1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số vấn đề về quan hệ bảo lãnh ngân hàng ở nước ta hiện nay " pptx

6 490 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 145,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo l,nh ngân hàng không phải là hợp đồng vì chỉ là cam kết một bên.1 Điều 366 Bộ luật dân sự xác định các bên cũng có thể thoả thuận về việc người bảo l,nh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ k

Trang 1

TS Võ Đình Toàn * rong điều kiện nền kinh tế thị trường

hiện đại, hoạt động của các ngân hàng

đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự

phát triển Bảo l,nh là loại dịch vụ kinh doanh

có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy

các giao dịch về vốn, các giao dịch dân sự -

thương mại không chỉ ở trong lĩnh vực tín

dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp

đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm

Từ cuối những năm 70 của thế kỉ trước, ở

các nước, bảo l,nh do các ngân hàng thực

hiện đ, tương đối phát triển Điều này thể

hiện ở Bản quy tắc số 325 về bảo l,nh hợp

đồng (ban hành năm 1978), Bản quy tắc số

458 về bảo l,nh theo yêu cầu (ban hành năm

1992) do Phòng thương mại quốc tế Pari ban

hành ở nước ta, từ những năm 80, bảo l,nh

ngân hàng đ, được đề cập trong các văn bản

pháp luật Tuy vậy, trong khoảng từ năm

1980 đến năm 1990, bảo l,nh của ngân hàng

thực chất chỉ do Ngân hàng nhà nước thực

hiện và được sử dụng như công cụ hỗ trợ cho

doanh nghiệp nhà nước vay vốn nước ngoài

để phát triển sản xuất, kinh doanh Sau khi

Pháp lệnh ngân hàng nhà nước Việt Nam,

Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác x, tín dụng và

công ti tài chính được ban hành thì bảo l,nh

ngân hàng mới được các văn bản pháp luật

ghi nhận với tính cách là loại nghiệp vụ kinh

doanh ngân hàng Hiện nay, ngoài các quy

định của Bộ luật dân sự về bảo l,nh thực hiện

nghĩa vụ dân sự (các điều từ 366 đến điều 376), các quy định của Luật các tổ chức tín dụng (các điều từ 58 đến điều 60) về bảo l,nh ngân hàng, Quy chế bảo l,nh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283 /2000/QĐ -NHNN14 ngày 25/8/2000 của thống đốc Ngân hàng nhà nước là văn bản pháp luật quy định có

hệ thống về bảo l,nh do ngân hàng thực hiện Bảo l,nh ngân hàng là dạng của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (giao dịch bảo đảm) mang tính phái sinh Vấn đề được đặt ra là quan hệ bảo l,nh có phải là quan hệ hợp đồng hay chỉ

là cam kết đơn phương? Hợp đồng bảo l,nh ngân hàng được kí kết giữa những chủ thể nào? Trong trường hợp phát sinh tranh chấp

về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo l,nh thì cơ quan tài phán có thể xem xét một cách độc lập với quan hệ phát sinh nghĩa vụ được bảo l,nh hay không?

1 Bản chất của cam kết bảo lãnh Bảo l,nh là việc người thứ ba (gọi là người bảo l,nh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo l,nh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo l,nh) nếu đến thời hạn mà người được bảo l,nh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng

có thể thoả thuận về việc người bảo l,nh chỉ

T

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo

l,nh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ

của mình (Điều 336 BLDS)

Liệu cam kết của người bảo l,nh có thể

xem là hành vi giao kết hợp đồng hay không?

Có quan điểm cho rằng cam kết của người

bảo l,nh không thể xem là hành vi giao kết

hợp đồng vì đây chỉ là hành vi cam kết đơn

phương Bảo l,nh ngân hàng không phải là

hợp đồng vì chỉ là cam kết một bên.(1)

Điều 366 Bộ luật dân sự xác định các bên

cũng có thể thoả thuận về việc người bảo l,nh

chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được

bảo l,nh không có khả năng thực hiện nghĩa

vụ của mình Với nội dung quy định như vậy,

Bộ luật dân sự đ, thể hiện rõ là quan hệ bảo

l,nh phát sinh trên cơ sở thoả thuận từ việc

đưa ra cam kết của người bảo l,nh Sự ghi

nhận yếu tố thoả thuận này chứng tỏ quan hệ

bảo l,nh không phát sinh mang tính đơn

phương bằng cam kết của riêng bên bảo l,nh

Trong thực tiễn pháp lí, quan niệm quan

hệ bảo l,nh là quan hệ hợp đồng là tư tưởng

pháp lí mang tính phổ biến Theo cuốn từ điển

pháp luật của Hoa Kì, bảo l,nh là sự thoả

thuận theo đó người bảo l,nh chấp thuận sẽ

thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên

nợ không trả nợ; là việc bên bảo l,nh bảo

đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có

nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ

không thực hiện.(2) Bộ dân luật của chính

quyền Sài Gòn trước đây cũng xác định: "Khế

ước bảo chứng là những khế ước có mục đích

bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ trong trường

hợp trái hộ lâm vào tình trạng vô tư lực

không trả được nợ"

Như vậy, có thể thấy rõ rằng việc xác

định yếu tố thoả thuận trong quan hệ bảo l,nh

(dấu hiệu cơ bản của quan hệ hợp đồng) được thể hiện khá rõ trong tư tưởng pháp lí không chỉ riêng ở Bộ luật dân sự Vì vậy, sự thoả thuận giữa bên bảo l,nh với bên nhận bảo l,nh (bên chấp nhận hành vi bảo l,nh của bên bảo l,nh) là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ bảo l,nh Đối với cam kết bảo l,nh

mà bên bảo l,nh đưa ra thì không nên xem đó chỉ là cam kết đơn phương mà về bản chất pháp lí đó là văn bản dự thảo hợp đồng, nếu không được bên nhận bảo l,nh chấp nhận thì quan hệ bảo l,nh không được thiết lập Việc xác định đúng bản chất pháp lí của bảo l,nh là cơ sở để phân định cơ cấu chủ thể của nó Xét về biểu hiện bên ngoài, trong việc bảo l,nh có ba bên: Bên bảo l,nh, bên nhận bảo l,nh và bên được bảo l,nh Tuy vậy, về mặt pháp lí, quan hệ hợp đồng bảo l,nh đòi hỏi bắt buộc phải có hai bên: Bên bảo l,nh và bên nhận bảo l,nh Theo chúng tôi, việc tham gia kí kết của bên được bảo l,nh không phải

là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp

đồng bảo l,nh, mặc dù cam kết của bên được bảo l,nh về việc thực hiện nghĩa vụ với bên bảo l,nh sau khi họ thực hiện nghĩa vụ thay cho mình là cơ sở để người bảo l,nh đưa ra cam kết bảo l,nh Bởi vì, theo quy định của

Điều 366 Bộ luật dân sự thì cam kết bảo l,nh

được đưa ra và chấp nhận giữa hai bên là

"người thứ ba" (gọi là người bảo l,nh) và "bên có quyền" (gọi là người nhận bảo l,nh) Còn việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo l,nh

được quy định ở Điều 372 như sau: Khi người bảo l,nh đ, hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu người được bảo l,nh thực hiện nghĩa

vụ đối với mình trong phạm vi đ, bảo l,nh nếu không có thoả thuận khác

Khoản 1 Điều 58 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 quy định: “Tổ chức tín dụng

Trang 3

được bảo l-nh bằng uy tín và khả năng tài

chính của mình đối với người nhận bảo l-nh”

Với các quy định trên đây của pháp luật,

cho thấy bên được bảo l,nh là bên thụ hưởng

lợi ích từ hợp đồng bảo l,nh mà không phải là

bên đóng vai trò thiết lập hợp đồng bảo l,nh -

bên bắt buộc kí kết hợp đồng bảo l,nh Trong

thực tế, về mặt kĩ thuật các bên có thể kí kết

hợp đồng bảo l,nh gồm 3 bên: Bên bảo l,nh,

bên nhận bảo l,nh, bên được bảo l,nh Tuy

nhiên, do bên nhận bảo l,nh và bên được bảo

l,nh không phải là các bên chủ thể thuộc cấu

trúc chủ thể của hợp đồng bảo l,nh nên họ

không có các quyền và nghĩa vụ tương ứng

như quan hệ giữa người bảo l,nh và người

nhận bảo l,nh Trong trường hợp bên nhận

bảo l,nh và bên được bảo l,nh kiện nhau thì

tư cách của họ không phải là tư cách của các

bên kí kết hợp đồng bảo l,nh mà với tư cách

của chủ thể quan hệ hợp đồng có nghĩa vụ

của người được bảo l,nh được đảm bảo bằng

biện pháp bảo l,nh

Khi tổ chức tín dụng thực hiện bảo l,nh

thì các quan hệ sau đây phát sinh:

Thứ nhất, quan hệ giữa tổ chức tín dụng

với bên có quyền (bên nhận bảo l,nh)

Thứ hai, quan hệ dịch vụ bảo l,nh giữa tổ

chức tín dụng với khách hàng (bên có nghĩa vụ

với bên nhận bảo l,nh) phát sinh do thoả thuận

giữa các bên trong việc tổ chức tín dụng sẽ thực

hiện nghĩa vụ thay khách hàng và nghĩa vụ hoàn

trả của khách hàng với tổ chức tín dụng

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân

sự, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 thì

đối với quan hệ phát sinh do việc tổ chức tín

dụng cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện

nghĩa vụ thay cho khách hàng (người được

bảo l,nh) là quan hệ bảo l,nh và giao kết dưới

hình thức văn bản hợp đồng bảo l,nh Tuy vậy, tại khoản 6 Điều 2 Quy chế bảo l,nh ngân hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước) có giải thích: "Hợp đồng bảo l,nh" là văn bản thoả thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo l,nh và hoàn trả" Nội dung giải thích như vậy, theo chúng tôi, không phù hợp với quy định của Bộ luật dân

sự và quy định của Luật các tổ chức tín dụng

về bảo l,nh và hợp đồng bảo l,nh Trong khi

đó tại khoản 5 Điều 2 của Bản quy chế này có giải thích: "Cam kết bảo l,nh" là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng hoặc văn bản thoả thuận giữa tổ chức tín dụng, khách hàng được bảo l,nh với bên nhận bảo l,nh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đ, cam kết với bên nhận bảo l,nh Chúng tôi cho rằng thuật ngữ "cam kết bảo l,nh" được giải thích theo nội dung trên đây chính là hợp

đồng bảo l,nh được quy định tại Điều 366 Bộ luật dân sự và Điều 58 Luật các tổ chức tín dụng về bảo l,nh ngân hàng

Như đ, dẫn giải trên đây, quan hệ phát sinh giữa tổ chức tín dụng với bên có quyền (bên nhận bảo l,nh) về việc tổ chức tín dụng

sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay khách hàng (bên được bảo l,nh) là quan hệ hợp

đồng bảo l,nh Còn quan hệ về quyền, nghĩa

vụ của tổ chức tín dụng với khách hàng (bên

được bảo l,nh) thực chất cũng là quan hệ hợp

đồng nhưng có cấu trúc chủ thể riêng so với hợp đồng bảo l,nh Mặc dù Bản quy chế bảo l,nh ngân hàng được ban hành nhằm điều chỉnh việc thực hiện nghiệp vụ bảo l,nh của

Trang 4

các tổ chức tín dụng đối với khách hàng

nhưng để bảo đảm sự phù hợp về nội dung

điều chỉnh, tạo cơ sở cho việc áp dụng thống

nhất pháp luật cần được sửa đổi theo hướng:

Thứ nhất, định danh hợp đồng giao kết giữa

tổ chức tín dụng (bên bảo l,nh) với bên có

quyền (bên nhận bảo l,nh) là hợp đồng bảo

l,nh ngân hàng và về bản chất đây là dạng

hợp đồng bảo đảm (giao dịch bảo đảm) Thứ

hai, không nên xác định tính đơn phương của

cam kết bảo l,nh của tổ chức tín dụng Bởi vì,

như phần đầu đ, trình bày, cam kết bảo l,nh

chỉ phát sinh hiệu lực khi có sự chấp thuận

của bên nhận bảo l,nh Mặc dù trên thực tế,

trong trường hợp chấp nhận cam kết bảo l,nh

do ngân hàng phát hành, bên nhận bảo l,nh

có thể không kí vào văn bản cam kết bảo l,nh

mà chỉ thể hiện sự đồng ý thông qua việc thực hiện các cam kết với bên được bảo l,nh Thứ

ba, xuất phát từ tính kinh doanh của nghiệp

vụ bảo l,nh mà tổ chức tín dụng thực hiện cho khách hàng nên định danh hình thức pháp

lí của nó là hợp đồng dịch vụ bảo l,nh Tóm lại, căn cứ vào cấu trúc chủ thể kí kết và thực hiện hợp đồng trong hoạt động bảo l,nh ngân hàng theo quy định của pháp luật, có hai loại quan hệ hợp đồng, đó là quan

hệ hợp đồng bảo l,nh ngân hàng và quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo l,nh ngân hàng (xem sơ

đồ) Việc phân định rõ hai loại quan hệ tồn tại song song này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định thẩm quyền của toà án trong giải quyết tranh chấp

Tổ chức tín dụng

(Bên bảo lãnh)

Bên có quyền

(Bên nhận bảo lãnh)

Bên có nghĩa vụ

(Bên được bảo lãnh)

Trang 5

2 Vấn đề xác định thẩm quyền của

toà án

Vấn đề xác định thẩm quyền của toà án

trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo

l,nh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo l,nh

ngân hàng mang tính độc lập hiện nay chưa

được pháp luật quy định cụ thể

Theo quy định của Quy chế bảo l,nh

ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số

283/2000/QĐ-NHNN14 của Thống đốc Ngân

hàng nhà nước thì bên bảo l,nh là các tổ chức tín

dụng Còn bên nhận bảo l,nh (bên có quyền)

là các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực pháp

luật và năng lực hành vi dân sự Mặc dù Quy

chế bảo l,nh ngân hàng không trực tiếp quy

định các loại chủ thể cụ thể có thể là bên nhận

bảo l,nh nhưng căn cứ vào các loại hình bảo

l,nh mà các tổ chức tín dụng được phép thực

hiện, có thể xác định bên nhận bảo l,nh là tổ

chức, cá nhân có đủ năng lực pháp luật và

năng lực hành vi tham gia các loại hợp đồng

sau: Hợp đồng tín dụng; các loại hợp đồng cung

ứng dịch vụ, sản phẩm phát sinh quan hệ thanh

toán; các loại hợp đồng phát sinh trách nhiệm

vật chất khi vi phạm hợp đồng

Điều 4 Quy chế bảo l,nh ngân hàng quy

định khách hàng được bảo l,nh gồm có: Doanh

nghiệp nhà nước; các loại doanh nghiệp theo

quy định của Luật doanh nghiệp; hợp tác x,;

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

doanh nghiệp nước ngoài tham gia hợp đồng

hợp tác liên doanh và tham gia các dự án đầu

tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các

dự án đầu tư tại Việt Nam; các tổ chức tín

dụng; hộ kinh doanh cá thể

Như vậy, căn cứ vào loại chủ thể và mục

đích tham gia kí kết hợp đồng bảo l,nh và hợp

đồng dịch vụ bảo l,nh, căn cứ vào các quy

định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các quy

định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng bảo l,nh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo l,nh ngân hàng có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự

Vấn đề được đặt ra là trong trường hợp phát sinh tranh chấp từ hợp đồng bảo l,nh ngân hàng hay từ hợp đồng dịch vụ bảo l,nh ngân hàng thì có thể xem xét các tranh chấp này độc lập với hợp đồng chính (hợp đồng kí kết giữa bên nhận bảo l,nh với bên được bảo l,nh) hay không?

Trước đây, theo quy định của Nghị định

số 17/HĐBT ngày 16/ 01/1990 của Hội đồng

bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì việc xử lí tài sản thế chấp, cầm cố, bảo l,nh khi có vi phạm hợp

đồng kinh tế được thực hiện cùng với giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 165/1999/NĐ - CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm thì quy định trên đây của Nghị định số 17/HĐBT hết hiệu lực thi hành Đến nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về vấn đề này

Căn cứ vào quy định của Pháp lệnh hợp

đồng kinh tế, quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng bảo l,nh ngân hàng (kí kết giữa tổ chức tín dụng với bên có quyền) và hợp đồng dịch vụ bảo l,nh ngân hàng (kí kết giữa tổ chức tín dụng với bên được bảo l,nh) có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự Mặc

dù hiện nay ở nước ta, vấn đề cơ sở để phân

định hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự có nhiều ý kiến khác nhau nhưng không thể giản

đơn mà cho rằng, tất cả hợp đồng bảo đảm (giao dịch bảo đảm) đều là hợp đồng dân sự Cần thấy rằng các biện pháp bảo đảm nghĩa

Trang 6

vụ được quy định trong Bộ luật dân sự nhưng

pháp luật có các quy định có tính phân biệt

giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự Bởi

vậy, nếu xác định tất cả các hợp đồng bảo

đảm nghĩa vụ (trong đó có hợp đồng bảo l,nh

ngân hàng) là hợp đồng dân sự sẽ không phù

hợp với pháp luật về hợp đồng kinh tế và pháp

luật về hợp đồng dân sự Ví dụ: Nếu xem là

hợp đồng dân sự sẽ không phù hợp với pháp

luật hợp đồng kinh tế đối với trường hợp tổ

chức tín dụng kí hợp đồng bảo l,nh với doanh

nghiệp (bên nhận bảo l,nh) để công ti cổ phần

(bên được bảo l,nh) dự thầu Căn cứ vào Pháp

lệnh hợp đồng kinh tế thì cả hợp đồng bảo

l,nh ngân hàng và hợp đồng dịch vụ bảo l,nh

ngân hàng đều thoả m,n điều kiện của hợp

đồng kinh tế Bởi vì, các bản hợp đồng trên

đều được kí kết giữa các chủ thể kinh doanh,

đều thoả m,n điều kiện là phải có một bên

tham gia kí kết hợp đồng có tư cách pháp

nhân và đều nhằm mục đích kinh doanh

Mặc dù đều mang tính phái sinh, phụ

thuộc vào hợp đồng được bảo đảm (hợp đồng

chính) nhưng do hợp đồng bảo l,nh ngân hàng

và hợp đồng dịch vụ bảo l,nh ngân hàng có cơ

cấu chủ thể mà các quyền, nghĩa vụ tương ứng

mang tính độc lập nên về mặt tố tụng nếu xem

tất cả các quan hệ tranh chấp từ các hợp đồng

này phụ thuộc vào hợp đồng chính sẽ không

hợp lí Chẳng hạn, nếu tranh chấp phát sinh

giữa tổ chức tín dụng với bên nhận bảo l,nh

được xem là tranh chấp mang tính phái sinh

thì rõ ràng tổ chức tín dụng hoặc bên nhận bảo

l,nh không thực hiện được quyền khởi kiện

một cách độc lập Mặt khác, nếu các bên tham

gia hợp đồng bảo l,nh ngân hàng hoặc hợp

đồng dịch vụ bảo l,nh ngân hàng không có

quyền khởi kiện độc lập và toà án không xem

xét tranh chấp một cách độc lập với hợp đồng chính thì vấn đề đặt ra là họ tham gia tố tụng với tư cách gì? Nếu xem họ là đồng nguyên

đơn, đồng bị đơn hoặc chỉ với tư cách là người

có quyền, nghĩa vụ liên quan thì trong nhiều trường hợp họ không thể chủ động thực hiện các hành vi trong tố tụng như khởi kiện, tham gia phiên toà, kháng cáo để bảo vệ quyền lợi của mình Chẳng hạn, tổ chức tín dụng và bên

được bảo l,nh tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thì rõ ràng tranh chấp này

có tính độc lập về quyền, nghĩa vụ với hợp

đồng chính nên có thể giải quyết một cách

độc lập

Từ những dẫn giải trên đây chúng tôi cho rằng trên cơ sở xác định các loại quan hệ hợp

đồng liên quan tới bảo l,nh ngân hàng, để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bảo l,nh, bên nhận bảo l,nh và bên được bảo l,nh, pháp luật cần có quy định cụ thể theo hướng: Cho phép cơ quan giải quyết tranh chấp có thể xem xét giải quyết các tranh chấp về hợp đồng bảo l,nh ngân hàng, hợp đồng dịch vụ bảo l,nh ngân hàng độc lập nếu các quyền, nghĩa

vụ bị tranh chấp không phụ thuộc vào hợp

đồng chính Hướng giải quyết như vậy sẽ tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong việc bảo l,nh của ngân hàng một cách kịp thời, thúc đẩy dịch vụ bảo l,nh của các tổ chức tín dụng phát triển, phát huy vai trò to lớn của chúng trong việc tăng tốc

độ chu chuyển các nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế./

(1).Xem: Lê Nguyên - “Bảo l,nh ngân hàng và tín dụng

dự phòng”, Nxb Thống kê 1996, tr.44

(2).Xem: Black Dictionary Law, ST Paul, Minn West Publishing Co 1991, tr.487

Ngày đăng: 31/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w