[r]
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỂ VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT
H o à n g T hị Kim Q u ế
Khoa L u ậ t Đai hoc KH Xã hội & N h â n văn - ĐHQG H à N ộí
Đ ặt v ấ n đề
Quan hệ ph áp lu ậ t là một trong n h ữ n g h iện tượng p h á p lý phức tạp n h ấ t, cho đến nay vẫn còn k h á nhiều vấn đề lý lu ậ n bị bỏ ngỏ hoặc không thông n h â t quan điểm giữa lý lu ận chung vê n h à nước và p h á p l u ậ t với một sô khoa học ph áp lý chuyên ngành Trong phạm vi bài viết, c h ú n g tôi chỉ n êu lên m ột trong sô nhưng vấn đề còn có nhiều tr a n h lu ậ n xung q u a n h h iệ n tượng p h á p lý phức tạ p này;
- Về khái niệm qu an hệ pháp luật.
- Vê sự tồn tại của qu an hệ ph áp lu ậ t chung
1 v ề k h á i n iệ m q u a n h ệ p h á p lu ậ t
Quan hệ p h áp lu ậ t giữ một vị tr í đặc b iệ t tro n g th ư ợ ng tầ n g kiến trú c p háp lý
và là hìn h thức đặc th ù của sự thực hiện p h á p lu ậ t Mỗi ngưòi c h ú n g ta h àn g ngày đêu ít nhiều th am gia vào các qu an hệ p h á p lu ậ t n h ấ t định Chỉ có điều là không phải bao giò mỗi người cũng để ý tới, cũng "nhổ” và "biêt đ ê n ” là m ình "đang th am gia vào những qu an hệ pháp luật" Thời gian tồn tạ i của các q u an hệ ph áp luật cũng có nhiều điều th ú vỊ Có những loại q u a n hệ p h á p l u ậ t tôn tại thưồng xuyên, lâu dài theo suốt sự tồn tại của các chủ thể Lại cũng có n h ữ n g q u a n hệ p h áp luật
t.hì sống rất ngắn ngủi, "ohơt đến, chơt đi” trong khoảnh khắc Cũng có loại quan
hệ pháp lu ậ t mà chủ th ể th a m gia chỉ m uốn xác lập mà k h ông mong muốn có một ngày nào đó qu an hệ pháp lu ậ t sẽ được thực h iện - c h ă n g h ạ n q u a n hệ ph áp lu ậ t vê bảo hiểm xã hội Tóm lại quan hệ pháp lu ậ t là một v ấn đề k h ông chỉ có ý nghĩa về phương diện lý lu ậ n mà điểu quan trọng hdn là vê phương d iện thực tiên
Trong khoa học ph áp lý chưa có ý k iến th ố n g n h ấ t về k h á i niệm qu an hệ pháp luật Về cơ bần, có hai qu an điểm, hai cách h iểu khác n h a u Q u an điêm th ứ nhất
cho rằng: quan hệ p h á p luật là quan hệ xã hội được q u y p h ạ m p h á p l u ậ t điêu
chỉnh [l,tr.305], [2, tr.41], [3, tr.107], q u a n hệ p h á p lu ậ t là một bộ p h ậ n của quan
hệ xã hội, và q uan hệ xã hội sẽ trở th à n h q u a n hệ p h á p lu ậ t khi được quy phạm pháp lu ậ t điều chỉnh Theo quan điểm th ứ hai, q u a n hệ p h á p lu ậ t là h in h thức
p h á p lý của các quan hệ xã hội, x uất h iện tr ê n cơ sở sự đ iểu ch ỉn h của p h áp luật
đối vối các qu an hệ xã hội tương ứng và các bên th a m gia q u a n hệ ph áp lu ậ t đó có những quyền và nghĩa vụ ph áp lý n h â t đ ịn h và được bảo đ ả m thực hiện b ă n g nhà nước[5, tr.l0 2 ], [6, tr 3 8 9 ]
30
Trang 2Đ ầu là sự khác n h a u tro n g h ai k h á i niệm nêu trên? Có ý kiến cho rằng: đó chỉ
là hai cách nói khác n h a u , chứ b ả n c h ấ t vẫn là một Theo chúng tôi, không hoàn toàn n h ư vậy, nếu xem xét kỹ hai k h á i niệm này
Một trong n h ữ n g t r a n h lu ậ t gay g ắt trong lý lu ậ n chung về pháp lu ậ t đó là:
quan hệ pháp luật trù ng hỢp hay không trùng hỢp với quan hệ xã hội thực tê ?
[7, tr.412] Theo c h ú n g tôi, k h ông n ên đồng n h ấ t qu an hệ pháp lu ậ t vối qu an hệ xã hội thực tê, mà cần có sự p h â n b iệ t chúng Không phải dưới tác động của quy phạm
ph áp lu ật, thì q u a n hệ xã hội sẽ "trở th à n h quan hệ ph áp luật" Quan hệ ph áp lu ậ t cũng không phải là một bộ p h ậ n của q u a n hệ xã hội Q uan hệ xã hội tồn tại một
cách khách quan, những quan hệ kinh tế - xã hội đã đưỢc chấp nhận như là những
nội hàm của nó đã có trưóc các h ìn h thứ c ph áp lý của chúng Người ta yêu thưđng
n h a u và quyêt địn h k ế t hôn đó là x u ấ t p h á t từ n h u cầu và lợi ích của họ, là qu an
hệ xã hội khách q u a n , chứ không p h ả i vì có lu ậ t hôn n h â n và gia đình Mục đích
điều chỉnh của pháp lu ậ t là để đạt được hình thức pháp lý cho các quan hệ xã hội
thực tế
Như vậy, điều đ ặ t ra là p h ả i làm rõ quan hệ p h á p lu ậ t và quan hệ xã hội
đưỢc p h á p lu ậ t đ iều chỉnh Q u a n điểm cho rằ n g q u an hệ ph áp lu ậ t đó là những
quan hệ xã hội được quy ph ạm pháp lu ậ t điều chỉnh là không hỢp lý Mối quan hệ giữa quan hệ pháp lu ậ t vối quan hệ xã hội thực tê chỉ như là môl quan hệ của
phạm tr ù nội d u n g và p h ạ m t r ù h ìn h thức Trước hết, q u a n hệ p háp lu ậ t và qu an
hệ xã hội được p h á p lu ậ t điều ch ỉn h là n h ữ n g hiện tưỢng xã hội khác nhau Quan
hệ pháp luật- phưdng tiện thực hiện quy phạm pháp luật (trong đa sô các trường
hợp), h ìn h thức p h á p lý của các q u a n hệ xã hội Q uan hệ xã hội được pháp lu ậ t
điểu chỉnh (còn đưỢc gọi là quan hệ xã hội thực tê)- lại là đối tưỢng điều chỉnh của
pháp luật, tức là lĩn h vực các hiện tưỢng xã hội mà pháp lu ậ t tác động tới Hai
qu an hệ này có liên q u a n m ậ t th iế t với nhau, Khi một q uan hệ xã hội đưỢc mang
hình thức pháp lý thì vẫn đồng thời song song tồn tại cả hai loại quan hệ: quan hệ
xã hội và qu an liệ p h á p luẠL, Liuiig dỏ, quaii hệ xa hội la IIỌI dung v ạ i c h á i cùa
quan hộ pháp luật, còn quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội.
Q uan hệ ph áp lu ậ t là h ìn h thức ph áp lý của các qu an hệ xã hội Dưới tác động của các quy p h ạ m p h á p luật, các q u a n hệ xã hội sẽ được m ang hình thức pháp
lý "chiếc áo khoác p h á p lý" N h ư n g quy phạm ph áp lu ậ t chỉ đóng vai trò là cơ sở làm p h á t sinh q u a n hệ p h á p lu ậ t chứ không mặc nhiên trực tiếp tạo ra nó Các
qu an hệ xã hội khi đã m an g tr ê n m ìn h h ìn h thức pháp lý, vẫn giữ lại đặc tính c h ất lượng "tính tự tr ị”củ a mình Q u an hệ xã hội thực tế, khi đã đưỢc khoác trê n m ình hình thức pháp lý (tức q u a n hệ p h á p lu ật) vẫn còn tồn tại chứ không phải là đã "bị
đ án h m ất minh" S au ngày đ ă n g ký k ế t hôn, hai chủ th ể quan hệ ph áp lu ậ t hôn
nhân- gia đình không chỉ phải xử sự với nhau theo quyền và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật hôn nhân gia đình đã quy định mà còn bị ràng buộc họ, hỗ trỢ họ còn có
cả một dãy những quy tắc xử sự xã hội khác N hư vậỵ khi họ đã bước vào qu an hệ
ph áp luật về hôn n h â n - gia đ ìn h thì lẽ đương nhiên là vẫn còn lại ở họ q u an hệ xã hội với sự chi phôi c ủ a n h iề u quy tắc điều chỉnh xã hổi: đạo đức, tập quán, phong tục, tôn giáo Khi nói q u a n hệ xã hội thực tê được m ang trê n mình hìn h thức pháp
lý điều đó có nghĩa là các chủ th ể th am gia đã có những khả năng xã hội để đưỢc
Trang 3ph áp lu ậ t bảo vệ và đảm bảo Tự bản th â n , qu an hệ xã hội không th ể trở t h à n h quan hệ pháp luật Trong lý luận pháp lu ậ t có ý kiên phủ n h ậ n sự tồn tại song song của “cả hai q u an hệ”- qu an hệ p háp lu ậ t và quan hệ xã hội thực tê Ngưòi ta cho rằ n g không th ể có h ai qu an hệ, và dưới tác động của qui phạm pháp luật, q u a n
hệ xã hội thực tê đã biến th à n h qu an hệ pháp luật Như vậy chỉ còn và chỉ có một
q u an hệ Theo chúng tôi, sự tồn tại song song cả hai quan hệ - qu an hệ p h á p lu ậ t
và quan hệ xã hội thực tê - nội dung vật chất của quan hệ pháp luật, đó là một
thực tê khách quan Sự điều chỉnh của p háp lu ậ t dù có m ạnh mẽ đên đâu đi c h ă n g nữa cũng không th ể và cũng không nên, không cần phải “tước đi” cái đặc tín h xã hội thực tê khách qu an của các qu an hệ xã hội Không có sự đồng n h ấ t giữa q u a n
hệ ph áp lu ậ t và q u an hệ xã hội Sự đồng n h ấ t này cũng không xảy ra th ậ m chí cả trong quá tr ìn h thực hiện của qu an hệ ph áp luật, khi quyển và nghĩa vụ củ a các
bên được thể hiện trong các hành vi Các quan hệ pháp luật hiên pháp vê tổ chức
thực hiện quyển lực n h à nưóc, bên cạnh tín h c h ấ t pháp lý, còn chịu sự tác động của nhiều quy p h ạm xã hội “phi qu an phương khác" Q uan hệ pháp lu ậ t hiên p h á p giữa Tổng thông và Nghị viện không loại tr ừ qu an hệ xã hội - đạo đức - chính tr ị giữa
họ Ngay đến cả th ứ vũ khí thép của vị Tổng thống - nguyên th ủ quốc gia, đứng đầu h à n h p h áp là quyền phủ quyết nhiều khi cũng phải tự chùn chân nếu n h ữ n g
qu an hệ đạo đức - chính trị giữa họ có chỗ đứng của mình N hững qu an hệ xã hội như kinh tế, chính trị, hôn n h â n gia đình, ván hoá vẫn giữ nguyên nội dung xã hội đặc th ù của m ình khi đưỢc mang th êm h ìn h thức pháp lý là các qu an hệ p h á p luật, đưỢc th ể hiện ở các quyền và nghĩa vụ p háp lý của các chủ thể
Như vậy, nếu đồng n h ấ t hoặc loại tr ừ qu an hệ xã hội khỏi quan hệ p h á p lu ậ t
sẽ làm giảm đi vai trò tích cực của qu an hệ ph áp luật Đúng như n h ậ n xét: “Các quan hệ pháp lu ậ t có vai trò qu an trọng làm t r ậ t tự các quan hệ xã hội, hưống nó
p h á t triể n phù hỢp với ý định của n h à làm luật" [6, t r 388-389] Q uan hệ p h á p lu ậ t
là hìn h thức p h á p lý cần th iế t cho t ấ t cả n h ững q u a n hệ xã hội được ph áp lu ậ t điều chỉnh [8, tr 851, Quan hệ pháp lu â t th ể hiện mô'i liên hệ đặc biệt giữa các c h ủ thể,
môi liên hệ thông qua các quyền và nghĩa vụ pháp lý Chính đây là một trong
n h ững đặc điểm khác nhaxi căn bản giữa qu an hệ pháp lu ậ t vói q u a n hệ xã hội, không p hải là q u a n hệ ph áp luật
Khi xét đến mối quan hệ giữa quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật,
cũng cần thấy rõ là không phải bao giò q uan hệ xã hội thực tế cũng là cái có trước
q u a n hệ pháp lu ật Có những lĩnh vực q u an hệ xã hội mà sự hìn h th à n h của chúng chỉ có khi tác động của pháp luật C hẳng hạn, các qu an hệ về trá c h nhiệm p h áp lý, chúng chỉ có th ể h ìn h th à n h trê n cơ sở pháp luật Không có lu ậ t không có trách nhiệm Hoặc, nếu không có ph áp lu ậ t vê tô tụ n g tư pháp thì sẽ không th ể có những
q u an hệ tô" tụng Lĩnh vực q u an hệ xã hội, nơi mà quy phạm pháp lu ậ t có trưốc thực tiễn, h iện nay đang có m ặ t trong đời sông xã hội Pháp lu ậ t có vai tr ò sáng tạo, có khả n ă n g tiên phong, có th ể vượt lên trên, đón b ắ t và dự liệu trưôc những quan hệ xã hội sẽ x u ấ t hiện Ví dụ, chỉ từ khi L u ậ t công ty ra đời, trong xã hội mới
có th ể x u ấ t h iện n h ững nhóm qu an hệ xã hội giữa các cổ đông, nhóm q u a n hệ xã hội về m ua b án cổ phiếu [9, tr.l31]
Trang 4Một vài ấn p h ẩm gần đây về lý luận chung về nhà nước và pháp luật, khi đưa
ra khái niệm q u a n hệ ph áp luật, h ầu như không còn đê cập đến quan điểm; "quan
hệ pháp luật là quan hệ xã hội đưỢc quy phạm pháp luật điều chỉnh" [10, tr.259],
111, tr327] Theo chúng tôi, điểu đó không p h ải là ngẫu nhiên Gần đây n h ất, đã có một khái niệm mới vê qu an hệ pháp luật, gợi lên nhiều điểu để các nhà nghiên cứu suy nghĩ: “Q u an hệ ph áp lu ậ t là qu an hệ xã hội đặc biệt nảy sinh do sự tác động hữu cơ giữa quy phạm ph áp lu ậ t và sự kiện pháp lý tương ứng làm x u ấ t hiện quyền và n g h ĩa vụ p háp lý giữa các chủ thể" [11, tr.327J Trước hết, trong khái niệm này đã khắc phục được qu an điểm về việc xem q u an hệ ph áp lu ậ t là qu an hệ
xã hội được quy phạm ph áp lu ậ t điều chỉnh Điểu này có tín h th u y ết phục và phù hỢp với thực tiễn Song, đồng thòi khái niệm nêu tr ê n cũng gỢi lên một sô" điểm
■‘gay cấn" Đã đ à n h là qu an hệ pháp lu ậ t x u ấ t hiện khi có n h ững sự kiện pháp lý
n h ấ t định, thường được n h à làm luật dự liệu trước trong p h ầ n giả định của quy
p h ạm ph áp lu ật Thê nhưng, khó có th ể h ìn h dung rằng, quy p h ạm pháp lu ậ t (vôn chỉ là n h ững điều còn nằm trong văn bản, giấy tò) lại có th ể tác động đến các quan
hệ xã hội, các sự kiện pháp lệnh pháp lý( vôn đã phức tạp, và có cả sự "ngang
bưống nữa), rồi kết quả của sự tác động hữu cơ đã cho ra đòi một sản phẩm đó là
q u a n hệ p h á p luật Bản c h ất của vấn đề, suy cho cùng là đúng, song, cách nêu k h ái niệm quan hệ pháp lu ậ t như trên, có lẽ là chưa đầy đủ, chưa lột tả được vai trò của
q u an hệ p h á p lu ậ t là hìn h thức pháp lý của các q u an hệ xã hội Hdn nữa, ở khái niệm trên lại phải "mượn” khái niệm "sự kiện ph áp lý”và chí ít thì cũng là đưa ra hdi quá sớm vê một k hái niệm mà thưòng là chỉ đưỢc nêu lên ở p h ầ n điều kiện làm
p h á t sinh, th a y đổi, chấm dứt quan hệ pháp lu ậ t - khái niệm "sự kiện pháp lý" Như vậy, qu an hệ ph áp lu ậ t là hìn h thức pháp lý của các quan hệ xã hội, được xuàt hiện trê n cơ sở sự điểu chỉnh của các quy p h ạ m pháp luật Quan hệ pháp
lu ậ t có nội dung vật ch ất là qu an hộ xã hội và nội dung p háp lý là các quyền chủ Ihể và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể
2 Q u a n h ệ p h á p l u ậ t c h u n g - s ự t ồ n t ạ i h i ệ n t h ự c v à ý n g h ĩ a
Có nhiều tiôu chí khác nh au đổ ph án loại q uan hệ pháp luật Căn cứ vào cách
ihức xác dịnh mức độ cá biột hoá chủ Ihể, quan hệ pháp luật đưỢc phân thành
qu an hệ ph áp lu ậ t chung và quan hệ pháp lu ậ t cụ thể về q u an hệ pháp lu ậ t cụ thổ, vỏi hai h ìn h thức: quan hệ pháp lu ậ t tu y ệt đôì và qu an hệ pháp lu ậ t tương đôi,
qu an điểm cơ bản là Ihống n h ấ t trong lý luận chung về pháp lu ậ t [1, t r 306-307],
|6, t r 393-394) [8, tr.l0 2 ], [12, t r 34-36, 63-641, [13, tr.74] Điều còn gây nhiều
tr a n h lu ậ n n h ấ t là về qu an hệ pháp lu ậ t chung, liệu có hay không có Q uan điểm
vế quan hệ ph áp lu ậ t chung, về sự tồn tại thực tế của loại qu an hệ pháp lu ậ t này càng ngày càng đưỢc nhiều n h à khoa học th ừ a nhận, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp [1 tr.3071, [6, tr.394], [8, tr 102-103], [14, tr.7-9], [15, tr.98-157], Theo chúng tôi,
tr a n h lu ậ n về sự tồn tại hay không tồn tại quan hệ p h á p lu ậ t chung, suy cho cùng cũng là tr a n h lu ậ n về khái niệm quan hệ pháp lu ậ t- q u an hệ pháp lu ậ t là gì? Nếu thừ a nhận rằng, quan hệ ph áp lu ậ t là h ìn h thức ph áp lý của các qu an hệ xã hội,
x uất hiện trê n cơ sở sự điều chỉnh của các quy phạm ph áp luật, thì sự tồn tại của các quan hệ ph áp lu ậ t chung là điều đương nhiên Q uan hệ pháp lũ ậ t chung là những q u a n hệ ph áp lu ậ t p h á t sinh trực tiếp từ các quy phạm của hiến pháp và
Trang 5của các văn b ản quy phạm pháp lu ậ t khác, là cd sỏ đê hìn h th à n h các q u a n hệ pháp
lu ậ t cụ thể Chẳng hạn, qu an hệ pháp lu ậ t giữa n h à nước và công d â n trong linh vực th u ế là qu an hệ pháp lu ậ t chung, x u ấ t p h á t từ các quy phạm p h áp lu ậ t hiện
h à n h về thuế, là cơ sở p h á t sinh qu an hệ pháp lu ậ t cụ th ể giữa công d ân A nào đó với cơ quan n h à nước về thuế Hoặc quan hệ ph áp lu ậ t chung điên h ìn h nữa là
quan hệ pháp luật về quốc tịch, thể hiện mối quan hệ chính trị - pháp lý giữa công
dân - nhà nước, cụ thể vào trưòng hỢp công dân A - nhà nưốc.
Quan hệ pháp luật chung - đó là môi liên hệ đưỢc hình thành trên những
quyển và nghĩa vụ chung, không xác định đích d a n h chủ thể Trong q u a n hệ pháp
lu ậ t chung không có sự kiện pháp lý theo cách hiểu tru y ền thông N hững quan hệ pháp lu ậ t này x uất hiện trực tiếp từ luật, có nghĩa là trong trường hợp trên, sự kiện pháp lý chính là b ản th â n luật, bản th â n sự ban h à n h luật T h u ậ t ngữ
"chung” ở quan hệ pháp luật chung đưỢc hiểu nghĩa là không xác định, không chi
một hiện tượng cụ th ể nào, mà ngược lại, “chung” ở đây cũng có tín h xác định nghiêm ngặt, n h ưng chỉ có điều, trong sự xác định này chủ th ể của q u an hệ pháp
lu ậ t là t ấ t cả các chủ th ể nhưng phải trong p h ạm vị của ch ế định ph áp lý tương ứng Chẳng h ạn , t ấ t cả các công dân đều là chủ th ê của p h ần lớn các q u a n hệ pháp
lu ậ t n h à nước (hiến pháp), những qu an hệ pháp lu ậ t này bao q u á t các quyền và nghĩa vụ cơ b ả n của công dân (quyền lao động, quyền học tập, nghĩa vụ đóng thuế ) Chỉ có điều p h ả i là công dân Việt Nam, và trong giỏi h ạn một chế định pháp lý tương ứng - ví dụ về nghĩa vụ đóng thuế M ặt khác, trong sự p h â n loại
q u an hệ pháp luật, t h u ậ t ngữ “chung” và “cụ th ể ” là tương đối, ước lệ Nói chung,
b ấ t kỳ một qu an hệ ph áp lu ậ t nào, theo bản c h ấ t của m ình đều cụ thê, và có tính xác định tương đôi N hư vậy, qu an hệ pháp lu ậ t chung là hiện thực, tôn tạ i trong thực tế, chứ không phải trừ u tượng như ai đó vẫn qu an niệm (mà nếu nói là trừ u tượng thì có lẽ “q u a n hệ pháp lu ậ t tu y ệt đôl” cũng có tín h trừ u tượng, xin được
tr ìn h bày vấn đề này ở một bài viêt khác) Trong q u a n hệ pháp lu ậ t chung, vị trí
c ủ a m ỗ i m ộ t b è n t h a m g i a q u a n h ệ đ ư Ợ c xác đ ị n K b ằ n g m ộ t q u y o h ố p h á p l ý - t r ạ n e
th á i pháp lý Và cũng chính cái trạ n g th á i ph áp lý này là qu an hệ pháp lu ậ t “
qu an hệ pháp lu ậ t chung, chứ không phải là một qu an hệ nào khác mà không phải
q u an hệ pháp luật Trong xã hội có n h à nước, không có một cá n h â n nào có thê hoàn toàn sống ngoài q uan hệ pháp luật Thiếu các qu an hệ ph áp lu ậ t thì cá nhân
không thể thực hiện đưỢc các quyển của mình, thoả mãn được các lợi ích nhu cầu
tin h th ầ n và v ậ t chất P h áp lu ậ t khách q uan có trá c h nhiệm chỉ dẫn cho con ngưòi
cách thức xử sự khách quan, hỢp lý, và đồng thòi ràng buộc con ngưòi bằng những
sự chỉ dẫn đó [16, tr.l6 8 ] T rạn g th á i liên hệ - rà n g buộc pháp lý này chính là quan
hệ ph áp lu ậ t c h u n g ‘Q uan hệ pháp lu ậ t chung th ể hiện một tr ạ n g th á i pháp lý chung của các chù thể, trách nhiệm của họ đôi vói n h a u và với n h à nước Những
q u an hệ pháp lu ậ t chung này cũng chính là những h ìn h thức pháp lý của các quan
hệ xã hội, hơn nữa lại là những qu an hệ xă hội cơ bản, qu an trọng n h ất, Quan hệ pháp lu ậ t chung tồn tại thưòng x u y ê n /’kéo dài", chừng nào mà quy phạm pháp
lu ậ t điểu chỉnh nó vẫn còn hiệu lực, và mỗi ngưòi hay t ấ t cả mọi ngưòi đểu năm trong "trạng th á i p háp lý đó" Cách hiểu như vậy về qu an hệ p háp lu ậ t chung cũng
phù hỢp vối bản thân khái niệm “quan hệ” theo nghĩa xã hội phổ quát: "quan hệ là
sự gắn liền vê m ặ t nào đó giữa hai hay nhiều sự việc khác n h a u ", "là sự dính líu
Trang 6mác mớ vào n h a u một cách thường xuyên hoặc n h ấ t thòi xảy ra trong khoảnh khắc
giữa các bên hữ u quan ” (17, tr.771L [18, tr.59|.
Liên hệ vào lĩnh vực lu ậ t hiến pháp, chúng ta th ấ y sự tồn tại về một loại
quan hệ pháp lu ật chung càng đưỢc thể hiện rõ nét trên cơ sở các quy phạm pháp luật hiên pháp, x u ât hiện những quan hộ pháp lu ậ t chung, ví dụ quan hệ pháp luậl giữa nhà nưỏc và công dân N hững q u an hệ pháp lu ậ t chung này không cụ thể hoá về quyền và nghĩa vụ qua lại của các chủ thể, và cũng không th ể cụ th ể hoá về
cơ bản m ang tín h ch ất quy định chung, thưòng xuyên lên "những nguyên tắc chung làm cơ sơ cho mọi ngành luật, mọi trường hợp cụ thể khác, chứ không chỉ dừng lại
ỏ n h ử n g tìn h huống, nhửng điểu kiện cụ th ể ’T19, tr l3 ] Đây củng chính là đặc thù
và là vai trò của các quy phạm và quan hệ pháp lu ậ t hiến pháp Trên cơ sở các quan hệ p h áp lu ậ t chung này mà hình th à n h nên các q u a n hệ pháp lu ậ t cụ thể
Sau khi các quyển và nghía vụ pháp lý của các chủ th ể đã đưỢc giải quyết trong
(juan hệ pháp lu ậ t cụ thê, q u an hệ pháp lu ậ t cụ th ể chấm dứt, còn q u an hệ pháp
lu ật chung thì vân tiêp tục tồn tại Như vậy, quy p hạm pháp lu ậ t hiên pháp trong
sự tác động trực tiêp có th ể sinh ra hoặc là q u an hệ p h áp lu ậ t chung, hoặc là quan
hệ p h á p lu ậ t cụ thê Q uan hệ pháp lu ậ t chung x u ấ t hiện từ thòi điểm quy phạm
Ị)háp luật điểu chỉnh đó có hiệu lực và tồn tại thưòng xuyên (như một trạng thái
q u an hệ pháp luật), trong một p hạm vi không gian, thòi gian trù n g với sự tác động
cua ban thân hiên pháp Với nghĩa như vậy, các quan hệ pháp luật chung có thể (lược gọi là quan hệ pháp luật mang tính quy chê - quan hệ pháp luật quy ch ế (Statute) - xuàt hiện trực tièp từ luật, từ sự ban hành ván bản luật đó Hướng
nhừng h à n h vi của minh theo nhừng yêu cầu của đạo lu ậ t cơ bản, các chủ thể tương ứng đà trở th à n h nhừng bên th am gia q u an hệ pháp lu ậ t chung
Lý luận vể q u an hệ pháp luật lâu nay thường tập tr u n g nghiên cứu các quan liệ p h áp luật tru y ề n thòng như các quan hệ pháp lu ậ t dân sự Tư duy của lý luận
(]uan hộ pháp luật chủ yôu dược xây dựng Irên môtuýp của các quan hệ pháp lu ật
irong các ngành luật Đòi sông xã hội hiện đại ngày nay dòi hỏi phải tiếp tục đi sâu xem xét các q u a n hộ pháp luật trong các lình vực quan hệ xà hội đa dạng, chứ không chỉ dừng lại ở nhừng lý luận truyền thông vổ quan hệ pháp luật, không chỉ tlừng lại ỏ niôtuýt quan hệ pháp luật dãn sự cần phải xem xét đến những quan
hộ p h áp luật n h à nước - h àn h chính, môtuýp: "nhà nước - nhà nưík"; "nhà nước - còng dân"; "Tổng thống - nghị viện"; "đại biểu - cử tr i” và các hình thức tác động qua lại giừa các bộ p h ận của quyển lực trong việc thực hiện các quy p hạm hiến [)háp Q uan điêm vê quan hộ pháp lu ậ t chung, ph ù hợp với thực tê đã: "góp phần khãc phục chân tròi c h ậ t hẹp của pháp lu ậ t dân sự trong lý lu ậ n về quan hệ pháp luật" (20, tr 41]
Q u an hệ pháp lu ậ t chung có vai trò to lớn trong việc th iế t lập tr ậ t tự xã hội,
là cơ sở đệ hình th à n h những quan hệ pháp lu ậ t cụ th ể phong phú, đa dạng, đáp
Trang 7ứng những đòi hỏi khách quan của đòi sông xã hội Q uan hệ pháp lu ậ t chung nà
càng đưỢc thể hiện rõ nét trong điều kiện nhà nước pháp quyển Quan điêm và s
tồn tại thực tê của q u an hệ pháp lu ậ t chung n h ấ n m ạnh một vân đê ráng: ban th â
n hà nước cũng ở trong khuôn khổ quan hệ ph áp lu ậ t và vói tư cách là bên than gia có nghĩa vụ và trách nhiệm đôi với xã hội và công d â n - (quan hệ đông trac nhiệm) Q uan hệ pháp lu ậ t chung là bộ p h ậ n cấu th à n h cua môi trương ph ap lj|
th iếu cái mà nhà nước pháp quyền không th ể tồn tại được
T rên đây là suy nghĩ của chúng tôi xung q u an h một số vấn đề còn nhiềỊ
tr a n h luận trong khoa học p háp lý vê quan hệ ph áp luật Việc tiêp tục đi sâ
nghiên cứu quan hệ pháp luật có ý nghĩa to lớn, cần thiêt cho sự hoàn thiện lý luận V
quan hệ pháp luật, phục vụ thực tiễn thực hiện pháp luật trong đòi sống xã hội
-[1] Đại học L u ật Hà Nội L ý luận chung về n h à nước và p h á p lu ậ t (giáo trình)
NXB Giáo dục, Hà Nội 1996
[2] L u ậ t hôn nhân và gia đ in h Việt N a m , NXB Công an N hân dân, H à Nội 1998 [3] Yôffe N h ữ n g vấn đ ề tra n h lu ậ n về quan hệ p h á p lu ậ t - B út ký về pháp luậỊ
[4] V.O.Lutrin Quy p h ạ m và quan hệ p h á p lu ậ t hiến pháp NXB Uniti, Matxkơvị
[5] Nguyễn c ử u Việt (chủ biên) N h à nước và p h á p lu ậ t đại cương (Giáo trinhj
[ 6] L ý l u ậ n c h u n g v ề n h à n i / à r v à p h á p l u ậ t ( g i á o t r ì n h ) , k h o a ĩ a i ậ t , Đ a i h o c Tonj
[7] L ý lu ậ n chung về nhà nước và pháp luật NXB Đại học Tổng hỢp Lêningr^
[8] x x Alexev L ý lu ậ n chung về p h á p lu ậ t - tậ p 2, NXB P h áp lý, Matxkđva 198
(bản tiếng Nga)
[9] Viện n h à nưốc và pháp luật N h ữ n g vân đ ề lý lu ậ n cơ bản về nhà nước và ph(ị
lu ậ t NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995.
[10] Học viện hà-nh chính quôc gia L ý lu ậ n chung về nhà nước và p h á p lu ậ t (giá
trìn h ) (dùng cho đào tạo Đại học H àn h chính) NXB Chính trị Quôc gia, H Nội 1977
[11] T rầ n Ngọc Đưòng (chủ biên) L ý lu ậ n chung về nhà nước và p h á p luật NX
C hính trị Quốc gia, Hà Nội 1998
[12] L u ậ t d â n sự Việt N a m , (giáo trình) Đại học L u ậ t Hà Nội NXB Công an nhâ
dân, Hà Nội 1997
Trang 8[131 Đào Trí úc N hững vấn đề cơ bản về pháp luật NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội
1993
[14] A.E.Kazlov (chủ biên) L u ậ t hiến p h á p NXB BEK, Matxkơva 1996
[151 Quj/ p h ạ m hiến p h á p và quan hệ p h á p luật Hiệp hội Xuất bản “U N IT Y ’,
Matxkớva 1997
116] Y.A.Ylin, Về bản chất ý thức p h á p lu ậ t, NXB P h á p lý Matxkơva 1993.
117] Từ điển tiếng Việt, T ru n g tâm Từ điển học Hà Nội Việt Nam NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội 1994
[18] Đoàn Văn Chúc X ã hội học văn hóa Viện Văn hóa và NXB Vàn hóa Thông
tin, Hà Nội 1997
[19] Nguyễn Đ ăng Dung L u ậ t H iến p h á p Việt N a m NXB TP Hồ Chí M inh 1996.
[20] Đ.A.Kovatrev Chức năng, nhiệm vụ, th ẩ m quyên và nàng lực p h áp lu ậ t của cơ
quan n h à nưốc Tạp c h í L u ậ t học, sô"4 (1985) (bản tiếng Nga).
VNU JOURNAL OF SCIENCE, SOC„ SCI., t.x v , N“2, 1999
SOME VIEWS ABOUT THE LEGAL RELATION
H oan g Thi Kim Que
Faculty o f Law College o f Social Sciences & H um anities - VNU
The a u th o r p re sen ts some theoretical views about the concept and classifying
tho li'gnl rcln tio n , t h a t h n v c a lot of a r g u in g by tlic la w y e r By c m p h u a iz in g th u t
the legal relation is the legal form of social relation, the a u th o r has recognized th a t beside the p a rtic u la r legal relation it also rem ain s the common legal relation The
au th o r also confirms th a t in the recent years, the common legal relation brings into play its effect in S ta te of law, in which S tate and its civil have m u tu al rosponsible relation