Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đã bộc lộ những thiếu sót cần được sữa đổi, bổ sung nhằm tạo ra
Trang 1Cần Thơ, 11/2014
KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
Đề tài: HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ – TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Thân Thị Ngọc Bích Nguyễn Thị Thanh Kiều
Bộ môn: Luật Tư Pháp MSSV: S120036 Lớp: Luật B2 Đồng Tháp K38
Trang 2Người viết kính chúc quý Thầy Cô có nhiều sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống và công tác giảng dậy
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
- -
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần thơ, ngày… tháng… năm… Giáo viên hướng dẫn
THÂN THỊ NGỌC BÍCH
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
- -
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần thơ, ngày… tháng… năm…
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài Error! Bookmark not defined
5 Bố cục của đề tài Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP
CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰError! Bookmark not defined
1.1 Khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined
1.1.1 Khái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự Error! Bookmark not defined
1.1.2 Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sựError! Bookmark not defined
1.2 Chủ thể thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Error! Bookmark not defined
1.1.1 Đương sự Error! Bookmark not defined
1.1.2 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sựError! Bookmark not defined
1.1.3 Người đại diện Error! Bookmark not defined
1.1.4 Tòa án nhân dân Error! Bookmark not defined
1.1.5 Viện kiểm sát nhân dân Error! Bookmark not defined
1.3 Nguyên tắc cơ bản trong thu thập chứng cứ Error! Bookmark not defined
1.3.1 Nguyên tắc cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sựError! Bookmark not defined
1.3.2 Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền Error! Bookmark not defined
1.4 Vai trò thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sựError! Bookmark not defined
1.5 Phân loại cách thức thu thập chứng cứ của Tòa án Error! Bookmark not defined
1.5.1 Tòa án gián tiếp thu thập chứng cứ Error! Bookmark not defined
1.5.2 Tòa án chủ động thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sựError! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂNError! Bookmark not defined 2.1 Tòa án chủ động tiến hành thu thập chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.1.1 Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng Error! Bookmark not defined
2.1.2 Đối chất giữa đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứngError! Bookmark not defined 2.1.3 Xem xét, thẩm định tại chổ Error! Bookmark not defined
2.1.4 Trưng cầu giám định Error! Bookmark not defined
2.1.5 Định giá, thẩm định giá tài sản Error! Bookmark not defined
2.1.6 Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.1.7 yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được,
nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sựError! Bookmark not defined 2.2 Trình tự, thủ tục Tòa án tiếp nhận chứng cứ do chủ thể khác cung cấpError! Bookmark not defined 2.2.1 Tòa án tiếp nhận chứng cứ từ đương sự Error! Bookmark not defined
Trang 62.2.2 Tòa án tiếp nhận chứng cứ từ Viện kiểm sát Error! Bookmark not defined
2.2.3 Tòa án tiếp nhận chứng cứ từ chủ thể khác Error! Bookmark not defined
2.3 Một số quy định liên quan Error! Bookmark not defined
2.3.1 Hoạt động bảo quản chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.3.2 Hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.3.3 Hoạt động sử dụng chứng cứ Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG BỘ LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG
THÁP – GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN Error! Bookmark not defined
3.1 Thực tiễn về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giải quyết vụ việc dân
sự tại Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp Error! Bookmark not defined
3.1.1 Thuận lợi Error! Bookmark not defined
3.1.2 Khó khăn Error! Bookmark not defined
3.2 Nguyên nhân của một số bất cập trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án Error! Bookmark not defined
3.2.1 Bất cập về thời hạn xuất trình chứng cứ Error! Bookmark not defined
3.2.2 Bất cập về đảm bảo sự phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc
cung cấp chứng cứ cho Tòa án Error! Bookmark not defined
3.2.3 Bất cập mở rộng tranh tụng tại phiên tòa Error! Bookmark not defined
3.2.4 Bất cập về nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập
chứng cứ Error! Bookmark not defined
3.2.5 Bất cập về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong trường hợp
Thẩm phán đã tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ nhưng thuộc trường
hợp phải từ chối, thay đổi Error! Bookmark not defined
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động thu
thập chứng cứ của Tòa án giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân huyện
Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp Error! Bookmark not defined
3.3.1 Kiến nghị về bổ sung quy định về thời hạn xuất trình chứng cứError! Bookmark not defined 3.3.2 Kiến nghị về cần bổ sung thêm trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức
trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án Error! Bookmark not defined
3.3.3 Kiến nghị về mở rộng tranh tụng tại phiên tòa Error! Bookmark not defined
3.3.4 Kiến nghị về nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập
chứng cứ Error! Bookmark not defined
3.3.5 Kiến nghị về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong trường hợp
Thẩm phán đã tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ nhưng thuộc trường
hợp phải từ chối, thay đổi Error! Bookmark not defined
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, pháp luật tố tụng là một nhu cầu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trinh giải quyết vụ việc dân sự đang ngày gia tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp của từng loại vụ việc Thu thập chứng cứ là hoạt động đặc biệt quan trọng của Tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ đầy đủ sẽ là cơ sở
để có kết luận khách quan về toàn diện các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, căn cứ vào
đó Tòa án có thể ra những bản án, quyết định đúng đắn phù hợp với hiện thực khách quan của vụ việc dân sự xảy ra trên thực tế Qua đó quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm
Theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự 2004 nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương
sự Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong trường hợp đượng sự không tự mình tiến hành thu thập chứng cứ được và có đơn yêu cầu Tòa án Điều này đã giảm tải cho Tòa án các công việc phải tiến hành khi giải quyết vụ việc dân sự, trả lại đúng bản chất dân sự và đảm bảo quyền định đoạt cho đương sự khi quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương
sự Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đã bộc lộ những thiếu sót cần được sữa đổi, bổ sung nhằm tạo ra sự chủ động hơn cho Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ việc dân sự (điều kiện
để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ) và hoàn thiện các biện pháp thu thập chứng cứ để áp dụng hiệu quả hơn trên thực tế, bổ sung thêm các biện pháp thu thập chứng cứ Trong khi
đó, Luật sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự 2011 đã có những sữa đổi,
bổ sung quan trọng khi quy định các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, về điều kiện Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ và kịp thời bổ sung thêm những biện pháp thu thập chứng cứ mới Điều này đã đem lại những hiệu quả nhất định trong hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, hỗ trợ các đương sự trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, với những đòi hỏi trong hoạt động thực tiễn thì sữa đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tồn tại những điểm hạn chế trong các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, khiến cho các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án không đạt hiệu quả như mong muốn
Từ những thực trạng trên, người viết đã nghiên cứu đề tài: “Hoạt động thu thập chứng
cứ trong Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”
làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình Qua đề tài này người viết mong muốn tìm
Trang 9hiểu và làm rõ hơn về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, để tìm ra những bất cập và vướng mắc của Tòa án trong hoạt động thu thập chứng cứ, những khó khăn của đương sự khi yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ Từ đó, đưa ra những kiến nghị hoàn thiên pháp luật tố tụng dân sự sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án
có liên quan đến tố tụng dân sự Trên cơ sở đó đề ra giải pháp cơ bản nhằm làm hoàn thiện hơn hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự tại Tòa án
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, người viết cũng phân tích các quy định của pháp luật nhằm hiểu rõ hơn về các quy định đó Từ đó, người viết nhận thức được vấn đề thu thập chứng cứ của Tòa án đồng thời người viết chỉ ra những điểm thiếu sót và chưa hợp lý của luật nhằm đề ra những kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự
về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giải quyết vụ việc dân sự
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và một số phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê…để làm rõ thêm cho
đề tài nghiên cứu của mình
Trang 10Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân
Chương 3: Thực tiễn thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – giải pháp hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA
TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án mà cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết các vụ án phải dựa vào các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình cũng như Tòa án thu thập để làm căn cứ xác định chấp nhận hay phản bác ý kiến, yêu cầu của đương
sự Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể Việc đương sự tự mình thu thập, cung cấp chứng cứ cho Tòa án là chứng mình các chứng cứ đó là có căn cứ và hợp pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, việc các quy định của pháp luật vẫn còn hạn chế và thực tiễn áp dụng cũng vấp phải một số khó khăn nhất định Việc nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng nói chung và hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tung dân sự nói riêng là rất quan trọng và cấn thiết trong giai đoạn hiện nay Dưới đây là một
số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm làm cơ sở trong quá trình nghiên cứu
1.1 Khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự
Chứng cứ là một trong những vấn đề quan trọng trong tố tụng dân sự Có thể nói, chứng cứ là những sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ việc dân sự, nó tồn tại với muôn màu, muôn vẻ Có thể tồn tại ở dạng phi vật chất, liên quan đến các tình tiết của vụ án được phản ánh vào ý thức của con người hoặc ở dạng vật chất như những dấu vết mà người ta có thể cảm nhận bằng các giác quan của con người
Về cơ sở lý luận: Quan điểm vật chất sinh ra không bao giờ mất đi, mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác và mọi sự vật hiện tượng có mối liên hệ phổ biến Từ đó các
sự kiện hiện vật được coi là chứng cứ, cũng là một dạng vật chất, nó phản ánh vào đầu óc con người và lưu lại trong đầu óc trí nhớ
Có nhiều quan điểm khái niệm về chứng cứ của một số nước trên thế giới như: Bộ luât
tố tụng dân sự Liên Bang Nga có quy định: “Chứng cứ trong tố tụng dân sự là những sự thật khách quan mà theo đó Tòa án có cơ sở để giải quyết các vụ án dân sự”1
hay trong Bộ luật tố tụng dân sự của Nhật Bản khái niệm: “Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó là tình tiết được
1 Luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga 2005, Ts Bùi Ngọc Khánh, Tr.178
Trang 12pháp luật công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết nhất định tồn tại hay không”2
Bên cạnh đó, ở Việt Nam khái niệm chứng cứ được Bộ Luật tố tụng dân sự xây dựng trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khoa học về chứng cứ ở các nước, xuất phát
từ thực tế khách quan của chứng cứ không lệ thuộc vào ý thức con người, mỗi chứng cứ đều
có nguồn gốc dẫn đến sự hình thành nên chứng cứ Từ đó, Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam
có khái niệm về chứng cứ được quy định tại Điều 81 của Bộ luật tố tụng 2004 như sau:
“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự thủ tục
do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”
1.1.2 Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
Theo Từ điển Tiếng Việt, thu thập là “góp nhặt và tập hợp lại”3 Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ là việc phát hiện, lựa chọn và tập hợp chứng cứ đưa vào hồ sơ vụ án để Tòa án nghiên cứu, đánh giá, sử dụng phục vụ cho việc giải quyết vụ án dân sự một cách đúng đắn4
và theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 6 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004
thì “Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật
này quy định”
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án sử dụng chứng cứ thu được từ nhiều hoạt động khác nhau phục vụ cho việc giải quyết vụ việc dân sự Bên cạnh các biện pháp được Bộ luật tố tụng dân sự quy định là thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 85, Tòa
án sử dụng chứng cứ thu được qua hoạt động hòa giải, xét xử tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm để giải quyết vụ án cũng như hoạt động thu giữ chứng cứ do đương sự cung cấp Cụ thể:
Thứ nhất, hoạt động Tòa án tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp kèm theo
đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự: “Người khởi kiện phải kèm
theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn
cứ và hợp pháp” Khi người khởi kiện nộp đơn mà có nộp tài liệu, chứng cứ thì Tòa án tiến
2 Luật tố tụng dân sự Nhật Bản, Bản dịch của: Nông Xuân Trường – VKH kiểm sát, VKSNDTC, Tr.254
3
Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr.958
4 Trường Đại Học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.164
Trang 13hành thu thập và lập biên bản giao nhận chứng cứ đươc quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 84 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Thứ hai, hoạt động diễn ra trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Sau khi vụ án đã thụ lý
được Chánh án phân công giải quyết vụ việc dân sự, Thẩm phán tiến hành lập hồ sơ vụ án có nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 173 Bộ luật tố tụng dân sự 2004: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; Thực hiện một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân
sự 2004 Cho nên, các chứng cứ kế tiếp được dùng để giải quyết vụ án có được hoạt động: Yêu cầu đương sự tự khai và chứng cứ thu được từ các biện pháp được quy định tại Điều 85
Bộ luật tố tụng dân sự 2004 bao gồm: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Trưng cầu giám định; Quyết định định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; Ủy thác thu thập chứng cứ; Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoắc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự
Thứ ba, hoạt động xét xử tại phiên tòa sơ thẩm theo Khoản 1 Điều 197 Bộ luật tố tụng
dân sự 2004 quy định: Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách: Hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi ích của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; Xem xét , kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; Nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, trong trường hợp có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Và bản án được tuyên phải căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét và kiểm tra tại phiên tòa
Thứ tư, hoạt động xét xử tại phiên tòa phúc thẩm (chỉ tồn tại với những vụ án có kháng
cáo, kháng nghị) theo Điều 424 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định tính chất của xét xử
như sau: “Xét xử phúc thẩm là Việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án, quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm chủa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” Cho nên,
cấp phúc thẩm khi diễn ra khi có kháng cáo, kháng nghị phù hợp với quy định tại các điều từ Điều 243 đến 249 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (đối với kháng cáo) và từ Điều 250 đến 253
Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (đối với kháng nghị)
Tóm lại, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án không chỉ bao gồm các hoạt động
quy định tại Khoản 2 Điều 85 và Điều 173 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 mà còn thông qua nhiều hoạt động khác
Trang 141.2 Chủ thể thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
Chủ thể thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự bao gồm: Đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích của đương sự, người đại diện, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân
1.1.1 Đương sự
Trên thực tế đã có nhiều khái niệm về đương sự được đưa ra như: Đại từ điển Tiếng
Việt là: “Đương sự là người, là đối tượng trực tiếp của một việc đang giải quyết”5
hay trong
khoa học pháp lý, “đương sự” được hiểu là: “là người có quyền và nghĩa vụ được giải quyết
trong một vụ việc khiếu nại hoặc một vụ án”6
Theo pháp luật Việt Nam thì tại Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định cụ thể:
“Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”
Trong đó, nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm; Cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn
Đơn sự trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không kiện, không bị khởi kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận và đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ cuả một người nào
đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngoài đương sự trong vụ án dân sự tại Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự, còn có đương sự
trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu và người có liên quan đến yêu cầu đó Trong đó,
cụ thể:
5 Đại từ điển Tiếng Việt – NXB, Văn Hóa Thông Tin, Nguyên Như Ý (chủ biên)
6 Nguyễn Hữu Đắc – Từ điển Luật Học – NXB, Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 1999
Trang 15Người yêu cầu trong việc dân sự là người tham gia tố tụng đưa ra yêu cầu để giải quyết
vụ việc dân sự Việc tham gia tố tụng của họ chủ động như nguyên đơn trong vụ án dân sự Người yêu cầu tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.7
Người có liên quan đến yêu cầu đó trong việc dân sự là người tham gia tố tụng dân sự
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc trả lời những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Việc tham gia tố tụng của người có liên quan trong viêc dân sự cũng như việc tham gia tố tụng của người có liên quan trong vụ án dân sự, có thể họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của Tòa án8
Tóm lại, Bản chất của việc dân sự là Tòa án xác định một sự kiện pháp lý hoặc công
nhận hay không công nhận quyền và nghĩa vụ dân sự chứ không phải là giải quyết các tranh chấp giữa các bên đương sự Khi sự kiện pháp lý được xác định sẽ dẫn đến việc phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật
Việc thu thập chứng cứ thì đương sự là người thực hiện hầu hết công việc thu thập và cung cấp chứng cứ Do đó, trách nhiệm thu thập chứng cứ của đương sự đối với yêu cầu của mình, họ có sự chủ động trong các thao tác thu thập, yêu cầu thu thập Tuy nhiên không thể nói là thu thập chứng cứ không có sự can thiệp của Nhà nước bởi nếu không can thiệp sẽ gây
ra tình trạng lộn xộn và đôi khi chứng cứ thu thập được không có giá trị pháp lý Trong Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định đầy đủ và điều kiện để đương sự thực hiện quyền năng này, đây chính là vấn đề về thủ tục Khi vi phạm về thủ tục luật định thì chứng cứ do đương sự thu thập được cũng sẽ không được chấp nhận, tạo ra tính công bằng giữa các bên
Trong giai đoạn cung cấp chứng cứ thì đương sự chính là người cung cấp chứng cứ cho Tòa án Đây là hoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ án, chứng cứ nhiều hay ít sẽ giới hạn việc tranh luận giữa các bên, chứng cứ càng cụ thể, xác đáng bao nhiêu thì việc tranh luận và trách nhiệm của Tòa án càng đơn giải bấy nhiêu Quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ của đương sự được quy định thành một nguyên tắc tố tụng “Đương sự có quyền và nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án”9 Trong quá trình giải quyết vụ án đương sự có quyền cung cấp chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào, nếu không cung cấp và cung cấp không đầy đủ sẽ
phải chịu hậu quả về việc đó “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có
quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó” được quy định
tại Khoản 1 Điều 84 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Vì vậy, đương sự khi tham gia vào
7
Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.109
8 Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.109-110
9 Khoản 1 Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Trang 16quan hệ pháp luật trên cơ sơ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ, nên trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh là như nhau cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án dân sự
1.1.2 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Theo khoản 1 Điều 63 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004: “Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Những người này có thể là luật sư
hoặc bất cứ chủ thể nào đủ điều kiện mà đương sự tin tưởng, họ có thể tham gia vào vụ án ở
bất cứ giai đoạn nào Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền: “Xác
minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ sơ để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”10
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, vị trí pháp lý của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không có gì khác so với đương sự vì họ thuộc cùng nhóm người tham gia tố tụng Nói cách khác, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho các yêu cầu và sự phản đối yêu cầu của đương sự là có cơ sở
1.1.3 Người đại diện
Người đại diện của đương sự là người thay mặt cho đương sự trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đương sự Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền quy định tại khoản 1 Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Theo quy định Bộ luật dân sự 2005 thì người đại diện theo pháp luật bao gồm: có cha
mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ với người được giám hộ, người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ hộ gia đình đối với gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác quy định tại Điều 142 của Bộ luật dân sự 2005 Ngoài ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ11
và người được Tòa án chỉ định để đại diện cho đương sự tham gia tố tụng12
10 Khoản 2, khoản 5 Điều 64 Bộ luật tó tụng dân sự 2004
11 Khoản 2 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Trang 17Người đại diện theo ủy quyền cũng là người thay mặt cho đương sự thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng thông qua một giấy ủy quyền thể hiện ý chí của người đại diện và người được đại diện, phạm vi đại diện được ghi nhận một cách cụ thể trong giấy ủy quyền đó Có thể đại diện một phần hay toàn bộ nhưng trong vụ án ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia tố tụng13
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho đương sự quy định theo Điều 74 của Bộ luật
tố tụng dân sự 2004: “Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện; người đại diện theo ủy quyền trong
tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền” Đương sự không thể hoặc có hạn chế nhất định không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì theo quy định của pháp luật họ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của người đại diện hoặc Tòa án chỉ định cho họ
1.1.4 Tòa án nhân dân
Tòa án được thể hiện cụ thể trong một vụ việc dân sự là thẩm phán tiến hành giải quyết
vụ việc đó giữ thái độ trung lập Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chủ yếu dựa trên cung cấp chứng cứ của đương sự Khi đương sự trình bày sự kiện, xuất nạp giấy tờ, yêu cầu của mình và liên hệ trực tiếp đến yêu cầu đó bằng những chứng cứ, kết quả sẽ tùy thuộc vào việc có hay không những bằng chứng cụ thể Như vây, Tòa án phải có tính khách quan khi giải quyết vu án dân sự, phán quyết đưa ra phải công bằng với cả hai bên trong phạm vi hoạt động chứng minh của họ thì đương sự lại chứng minh cho yêu cầu của mình cũng như hoàn toàn có thể phủ nhận yêu cầu hay phản yêu cầu của đương sự bên kia
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện một số quyền và nghĩa vụ như: Yêu
cầu đương sự nộp bổ sung chứng cứ khi “xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự
chưa đủ cơ sơ giải quyết”14 Theo yêu cầu của đương sự Tòa án sẽ quyết đinh các biện pháp thu thập chứng cứ như: định giá tài sản, lấy lời khai của người làm chứng, quyết định trưng
cầu giám định, giám định bổ sung, đối chất Tòa án có quyền “nghiên cứu, đánh giá chứng
cứ, công bố và sử dụng chứng cứ là do đương sự cung cấp”15 Do đó, Tòa án là người tiến hành hoạt động lập hồ sơ vụ án mà căn cứ vào đó để giải quyết vụ án dân sự
12 Điều 76 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
13
khoản 3 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
14 Khoản 1 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
15 Điều 96 và Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Trang 181.1.5 Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng theo quy định khoản 4 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 trong các trường hợp:
- Viện kiểm sát thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
- Sau khi kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Viện kiểm sát có quyền thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa và phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình hồ sơ, tài liệu, vật chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, yêu cầu phải bằng văn bản, nêu rõ hồ sơ, vật chứng cần cung cấp Cá nhân, cơ quan, tổ chức được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát
Khi đó, Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trong một thời gian luật định để tiến hành xem xét Chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Viện kiểm sát theo yêu cầu của Viện kiểm sát được chuyển cho Tòa án đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự và bảo quản tại Tòa án theo khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Trong đó, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa “đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại” theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm khi xét thấy có căn cứ, khi đó Viện kiểm sát phải thực hiện nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, đây là nghĩa vụ của Viện kiểm sát do luật định, sau khi đương sự thực hiện hoàn tắc quyền và nghĩa
vụ của mình Viện kiểm sát xét thấy việc xét xử của Tòa án là chưa công bằng nên thực hiện quyền kháng nghị của mình
1.3 Nguyên tắc cơ bản trong thu thập chứng cứ
1.3.1 Nguyên tắc cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự
Trong mỗi vụ án dân sự việc đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án là rất cần thiết Việc cung cấp chứng cứ của các bên đương sự có nhiều mâu thuẫn dẫn đến phức tạp Theo Điều 6 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ như đương sự”
Trang 19Trong tố tụng dân sự, hoạt động chứng minh bao gồm hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Hoạt động này chỉ ra các căn cứ hợp pháp để làm cho đương sự nhận thức đúng vụ việc Chủ thể chứng minh bao gồm các đương sự và các chủ thể khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong khi đó, tại Điều 79 của Bộ
luật tố tụng dân sự 2004 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh
mà không đưa ra được chứng cứ và không đưa đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc không chứng minh đầy đủ đó” Pháp luật quy định nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự vì họ là người khởi kiện, đưa ra yêu cầu nên họ phải có trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu kiện tụng của mình Hơn nữa, các vụ án dân sự phát sinh chủ yếu là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích của các đương sự với nhau Do
đó, họ là người biết rõ các nguyên nhân và điều kiện cung cấp cho Tòa án các chứng cứ của
vụ án Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn cho các đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu của mình, để bảo vệ quyền và lợi ích của
họ Đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận mọi giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ án và các vật chứng do đương sự cung cấp
1.3.2 Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ để đảm bảo cho Tòa án có thêm chứng cứ để giải quyết vụ việc dân
sự khi đó, quy định của pháp luật tố tụng dân sự Tòa án cũng phải tiến hành khi đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ không đáp ứng Tại Điều 7 Bộ luật tố
tụng dân sự 2004: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án tài liệu, chứng cứ
mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản co đương sự, Tòa án biết và nêu rõ lý do của viêc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ” Để đảm bảo cho đương sự có thể thực hiện quyền
và nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ thì cần có sự hỗ trợ từ phía cá nhân, cơ quan,
tổ chức
Trong trường hợp, Tòa án đang thụ lý hồ sơ vụ án xét thấy hồ sơ cần thực hiện yêu cầu
cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ theo khoản 2 Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự
2004: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp
đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp
Trang 20thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì tùy mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật của pháp luật”
1.4 Vai trò thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự, hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích tái hiện lại trước Tòa
án vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể Qua đó, Tòa án có thể khẳng định có hay không các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sơ cho yêu cầu hay phản tố yêu cầu các bên đương sự trong vụ việc dân sự Tuy nhiên, hoạt đông sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự không thể được tiến hành tùy tiện theo ý chí chủ quan của Tóa án hay của các chủ thể tham gia tố tụng mà phải tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về sử dụng chứng cứ thông qua hoạt động tố tụng cụ thể đó là: hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Vì vậy, nhiệm vụ của Tòa
án trong thu thập chứng cứ là rất quan trọng và chỉ đặt ra khi vụ án dân sự đã được thụ lý, xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và bị giới hạn một phần bởi yêu cầu của đương sự trong một số trường hợp được quy định cụ thể
Khi thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ, Tòa án phải nắm vững các thuộc tính của chứng cứ, đồng thời xác định yêu cầu của đương sự, quan hệ phát sinh tranh chấp trong vụ
án, những vấn đề cần phải chứng minh, các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án Khi thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ thì Tòa án ra quyết định trong một số trường
hợp quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành và khi thụ lý vụ án, nếu “xét thấy tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sơ để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ”16 Do đó, kể từ khi thụ lý Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ làm hết trách nhiệm của mình, cũng như trong một số trường hợp cần phải giải thích cụ thể cho đương sự trong quá trình thu thập, cung cấp chứng cứ, giao nộp chứng cứ, xác định và đánh giá chứng cứ, đồng thời phải thông báo cho đương sự biết về các chứng cứ do mình thu thập được, phải công bố công khai một cách minh bạch
1.5 Phân loại cách thức thu thập chứng cứ của Tòa án
Theo Bộ luật tố tụng dân sự, thu thập chứng cứ của Tòa án bao gồm: Tòa án gián tiếp thu thập chứng cứ và Tòa án chủ động thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự
1.5.1 Tòa án gián tiếp thu thập chứng cứ
Trách nhiệm của Tòa án thu thập chứng cứ thông qua việc tiếp nhận chứng cứ từ chủ thể cung cấp vào việc giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
16 Khoản 1 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Trang 21pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người định giá tài sản những người này có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án Trong đó: đương sự là là chủ thể chủ yếu trong hoạt động thu thập chứng cứ cho Tòa án
Tòa án gián tiếp thu thập chứng cứ là việc thu thập chứng cứ được các chủ thể thu thập, cung cấp và giao nộp cho Tòa án để thuận tiện cho việc giải quyết vụ việc dân sự Việc các chủ thể cung cấp chứng cứ cho Tòa án là chứng cứ phải chính xác và đầy đủ Nếu chứng cứ,
mà các chủ thể cung cấp không đúng sự thật sẽ bi xử lý theo pháp luật
1.5.2 Tòa án chủ động thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự
Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng xét xử, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, thiết lập lại các trật tự các quan hệ nội dung bi vi phạm hay tranh chấp, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của công dân Trong vụ kiện, không phải đương sự nào cũng xác định đúng quyền lợi của mình và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định cho họ Trong trường hợp đương sự không tự mình thu thập được chứng cứ mặt dù đã cố gắng tìm mọi cách mà không thể thu thập được chứng cứ thì có yêu cầu Tòa án thu thập thay cho đương sự
Theo quy định tại khoản 2 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, khi Tòa án tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ thì phải có hai điều kiện sau:
- Đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ
- Đương sự phải có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Do đó, khi nhận được yêu cầu của đương sự, Thẩm phán yêu cầu đương sự trình bày rõ
lý do tại sao không thể thu thập được chứng cứ và những biện pháp mà đương sụ đã áp dụng
mà vẫn không có hiệu quả Trên cơ sơ đó chấp nhân hay không yêu cầu của đương sự
Ngoài việc thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, trong một số trường hợp xét thấy cần thiết muốn hiểu rõ thêm tình tiết vụ án, Tòa án chủ động thu thập chứng cứ Theo
Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết số 04/2012/NQ - HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật dân sự đã được sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân
sự thì có những trường hợp sau:
Thứ nhất, Lấy lời khai của người làm chứng: khi xét thấy cần thiết để làm rõ sự thật vụ
án thì Tòa án có thể tự mình chủ động lấy lời khai người làm chứng Người làm chứng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự nên thường khai khách quan hơn đương sự Việc lấy lời khai của người làm chứng rất có ý nghĩa cho việc làm rõ các tình tiết
Trang 22liên quan vu việc và có thể bảo đảm cho việc giải quyết được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật17
Thứ hai, Đối chất: Xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của đương sự, người làm
chứng, Tòa án chủ động tiến hành đối chất mà không cần có yêu cầu của đương sự Việc đối chất diễn ra giữa những người có lời khai mâu thuẩn, giữa đương sự với người làm chứng, giữa người làm chứng với nhau18
Thứ ba, Theo điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định: “Các bên
thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước” thì Thẩm phán cũng có quyền quyết định định giá tài sản, quy định
này chỉ áp dụng giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại thì việc định giá tài sản chỉ được thực hiện khi một hoặc các bên yêu cầu
Đoạn kết chương
Trong chương 1 tác giả nghiên cứu, xây dưng các khái niệm cơ bản liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự như khái niệm về chứng cứ, khái niệm thu thập chứng cứ, khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ và một số khái niệm khác làm cơ sở cho việc nghiên cứu cụ thể về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Có thể thấy rằng tố tụng dân sự bao gồm những trình tự, thủ tục luật định giải quyết những tranh chấp, bất đồng các quan hệ pháp luật do chủ thể tham gia Khi họ cho rằng quyền lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác bị xâm phạm, để bảo vệ quyền, lợi ích của mình Đương sự thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án để giải quyết vụ việc dân sự
17 Khoản 1 Điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
18 Khoản 1 Điều 88 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Trang 23CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG
THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Theo pháp luật Việt Nam thì Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, giải quyết các vụ việc dân sự Trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phù thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không Trong quá trình giải quyết
vụ việc dân sự, Tòa án phải tạo điều kiện cho các bên đương sự thực hiện việc cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ thì Tòa án có thể tiến một hoặc một số biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật Để tìm hiểu thêm
về quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, thực tiễn áp dụng như thế nào, đây cũng là nội dung mà người viết muốn phân tích chương này
2.1 Tòa án chủ động tiến hành thu thập chứng cứ
Tòa án áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình thấy cần thiết áp dụng thì Tòa án cũng đều tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Đối với trường hợp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc thu thập chứng cứ khi đã xác định đầy đủ các điều kiện pháp lý để áp dụng Theo khoản 2 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, các biện pháp mà Thẩm phán
để áp dụng để thu thập chứng cứ sau đây:
- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng
- Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng
- Trưng cầu giám định
- Quyết định định giá tài sản
Trang 24Đương sự là người tham gia vào vụ việc nên biết được nhiều vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự Vì vậy, đây là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng Việc lấy lời khai của đương sự sẽ giúp cho Tòa án làm rõ được các tình tiết của vụ việc dân sự19
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự 2004: “Thẩm phán chỉ tiến hành
lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy
đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự
không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự”
Theo Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 04/2012/NQ – HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật tố tụng dân sự quy định: “Khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dụng của bản khai
chưa đầy đủ, Thẩm phán yêu cầu đương sự phải tự mình viết bản khai hoặc bản khai bổ sung và ký tên của mình Chỉ trong trường hợp đương sự không thể tự viết được, thì Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản”
Về địa điểm lấy lời khai, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa
án Trong những trường hợp vì lý do khách quan, chính đáng như đương sự đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, ốm đau, bệnh tật…Tòa án không thể lấy lời khai của đương sự tại trụ sở thì Thẩm phán có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án Còn việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án phải đảm bảo đúng quy định pháp luật (ví dụ: Lấy lời khai của đương sự đang bị tạm giam phải thực hiện tại Trại tạm giam theo bố trí của Ban Giám Trại tạm giam; Lấy lời khai của đương sự bị ốm đau nhưng không điều trị tại
cơ sơ y tế phải được thực hiện tại nơi họ đang điều trị và nếu xét thấy cần thiết thì mời người chứng kiến…)20
Lời khai của đương sự phải tập trung làm rõ nội dung cơ bản của vụ án, yêu cầu của đương sự, các căn cứ pháp lý và chứng cứ thực tế để bảo vệ yêu cầu của đương sự Trong trường hợp, đương sự được lấy lời khai là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự; đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của
họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai21
số điều của Bộ luật tố tụng dân sự
21 Khoản 4 và khoản 5 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự
Trang 25Theo Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định Thẩm phán hoặc Thư ký Tòa án phải lập biên bản lấy lời khai của đương sự Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Đương sự có quyền yêu cầu Thẩm phán cho sữa đổi, bổ sung biên bản ghi lời khai và ký tên hoăc điểm chỉ Biên bản lời khai của đương sự phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai Nếu biên bản lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản22
Người làm chứng là người không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự nên thường khai báo khách quan hơn đương sự Việc lấy lời khai của người làm chứng chứa đựng nhiều chứng cứ và có ý nghĩa cho việc làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ việc dân
sự23 Việc lấy lời khai của người làm chứng được thực hiện tại Khoản 1 Điều 87 thì “Theo
yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án” Ngoai ra, theo Điều 7 Nghị
quyết số 04/2012/NQ – HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật dân
sự đã được sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự giải thích rõ các trường
hợp Tòa án tiến hành lấy lời khai của người làm chứng: “Khi đương sự có yêu cầu bằng văn
bản lấy lời khai của người làm chứng, thì Tòa án tiến hành lấy lời khai của người làm chứng
đó Khi xét thấy cần thiế,t tuy đương sự không yêu cầu, Thẩm phán có thể tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Được coi là cần thiết nếu việc lấu lời khai của người làm chứng đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự được toàn diên, chính xác, công minh, đúng pháp luật”
Như vậy, việc lấy lời khai của người làm chứng có thể xuất phát từ yêu cầu của đương
sự cũng có thể do Tòa án thấy cần thiết để làm rõ sự thật vụ án thì có quyền chủ động lấy lời khai của người làm chứng Thẩm phán giải quyết vụ việc chịu trách nhiệm lấy lời khai của người làm chứng, khi tiến hành lấy lời khai tùy từng trường hợp mà Tòa án có thể để họ tự khai hoặc trực tiếp lấy lời khai của họ24
Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành như lấy lời khai của đương sự được quy định tại khoản 2 Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự Ngoài ra, việc lấy lời khai của
Trang 26người làm chứng có một số điểm khác biệt nhất định so với việc lấy lời khai của đương sự thể hiện ở những điểm sau25: Đối với những vụ việc dân sự mà có nhiều người làm chứng thì Tòa án chỉ lấy lời khai của người làm chứng cần thiết cho việc giải quyết vụ việc dân sự; trước khi lấy lời khai của người làm chứng thì Thẩm phán làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với đương sự để đánh giá đúng lời khai của họ; Thẩm phán lấy lời khai riêng từng người làm chứng một, không để họ tiếp xúc với nhau hoặc với đương trong thời gian khai báo; khi đặt câu hỏi cho người làm chứng Thẩm phán không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý
Việc lấy lời khai của người chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện ttheo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý trông non người đó được quy định tại Khoản 3 Điều 87 Bộ luật
tố tụng dân sự
2.1.2 Đối chất giữa đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng
Đối chất là một hoạt động thu thập chứng cứ do chủ thể tiến hành tố tụng nhằm làm hóa giải các xung đột trong các lời khai và tài liệu đang có trong hồ sơ Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì việc đối chất được tiến hành cụ thể
sau: “Khi đương sự yêu cầu hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương
sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau ”.Do đó, việc
đối chất chỉ tiến hành khi có yêu cầu của đương sự, hoặc tuy đương sự không có yêu cầu nhưng xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng thì Tòa án
có thể tự mình chủ động cho tiến hành đối chất, dù đương sự không có yêu cẩu Tùy từng trường hợp, Thẩm phán tiến hành cho đối chất về từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề đối chất theo thứ tự26
Muốn việc đối chất có hiệu quả, Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ thật kỹ, tìm ra những điểm mâu thuẫn nhau giữa các lời khai, tài liệu mà hai bên xuất trình với những tài liệu khác Từ đó, Thẩm phán có kế hoạch đối chất chi tiết và đặt ra những yêu cầu khi đối chất, phải xem vấn đề gì cần đối chất trước, cách đặt câu hỏi và thứ tự các câu hỏi để đối chất có hiệu quả, làm rõ các mâu thuẫn, các điểm chưa làm rõ trong hồ sơ27 Khi tiến hành
số điều của Bộ luật tố tụng dân sự
27 Tưởng Duy Lượng, Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, Tr.210