1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO một số vấn đề về QUAN hệ tộc NGƯỜI TRÊN địa bàn tây NGUYÊN ở nước TA HIỆN NAY

26 314 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 127,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, tình hình xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới đã làm cho quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc và giữa các tộc người trong cùng một quốc gia có nhiều diễn biến phức tạp, căng thẳng và trở nên gay gắt, bùng nổ nhiều điểm nóng. Đối với nước ta là một quốc gia đa dân tộc, mặc dù vấn đề dân tộc và quan hệ tộc người chưa nảy sinh đến mức trở thành xung đột. Nhưng trong quan hệ giữa các tộc người ở từng thời điểm cụ thể, từng địa bàn, từng khu vực luôn luôn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây nên sự mất ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác vận động quần chúng, tập hợp lực lượng cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó điển hình là địa bàn Tây nguyên.

Trang 1

Một số vấn đề về quan hệ tộc người trên địa bàn Tây Nguyên ở nước ta hiện nay

Trong những năm gần đây, tình hình xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới

đã làm cho quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc và giữa các tộc người trong cùngmột quốc gia có nhiều diễn biến phức tạp, căng thẳng và trở nên gay gắt, bùng

nổ nhiều điểm nóng Đối với nước ta là một quốc gia đa dân tộc, mặc dù vấn đềdân tộc và quan hệ tộc người chưa nảy sinh đến mức trở thành xung đột Nhưngtrong quan hệ giữa các tộc người ở từng thời điểm cụ thể, từng địa bàn, từngkhu vực luôn luôn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây nên sự mất ổn định, ảnh hưởngtrực tiếp đến công tác vận động quần chúng, tập hợp lực lượng cho sự nghiệpcách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đóđiển hình là địa bàn Tây nguyên

Tây Nguyên là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế,chính trị, quân sự không những đối với Việt Nam và cả ba nước Đông Dương;

là vùng cao nguyên được mệnh danh là “mái nhà Đông Dương” Nơi đây có 45

tộc người anh em sinh sống, vì thế kẻ thù đang ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc,tôn giáo khoét sâu mâu thuẫn nhằm chia rẽ sự đoàn kết giữa các tộc người, làmmất ổn định tình hình an ninh, chính trị trên địa bàn, gây khó khăn cho sựnghiệp đổi mới và phát triển đất nước của nhân dân ta

Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chínhsách phát triển Tây Nguyên về nhiều mặt cả kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh -quốc phòng, giải quyết tốt quan hệ tộc người, nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của đại bộ phận đồng bào, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch vềmức sống giữa các tộc người Tuy nhiên, đời sống xã hội ở Tây Nguyên vẫntồn tại nhiều vấn đề phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xuất hiện “điểm nóng” trênđịa bàn, đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải tiếp tục có nhiều chủ trương và thựchiện tốt chính sách dân tộc, nhằm từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình

độ phát triển và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác, góp phần tăng cường khối

Trang 2

đại đoàn kết toàn dân tộc Do đó, quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa cáctộc người trên địa bàn Tây Nguyên là vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản lâu dàinhằm góp phần xây dựng Tây Nguyên vững mạnh về mọi mặt, phát triển theokịp cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

1 Thực trạng và nguyên nhân về quan hệ giữa các tộc người trên địa bàn Tây Nguyên ở nước ta hiện nay.

* Một số khái quát về đặc điểm địa bàn Tây Nguyên có ảnh hưởng đến quan hệ giữa các tộc người.

Đặc điểm về địa lý - tự nhiên, nằm ở tây nam Việt Nam, Tây Nguyên là

một trong những địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội ,quốc phòng - an ninh của cả nước Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum,Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng, với tổng diện tích khoảng 55.000 km2

(chiếm 1/6 diện tích cả nước) Đây là một vùng có địa hình đa dạng, phong phú,

có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, rất thích hợp cho việc trồng trọt các loại câycông nghiệp có năng suất, chất lượng cao, sản lượng lớn, như cà phê, cao su, hồtiêu và các loại cây ăn quả cao cấp khác Tây Nguyên giàu về tài nguyên rừng,

có nhiều loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, các loại gỗ quí, các loại dượcliệu, có nhiều động vật hoang dã quí hiếm, nhiều khu rừng nguyên sinh, khubảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia (Cát Tiên)

Ngoài ra, Tây Nguyên còn là nơi giàu khoáng sản, có trữ lượng lớn và chấtlượng khá về quặng bô xít, quặng vàng, quặng thiếc, quặng sắt và sa khoáng…Những tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi là điều kiện thuận lợi, tiền đề quantrọng cho Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xoá đói giảm nghèo, phát triển một nền kinh tế đadạng, cải thiện đời sống đồng bào dân tộc nơi đây Tuy nhiên, do địa hình cónhiều núi cao, sông suối, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, tác động, ảnhhưởng lớn đến sự phát triển và quan hệ giữa các tộc người trên địa bàn

Trang 3

Đặc điểm về kinh tế, do điều kiện tự nhiên thuận lợi, Tây Nguyên là địa

bàn có lợi thế trong phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, sản xuất hàng hoá kếthợp với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp khaithác khoáng sản, du lịch… Những lợi thế kinh tế đó là điều kiện thuận lợi choviệc giải quyết quan hệ giữa các tộc người trên địa bàn

Tuy nhiên, về qui mô và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TâyNguyên không đồng đều giữa các vùng, các tộc người Ở vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc ít người đời sống còn khó khăn, tình trạng đồng bàothiếu hoặc không có đất canh tác còn nhiều, tỷ lệ đói nghèo là các tộc ngườithiểu số còn cao Hiện nay, Tây Nguyên còn khoảng 10.000 hộ định canh, định

cư chưa vững chắc Đây thực sự là vấn đề kinh tế - xã hội rất bức xúc, tiềm ẩn

sự gia tăng chênh lệch về mức sống giữa các tộc người, ảnh hưởng không nhỏđến quan hệ giữa các tộc người ở Tây Nguyên

Đặc điểm về chính trị - xã hội, hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây

Nguyên hiện nay, bước đầu đã được củng cố và tăng cường, phát huy được vaitrò trong tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội Thếnhưng, vẫn còn nhiều hạn chế cả về chất lượng và tổ chức Về chất lượng,không đồng đều giữa các xã ở vùng sâu, vùng xa và ở thành phố, thị xã, thị trấn;trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ ở cơ sở còn rất thấp Về tổ chức, chưa có

sự đồng bộ thống nhất, nhiều xã chưa có đảng uỷ, chưa có các tổ chức đoàn thểnhân dân Đây cũng là một hạn chế lớn đến việc cụ thể hoá và thực hiện chínhsách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trên địa bàn

Nhìn chung, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đều tin tưởng vào đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, một lòng, một dạ đi theoĐảng Song, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang đẩymạnh chiến lược “Diễn biến hoà bình” chống phá trên tất cả các lĩnh vực củađời sống xã hội, làm cho tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trở

Trang 4

nền phức tạp, tiền ẩn và xuất hiện những điển nóng trên địa bàn Điều này đã vàđang tác động lớn đến quan hệ giữa các dân tộc trên địa bàn.

Đặc điểm về văn hoá - xã hội, Tây Nguyên có nền văn hoá rất đa dạng về

ngôn ngữ, phong tục, tập quán Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng,nhưng có đặc trưng chung nhất là hoạt động văn hoá gắn chặt với sinh hoạtcộng đồng Tuy nhiên, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hiện nay có mứchưởng thụ văn hoá và trình độ dân trí vẫn còn thấp so với các vùng đồng bằng,

đô thị

Đến nay, xã hội Tây Nguyên vẫn còn tồn tại những tàn dư của chế độ công xãnông thôn, như chủ nghĩa bình quân, cào bằng và có một số tập tục ngăn cản việcthực thi pháp luật của Nhà nước ở địa phương Phần lớn các tộc người bản địa(nhất là tộc người Êđê và M’Nông) vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của chế độ mẫuhệ

Ở Tây Nguyên, hình thái tổ chức xã hội cơ bản là các buôn, plây, làngtương đối ổn định, nên vai trò của già làng còn khá lớn Hoạt động của già làngtập trung chủ yếu vào việc hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp; xét xử đối với ngườidân vi phạm luật tục; chủ trì các lễ hội…Tuy nhiên, một số già làng vẫn còn tưtưởng bảo thủ, lạc hậu, chưa theo kịp với tiến trình đổi mới; còn nhẹ dạ, cả tin,

dễ bị kẻ địch lợi dụng, mua chuộc, kích động, lôi kéo, khống chế, ảnh hưởngkhông nhỏ đến dân làng và quan hệ giữa các tộc người ở Tây Nguyên

Đặc điểm về dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo, Tây Nguyên hiện nay có 45

tộc người sinh sống trên địa bàn, được chia thành 3 nhóm: tộc người Việt(Kinh), tộc người thiểu số bản địa và tộc người thiểu số di cư từ nơi khác đến.Tộc người Kinh khoảng 3,2 triệu người (chiếm 67,64%), họ đã coi TâyNguyên là quê hương của mình, có ý thức cộng đồng, đoàn kết với các tộcngười thiểu số khác, cùng nhau xây dựng địa bàn văn minh, giàu đẹp Nhóm cáctộc người thiểu số bản địa có mặt ở Tây Nguyên từ rất sớm, hàng ngàn năm naygồm có 14 tộc người (Giarai, Êđê, Bana, K’Ho, Xêđăng…), chiếm 25,6% dân

Trang 5

cư và 72,1% số tộc người thiểu số trên địa bàn Các tộc người thiểu số bản địathuộc ngữ hệ Malayô - Pôlinêxia và Môn - Khơ me, tuy có sự thống nhất vềphương diện lịch sử văn hoá, nhưng phân ra thành nhiều nhóm địa phương và

có sự khác nhau về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, có tộc người còn lưu giữnhiều hủ tục Nhóm các tộc người thiểu số di cư tự do từ miền Bắc, ven biểnmiền Trung và Đông Nam bộ đến Tây Nguyên hiện nay có khoảng 150 vạnngười (chủ yếu là tộc người Nùng, Tày, Dao Thái, Mông, Khơ Me, Chăm…).Phần lớn họ là những người nghèo, chủ yếu sống bằng nghề phát nương làn rẫy

Sự xen cư giữa các tộc người làm cho tình hình quan hệ tộc người ở đây vừaphong phú, nhưng cũng khá phức tạp

Đồng bào dân tộc ít người ở Tây Nguyên theo các tôn giáo chiếm tỷ lệ cao,

có cả tín ngưỡng truyền thống và tôn giáo ngoại nhập Tín ngưỡng truyền thốngcủa cư dân Tây Nguyên là thờ cúng đa thần “vạn vật hữu linh”, làm chỗ dựa vềtinh thần khi họ phải đối mặt với các thế lực thiên nhiên và xã hội, có tác dụngliên kết cộng đồng, gắn bó cá nhân với gia đình, dòng họ Nhưng đến nay tínngưỡng truyền thống đã bắt đầu bọc lộ những hạn chế, không đáp ứng đượcnhững vấn đề tâm linh mà họ mong muốn, nên họ đã tìm đến tôn giáo hợp thờihơn Hiện tại, ở Tây Nguyên có khoảng 1,34 triệu tín đồ các tôn giáo ngoạinhập (chiếm 32% dân số toàn vùng) Trong đó, số tín đồ theo các tôn giáo là tộcngười thiểu số chiếm tỉ lệ cao (41%) và đang có xu hướng gia tăng Theo số liệucủa Ban Tôn giáo Chính phủ, so với năm 1975, số người là tộc người thiểu số ởTây Nguyên theo đạo Tin Lành hiện nay tăng gấp 6 lần, tỉnh Đắc Lắc tăng gấp

25 lần Cho nên, giải quyết vấn đề tôn giáo luôn gắn liền với vấn đề dân tộc vàquan hệ tộc người

Tình hình tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên rất phức tạp, hiện tượng mâuthuẫn, xung khắc giữa tín ngưỡng truyền thống với tôn giáo ngoại nhập đã từngxảy ra ở Mang Yang, Đức Cơ, Chư Sê (Kon Tum), làm cho nhiều người bỏ làng

cũ kéo nhau đi lập làng mới, gây mất ổn định về tình hình trong khu vực

Trang 6

Các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nói chung và quan hệ giữa các tộc người ở Tây Nguyên nói riêng.

Chúng ra sức kích động, chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn, phá hoại khối đại đoànkết dân tộc ở Tây Nguyên Trên thực tế, chúng đã tiến hành nhiều chính sáchphản động, “Dùng người Thượng trị người Thượng”, “Khai phá miền sơncước”, “Qui chế đặc biệt nâng đỡ đồng bào sắc tộc”, “Công tác xa miềnThượng”… nhằm chia rẽ các tộc người, tác động không nhỏ đến việc xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn

Các thế lực thù địch dùng thủ đoạn “Tôn giáo hoá dân tộc” để xuyên tạc,chống phá quan điểm, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhànước Chúng ra sức tiến hành truyền đạo trái phép, lôi kéo đồng bào theo “TinLành Đề Ga”, đòi thành lập “Nhà nước Đề Ga” độc lập, đòi tách Tây Nguyên rakhỏi Việt Nam thống nhất Tình hình đó, tác động trực tiếp đến việc giữ vững

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

ở Tây Nguyên

Tất cả những đặc điểm trên, tác động nhiều chiều vừa có những nhân tốthuận lợi, đồng thời cũng có những khó khăn, thách thức cho việc giải quyếtquan hệ giữa các tộc người trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay

* Thực trạng quan hệ giữa các tộc người trên địa bàn Tây Nguyên ở nước ta hiện nay.

Đánh giá về thực trạng quan hệ giữa các tộc người trên địa bàn TâyNguyên được phản ảnh trước hết ở quan điểm, chủ trương, chính sách nóichung, chính sách dân tộc nói riêng đối với Tây Nguyên và kết quả tổ chức thựchiện giải quyết quan hệ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội trên thực tế

Những thành tựu đạt được

Thứ nhất, trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước và tổ chức các cấp ở Tây

Nguyên đã kịp thời đề ra quan điểm, chủ trương, chính sách, kế hoạch và biện

Trang 7

pháp đúng đắn, phù hợp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giải quyếttốt quan hệ giữa các tộc người trên địa bàn

Nhận thức đúng đắn vị trí chiến lược quan trọng của địa bàn Tây Nguyên,Đảng ta đã kịp thời đề ra quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển miền núinói chung và Tây Nguyên nói riêng Ngày 27-11-1998, Bộ Chính trị đã ra Nghị

quyết 22- NQ/TƯ Về một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội

miền núi Ngày 18-4-1991, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 68-CT/TƯ Về công tác ở vùng Khơ Me Đặc biệt, ngày 18-1-2002, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/

TƯ Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây

Nguyên thời kỳ 2001-2010 Thành lập Ban Chỉ đạo Tây Nguyên trực thuộc Ban

Chấp hành Trung ương Đảng Trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X,Đảng ta tiếp tục chỉ rõ định hướng: “Vùng Tây Nguyên cần tập trung mọi nỗlực phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn chặt với việc bảo đảm an ninh,quốc phòng Phát triển mạnh thuỷ điện, công nghiệp khai khoáng, sản xuất vậtliệu xây dựng và khai thác có hiệu quả quĩ đất trồng cây công nghiệp, cây ănquả xuất khẩu và trồng rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến có côngnghệ hiện đại Phát triển du lịch sinh thái và văn hoá dân tộc”1 Điều đó, thểhiện rõ quyết tâm của Đảng ta là đưa vùng Tây Nguyên phát triển cùng với sựphát triển của các vùng trọng điểm khác trong cả nước

Trên cơ sở quan điểm, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta đã có nhữngchính sách cụ thể nhằm từng bước thực hiện bình đẳng dân tộc đối với miềnnúi, vùng dân tộc nói chung và Tây Nguyên nói riêng Thủ tướng Chính phủ đã

ra nhiều quyết định, nghị định, đặc biệt la Quyết định số 184/1998/QĐ-Tgg Về

dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên đến năm 2010;

Chương trình 327; Chương trình 135 Nhà nước còn có các chính sách cụ thể đểkhuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế như chínhsách khoán rừng, giao đất nông nghiệp để phát triển ngành nông nghiệp, phát

1 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ X, Nxb CTQG, H 2006, tr 226.

Trang 8

triển công nghiệp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở Tây Nguyên, đổi mới khoahọc - công nghệ, các chương trình cụ thể về xoá đói giảm nghèo, định canh định

cư, vấn đề di dân đến Tây Nguyên, xây dựng trung tâm cụm xã, giáo dục - đàotạo, y tế, văn hoá thông tin… Gần đây nhất là Quyết định số 226/2003/QĐ-TTg,

ngày 6-11-2003 của Thủ tướng Chính phủ Về việc thay đổi hình thức hỗ trợ hộ

nghèo đói, già làng, trưởng bản có khó khăn, hộ gia đình có công với nước ở Tây Nguyên; Quyết định số 245/2003/QĐ-TTg, ngày 18-11-2003 Về việc ghi nợ

lệ phí chước bạ nhà ở, đất ở với hộ gia đình, cá nhân ở các xã thuộc Chương trình 135 và hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên;

Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg, ngày 23-11-2005 Về thí điểm giao rừng,

khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên Trên thực tế, những chủ

trương, chính sách đó, đã tạo điều kiện thuận lợi ổn định, cải thiện đáng kể đờisống của đồng bào dân tộc ít người tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên, góp phầnlàm cho họ ngày càng xích lại gần nhau, cùng nhau đoàn kết xây dựng cuộcsống mới

Tất cả những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dântộc được thể hiện trong các chỉ thị , nghị quyết, quyết định đều xuất phát từquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

và quan hệ dân tộc; luôn bám sát đặc điểm, tình hình của các tộc người trên địabàn Tây Nguyên Đây là sự thể hiện rõ chủ trương bình đẳng, đoàn kết giữa cáctộc người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, các tộc người thiểu số tiến kịp tộcngười đa số, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của cả nước

Trên cơ sở những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tỉnh

uỷ, uỷ ban nhân dân, hội đồng nhân dân các tỉnh đều cụ thể hoá thành cácchương trình, hành động sát thực với từng địa phương Tỉnh Kon Tum có Nghị

quyết 01/TU (khoá IX) Về tập trung dồn sức lực để phát triển ở các địa bàn

vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn trong tỉnh Tỉnh Lâm Đồng có Nghị

Trang 9

quyết 02- NQ/TU, ngày 20-11-2001 Về tiếp tục phát triển vùng đồng bào dân

tộc thiểu số đến năm 2005… Tương tự, các tỉnh khác đều có nghị quyết, kế

hoạch định hướng phát triển, trong đó tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạtầng, xây dựng trung tâm cụm xã, qui hoạch bố trí lại dân cư, định canh định cư,

ổn định và phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân,phát triển giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số…nhằm từng bước giảm dần sự chênh lệch về mọi mặt giữ các tộc người ở TâyNguyên Thực chất là làm cho quan hệ tộc người trong từng tỉnh và trên toànđịa bàn Tây Nguyên ngày càng tốt đẹp hơn, tạo ra động lực to lớn đưa TâyNguyên tiến nhanh, tiến mạnh và bền vững, góp phần xứng đáng là địa bànchiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xử, cùng nhau xây dựng Tây Nguyên giàu đẹp Xét về tổng thể, cơ bản 45 tộcngười ở Tây Nguyên hiện nay, có mối quan hệ tốt đẹp, bình đẳng, lành mạnh,đoàn kết, hoà thuận, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Quyềnbình đẳng giữa các tộc người từng bước được thể hiện trên thực tế một cáchtoàn diện về mọi mặt của đời sống xã hội

Trên lĩnh vực kinh tế, các tộc người ở Tây Nguyên đều được tạo mọi điềukiện và cơ hội để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao mứcsống Mô hình kinh tế trang trại, kinh tế vườn đang hình thành rõ nét, hoà nhậpvới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường vùng dân tộc,miền núi được mở rộng Nhiều tộc người đã bỏ thói quen du canh, du cư, đốt

Trang 10

nương làm rẫy truyền thống, chuyển sang canh tác lúa nước và trồng cây côngnghiệp có giá trị kinh tế cao Đời sống của đại bộ phận nhân dân, trong đó cócác tộc người thiểu được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người/nămtoàn vùng tăng nhanh, từ 467.000 đồng (1991) lên 2,1 triệu đồng (1995) và 2,9triệu đồng (2000) Tỷ lệ đói nghèo (theo tiêu chí cũ) đã giảm đáng kể, từ 50%(1990) xuống còn 19,84% (2002), còn 18% (2003)1 Riêng tỉnh Lâm đồng, tỷ lệđói nghèo giảm từ 16% (1995) xuống còn 11,61% (2001), đến năm 2005 giảmxuống còn dưới 7%, trong đó đồng bào dân tộc ít người giảm từ 40% xuống còn18% (theo tiêu chí cũ).

Cơ sở hạ tầng kinh tế được đầu tư và phát triển đáng kể, tính đến năm

2000, Tây Nguyên đã có 1.978 km đường quốc lộ, 3.030 km đường tỉnh lộ,4.120 km đường huyện lộ và 5.326 km đường giao thông nông thôn; nhiều nhàmáy phát điện đã được đưa vào sử dụng như Nhà máy Thuỷ điện Yaly (2002),với công suất 720 MW; Nhà máy Thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi (2002), vớicông suất 450 MW… đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xãhội, nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng

Trên lĩnh vực chính trị, đồng bào các tộc người thiểu số đã được tham giaquản lý đất nước bình đẳng như các tộc người đa số Quyền dân chủ được phát

huy, thể hiện rõ trong Pháp lệnh về dân tộc thiểu số Đội ngũ cán bộ người dân

tộc ít người tham gia vào hệ thống chính trị cơ từng bước được tăng lên cả về sốlượng và chất lượng Theo Báo cáo của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Đắc Lắc (8-2001),toàn tỉnh có 12,9% cán bộ là dân tộc ít người, tăng 1,6% so với năm 1996.Trong đó, cán bộ là người dân tộc ít người cấp tỉnh chiếm 9,7%, cấp huyện25,8%, cấp xã 31,2% Riêng cán bộ chủ chốt cấp tỉnh là 25%, cấp huyện 22,3%,cấp xã 25,9% Cán bộ là cấp uỷ đảng: cấp tỉnh 18,9%, cấp huyện 17,4%, và cấp

xã 19,1% Cán bộ nằm trong hội đồng nhân dân: cấp tỉnh 34,7%, cấp huyện25,8% và cấp xã 31,2% Còn ở tỉnh Kon Tum, tỷ lệ cán bộ là dân tộc ít người,

1 Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá , tháng 6 năm 2004, tr 26.

Trang 11

nhiệm kỳ 2000-2005 ở cấp huyện 40%, cấp cơ sở 33,16% Tương tự ở tỉnh GiaLai, cán bộ là dân tộc ít người cấp tỉnh 49% Nếu tính riêng cán bộ cấp cơ sở làngười dân tộc ít người trên toàn khu vực chiếm 32% (3.998/12.684 người).

Công tác phát triển đảng đối với các tộc người thiểu số cũng được quan tâm đúngmức, trong năm 2005, đã kết nạp được hơn 1.000/7.500 đảng viên là người dân tộcthiểu số, nâng tổng số đảng viên sinh hoạt tại cơ sở lên hơn 50.000 đảng viên toànvùng1 Trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta cũng có nhiều đồngchí là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Điều đó chứng tỏ, Đảng và Nhànước ta rất quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, tạo

cơ sở từng bước thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, làm cho đồng bàocác dân tộc ở Tây Nguyên ngày càng có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽvới nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Không chỉ vậy, quyền dân chủ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyêncũng từng bước được thực hiện đầy đủ và thực chất hơn Ngày 25/4/2004, chỉ

2 tuần sau khi xảy ra biểu tình, bạo loạn ở một số địa phương, nhân dân cácdân tộc Tây Nguyên vẫn tham gia bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân cáccấp với tỷ lệ cao, đạt trên 90% ở tất cả các địa phương Đồng bào các dân tộcđược tham gia bàn bạc, kiểm tra, giám sát những công việc của buôn làng,của chính quyền các cấp thường xuyên và bước đầu có hiệu quả

Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội, đã có nhiều chuyển biến tích cực, bảnsắc văn hoá các tộc người được trân trọng, gìn giữ và phát huy, trình độ dântrí của đồng bào được nâng cao Hệ thống giáo dục - đào tạo được đầu tư,nâng cấp, trong vùng đã có 5 trường đại học và cao đẳng, 13 trường trunghọc chuyên nghiệp, 7 trường công nhân kỹ thuật Giáo dục phổ thông đãđược quan tâm và đầu tư đúng mức, có nhiều bước phát triển, gần 100% xã

có trường tiểu học, khoảng 60% xã có trường trung học cơ sở, các huyện, thịđều có trường trung học phổ thông Trường Dân tộc nội trú đã có hầu hết ở

1 Báo QĐND, số 16149, ng y 10/4/2006, tr.1.àn qu

Trang 12

các huyện và tỉnh Học sinh được nâng mức học bổng, con em các tộc ngườithiểu số khó khăn được miễn học phí Đến nay, các tỉnh đã được công nhậnđạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ Số lượng học sinh làngười dân tộc thiểu số được cử tuyển vào các trường cao đẳng và trung họcchuyên nghiệp đã tăng nhanh, như Kon Tum năm 2001 là 40 người, năm

2003 là 50 người và đến năm 2005 là 70 người

Tiếng nói và chữ viết của các tộc người cũng được quan tâm giữ gìn và pháttriển Tỉnh Đắc Lắc chú trọng và triển khai việc học tiếng dân tộc cho học sinh,năm học 2002-2003, toàn tỉnh đã có 10.000 học sinh người dân tộc Êđê đượchọc tiếng mẹ đẻ; đồng thời đã bồi dưỡng được 300 giáo viên dạy học bằng tiếngÊđê, hoàn thiện bộ sách giáo khoa tiếng Êđê và chuẩn bị đưa tiếng M’Nông vàodạy cho học sinh M’Nông1

Đời sống văn hoá, tinh thần của đồng bào Tây Nguyên cũng được nângcao một bước Toàn vùng hiện nay đã có khoảng 70% số hộ được nghe cácchương trình phát thanh và khoảng 63% số hộ được xem truyền hình của cácđài Trung ương và địa phương

Hệ thống thống đô thị được phát triển ở mức khá, kết cấu hạ tầng đượcnâng cấp, mạng lưới điện đã được chú trọng đầu tư, phát triển Tính đến cuốinăm 2000, tỉnh Gia Lai có 100% số huyện, 72% số xã và 40,3% số hộ đượcdùng điện; các số liệu tương ứng: tỉnh Kon Tum là 100%, 69% và 55%; tỉnhLâm Đồng là 100%, 88,7% và 46%; tỉnh Đắc Lắc là 100%, 65% và 46,4% Cho đến nay, hầu hết các xã trong vùng đều có trạm y tế

Quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững và tương đối ổn định,những vấn đề về FULRO trước đây đã được xử lý tốt, hậu quả của những vụbạo loạn chính trị nhanh chóng được khắc phục, niềm tin của đồng bào vớiĐảng, Nhà nước từng bước được nâng cao, uy tín của đội ngũ cán bộ cơ sởdần dần được củng cố, khối đại đoàn kết các dân tộc được xây dựng ngày

1 Văn hoá xã hội v con ng àn qu ười Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, th nh ph àn qu ố Hồ Chí Minh, 2005, tr 270.

Trang 13

thêm vững chắc Phần lớn số đồng bào lầm lỗi đã được sự quan tâm, giúp đỡtrở về gia đình và buôn làng, yên tâm làm ăn, sinh sống Nhiệm vụ về anninh, quốc phòng luôn được đề cao, thực hiện tốt các chỉ tiêu về nghĩa vụquân sự, giữ vững trật tự an toàn xã hội.

Thứ ba, sự đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các

tộc người ngày càng được phát huy Trong kháng chiến cũng như hiện nay,đồng bào các dân tộc Tây Nguyên luôn giữ được truyền thống đoàn kết, tôntrọng, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và xây dựng đời sống mới, sống vui

vẻ, hoà thuận trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Những người dân mới

di cư đến được các tộc người bản địa chấp nhận, nhiệt tình giúp đỡ, nhanhchóng ổn định đời sống về mọi mặt, tiếp biến văn hoá giữa các tộc người,như người Mông di cư vào Đắc Lắc, Đắc Nông đã sử dụng cơm từ gạo nươngthay cho “mèn mén” Nhiều tộc người thiểu số đã biết tiếp thu văn hoá củangười Kinh trong sản xuất và sinh hoạt đời sống cộng đồng

Thứ tư, ý thức tự chủ, tự vươn lên của các tộc người được nâng cao, các

nguy cơ chia rẽ tộc người, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc dần đượckhắc phục Trong những năm gần đây, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên

đã có nhiều khởi sắc, biết tự vươn lên, tiếp thu khoa học kỹ thuật, vận dụngvào quá trình sản xuất, kinh doanh theo hướng kinh tế hàng hoá, phát triểnkinh tế trang trại, chăn nuôi và trồng cây công nghiệp Nhiều hộ gia đình đãthoát khỏi đói nghèo, vươn lên thành hộ khá và giàu Ví như ở tỉnh LâmĐồng, năm 2005 đã có 4.690 hộ người dân tộc thiểu số làm kinh tế giỏi, cóthu nhập trên 10 triệu đồng/năm

Trong sản xuất cũng như quan hệ xã hội, đồng bào các dân tộc đã từngbước khắc phục được tư tưởng tự ti, đã mạnh dạn hơn trong đầu tư phát triểnsản xuất, giao lưu giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, học hỏi, phổ biến kinhnghiệm làm ăn Những biểu hiện kỳ thị, coi thường dân tộc ngày càng đượchạn chế Ý thức tộc người được đề cao, nhận diện về bản chất của bọn phản

Ngày đăng: 14/05/2017, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w