Từ định hướng chung của đổi mới PPDH nêu trên, định hướng đổi mới PPDH địa lý là “Tích cực hoá hoạt động học tập của HS nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS trong học tập”. Cụ t[r]
Trang 1-PHẠM THU PHƯƠNG (Chủ biên) – NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
PHẠM THỊ SEN – PHẠM THỊ THANH
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
MÔN ĐỊA LÍ TRUNG HỌC CƠ SỞ
Trang 2-Phần I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
I ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ (THCS)
1 Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí và mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí trường THCS
1.1 Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học địa lí
Trước những yêu cầu của xã hội, thời đại và sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, mục tiêudạy học của môn Địa lí ngày nay không đơn thuần chỉ là cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹnăng địa lý cho học sinh (HS), mà qua đó phải góp phần cùng với các môn học khác đào tạo ranhững con người có năng lực hành động; tính sáng tạo, năng động, tính tự lực và trách nhiệm;năng lực cộng tác làm việc, năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết những tìnhhúông, vấn đề của cuộc sống, xã hội
Để đạt được mục tiêu nói trên, nội dung dạy học Địa lí ở trường THCS cũng đã có sự thayđổi, một số nội dung mới được đưa vào chương trình, vì vậy chương trình hiện hành toàn diện vàcập nhật hơn so với chương trình cũ
Đồng thời với sự thay đổi nội dung chương trình (CT), việc thể hiện nội dung chương trìnhtrong sách giáo khoa (SGK) Địa lí của các lớp cũng có sự đổi mới, SGK không chỉ còn là tài liệutrình bày kiến thức để HS dựa vào đó mà trả lời các câu hỏi của GV nêu ra trên lớp, ghi nhớ,kiểm tra, thi cử, mà được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để GV tổ chức các hoạt động họctập tự giác, tích cực, độc lập của HS Bên cạnh việc cung cấp kiến thức, SGK cũng chú trọngđến cách thức làm việc để HS có thể tự khám phá, lĩnh hội kiến thức
Sự thay đổi mục tiêu và nội dung dạy học đòi hỏi PPDH cũng phải thay đổi cho phù hợp,chỉ khi người GV địa lí chuyển tự dạy học theo kiểu liệt kê, mô tả và thông báo – tái hiện sangmột theo kiểu dạy học mới đòi hỏi HS phải làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn thì khi đómới có thể phát triển ở HS các năng lực tư duy, sáng tạo và năng lực hành động như mục tiêudạy học đã xác định, đồng thời mới đảm bảo được nội dung dạy học
1.2 Mục tiêu của đổi mới PPDH Địa lí.
Đổi mới PPDH địa lí nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học địa lí ở các
trường THCS.
Chất lượng dạy học địa lí được nâng cao thể hiện ở chỗ HS tiếp thu nội dung bài học tốthơn, nắm vững kiến thức địa lí hơn, các kỹ năng thực hành và trí tuệ được hình thành và phát
Trang 32 Quan điểm đổi mới PPDH Địa lí.
2.1 Đổi mới PPDH Địa lí theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS không có
nghĩa là loại bỏ PPDH hiện có (hay còn gọi là các PPDH truyền thống) và thay vào đó là các PPDH mới (hay còn gọi là PPDH hiện đại) bởi các PPDH hiện có như phương pháp giảng dạy
dùng lời, phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan… vẫn rất cần thiết trong quá trình dạyhọc, mà phải tìm ra cách vận dụng và phối hợp các PPDH một cách linh hoạt nhằm phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập Cần kế thừa, phát triển những mặt tích cựccủa các PPDH hiện đang dùng, đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số PPDH mới phù hợp vớihoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta hiện nay
2.2 Đổi mới PPDH không chỉ là đổi mới phương pháp dạy(cách dạy) của thầy mà còn phảiquan tâm đến phương pháp học (cách học) của trò, phải “dạy cách tự học” cho HS Từ đó, từngbước hình thành cho HS năng lực tự học để họ có thể tự bổ sung kiến thức và học thường xuyênsuốt đời
2.3 Cần đa dạng hoá các hình thức dạy – học (cá nhân, theo nhóm, theo lớp: học trong lớp
và trên thực địa…) nhằm hình thành và phát triển ở HS khả năng sáng tạo, năng lực hợp tác,năng lực giao tiếp…
2.4 Đổi mới PPDH phải chú ý tới đặc trưng về nội dung và phương pháp của môn học.PPDH có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, vì vậy bên cạnh những phương phápchung có thể sử dụng cho nhềiu bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các PPDH đặc thù có vai tròquan trọng trong dạy học bộ môn
2.5 Đổi mới PPDH phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS, bởi đánh giákết quả hộc tập của HS là một thành tố của quá trình dạy học, có mối quan hệ mật thiết với cácthành tố khác của quá trình dạy học, đặc biệt với PPDH, sự đổi mới đánh giá sẽ có tác dụng thúcđẩy đổi mới PPDH
3 Định hướng và giải pháp đổi mới PPDH Địa lí.
3.1 Định hướng chung.
Định hướng đổi mới PPDH đã được khẳng định trong Nghị quyết trung ương 4 khoá VII,Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII và được pháp chế hoá trong Luật giáo dục
Trang 4-Luật giáo dục, Điều 28.2, đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Theo đó, định hướng chung của đổi mới PPDH là “Tích cực hoá hoạt động học tập của
HS” Tích cực ở đây là tích cực trong hoạt động nhận thức, tích cực trong tư duy, tích cực một
cách chủ động Điều đó có nghĩa là HS chủ động trong toàn bộ quá trình phát hiện, tìm hiểu vàgiải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV
Như vậy, cốt lõi của đổi mới PPDH là giúp HS hướng tới hoạt động học tập chủ dộng,
chống lại thói quen học tập thụ động.
3.2 Định hướng và giải pháp đổi mới PPDH địa lí.
3.2.1 Định hướng.
Từ định hướng chung của đổi mới PPDH nêu trên, định hướng đổi mới PPDH địa lý là
“Tích cực hoá hoạt động học tập của HS nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS
trong học tập” Cụ thể: Đổi mới PPDH Địa lý cần tạo điều kiện để HS trở thành chủ thể nhận
thức, tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong hoạt động để kiến tạo kiến thức HS cần phảithực sự hoạt động để đạt được không chỉ những tri thức và kỹ năng của bộ môn,mà quan trọgnhơn là tiếp thu được cách học, cách tự học Do đó, người thầy phải là người tổ chức, chỉ đạo,điều khiển các hoạt động học tập tự giác, chủ động và sáng tạo của HS Người thầy sẽ không còn
là “nguồn phát thông tin duy nhất”, không phải là người hoạt động chủ yếu ở trên lớp như trướcđây mà sẽ là người tổ chức và điều khiển quá trình học tập của HS
3.2.2 Một số giải pháp.
Đổi mới PPDH địa lí là một quá trình phức tạp vì nó đòi hỏi phải tác động đén nhiều yếu tốkhác nhau Để đổi mới thành công PPDH đại lí ở các trường THCS theo định hướng trên, cần đổimới một cách toàn diện, đồng bộ các bộ phận cấu thành của quá trình dạy học Địa lí, từ việc đổimới cách soạn giáo án, tổ chức dạy học,đổi mới việc sử dụng các PPDH đến việc đổi mới kiểmtra, đánh giá kết quả học tập của HS
a) Đổi mới trong việc soạn giáo án
Để có thể phát huy được tính tích cực, chủ động của HS trong hoạt động học tập, việc soạn
giáo án hiện nay không đơn thuần chỉ là việc tóm tắt những nội dung chính của SGK, mà giáo
án phải là một bản thiết kế các hoạt động của GV và HS trên lớp Vì vậy việc soạn giáo án còn
được gọi là thiết kế giáo án
* Nội dung cơ bản, cốt lõi của một giáo án bao gồm hai thành phần cơ bản có quan hệ chặcchẽ với nhau Một là những tình huống học tập, những vấn đề , những bài tập nhận thức được đặt
ra từ nội dung bài học phù hợp với trình độ tiếp thu của HS Hai là, ứng với mỗi tình huống học
Trang 5*Các bước thiết kế giáo án:
Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học
Xác định mục tiêu của bài là bước đầu tiên, cũng là bước quan trọng nhất khi thiết kế giáo
án Mục tiêu cần chỉ ra chính xác và cụ thể những gì mà HS phải đạt được sau bài học đó, mụctiêu cũng cần được diễn đạt như thế nào để dễ dàng xác định được rằng mục tiêu đã đạt được haychưa Trên cơ sở nội dung của mỗi bài, GV cần nêu lên một cách cụ thể về các mặt kiến thức, kỹnăng, thái độ mà HS cần có được sau bài học đó
Mục tiêu của dạy học địa lý hiện nay không chỉ nhằm làm cho HS hiểu và ghi nhớ kiếnthức, mà còn phải biết vận dụng kiến thức, biết cách làm việc (các thao tác) với các phương tiệnhọc tập và biết vận dụng các thao tác tư duy để phát hiện và giải quyết vấn đề, để tự chiếm lĩnhkiến thức Do đó, GV cần sử dụng các động từ khi xác định mục tiêu bài học (động từ hoá mụctiêu) Như vậy mục tiêu bài học phải vừa phản ánh quá trình nhận thức bài học của HS, vừa thểhiện cả kết quả của quá trình đó
Bước 2: Xác định kiến thức trọng tâm, các nội dung chính của bài
Những nội dung đó cần được nêu lên thành các vấn đề, các câu hỏi, bài tập (hoặc sử dụngcác câu hỏi, bài tập có sẵn trong bài)
Bước 3: Thiết kế các hoạt động của GV và HS
Căn cứ vào mục tiêu của bài, cùng với các vấn đề, các câu hỏi, bài tập đã xác định và cácphương tiện dạy học có thể có được GV cần nhắc và thiết kế các hoạt động của HV và HS Cáchoạt động này cần được sắp xếp một cách hợp lý theo tiến trình của bài dạy
Sau khi thiết kế các hoạt động, GV cần dự kiến hình thức hoạt động của HS (theo cá nhân,theo cặp hay theo nhóm…) và thời gian dành cho mỗi hoạt động Tuỳ theo nội dung của các vấn
đề, câu hỏi, bài tập đặt ra dễ hay khó, đơn giản hay phức tạp mà GV yêu cầu HS sẽ làm việc cánhân hay theo nhóm và thời gian dành cho mỗi hoạt động nhiều hay ít
Kết quả của bước này là GV lập được kế hoạch chi tiết về hoạt động của GV và HS trongquá trình dạy học trên lớp, bao gồm: Các hoạt động, hình thức hoạt động và thời gian của mỗihoạt động
Trang 6- Mỗi GV có thể thiết kế và trình bày giáo án dưới các hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vàođiều kiện dạy học, vào đối tượng HS Tuy vậy, trong khi thiết kế giáo án, cần lưu ý một số điểmquan trọng:
+ Xác định rõ mục tiêu của bài học
+ Bài giảng phải có cấu trúc logic
+ Cần có nhiều hoạt động của HS
+ Có nhiều PPDH khác nhau
b) Đổi mới trong tổ chức dạy học trên lớp
Lý luận dạy học hiện đại đã khẳng định con người phát triển trong hoạt động và bằng hoạtđộng Vì vậy, đổi mới PPDH địa lí phải làm sao phát huy mạnh mẽ các hoạt động tích cực, tựgiác, sáng tạo của HS bằng việc tăng cường các hoạt động học tập, các hoạt động tương tác, hợp
tác của HS Điều này chỉ có thể thực hiện được khi việc dạy học trên lớp được tiến hành thông
qua tổ chức các hoạt động học tập của HS.
*Tổ chức và hướng dẫn HS hoạt động và các phương tiện dạy học (PTDH) địa lí.
Do đặc trưng về nội dung, phương pháp nghiên cứu và PTDH địa lí, nên việc tổ chức vàhướng dẫn các hoạt động học tập của HS trước hết là hướng dẫn HS khai thác kiến thức từ cácPTDH địa lí như bản đồ, mô hình, tranh ảnh địa lí, băng đĩa hình… các PTDH này cũng chính lànhững nguồn kiến thức địa lí
Từ đó, HS vừa có kiến thức, vừa được rèn luyện các kỹ năng và phương pháp học tập địa lí
* Tổ chức, hướng dẫn HS thu thập, xử lý thông tin trong SGK và trình bày lại
SGK Địa lí mới được biên soạn theo tinh thần cung cấp các tình huống, các thông tin đãđược lựa chọn kỹ để GV có thể tổ chức, hướng dẫn HS thu thập, phân tích và xử lý các thông tin
Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trên lớp, GV cần hướng dẫn HS thu thập và xử lý thông tintrong SGK Địa lí
- Thu thập thông tin: hoạt động thu thập thông tin của HS được tiến hành qua việc quan sátcác hình vẽ, tranh ảnh, bản đồ, lược đồ (kênh hình) và qua bài viết (kênh chữ) trong SGK
- Xử lý thông tin và trình bày lại: thông qua các câu hỏi, bài tập trong mỗi bài, GV hướngdẫn HS căn cứ vào các thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết về một hiệntượng, sự vật địa lý hoặc nêu các biểu tượng, khái niệm, các mối quan hệ địa lí…
Thông qua hoạt động thu thập và xử lý thông tin để khai thác, lĩnh hội kiến thức, HS sẽ cóđược phương pháp học tập, biết cách thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn tài liệu địa lí khác,
từ đó hình thành năng lực tự học
* Tổ chức hoạt động của HS theo những hình thức học tập khác nhau
Để có thể tích cực hoá hoạt động học tập của HS thì ngoài hình thức tổ chức học tập chungtheo lớp như hiện nay, nên tổ chức cho HS học tập cá nhân và học tập theo nhóm ngay tại lớp
Trang 7- Hình thức học tập cá nhân
Dạy học theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ
và nghị lực cao của mỗi HS trong quá trình tự lực giành lấy kiến thức mới Do đó, hình thức họctập cá nhân là hình thức học tập cơ bản nhất vì nó tạo điều kiện cho mỗi HS trong lớp được suynghĩ, được tự làm việc một cách tích cực để khai thác và lĩnh hội kiến thức mới Đồng thời, hìnhthức này cũng tạo điều kiện để HS bộ lộ khả năng tự học của mỗi người
- Hình thức học tập theo nhóm
Trong học tập, không phải bất kỳ một nhiệm vụ học tập nào cũng có thể được hoàn thànhbởi những hoạt động thuần tuý cá nhân Có những bài tập, câu hỏi, những vấn đề đặt ra khó vàphức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm vụ Vì vậy,bên cạnh hình thức học tập cá nhân, cần tổ chức cho HS học tập hợp tác trong nhóm nhỏ
Trong nhóm nhỏ, mỗi cá nhân đều phải nỗ lực, bởi mỗi cá nhân được phân công thực hiệnmột phần công việc và toàn nhóm phải phối hợp với nhau hoàn thành nhiệm vụ chung Do đó,hình thức này không chỉ phát huy cao độ suy nghĩ của mỗi cá nhân, mà còn tạo điều kiện để HSđược nói, được trao đổi nhiều hơn, hình thành nên mối quan hệ giao tiếp trò – trò, ngoài mốiquan hệ giao tiếp thầy – trò Thông qua sự hợp tác tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luậntrong nhóm, ý kiến của mỗi cá nhân được bộ lộ, được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ, qua đóngười học nâng mình lên một trình độ mới, hứng thú và tự tin hơn trong học tập
Hình thức học tập hợp tác theo nhóm nhỏ còn tạo điều kiện rèn luyện cho HS năng lực hợptác, một năng lực quan trọng của người lao động trong thời đại này
c) Cải tiến các PPDH truyền thống theo định hướng đổi mới, đồng thời tăng cường áp dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mới
- Các PPDH thường được sử dụng (còn gọi là các PPDH truyền thống) Trong dạy học địa líhiện nay ở các trường THCS là: phương pháp giảng dạy dùng lời (phương pháp thuyết trình,phương pháp giảng giải, phương pháp đàm thoại), phương pháp sử dụng các phương tiện trựcquan Các phương pháp này luôn là các phương pháp quan trọng trong dạy học, đổi mới PPDHkhông có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống, mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng caohiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng
- Các PPDH truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyền thốngcần kết hợp sử dụng các PPDH mới, đặc biệt là những PPDH phát huy tính tích cực và sáng tạocủa HS Các PPDH mới (hay còn gọi là các PPDH hiện đại) đã được sử dụng ở nhiều nước trongkhu vực và trên thế giới; có thể kể ra một số phương pháp như PPDH giải quyết vấn đề, PPDHhợp tác, phương pháp thảo luận, phương pháp nghiên cứu trường trường hợp, phương pháp đóngvi… Việc các phương pháp này được gọi là các PPDH mới hay PPDH hiện đại chỉ mang tínhtương đối, bởi vì chúng được đề cấp đến ở một số tài liệu về PPDH trong những năm gần đây,
Trang 8-chỉ có điều từ trước đến nay còn ít được sử dụng hoặc chưa được sử dụng thường xuyên trongdạy học ở các nhà trường phổ thông Việt Nam
II VẬN DỤNG CÁC PPDH ĐỊA LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI
1 Cải tiến các PPDH truyền thống theo định hướng đổi mới
1.1 Nhóm PPDH dùng lời
Nhóm PPDH dùng lời bao gồm các PPDH như thuyết trình, giảng giải, đàm thoại…
1.1.1 Phương pháp thuyết trình
Phương pháp thuyết trình cho đến nay vẫn là một trong những PPDH phổ biến nhất, được
GV sử dụng nhiều nhất trong quá trình dạy học địa lí GV thường sử dụng phương pháp này đểtruyền đạt các kiến thức tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà HS không dễdàng tự tìm hiểu, đi sâu vào chi tiết và giải thích nội dung vấn đề đặt ra
a) Bản chất
Bản chất của phương pháp là thông báo – tái hiện Điều đó có nghĩa là khi sử dụng phươngpháp này, GV tác động đến đối tượng nghiên cứu, lần lượt thông báo cho HS các kết quả tấcđộng và HS tiếp nhận những thông tin của GV trên cơ sở nghe, nhìn, ghi chép và tư duy theovấn đề mà GV đưa ra Như vậy, đặc trưng nổi bật của phương pháp này là thầy chủ động thôngbáo những kiến thức đã “chuẩn bị sẵn” và HS thụ động tái hiện kiến thức
Có thể mở đầu bằng cách nêu một vấn đề hoặc một tình huống nào đó từ thực tế, từ báo chíhoặc từ những chương trình truyền hình
- Bước 2: Làm việc với tài liệu mới
+ GV nêu rõ những điểm cơ bản cần nắm được trong bài (hoặc trong một phần của bài), nộidung phải tìm hiểu (dàn bài) hoặc một loạt câu hỏi, đồng thời bằng các thủ pháp sư phạm tạo cho
HS nhu cầu, hứng thú và động cơ tìm hiểu vấn đề do GV đặt ra
+ Khi thuyết trình về một biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ hoặc một quy luật địa lí, GV
có thể thực hiện hai con đường phổ biến là quy nạp hoặc diễn dịch Theo logic quy nạp, trước hết
GV đưa ra các dấu hiệu, đặc điểm của các hiện tượng, sự vật địa lí, các biểu hiện của quy luật
Trang 9-địa lí…, sau đó khái quát thành biểu tượng, khái niệm quy luật -địa lí Theo logic diễn dịch, GVđưa những kết luật sơ bộ, khái quát (khái niệm, quy luật địa lí…) sau đó tiến hành phân tích từngphần, phát triển hoặc so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ các đặc điểm chung khái quát đã đưa ra
Để HS hiểu và nắm chắc được khái niệm quy luật địa lí… GV cần đưa ra các ví dụ đểminh hoạ cho khái niệm, quy luật…
+ Cuối cùng, GV đưa những kết luận khái quát, cô đọng, chính xác về các biểu tượng,kháI niệm, quy luật đía lí…Kết luận phải là câu trả lời cô đọng, xác đáng nhất cho những câu hỏilớn đã được đặt ra ở bước 1
- Bước 3: Luyện tập/củng cố
Sau khi thuyết trình, GV có thể:
+ Nhắc lại những điểm chính trong bài (hoặc trong một phần của bài)
+ Khuyến khích HS đặt câu hỏi hoặc tự mình đặt câu hỏi cho HS, tạo điều kiện cho HShiểu và nhớ bài hơn
+ Yêu cầu một, hai HS tóm tắt bài học hoặc tất cả HS viết một bản tóm tắt các ý chínhtrong vòng 3 đến 5 phút và vào cuối tiết học Cả hai cách này đều hỗ trợ HS làm bật ra nhữngđiều đáng nhớ
c) Ưu, nhược điểm
- Ưu điểm:
+ Phương pháp thuyết trình cho phép GV trình bày một mô hình mẫu của tư duy lôgic,của cách đặt và giải quyeté một vấn đề khoa học
+ Là một phương pháp rất tiện cho giải thích
+ Trong thời gian hạn chế, GV có thể truyền đạt cùng một lúc, một cách có hệ thống, chonhiều HS một khối lượng lớn những kiến thức điạ lí, phù hợp với trình độ của lớp học và nộidung của bài học…
+ Tạo được cảm hứng cho người học
- Nhược điểm:
Hiện nay, nhiều người cho rằng phương pháp thuyết trình là phương pháp lấy GV làmtrung tâm và vì vậy nó ít có tác dụng trong việc phát huy tình chủ động, tích cực và độc lập nhậnthức của HS Phương pháp thuyết trình chỉ đỏi hỏi ở HS quá trình nhận thức thụ động (Nghe vàtiếp nhận thông tin từ GV), ít tạo ra cơ hội để HS được nói và phát triển ngôn ngữ; chỉ cho phép
HS đưa tới trình độ tái hiện trong lĩnh hội kiến thức
d) Một số lưu ý
Cả hai khuynh hướng phủ nhận những ưu điểm cũng như bỏ qua, không thấy hết nhữngnhược điểm của phương pháp thuyết trình nên tiếp tục sử dụng thường xuyên, không có hiệu quảphương pháp này trong dạy học địa lí đều không phù hợp với xu hướng của đổi mới PPDH địa lí
Trang 10-đang diễn ra ở nước ta hiện nay Vì vậy, đổi mới việc sử dụng phương pháp thuyết trình là hết
sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn Muốn nâng cao hiệu quả của phương pháp thuyết trình theo định hướng phát huy tính tích cực tư duy của HS, cần lưu ý một số điểm sau:
- Trước khi thuyết trình về một biểu tượng, khái niệm… địa lí, cần nêu lên những vấn đề,tình huống nào đó hoặc nêu một vài câu hỏi có liên quan đến nội dung sẽ thuyết trình nhằm kíchthích tư duy, định hướng hoạt động nhanạ thức của HS và tạo ở HS tâm lý có nhu cầu, hứng thútìm hiểu vấn đề để GV nêu ra Mặt khác, trong khi thuyết trình cũng nên đưa ra những câu hỏikhông cần HS phải trả lời, nhưng buộc họ phải động não, suy nghĩ (thuyết trình nêu vấn đề)
- Việc yêu cầu HS nhắc lại những ý chính, trình bày một biểu tượng, khái niệm địa lí saukhi GV thuyết trình buộc HS không chỉ tư duy, mà còn phải hoạt động để kiểm tra lại việc hiểu
và ghi nhớ bài của mình
- Nếu một bài dạy mà sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu thì trước hết cần ghilên bảng một dàn ý (cấu trúc nội dung bài thuyết trình) những điểm chính hoặc một loạt các câuhỏi để định hướng hoạt động nhận thức của HS Trong khi thuyết trình, có thể diễn các nội dungchính vào dàn bài, sử dụng sơ đồ, biểu đồ… để giúp HS nắm bài tốt hơn, vì nó là phần trình bàytrực quan để bổ sung vào phần trình bày bằng miệng của GV
- Hiệu quả của phương pháp thuyết trình không chỉ phụ thuộc vào việc GV nắm vững cácyêu cầu của việc thực hiện phương pháp thuyết trình mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc GV sửdụng thành thạo đến mức độ nào đó một kỹ thuật rất cần thiết cho thuyết trình Lời khuyên bổích từ những nhà lí luận dạy học có kinh nghiệm là: Đừng nói quá nhanh và quá nhiều; khôngnên đứng một chỗ khi thuyết trình; nên thay đổi cường độ, âm lượng giọng nói
- Bước 2: GV thuyết trình nội dung về các khối khí
+ Giáo viên nêu khái niệm khối khí và nguyên nhân hình thành các khối khí ở tầng đốilưu
+ Bằng con đường quy nạp, GV trình bày những điểm khác nhau của các khối khí và giảithích nguyên nhân:
Các khối khí trong tầng đối lưu được chia ra thành: Khối khí nóng, khối khí lạnh, khốikhí đại dương và khối khí lục địa
Trang 11- Các khối khí nóng được hình thành ở các vùng vĩ độ thấp, có nhiệt độ tương đối cao
Các khối khí lạnh được hình thành ở các vùng vĩ độ cao, có nhiệt độ tương đối thấp
Các khối khí đại dương được hình thành trên các biển và đại dương, có độ ẩm lớn
Các khối khí lục địa được hình thành trên các vùng đất liền, có tính chất tương đối khô.Sau khi nêu tính chất và nơi hình thành của từng loại khối khí, GV khái quát: như vậy,các khối khí có sự khác nhau về nhiệt độ và độ ẩm; nguyên nhân là do các khối khí được hìnhthành ở những vùng vĩ độ khác nhau và bề mặt đệm bên dưới các khối khí là lục đại hay đạidương
+ GV nêu câu hỏi để kích thích HS suy nghĩ trước khi tiếp tục thuyết trình nội dung khác:Vậy các khối khí được hình thành ở các vùng vĩ độ thấp (hoặc vĩ độ cao) và trên lục địa (hay trênđại dương) sẽ có tính chất như thế nào? các khối khí có quan hệ gì với thời tiết? tính chất của cáckhối khí có thay đổi hay không?
GV tiếp tục thuyết trình và lần lượt giải quyết các vấn đề nêu ra Sau đó GV lấy ví dụ vềảnh hưởng của các khối khí đến thời tiết nước ta và sự biến tính của các khối khí để làm sáng tỏmối quan hệ của các khối khí với thời tiết và cho thấy tính chất của các khối khí có thể thay đổi
so lúc ban đầu mới hình thành
- Bước 3: GV nếu yêu cầu HS đặt câu hỏi sau khi thuyết trình
Nếu HS không có câu hỏi ngược trở lại cho thấy, GV yêu cầu HS nêu những điểm chínhtrong nội dung phần thuyết trình
1.1.2 Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại là PPDH có lịch sử lâu đời và được sử dụng thường xuyên trong giảng dạy đại
lý ở trường phổ thông từ trước tới nay Đàm thoại về thực chất là một PPDH mà ở đó GV sửdụng hệ thống câu hỏi để dẫn dắt, chỉ đạo HS tìm hiểu và lĩnh hội nội dung của bài học Như
vậy, hệ thống hỏi - đáp là cốt lõi của phương pháp đàm thoại và là phương tiện để đi đến nguồn
kiến thức chủ yếu của bài học
Căn cứ vào mức độ nhận thức của người học, có thể phân ra 3 loại đàm thoại: đàm thoạitái hiện, đàm thoại giải thích, minh họa và đàm thoại gợi mở (còn gọi là đàm thoại orixtic hayđàm thoại tìm tòi - tái hiện)
Theo định hướng đổi mới PPDH nêu trên, trong quá trình sử dụng phương pháp đàm
thoại, GV cần tăng cường sử dụng loại đàm thoại gợi mở và nâng cao chất lượng việc đặt câu
hỏi.
- Phương pháp đàm thoại gợi mở
Phương pháp này được sử dụng trong các giờ học nhằm dẫn HS đi tới những kiến thứcmới trên cơ sở tìm tòi, phát hiện với sự trợ giúp của hệ thống câu hỏi định hướng GV đưa ra
a) Bản chất
Trang 12b) Quy trình thực hiện
- Bước 1: GV nêu mục đích và HS ý thức được mục đích của cuộc đàm thoại (hay nộidung cần tìm hiểu)
- Bước 2: GV nêu câu hỏi và HS tìm câu trả lời
- Bước 3: GV tóm tắt, uốn nắn các câu trả lời của HS và chốt kiến thức
c) Ưu, nhược điểm
- Ưu điểm:
+ Do hệ thống câu hỏi có trật tự lôgic chặt chẽ, có tác dụng hướng dẫn HS từng bướckhám phá, phát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng nên phương pháp đàm thoại tìm tòi - pháthiện có ý nghĩa tích cực trong việc gaya hứng thú nhanạ thức và lôi cuốn sự tham gia tích cực, tựlực vào việc giải quyết vấn đề đặt ra, HS được chủ động tham gia bài giảng chứ không chỉ thụđộng ngồi nghe từ đó nắm bài khá vững
+ Phương pháp này có khả năng kích thích HS tìm tòi một cách độc lập những kiến thứcmới nhờ những câu hỏi mà GV đặt ra
+ Tạo cho HS cách học năng động: Rất hiệu quả trong việc phát triển hiểu biết của HS.+ Cung cấp tín hiệu phản hồi tức thì (Cho cả GV và HS): cho biết HS có thể hiểu đượcvấn đề không, từ đó GV có thể kiểm tra và sửa lỗi cho HS
+ Khuyến khích phát triển kĩ năng tư duy ở cấp độ cao
- Nhược điểm:
+ Sử dụng phương pháp này mất khá nhiều thời gian và đây là một phương pháp khó vậndụng, nếu GV không có sự chuẩn bị và suy nghĩ đầy đủ thì cuộc đàm thoại sẽ trở thành một cuộcđối đáp hình thức, làm giảm sút hiệu quả giờ dạy
+ Nếu các câu hỏi soạn không tốt thì HS sẽ bị rối, không biết phải làm gì lãng phí thờigian
+ HS phải có kiến thức nền và có kĩ năng học tập bộ môn thì PPDH này mới có thànhcông
d) Một số lưu ý
- Thực hiện phương pháp đàm thoại gợi mở không phải là tiến hành các câu hỏi và trả lờinối tiếp nhau một cách đơn thuần theo trình tự mà là theo một hệ thống có lựa chọn và được sắpxếp hợp lý GV cần nêu một câu hỏi lớn trước (câu hỏi khái quát), sau đó chia câu hỏi lớn ra
Trang 13tự khám phá kiến thức mới Vì thế phải nắm được khả năng của HS trước khi sử dụng phươngpháp này.
- Nội dung các câu hỏi phải được soạn thảo sao cho phù hợp với trình độ của HS, sốlượng và tính chất phức tạp của các câu hỏi cần căn cứ vào tính chất phức tạp của đối tượng (nộidung, vấn đề) tìm hiểu và trình độ kiến thức, kỹ năng của HS tham gia vào cuộc đàm thoại
e) Ví dụ minh hoạ
Bài 19: Môi trường hoang mạc (Địa lí lớp 7)
- Bước 1: Mục đích của cuộc đàm thoại nhằm tìm hiểu sự phân bổ của các hoang mạctrên thế giới và nguyên nhân của sự phân bổ đó
- Bước 2: GV nêu câu hỏi lớn: Quan sát lược đồ hình 19 (SGK), cho biết các hoang mạctrên thế giới thường phân bổ ở đâu? Vì sao?
Các câu hỏi nhỏ:
1) Các hoang mạc thường phân bổ ở khu vực Xích đạo hay chí tuyến? ở gần hay xa biển?2) Nơi phân bổ các hoang mạc là các đai áp cho hay áp thấp?
Gần các hoang mạc thường có các dòng biển nóng hay lạnh chảy qua?
3) Khi áp và các dòng biển đó đã có tác động như thế nào đến sự hình thành các hoangmạc trên thế giới?
- Bước 3: GV tóm tắt và chốt kiến thức (sau phần trả lời của HS): Các hoang mạc trên thếgiới thường phân bổ ở khu vực chí tuyến, khu khí áp cao, sâu trong lục địa hoặc gần nơi có dòngbiển lạnh chảy qua
Nguyên nhân: Các hoang mạc phân bổ ở khu vực chí tuyến, khu vực có khí áp cao là nơi
có ít mưa, sâu trong lục địa nên ít chịu ảnh hưởng của biển, hoặc ven biển có các dòng biển lạnhnên ít mưa
- Nâng cao chất lượng của việc đặt câu hỏi
Trong phong trào đổi mới PPDH địa lí, rất nhiều GV đã tích cực sử dụng phương phápđàm thoại nhằm tạo điều kiện để HS tích cực nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn và làm việc nhiềuhơn Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa
lý ở nhiều trường THCS hiện nay còn chưa cao Trong nhiều bài học ở trên lớp, nhiều GV chỉđưa ra những câu hỏi đơn thuần yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã học hoặc chỉ cần đọc kênh chữ
Trang 14-trong SGK để trả lời, mà còn ít câu hỏi yêu cầu HS tư duy Ngược lại, -trong không ít trường hợp
GV lại đưa những câu hỏi quá khó, chung chung nên HS khó có thể trả lời được
Để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đàm thoại, khi đặt câu hỏi GV cầnlưu ý các yêu cầu sau đây:
+ Bắt đầu tiết học bằng những câu hỏi định hướng bài học, trong đó việc đưa ra các câuhỏi nêu vấn đề có một ý nghĩa thực tiễn to lớn
+ Các câu hỏi bao trùm các mức độ nhận thức khác nhau của HS Câu hỏi mà GV nêu lênkhông đơn thuần đòi hỏi HS tái hiện kiến thức đã lĩnh hội được (mức độ nhận biết), mà phải tạođiều kiện để HS phát triển trình độ nhận thức của mình ở những mức độ khác nhau: hiểu, vậndụng, phân tích, tổng hợp… Tuy nhiên, việc đưa ra các câu hỏi dễ hay khó ở mức độ nào cònphải căn cứ vào đối tượng HS
1.2 Nhóm phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan
Trong dạy học địa lí, việc sử dụng các phương tiện trực quan có một ý nghĩa lớn, bởi vì
HS chỉ có thể quan sát được một phần nhỏ các sự vật, hiện tượng địa lí trong tự nhiên; còn vớiphần lớn các sự vật, hiện tượng địa lí, HS không có điều kiện quan sát trực tiếp mà chỉ có thểhiểu biết chúng bằng con đường nhận thức trên cơ sở phương tiện trực quan
Phương tiện trực quan trong dạy học địa lí là mô hình, biểu đồ, tranh ảnh treo tường,phim ảnh, băng video…
a) Bản chất
Phương pháp trực quan là cách thức/ hệ thống các cách sử dụng phương pháp trực quan
để phát hiện, khai thác và lĩnh hội kiến thức
b) Quy trình thực hiện
Các phương tiện trực quan chủ yếu được sử dụng ở THCS là: bản đồ, mô hình, tranh ảnh.Với mỗi loại phương tiện trực quan có quy trình sử dụng khác nhau (Xem phần phương pháp sửdụng từng loại phương tiện trực quan ở bên dưới), song về đại thể quy trình sử dụng các phươngtiện trực quan có thể bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Giới thiệu/ tìm hiểu về phương tiện trực quan
+ Nêu tên gọi của phương tiện trực quan (mô hình Trái đất chuyển động quanh mặt trời,bản đồ tự nhiên Việt Nam, tranh cảnh quan Bắc Cực…)
+ Tìm hiểu đối tượng, hiện tượng địa lí và cách thể hiện đối tượng, hiện tượng địa lí trên
mô hình, bản đồ, tranh ảnh…
- Bước 2: Quan sát các phương tiện trực quan và rút ra những đặc điểm thuộc tính, dấuhiệu của các đối tượng, hiện tượng địa lý; xác lập mối quan hệ giữa các đối tượng, hiện tượng địalí
Trang 15- Bước 3: Vận dụng kiến thức để thực giải thích đặc điểm của các đối tượng hiện tượngđịa lý hoặc nêu biểu tượng, khái niệm địa lí trên cơ sở các đặc điểm, dấu hiệu, thuộc tính của đốitượng địa lý được thể hiện trên các phương tiện trực quan
c) Ưu điểm và nhược điểm
- Ưu điểm:
+ Phương tiện trực quan giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách cụ thể: HS dễ dàng nắm bắt,nắm chắc được kiến thức qua quan sát và thao tác với các phương tiện trực quan; đồng thời qua
đó HS được rèn luyện các kĩ năng của môn học và có được phương pháp nhận thức
+ Tạo hứng thú học tập cho HS và phát huy tính tích cực học tập của HS
+ GV có thể đổi mới PPDH trên cơ sở sử dụng các phương tiện trực quan
- Nhược điểm:
+ Việc sử dụngcác phương tiện trực quan giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách
cụ thể , sinh động nhưng lại hạn chế phát triển tư duy và óc tưởng tượng của học sinh
Phương pháp trực quan chỉ có thể sử dụnghiệu quả khi HS bước đầu có kĩ năng khai tháckiến thức từ các phương tiện trực quan
d) Một số lưu ý
- Vận dụng phương pháp trực quan theo định hướng đổi mới, GV cần :
+Coi trọng chức năng la "nguồn kiến thức" của các phương tiện trực quan, không chỉ sửdụng các phương tiện trực quan để minh họa cho nội dung bài giảng
+ GV không là người "độc quyền" sử dụngcác phương tiện trực quan, mà phải là người tổ
chức, hướng dẫn HS khai thác kiến thức từ các phương tiện trực quan, đồng thời qua đó rèn
luyện kĩ năng địa lí và phương pháp tự học cho HS
+ Hướng dẫn HS sử dụng các phương tiện trực quan cần theo một quy trình hợp lí để cóthể khai thác tối đa kiến thức từ các phương tiện trực quan
- Phương pháp trực quan đòi hỏi GV dùng lời nối hướng dẫn HS quan sát, tìm ra kiếnthức qua các phương tiện trực quan; vì vậy GV cần chuẩn bị kĩ càng các câu hỏi, hệ thống câuhỏi dẫn dắt HS quan sát và tự khám phá kiến thức
- Các câu hỏi dẫn dắt phải làm sao hướng HS vào những điểm cần quan sát tùy theo mụcđích của việc quan sát
- Với những phương tiện trực quan tương đối phức tạp GV cần thực hành sử dụng trước
để tránh sự lúng túng hoặc sơ suất khi hướng dẫn HS
1.2.1 Phương pháp sử dụng bản đồ
Bản đồ là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng Qua bản đồ,
HS có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôitrên bề mặt đất mà HS không có điều kiện quan sát trực tiếp