tài liệu đã

Trang 13

bị thất lạc mà không biết Chính vì vậy tại khoản 2 Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự đãquy định rõ trách nhiệm của Tòa án khi tiếp nhận chứng cứ; khi đương sự giao nộpchứng cứ Tòa án phải lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Trong biên bản phải ghi

rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ, số bản, số hàng của tài liệu chứađựng chứng cứ, thời gian nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp; ký nhận vàđóng dấu của Tòa án Biên bản phải lập thành 02 bản, một bản giao cho đương sự, mộtbản lưu giữ trong hồ sơ vụ việc dân sự Sở dĩ việc giao nộp chứng cứ phải làm theo đủthủ tục nêu trên là nhằm không bị đánh tráo, giả mạo, sửa chữa, thất lạc hoặc hành vi thủtiêu chứng cớ Đồng thời, nó đảm bảo giá trị pháp lý trong quá trình sử dụng Thực tế,

do thói quen áp dụng pháp luật cũ trước đây, trong một số vụ án cụ thể Tòa án đã quênviết biên bản giao nộp chứng cứ, còn yêu cầu đương sự đã cung cấp chứng cứ gốc, giả sửchẳng may Hồ sơ án bị mất cắp, bị hỏa hoạn thì quyền của đương sự coi như mất hết, ví

dụ như tài liệu đất đai có giá trị tranh chấp rất lớn thì gây tổn thất cho đương sự là quálớn, tòa không có cách khắc phục được Chính vì vậy, tòa phải có nhiệm vụ làm biênbản; nên chỉ yêu cầu đương sự nộp bản phô tô, hoặc công chứng khi cần tòa yêu cầuđương sự cung cấp lại bản gốc Có như vậy mới đảm bảo chắc chắn nhất để bảo vệchứng cứ Đương sự phải tìm hiểu để biết được một số quy định pháp luật để bảo vệquyền và lợi ích của chính bản thân mình đồng thời góp phần bảo vệ pháp luật

Trong quá trình thu thập chứng cứ để giao nộp cho tòa mà đương sự không thể

tự mình thu thập được; đương sự phải có văn bản đề nghị tòa án thu thập Điều 94 Bộluật Tố tụng dân sự quy định về yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ:

Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thậpchứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hànhthu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn

Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn

đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được;

họ, tên, địa chỉ của cá nhân và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng

cứ cần thu thập

Ví dụ: Nếu biết bị đơn có hành vi tẩu tán tài sản tranh chấp trong vụ án thìnguyên đơn có thể yêu cầu với tòa án; nhưng nguyên đơn phải chứng minh bị đơn cóhành vi tẩu tán tài sản đó Nhưng thực tế cụ thể có trường hợp lại mang tính hình thức

Ví dụ trong vụ án ly hôn: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Kiều Nga, sinh năm 1962 - bịđơn anh Văn Đức Hoàng, sinh năm 1965 trú tại Quỳnh Dị, Quỳnh Lưu, Nghệ An Tàisản, con cái, tình cảm, nợ, cho nợ là những vấn đề quan tâm để đưa ra giải quyết ChịNga là nạn nhân của bạo hành trong gia đình (vũ lực và tinh thần) lấy nhau có hai conVăn Thu Hiền, sinh năm 1989, và Văn Thị Anh Dương, sinh năm 2003; khi sinh con gái

út anh Hoàng thường xuyên đánh đập vợ, bài bạc, rượu chè, trai gái Tài sản vợ chồng từ

Trang 14

bàn tay trắng khi lấy nhau sau đó đã khấm khá Thấy cảnh chồng đánh đập, dùng tài sảntích lũy đánh bạc Chị Nga làm đơn xin ly hôn, được Tòa án nhân dân Quỳnh Lưu thụ lý;biết vợ nộp đơn ly hôn anh Hoàng đuổi vợ và con đi khỏi nhà, chị Nga phải đi nếu không

bị đánh đập

Trong thời gian chị Nga nộp đơn xin ly hôn đến khi đưa ra xét xử gần 05 tháng;thời gian này chị Nga đã làm đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biêntài sản Nhưng chị Nga không chứng minh được, Tòa án hướng dẫn chị Nga về nhờCông an xã giải quyết, nhưng công an xã đến lại bảo chỉ xử lý về an ninh còn kê biên tàisản không có thẩm quyền Khi vụ án đưa ra xét xử tài sản trong nhà anh Hoàng đã tẩután gần hết (bởi trong các lần hòa giải, lấy lời khai anh Hoàng không thừa nhận) Đây làmột thực tế tồn tại đã gây thiệt hại cho nguyên đơn Nên chăng, nếu việc tranh chấp tạiđịa phương ở cách xa Tòa án, đương sự yêu cầu Tòa án bằng việc có công văn để tránhviệc tẩu tán vật tranh chấp trong vụ kiện dân sự? thực tế xét xử còn nhiều vấn đề cầnbàn

Trong vụ kiện dân sự, việc cung cấp chứng cứ giữa các đương sự hoàn toàn bìnhđẳng với nhau, bình đẳng ở đây được hiểu là:

Thứ nhất: Pháp luật tố tụng dân sự tạo các cơ hội như nhau cho các đương sự để

các chứng cứ của các đương sự được đến với Tòa án Thẩm phán hoặc bất kỳ cá nhân, cơquan nào cũng không được cản trở các đương sự cung cấp chứng cứ hoặc không thunhận các chứng cứ do các đương sự cung cấp dưới bất kỳ hình thức nào Các đương sự

có quyền đưa ra mọi chứng cứ theo ý chí của họ

Thứ hai: Tất cả các hoạt động của Tòa án phải nhằm tạo điều kiện cho đương sự

bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình Đương sự phải được hướng dẫn, giải thích từ phíaTòa án để biết các quy định pháp luật liên quan

Khi làm đơn khởi kiện, việc cung cấp chứng cứ kèm theo là nghĩa vụ của nguyênđơn Trước hết, nguyên đơn phải tự mình thu thập (hoặc đã có chứng cứ trong tay), chưa

có mà không thể tự mình thu thập được thì trình báo cho Tòa án, phải có đơn đề nghịTòa thu thập Nguyên đơn phải xác định rõ nếu không cung cấp được, không thu thậpđược hoặc có chứng cứ không đầy đủ thì có thể bị bác bỏ quyền yêu cầu

Về phía bị đơn, là người bị kiện, có quyền cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyềnlợi của mình trước tòa

Phía bị đơn trong thực tế có thể nắm giữ một số tài sản, tài liệu là đối tượngtranh chấp, cần hợp tác với Tòa án để giải quyết đúng đắn vụ án Bị đơn có quyền bác

bỏ, chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn nhưng phải chứng minh được

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, họ có nghĩa vụ thu thập, cung cấp,bảo vệ chứng cứ để giao nộp cho tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình Ví dụNgười có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu là đối tượng tranh chấp không thuộc sở

Trang 15

hữu của nguyên đơn hay bị đơn thì họ phải chứng minh, trong trường hợp này thì quyền,nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của họ cũng giống như quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn đểchứng minh cho yêu cầu của mình Hoặc họ không có yêu cầu độc lập, nếu đứng về mộttrong hai phía bị đơn, hay nguyên đơn thì họ cung cấp chứng cứ để làm sáng tỏ cho vụán.

Đương sự có quyền được dùng mọi biện pháp chứng minh, có quyền đề xuất vàxuất trình chứng cứ trong bất cứ giai đoạn nào Đó có thể là giấy tờ, tài liệu liên quanđến vụ kiện và các vật chứa đựng chứng cứ phải được trực tiếp giao nộp cho tòa án.Trong quá trình cung cấp chứng cứ, đương sự có quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biệnpháp cần thiết như xem xét tại chỗ, trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan cung cấp tàiliệu cần thiết, lấy lời khai, triệu tập thêm nhân chứng, đối chất để thu thập thêm chứng

cứ, xác minh cho lời khai và những chứng cứ của mình hoặc để xác định lại giá trị chứngminh của chứng cứ mà phía bên kia cung cấp

2.2 Trách nhiệm của tòa án nhân dân

2.2.1 Xác định chứng cứ

Căn cứ quy định tại Điều 81 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chứng cứ là phải đượcđương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thuthập theo trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định; do đó, việc giao nộp chứng

cứ và việc thu thập chứng cứ phải được thực hiện theo đúng quy định tại các điều luậttương ứng của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn (Nghị quyết 04 )

Giai đoạn chuẩn bị xét xử là giai đoạn chuẩn bị chứng cứ để giúp tòa án có cơ sởgiải quyết đúng đắn vụ kiện Đây là giai đoạn tòa án kiểm tra lại toàn bộ các chứng cứcủa vụ kiện đã có Tại Điều 83 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định và Nghị quyết 04/2012-NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một sốquy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về "chứng minh và chứng cứ" như sau:

Các tài liệu đọc được nội dung phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng,chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thầm quyền cung cấp, xác nhận Bảnchính có thể là bản gốc hoặc bản sao được dùng làm cơ sở lập ra các bản sao

Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp về thừa kế: bản di chúc phải là bản gốc, bản côngchứng nếu đương sự xuất trình bản phô tô coi như không có căn cứ để chia thừa kế theo

di chúc

Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xácnhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thuhình đó Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình,phim, ảnh Nếu đương sự không xuất trình được các văn bản nêu trên, thì tài liệunghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp cho tòa không được coi là chứng cứ Quyđịnh này để tránh xảy ra việc cắt, chụp, sao chép, ghép hình giả dối

Ngày đăng: 04/03/2019, 17:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Ngọc Thỉnh, Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, Tập chí luật học, đặc san góp ý dự dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
2. Hội đồng phối hợp phổ biến - giáo dục pháp luật Trung ương, Pháp luật về tố tụng dân sự, đặc san tuyên truyền pháp luật số: 04/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về tố tụngdân sự
3. Lê Đình Nghị, Giáo trình luật đân sự Việt Nam, Nxb giáo dục Việt Nam, 2009, tập 2 4. Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, khoa luật trường Đại học CầnThơ, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật đân sự Việt Nam", Nxb giáo dục Việt Nam, 2009, tập 24. Nguyễn Ngọc Điện, "Giáo trình luật dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
5. Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định về “chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chứng minh và chứng cứ
6. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, tr.164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb."Công an nhân dân
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb."Công an nhân dân"
Năm: 2010
7. Trương Thanh Hùng, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Trường Đại học Cần Thơ, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng dân sự
8. Ts Nguyễn Thị Việt Hương, Giá trị của luật tục từ góc nhìn pháp lý, Viện nhà nước và pháp luật – Viện khoa học xã hội Việt Nam Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của luật tục từ góc nhìn pháp lý
2. Tòa án nhân dân tối cao, Thống kê số lượng án, http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/5901712 [truy cập ngày 19/4/2014] Link
6. Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011). Sách báo và tạp chí Khác
3. Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w