Kết cấu tổ hợp tua bin khí máy nén dùng cho tăng áp động cơ diesel tàu thuỷ (hình 6.9) có thể chia thành các phần: thân tua bin (bao gồm thân phía tua bin, thân phía máy nén và thân gi[r]
Trang 1ThS.LÊ VĂN VANG TS.TRƯƠNG THANH DŨNG KS.HÒANG VĂN SĨ
BÀI GIẢNG ĐỘNG CƠ DIESEL TÀU THUỶ
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH - 2008
Trang 2PHẦN 1
KẾT CẤU ĐỘNG CƠ DIESEL TÀU THUỶ
Trang 3CHƯƠNG 1
NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG CƠ DIESEL
1.1 Lịch sử ra đời và phát triển
Năm 1680 nhà bác học Huyghenxo đề nghị chế tạo một cổ máy làm việc nhờ
đốt cháy một lượng thuốc nổ trong xy lanh động cơ Nhưng phải đến năm 1860 kiểu
động cơ đốt trong đầu tiên mới được kỹ sư pháp Lenuar đưa ra Nhưng do hiệu suất
của loại động cơ này không vượt quá 3% nên nó không được ứng dụng trong thực tế
sản xuất
Vào năm 1879, động cơ đốt trong đầu tiên có khả năng làm việc đã được chế
tạo theo đề án của kỹ sư cơ khí I.S Kotosovik (người Nga) Động cơ này được thiết
kế cho mục đích vận tải và chạy bằng xăng, đốt cháy bằng tia lửa điện có công suất
60 KW
Vào đầu năm 90 của thế kỷ XIX xuất hiện kiểu động cơ có buồng cháy phụ
Loại động cơ này chạy bằng nhiên liệu nặng (như dầu thô) Việc đốt cháy nhiên liệu
nặng trong động cơ là do nhiên liệu tiếp xúc với bề mặt kim loại được đốt nóng của
buồng cháy phụ nằm trên nắp xy lanh
Bước phát triển quan trọng của động cơ kiểu piston được đánh dấu bằng sự
kiện kỹ sư người Đức Rudofl Diesel phát minh ra kiểu động cơ mới vào năm 1892
và được chế tạo vào năm 1897 Động cơ kiểu này làm việc theo nguyên tắc nguyên
liệu tự bốc cháy ở cuối hành trình nén trong xy lanh động cơ và sau này được gọi là
động cơ diesel
Vào năm 1899, nhà máy của hãng Lutvik Nobem tại Petecbua đã sản xuất động
cơ Diesel 15 KW có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật hơn hẳn các loại động cơ đương
thời
Năm 1903, người ta đưa vào sử dụng chiếc tàu thủy đầu tiên của nước Nga
chạy bằng động cơ Diesel mang tên “VADAL”, với ba động cơ, công suất mỗi
động cơ là 88KW Vào năm 1911 người ta bắt đầu chế tạo hàng loạt các tàu chạy
bằng động cơ Diesel công suất 450KW
Người đặt nền tảng cho lý thuyết quá trình công tác của động cơ đốt trong là
một giáo sư trường cao đẳng kỹ thuật Matxcova, ông V.I Grineviski Vào năm 1907
ông dã xuất bản cuốn tài liệu mang tên: “Tính toán nhiệt quá trình công tác của động
cơ đốt trong”
Tại hội nghị các nhà chế tạo động cơ tổ chức tại Petecbua vào năm 1910, ông
R.Diesel đã công nhận vai trò đi đầu của nước Nga trong việc sản xuất động cơ đốt
trong tàu thủy Sau đó các động cơ đốt trong với hiệu suất cao đã đẩy lùi các loại
động cơ hơi nước đang được sử dụng rộng rãi trong thời kỳ đó
Hiện nay, động cơ Diesel được sử dụng rộng rãi vì trong cùng một điều kiện
như nhau, động cơ diesel tiêu tốn nhiên liệu ít hơn cho một đơn vị công suất
(g/ml.h) Ngoài ra động cơ diesel còn có kích thước và trọng lượng tương đối nhỏ
hơn, có tuổi thọ và có độ bền cao hơn
Trang 4Động cơ Diesel càng được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực hàng hải do các ưu
điểm của chúng, bao gồm:
- Khả năng tăng công suất cao
- Khả năng giảm suất tiêu thụ nhiên liệu
- Phù hợp với dải vòng quay của chân vịt
- Có thể dùng được nhiên liệu chất lượng thấp
- Độ tin cậy và tuổi thọ cao
- Dễ dàng khai thác và bảo dưỡng sửa chữa
Từ 1990 các động cơ hai kỳ quét thẳng, thấp tốc, hành trình dài hoặc siêu dài
có tăng áp bằng tuabin khí xả được dùng cho hệ động lực tàu thủy trở nên phổ biến
hơn nhờ khả năng phát công suất lớn, tiết kiệm nhiên liệu và giảm lượng NOx trong
khí xả
1.2 Khái niệm và định nghĩa
Động cơ diesel là thiết bị biến đổi năng lượng nhiệt kiểu piston trong đó nhiệt
năng do nhiên liệu bốc cháy sẽ được biến đổi thành công do chuyển động qua lại
của piston và được truyền ra ngoài dưới dạng chuyển động quay của trục khuỷu
thanh truyền
Hình 1.1 Động cơ Diesel - biến đổi nhiệt năng (do nhiên liệu cháy) thành cơ năng
Chu trình công tác là tập hợp những quá trình biến đổi trong xy lanh động cơ
kèm theo đó là sự biến đổi của môi chất Tính chu kỳ của chu trình công tác được
đặc trưng bằng hành trình của piston để thực hiện chu trình đó Hiện nay động cơ
đốt trong được chia ra làm hai loại: động cơ 4 kỳ và động cơ 2 kỳ
Động cơ 4 kỳ: là động cơ thực hiện một chu trình công tác cần bốn hành trình
của piston tương ứng với hai vòng quay của trục khuỷu (Hình 1.2)
Động cơ 2 kỳ: là động cơ thực hiện một chu trình công tác cần hai hành trình
của piston tương ứng với một vòng quay của trục khuỷu
Trang 5Kỳ là một phần của chu trình được đánh dấu bằng hai vị trí: điểm chết trên và
điểm chết dưới của piston Trong đó, điểm chết là vị trí của piston trong xy
lanh mà tại đó piston đổi chiều chuyển động
Hình 1.2 Động cơ diesel bốn kỳ
Điểm chết trên (ĐCT): là vị trí của piston trong xy lanh mà tại đó khoảng
cách từ đỉnh piston đến đường tâm trục khuỷu là lớn nhất
Điểm chết dưới (ĐCT): là vị trí của piston trong xy lanh mà tại đó khoảng
cách từ đỉnh piston đến đường tâm trục khuỷu là bé nhất
Trang 6Hành trình của piston là khoảng cách giữa hai điểm chết
Thể tích không gian nén hay còn gọi là buồng đốt Vc là thể tích bé nhất của
xylanh trong một chu trình (Đôi khi gọi là buồng cháy)
Hình 1.3 Động cơ diesel hai kỳ
Thể tích công tác của xylanh Vs là thể tích do mặt đỉnh piston vẽ ra khi chuyển
động giữa hai điểm chết, được tính bằng hiệu số giữa thể tích lớn nhất của xylanh và
thể tích buồng đốt
Vs = Vmax – Vc
Đối với những loại động cơ mà xylanh chỉ có một piston thì thể tích công tác
của xylanh có thể tính theo công thức:
Trang 7Trong đó: D là đường kính xylanh (mm)
C s
V V
V V V
ε
Tỷ số nén có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình làm việc của động
cơ Nó ảnh hưởng rất nhiều đến các thông số khác của động cơ, đặc biệt là
vấn đề để lợi dụng có hiệu quả nhiệt lượng do nhiên liệu cháy tỏa ra trong
buồng đốt
1.3 Nguyên lý hoạt động của động cơ diesel bốn kỳ
Hình 1.4 hiển thị sơ đồ nguyên lý làm việc của động cơ diesel bốn kỳ Trong
quá trình làm việc của động cơ, trục khuỷu (4) quay theo chiều mũi tên (chiều kim
đồng hồ, xem hình vẽ) Piston (2) chuyển động tịnh tiến trong xylanh, thanh truyền
(3) biến chuyển động lên xuống của piston thành chuyển động quay của trục khuỷu
Để tiện cho việc nghiên cứu ta hãy bắt đầu khi piston ở vào vị trí điểm chết trên
(ĐCT), lúc đó thể tích của xy lanh là bé nhất tức bằng Vc Góc quay φ của trục
khuỷu cũng được tính bắt đầu từ vị trí đó Đối với động cơ diesel bốn kỳ, trong mọi
chu trình công tác góc quay φ thay đổi từ 00 ÷ 7200 (tương ứng với hai vòng quay
trục khuỷu) Chu trình công tác của động cơ bốn kỳ được thực hiện như sau:
a Kỳ nạp (Quá trình hút)
Trong kỳ nạp (quá trình hút), piston (2) chuyển động từ ĐCT xuống ĐCD đồng
thời xupáp hút (5) (xupáp nạp) mở trong khi xupáp xả (1) đóng Không khí sạch
được nạp vào trong xylanh của động cơ từ thể tích do piston vẽ ra
Hình 1.4 Nguyên lý hoạt động của động cơ diesel bốn kỳ
Trang 8b Kỳ nén
Trong kỳ nén, piston (2) chuyển động từ ĐCD lên ĐCT, đồng thời các xupáp
nạp và xả đã đóng kín Piston thực hiện quá trình nén làm tăng áp suất và do đó làm
tăng nhiệt độ của không khí đã nạp vào trước đó
c Kỳ cháy dãn nở sinh công
Vào những thời điểm cuối của kỳ nén, khi piston (2) chuyển động đến gần
hoặc qua ĐCT, nhiên liệu được phun vào dưới dạng các hạt bụi nhỏ Các hạt
nhiên liệu được phun vào môi trường có khí ôxy O2 và nhiệt độ cao, bắt đầu bay
hơi, hòa trộn với oxy và cháy Quá trình cháy nhiên liệu xảy ra rất nhanh có tính
chất như một vụ nổ mà người ta gọi là cháy nổ Năng lượng nhiệt do cháy nhiên
liệu tạo ra trong buồng đốt khi cháy có nhiệt độ và áp suất cao Sự giãn nở sinh
công của khối khí cháy đẩy piston đi xuống
Hình 1.5 Đồ thị công chỉ thị (P-V) của động cơ diesel 4 kỳ
d Kỳ thải (Xả)
Kỳ xả bắt đầu khi piston từ ĐCD lên ĐCT đồng thời xupáp xả đang mở
trong khi xupáp hút đang đóng Do xupáp xả mở, khí cháy sẽ tự do thải ra ngoài
giai đoạn đầu và bị piston cưỡng bức đẩy ra ngoài vào giai đoạn cuối Khí cháy
được thải ra ngoài để chuẩn bị cho kỳ nạp của chu trình kế tiếp sẵn sàng thực
Trang 91.4 Nguyên lý hoạt động của động cơ diesel hai kỳ
Hình 1.5 biểu thị sơ đồ nguyên lý làm việc của động cơ diesel hai kỳ Trong
quá trình làm việc của động cơ, trục khuỷu quay theo chiều mũi tên (chiều kim đồng
hồ, xem hình vẽ) Piston cũng chuyển động tịnh tiến trong xy lanh, thanh truyền
biến chuyển động lên xuống của piston thành chuyển động quay của trục khuỷu
Hãy bắt đầu chu trình làm việc của động cơ diesel hai kỳ bằng quá trình nén
(hình 1.5d) Quá trình nén bắt đầu khi piston đã đóng các cửa hút và cửa xả (hình
1.5d) Chuyển động của piston từ ĐCD lên ĐCT thực hiện quá trình nén Khi piston
chuyển động đến khu vực xung quanh ĐCT (trước hoặc sau), nhiên liệu được phun
vào buồng đốt dưới dạng các hạt bụi nhỏ Nhờ nhiệt độ cao của không khí có chứa
oxy cuối quá trình nén, nhiên liệu đựoc phun vào sẽ thực hiện quá trình cháy nổ làm
tăng áp suất và nhiệt độ
Khí cháy có nhiệt độ và áp suất cao sẽ thực hiện quá trình giãn nở sinh công,
đẩy piston từ ĐCT xuống ĐCD Vào cuối quá trình giản nở, khi piston chuyển động
xuống sẽ mở cửa xả (exhaust port, hình 1.5b) và thực hiện quá trình xả tự do nhờ áp
suất khí cháy trong xylanh đang còn cao hơn bên ngoài
Sự chuyển động tiếp theo của piston làm mở cửa nạp (scavenge port), và do
không khí sạch túc trực sẵn với áp suất khí cháy cao hơn khí cháy còn lại trong
xylanh, sẽ đi vào vừa thực hiện quá trình nạp, vừa thực hiện quá trình quét khí cháy
trong xylanh ra ngoài (hình 1.5c)
Hình 1.6 Nguyên lý hoạt động của động cơ diesel hai kỳ
Trang 10Toàn bộ một chu trình công tác của động cơ diesel hai kỳ thực hiện trong phạm
vi 3600 góc quay trục khuỷu (tương ứng vói một vòng quay trục khuỷu) Piston đi
lên (ĐCD lên ĐCT) thực hiện kỳ nén, đi xuống (ĐCT xuống ĐCD) thực hiện kỳ
cháy giãn nở sinh công Vào đầu các kỳ nén và cuối kỳ giãn nở, có các quá trình
thải khí cháy, nạp không khí và quét khí cháy mà người ta thường gọi là quá trình
trao đổi khí
Sự khác nhau cơ bản tính chất hai loại động cơ (bốn kỳ và hai kỳ) là hình thức
sinh công và trao đổi khí Trong đó động cơ hai kỳ sinh công sau một vòng quay còn
động cơ bốn kỳ sinh công sau hai vòng quay trục khuỷu Như vậy, nếu hai loại động
cơ có cùng số vòng quay và kích thước cơ bản thì động cơ hai kỳ về lý thuyết có
công suất lớn gấp hai lần động cơ bốn kỳ Thực tế, một phần hành trình phải sử
dụng cho các quá trình trao đổi khí, động cơ hai kỳ chỉ sinh công suất lớn hơn động
cơ bốn kỳ có 1.8 lần Ngoài ra, để thực hiện được quá trình trao đổi khí (nạp và quét
khi) động cơ hai kỳ đòi hỏi không khí nạp phải được nén sơ bộ trước để có áp suất
cao hơn so với không khí môi trường
Hình 1.7 Đồ thị công chỉ thị của động cơ diesel hai kỳ
1.5 Đồ thị tròn các quá trình trao đổi khí
Các quá trình trao đổi khí của động cơ Diesel đóng vai trò rất quan trọng nhằm
đảm bảo hoạt động của động cơ với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cao Chất lượng của
quá trình trao đổi khí được đánh giá bằng chất lượng các quá trình thải, quét khí và
nạp Các quá trình thải, quét khí và nạp (các quá trình trao đổi khí) diễn ra nối tiếp
nhau và ảnh hưởng lẫn nhau Khi một quá trình này không đảm bảo chất lượng , quá
z
c
b a
P
V
z’
e k
Trang 11trình khác cũng không thể duy trì được chất lượng mong muốn Một yếu tố rất quan
trọng liên quan đến quá trình trao đổi khí tính quán tính của dòng khí ( khí xả và
không khí) lưu động trong động cơ Diesel Nhằm mục đích lợi dụng quán tính của
dòng khí lưu động, thời điểm đóng mở các cơ cấu thải và nạp của động cơ Diesel
phải được tính toán tối ưu và không trùng với các điểm chết (ĐCT và ĐCD)
1.5.1 Đồ thị tròn các quá trình trao đổi khí của động cơ bốn kỳ
Hình 1.6 miêu tả đồ thị tròn các quá trình trao đổi khí của động cơ diesel
bốn kỳ Trên đồ thị cho thấy, thời điểm đóng xupáp nạp để thực hiện quá trình
nén không phải ở ĐCD mà muộn hơn (còn gọi là góc đóng muộn) nhằm muc
đích lợi dụng quán tính của dòng khí nạp đang đi vào Cuối quá trình giãn nở,
xupáp xả được mở sớm hơn thời điểm ĐCD nhằm mục đích phân bố năng lượng
dành cho các thiết bị tận dụng (tuabin tăng áp và tăng cường quá trình xả tự do
Cuối quá trình xả cưỡng bức, xupáp xả không đóng ở thời điểm ĐCT mà muộn
hơn (góc đóng muộn) nhằm lợi dụng quán tính dòng khí cháy ra khỏi buồng đốt
Cũng nhằm mục đích đó, đồng thời để quét sạch buồng đốt, xupap nạp mở sớm
hơn (trước ĐCT) và trước khi xupap xả đóng Giai đoạn cả hai xupap (nạp, xả)
cùng mở gọi là giai đoạn trùng pha
Hình 1.8 Đồ thị tròn trao đổi khí động cơ diesel bốn kỳ
Trang 121.5.2 Đồ thị tròn các quá trình trao đổi khí động cơ diesel hai kỳ
Hình 1.9 miêu tả đồ thị tròn các quá trình trao đổi khí động cơ diesel hai kỳ
Trên đồ thị, thời điểm mở cửa xả sớm hơn ĐCD cũng với mục đích phân bố lại năng
lượng khí xả và tạo thuận lợi cho quá trình xả tự do Thời điểm mở cửa nạp sớm
hơn cửa xả, sớm hơn ĐCD, cũng được tính toán để khi cửa nạp mở quá trình quét
khí diễn ra hiệu quả nhất
Hình 1.9 Đồ thị tròn trao đổi khí động cơ diesel hai kỳ
1.5.3 Đồ thị tròn các quá trình trao đổi khí của động cơ diesel tăng ap
Đối với các động cơ tăng áp, do lượng không khí cần nạp vào và khí xả phải
thải ra lớn hơn so với động cơ không tăng áp Ngoài ra, với các động cơ tăng áp có
sử dụng tuabin khí xả, vấn đề phân bố năng lượng khí xả để đảm bảo công xuất cần
thiết của tuabin lai máy nén gió cũng được tính đến Vì vậy, động cơ tăng áp được
thiết kế với góc đóng mở xupáp khác với động cơ không tăng áp Hình 1.10 so sánh
đồ thị tròn các quá trình trao đổi khí động cơ diesel không tăng áp (a) và có tăng áp
(b) Các động cơ tăng áp có góc mở sớm xupáp xả, đóng muộn xupáp xả, mở sớm
xupáp nạp và giai đoạn trùng pha lớn hơn động cơ không tăng áp
Trang 13Hình 1.10 Đồ thị tròn trao đổi khí động cơ diesel bốn kỳ
1.6 Phân loại động cơ diesel tàu thủy
Động cơ diesel dùng trên tàu thủy bao gồm rất nhiều chủng loại với các mục
đích sử dụng khác nhau Chúng có thể được phân loại theo các đặc điểm như sau:
1.6.1 Theo nguyên lý làm việc
- Động cơ bốn kỳ
- Động cơ hai kỳ
1.6.2 Theo nhiên liệu được sử dụng
- Động cơ dùng nhiên liệu nhẹ (DO)
- Động cơ dùng nhiên liệu hòa trộn (MDO)
- Động cơ dùng nhiên liệu nặng (HFO)
1.6.3 Theo kiểu buồng đốt
- Động cơ có buồng cháy thống nhất
- Động cơ có buồng đốt trong đỉnh piston
- Động cơ có buồng cháy xoáy lốc
- Động cơ có buồng dự cháy
1.6.4 Theo quá trình công tác
- Động cơ có quá trình cháy đẳng tích
- Động cơ có quá trình cháy đẳng áp
- Động cơ có quá trình cháy hỗn hợp
1.6.5 Theo phương pháp nạp không khí
- Động cơ có tăng áp
Trang 14- Động cơ không tăng áp
1.6.6 Theo số lượng xylanh
- Động cơ piston đối đỉnh (hình 1.11)
Hình 1.11 Động cơ piston đối đỉnh
1.6.8 Theo chiều quay trục khuỷu
- Động cơ có thể đảo chiều
- Động cơ không thể đảo chiều
1.6.9 Theo tác động của piston
- Động cơ tác dụng đơn
- Động cơ tác dụng kép
Trang 151.6.10 Theo tốc độ quay trục khuỷu (vòng/phút)
- Động cơ thấp tốc: n < 200 (vòng/phút)
- Động cơ trung tốc: 200 < n <1000 (vòng/phút)
- Động cơ cao tốc: n > 1000 (vòng/phút)
1.6.11 Theo kết cấu đầu to biên
- Động cơ có patanh bàn trượt
- Động cơ không có patanh bàn trượt
1.6.12 Theo tỷ lệ kích thước S/D
Thông thường, tỷ số S/D của các động cơ dược phân loại như sau:
- Động cơ hành trình ngắn, S/D = 1.0 ÷ 1.5
- Động cơ hành trình dài (long stroke), S/D = 2.5 ÷ 3.0
- Động cơ hành trình siêu dài (super-long stroke), S/D > 3.0
Trang 16CHƯƠNG 2
CÁC BỘ PHẬN CHÍNH CỦA ĐỘNG CƠ DIESEL
2.1 Phân loại các bộ phận kết cấu của động cơ diesel
Kết cấu động cơ diesel có thể phân loại thành các nhóm chi tiết cơ bản như
sau:
- Các bộ phận tĩnh
- Các bộ phận động
- Các cơ cấu truyền động
- Các thiết bị đo và chỉ báo
- Các cơ cấu an toàn và điều khiển
Hình 2.1 Kết cấu các bộ phận cơ bản của động cơ diesel tàu thuỷ
4 Thanh truyền
Trang 172.2 Các kết cấu phần tĩnh
Các kết cấu phần tĩnh cơ bản của động cơ diesel (hình 2.2), có thể bao gồm:
- Bệ máy (bedplate)
- Thân máy (framework)
- Khối xylanh (cylinder block)
- Sơ mi xylanh (cylinder liners)
- Nắp xylanh (cylinder covers)
Hình 2.2 Kết cấu các bộ phận tĩnh của động cơ diesel tàu thuỷ
Bệ máy là nền tảng của một động cơ Bệ máy (hình 2.2) là cơ cấu dùng để liên
kết các bộ phận của đông cơ thành một khối, đỡ các khối lượng của động cơ, nhận
lực truyền từ các cơ cấu truyền động, tạo thành hộp gom dầu tuần hoàn bôi trơn
trong động cơ Bệ máy của động cơ vừa và lớn còn là chỗ đặt bệ trục Mỗi một bệ
trục đều có dạng yên ngựa, bao gồm hai nửa hình trụ liên kết với nhau (bằng bulông
êcu hoặc bằng cơ cấu chống)
Trang 18Hình 2.2 Bệ máy
Thân máy dạng hình hộp, nối block xylanh (khối xylanh) với bệ máy và tạo
thành khoang cácte kín dầu Thân máy chịu lực nén do khối lượng của toàn bộ khối
xylanh và lực do khí cháy cũng như lực ngang do chuyển động quay của trục khuỷu
Thân máy của động cỡ lớn thường được kết cấu từ các vách ngang chữ A (hình 2.3)
Hình 2.3 Thân máy có vách ngăn kiểu chữ A
Trang 19Với động cơ cao tốc, thân máy thường được chế tạo dạng khối nhỏ, bằng thép
đúc liền Ngược lại, thân máy của động cơ thấp tốc thường được chế tạo ở dạng các
phần rời
Khối xylanh có nhiệm vụ định vị các sơmi xylanh với nắp xylanh Khối xylanh
của động cơ hai kỳ khác với động cơ bốn kỳ ở chỗ động cơ hai kỳ cần phải có
khoang quét khí (khí nạp) và khoang khí xả
Nắp xylanh, cùng với sơmi xylanh tạo thành buồng đốt Khi làm việc, nắp
xylanh (hình 2.4) tiếp xúc trực tiếp với khí cháy có nhiệt độ và áp suất cao, có thể bị
cháy hoặc nứt vỡ Bên trong, nắp xylanh được chế tạo với các khoang và lối đi của
nước làm mát
Hình 2.4 Nắp xi lanh
2.3 Các bộ phận chuyển động
Các bộ phận chuyển động chính của động cơ diesel bao gồm:
- Piston và các phụ kiện của nó
- Thanh truyền và con trượt
- Trục khuỷu
Piston là cơ cấu quan trọng nhất của động cơ quyết định trực tiếp đến công suất
cực đại của động cơ Đỉnh piston được chế từ vật liệu chịu nhiệt độ cao và áp suất
cao
Với piston có cán, chuyển động của piston và cán của nó chỉ là chuyển động
thẳng đứng và không có lực ngang Loại piston này, thân nó không cần quá dài để
làm mặt tựa chịu lực ngang Đương nhiên loại này cần con trượt với chức năng mặt
Trang 20tựa chịu lực sinh ra từ chuyển động qua lại của thanh truyền và chuyển động quay
của trục khuỷu Bàn trượt nhằm mục đích đỡ và dẫn hướng con trượt được đỡ bởi
thân máy
Thanh truyền là cơ cấu biến chyển động tịnh tiến của piston hoặc con trượt
thành chuyển động quay của trục khuỷu
Trục khuỷu là cơ cấu quay của động cơ diesel, đó là cơ cấu nhận công suất chỉ
thị từ xylanh động cơ để truyền ra ngoài trục khuỷu chịu mômen uốn và xoắn thay
đổi theo chu kỳ trong quá trình làm việc của động cơ Thông thường trục khuỷu
thường được chế tạo bằng thép rèn, với động cơ cao tốc thường dùng thép crôm
niken Các khuỷu trục của động cơ nhiều xylanh được sắp xếp hợp lý nhằm mục
Trang 212.3 Các cơ cấu truyền động
Chức năng chính của cơ cấu truyền động là điều khiển các quá trình trao đổi
khí và phun nhiên liệu vào buồng đốt của động cơ Với động cơ khởi động bằng
không khí nén, cơ cấu truyền động còn điều khiển quá trình phân phối gió khởi
động cho động cơ
Cơ cấu truyền động có thể dùng bánh răng hoặc xích để dẫn động trục
cam từ trục khuỷu Tỷ số truyền giữa trục khuỷu và trục cam là 1:1 đối với
động cơ hai kỳ và 2:1 đối với động cơ bốn kỳ
2.5 Các thiết bị đo và chỉ báo
Không chỉ với động cơ diesel, tất cả các máy móc thiết bị cần phải được đo đạc
các thông số trong quá trình hoạt động Các thông số như nhiệt độ, áp suất… rất cần
được đo và chỉ báo (hiển thị) Các thông số đo được không chỉ dùng để kiểm tra và
đánh giá chất lượng làm việc mà còn cần thiết cho vấn đề áp dụng tự động điều
khiển
2.5.1 Thiết bị đo áp suất
Thiết bị đo áp suất thường dùng cho động cơ diesel tàu thủy là đồng hồ áp
suất, với trị số chỉ báo là áp suất tương đối
a Manometer
Một chiếc ống kiểu chữ U dùng làm manometer thể hiện trên hình 2.6a Một
đầu của ống chữ U nối với nguồn đo áp suất, đầu kia mở thông với môi trường
không khí
Hình 2.6 Thiết bị đo áp suất
Trang 22Chất lỏng bên trong ống có thể là nước hoặc thủy ngân và nó sẽ chỉ báo mực
chất lỏng như hình vẽ Độ chênh áp suất so với môi trường sẽ được thể hiện bằng độ
chênh mực chất lỏng như hình vẽ Thiết bị này thường được dùng để đo các giá trị
áp suất nhỏ Trong hệ thống với hai mức áp suất có thể dùng thiết bị này để đo độ
chênh áp suất
b Barometer
Barometer kiểu thủy ngân, có kết cấu một ống thẳng giống manometer Đó là
một ống mao dẫn thủy tinh có một đầu được làm kín, đổ đầy thủy ngân rồi lộn
ngược lại và cắm vào một bầu thủy ngân nhỏ ở dưới (hình 2.6b) Có một cột chân
không phía trên cột thủy ngân (trong ống mao dẫn), chịu tác động của áp suất khí
quyển vào bầu thủy ngân Chỉ số trên thang đo là áp suất tuyệt đối của khí quyển
Thiết bị đo khí áp hộp dùng kết cấu hình hộp có màng đàn hồi để kiểm tra sự
thay đổi áp suất khí quyển (hình 2.6c) Tâm màng đàn hồi tụt xuống nếu khí áp tăng
và dịch lên (do lò xo tác động phụ) nếu khí áp giảm Các thanh nối làm chuyển dịch
kim chỉ của thiết bị
c Đồng hồ áp suất kiểu ống Bourdon
Đồng hồ áp suất kiểu ống bourdon (hay lò xo ống), được sử dụng rộng rãi làm
thiết bị đo áp suất tương đối trong kỹ thuật (hình 2.6d) Đó là một ống có tiết diện
hình elip uốn cong hình chữ C với một đầu hàn kín Đầu hàn kín là đầu tự do liên
kết với các thanh nối để làm dịch chuyển kim chỉ Đầu kia của ống được nối thông
với khu vự áp suất cần đo Do tác dụng của áp suất, ống chữ C sẽ giãn ra hoặc co
vào thông qua van kim chỉ, chỉ báo được giá trị áp suất
2.5.2 Thiết bị đo nhiệt độ
Nhiệt độ thường được đo với giá trị trên thang độ C (0C: Độ Cenlsius)
a Nhiệt kế kiểu chất lỏng trong ống thủy tinh
Có rất nhiều chất lỏng được sử dụng trong loại nhiệt kế này, tùy thuộc vào
khoảng nhiệt độ: thủy ngân từ -350 đến +3500C, rượu cồn từ -800C đến +700C Sự
tăng nhiệt độ làm dãn nở chất lỏng trong ống thủy tinh làm mực chất lỏng tăng lên
Mực chất lỏng được lấy làm chỉ báo trên thang chia bên ngoài ống thủy tinh và chỉ
báo nhiệt độ Trong ống thủy tinh của nhiệt kế đo nhiệt độ cao, khoảng không gian
phía trên cột thủy ngân được nạp khí nitơ chịu áp suất
b Nhiệt kế kiểu chất lỏng trong ống kim loại
Dùng kết cấu gồm một bầu nhỏ nối với ống bourdon kim loại (giống áp kế)
đổ đầy chất lỏng có ưu điểm về độ tin cậy vả khoảng đo nhiệt độ rộng hơn Sử
dụng kết cấu kiểu này với chất lỏng là thủy ngân cho khoảng đo nhiệt độ từ -390C
đến 6500C
Trang 23c Nhiệt kế lưỡng kim kiểu ren
Hình 2.7 Thiết bị đo nhiệt độ kiểu lưỡng kim
Một dải lưỡng kim đặt xoắn kiểu ren (hình 2.7) được chế tạo từ hai kim loại
khác nhau gắn liền nhau Khi nhiệt độ thay đổi, dải lưỡng kim giãn nở và do độ giãn
nở của mỗi kim loại khác nhau sẽ gây ra hiện tượng xoắn lại của dải kim loại Một
đầu dải kim loại được cố định, đầu kia gắn với trục xoay có gắn kim chỉ thị cho
phép chỉ báo giá trị nhiệt độ đã chia sẵn trên nhiệt kế Khoảng nhiệt độ dùng cho
loại nhiệt kế kiểu này là từ -300C đến +5500C
d Cặp nhiệt điện (Điện ngẫu)
Hình 2.8 Cặp nhiệt điện
Cặp nhiệt điện (điện ngẫu) là kiểu điện nhiệt kế khi hai kim loại khác nhau nối
với nhau thành một mạch kín được đặt trong trường nhiệt độ khác nhau, tại chỗ nối
sẽ phát sinh một dòng diện mà nó được sử dụng để đo nhiệt độ (hình 2.8) Khoảng
nhiệt độ dùng nhiệt kế kiểu này để đo là từ -2000C đến +14000C
2.5.3 Thiết bị đo mực chất lỏng
a Phao
Quả phao nổi trên mực chất lỏng, được dẫn trong ống sẽ truyền tín hiệu đến cơ
cấu chỉ báo cho biết mực chất lỏng tăng hay giảm Cơ cấu truyền động có thể dùng
dây hoặc xích Công tắc kiểu quả phao cũng hay được dùng cho các đèn, còi báo
động mực chất lỏng hoặc dùng cho hệ thống tự động khởi động hoặc dừng các bơm
chất lỏng
Trang 24b Kính hoặc ống thủy
Có rất nhiều loại kính nhìn hoặc ống thủy dùng để hiển thị mực chất lỏng trong các
két chứa
c Đồng hồ kiểu khí (Pneumatic gauge)
Hình 2.9 Thiết bị đo mực chất lỏng kiểu khí
Đây là thiết bị đo mực chất lỏng trong két dùng manometer thủy ngân nối
với nửa hình cầu kim loại đặt trong két cần đo (hình 2.9) Nửa hình cầu kim loại
đặt gần đáy trong két cần đo và được nối bằng một ống nhỏ với manometer thủy
ngân Cấp khí nén vào hệ thống, dùng van chuyển có thể đo được mực chất lỏng của
nhiều két chỉ bằng một manometer thủy ngân Khi khí xả khỏi hệ thống, việc đo
mực chất lỏng không được thực hiện
2.5.4 Thiết bị đo lưu lượng
Đo dòng lưu động có thể là đo lượng chất lỏng lưu động trong một đơn vị thời
gian hoặc đo tốc độ lưu động sau đó nhân với diện tích lưu động để có lưu lượng
Trang 25Một cặp bánh răng hoặc cách ăn khớp trong với thể tích đẩy sau mổi vòng quay
cho phép xác định thể tích chất lỏng lưu động qua thiết bị sau mỗi vòng quay
hoặc một số vòng quay (hình 2.10a)
Một bộ quay như tuabin thủy cũng cho phép đếm được chất lỏng lưu động
qua như hình 2.10b
b Thiết bị đo tốc độ lưu động
b1.Kiểu ống ventuari
Bố trí như hình 2.11a, ống venturi có tiết diện thu hẹp từ lối vào và mở rộng ở
lối ra Khi chất lỏng lưu động qua thiết bị sẽ có thay đổi tốc độ ở khu vực họng
ống và do đó gây chênh lệch áp suất suất được đo bởi manometer Độ chênh áp
suất phụ thuộc vào tốc độ lưu động và được lấy để xác định tốc độ lưu động
b2.Tấm tiết lưu
Tấm tiết lưu đặt vuông góc với lối lưu thông của dòng chất lỏng, có lỗ tiết
lưu và được bố trí một manometer đo chênh lệch áp suất trước và sau tiết lưu
(hình 2.11b) Độ chênh áp suất được lấy làm cơ sở cho việc tính toán tốc độ lưu
động của đòng chất lỏng
a, Kiểu ống Venturi b, Kiểu tấm tiết lưu
Hình 2.11 Đo lưư lượng kiểu (a) ống Venturi và (b) tấm tiết lưu
2.5.5 Tốc độ kế
Tùy theo nguyên tắc hoạt động, có thể có tốc độ kế kiểu cơ khí hoặc điện
a Tốc độ kế cơ khí
Có hai quả văng được gắn trên các thanh kim loại mềm Các thanh kim loại hai
đầu được gắn chặt với các cổ góp di động dọc trục (trượt) được Một lò xo hồi
được đặt giữa hai cổ góp (hình 2.12a) Trục quay cần đo tốc độ thông qua cơ cấu
truyền động sẽ lai dẫn trục quay của quả văng và phụ thuộc vào tốc độ quay, quả
Trang 26văng sẽ văng ra Cổ góp trượt được thông qua các thanh truyền làm quay kim chỉ
báo, chỉ tốc độ quay của trục quay cần đo tốc độ
a, Tốc độ kế cơ khí b, Tốc độ kế kiểu máy phát
Hình 2.12 Tốc độ kế
b Tốc độ kế điện tử
Có dạng một máy phát điện bao gồm một cốc nhôm quay trong một
stator có nam châm điện (hình 2.12b) Stator có hai cuộn dây khác nhau, đặt
vuông góc với nhau Một dòng điện xoay chiều cung cấp cho một cuộn dây,
hiệu điện thế do cuộn dây kia tạo ra được lấy làm cơ sở cho việc xác định
tốc độ quay cần đo
Thiết bị cảm ứng tốc độ quay kiểu xung điện cảm ứng có thể đọc trực tiếp tốc
độ quay (hình 2.13a) Mỗi một răng trên bánh quay , khi quay qua đầu cảm (pick
up), được ghi lại dưới dạng một xung điện và đưa đến đồng hồ chỉ báo
Đồng hồ tốc độ kiểu điện dung biểu thị trên hình 2.13b Một chiếc cánh quay
qua một biến trở tạo ra một xung điện và sau khi biến đổi, tín hiệu được đưa về
đồng hồ chỉ thị
Hình 2.13 Tốc độ kế kiểu điện tử
Trang 272.5.6 Thiết bị đo độ nhớt
Việc đo độ nhớt nhằm mục đích điều chỉnh độ nhớt của nhiên liệu là vô cùng
quan trọng và cần thiết Tăng nhiệt độ của nhiên liệu sẽ làm giảm độ nhớt của nó và
ngược lại
Bộ cảm ứng độ nhớt biểu thị trên hình 2.14 Một chiếc bơm bánh răng nhỏ cấp
một lượng chất lỏng cố định qua một ống mao dẫn Chất lỏng lưu động qua ống mao
dẫn có độ chênh áp suất trước và sau, tùy thuộc vào độ nhớt của chất lỏng Một
đồng hồ đo độ chênh áp suất để tính toán độ nhớt chất lỏng
Hình 2.14 Viacosity sensor: (a) diagramatic; (b) actual
Trang 282.6 Thiết bị điều khiển và thiết bị an toàn
2.6.1 Bộ điều tốc
Thiết bị điều khiển chủ yếu trong bất kỳ một động cơ diesel là bộ điều tốc Bộ
điều tốc có chức năng duy trì tốc độ quay của động cơ ổn định khi tải (công suất)
thay đổi Nhằm thực hiện điều đó, bộ điều tốc điều chỉnh một cách tự động
nhiên liệu cung cấp cho động cơ phù hợp với tải động cơ Có các loại bộ điều
tốc kiểu cơ khí, thủy lực và điện tử
Bộ điều tốc cơ khí dùng quả văng để cảm ứng vòng quay động cơ Hai quả
văng gắn trên một cái đĩa quay, được truyền động từ trục động cơ (hình 2.15) Tác
dụng của lực ly tâm đẩy các quả văng ra làm cấn đứng dưới các quả văng bị nâng
lên, nén lò xo tốc độ lại cho đến khi tạo được cân bằng Chuyển động của cần đứng
thông qua hệ thanh truyền cơ học hoặc khuyếch đại thủy lực làm thay đổi nhiên liệu
cấp cho động cơ
Hình 2.15 Bộ điều tốc
2.6.2 Van an toàn xylanh
Van an toàn xylanh được thiết kế để giảm thiết kế để giảm áp suất cháy trong
xylanh động cơ khi nó vượt quá từ 10% đến 20% áp suất cháy định mức (hình 2.16)
Van an toàn được giữ ở vị trí đóng bởi lò xo và nó sẽ bị đẩy lên khi lực khí cháy
vượt quá lực tác động của lò xo Van an toàn xylanh được thiết kế để nó tự đóng kín
sau mỗi lần mở
Trong quá trình khai thác, do tác động của nhiều yếu tố van an toàn sẽ có nhiều
sai lệch về trị số mở áp suất và nó phải được định kỳ bảo dưỡng và hiệu chỉnh
Trang 29Hình 2.16 Van an toàn xi lanh
2.6.3 Cảm biến hơi dầu cácte
Hơi dầu cácte hình thành do sự bay hơi của dầu bôi trơn dưới nhiệt độ cao Sự
hình thành hơi dầu cácte có thể đạt đến mức nguy hiểm và có thể gây nổ Đầu cảm biến
hơi dầu cácte dùng tế bào quang điện để đo liên tục sự tăng rất nhỏ nồng độ hơi dầu
hình thành trong cácte Một motor điện lai quạt hút lấy mẫu hơi dầu từ cácte thổi qua
ống đo Mẫu hơi dầu được lấy lần lượt từ các khoang các nhau của cácte thông qua một
van phân phối cũng do motor điện quay Mẫu hơi dầu được đo và so sánh với mẫu
không khí sạch hoặc so sánh mẫu hơi dầu của các khoang cácte với nhau Trị số
đo thực tế sau khi so sánh được đưa đến bộ báo động hoặc hiển thị cho người
khai thác
2.6.4 Van an toàn cácte
Van an toàn cácte được trang bị nhằm bảo vệ cácte khi máy xảy ra cháy nổ hơi
dầu trong cácte Van an toàn cácte được bố trí trên các nắp cácte của động cơ
Hình 2.17 Van an toàn cacte
Van an toàn cácte (hình 2.17) được thiết kế kiểu van một chiều, tự đóng kín
bằng lò xo và tự mở do tác động của áp xuất trong cácte khi giá trị của áp suất vượt
Trang 30quá giới hạn đặt trước Hình 2.17 miêu tả kết cấu của van an toàn cácte Trong đó,
bên trong của van có bố trí lưới ngăn không cho ngọn lửa tràn ra ngoài, còn bên
ngoài được bố trí cửa thoát làm lệch hướng dòng hơi dầu để bảo vệ người khai thác
đang làm việc phía ngoài
2.6.5 Máy via
Máy via dùng động cơ điện lai thông qua hộp bánh răng ăn khớp với răng trên
bánh đà để quay trục khuỷu của động cơ với tốc độ rất chậm Máy via dùng để via
động cơ đến những vị trí cần thiết cho việc tháo, sửa chữa, kiểm tra và chỉnh định
Trước khi khởi động, máy via cũng được khởi động nhằm vào việc kiểm tra sự
quay trở tự do của các cơ cấu chuyển động trong động cơ cũng như nguy cơ có nước
trong buồng đốt
Khi máy via hoạt động các van an toàn của động cơ phải được mở trước khi
khởi động động cơ
Trang 31CHƯƠNG 3
ĐỘNG CƠ DIESEL CỠ LỚN THẤP TỐC
3.1 Giới thiệu chung
Động cơ diesel cỡ lớn thấp tốc thường sử dụng dưới tàu thủy làm máy
chính, lai trực tiếp thiết bị đẩy tàu là chân vịt Chúng thường là loại động cơ
hai kỳ tăng áp, có patanh bàn trượt, hành trình dài, vòng quay trục khuỷu
thấp nhưng tốc độ chuyển động của piston rất cao và được thiết kế để sử
dụng nhiên liệu có chất lượng thấp
Hình 3.1 Động cơ S50MC hãng MAN BW
Trang 32Hiện nay , các động cơ thấp tốc cỡ lớn được chế tạo chủ yếu bởi các hãng sau
: MAN BW, WARTSILA (SULZER) , MITSUBISHI…
3.2 Các chi tiết tĩnh
Các chi tiết tĩnh chính (hình 3.1) của động cơ lớn, thấp tốc bao gồm: bệ
máy, khung máy, bệ đỡ chính, khối xylanh, sơmi xylanh, nắp xylanh
Hình 3.2 Các chi tiết tĩnh chính động cơ thấp tốc cỡ lớn
3.2.1 Bệ máy
Bệ máy (hình 3.2) là nền móng cho động cơ và còn là cácte chứa dầu nhờn bôi
trơn
Bệ máy liên kết chặt thân động cơ với các chi tiết tĩnh và chịu lực của các chi
tiết chuyển động Bệ máy phải có độ bền, độ cứng vững thích hợp để chịu được lực
uốn theo chiều dọc Bệ máy của động cơ lớn thấp tốc được chế tạo từ các tấm thép
hàn, do đó có thể giảm được trọng lượng và tăng độ cứng cho bệ máy
Trang 33Kết cấu của bệ máy bao gồm các dầm dọc và tấm ngang Các dầm ngang chứa ổ
đỡ chính trục khuỷu, có tác dụng tăng độ cứng vững theo chiều ngang cho bệ máy
Các dầm ngang chia bệ máy thành các khoang tương ứng với số xylanh
Bạc lót này có thể là loại bạc dày hoặc mỏng kim loại để chế tạo bạc lót là hợp
kim babít Trước đây người ta thường sử dụng loại bạc dày, nhưng thời gian gần đây
người ta chuyển sang sử dụng bạc mỏng có độ bền mỏi cao
Hình 3.4 cũng mô tả ổ đõ chính điển hình bởi các căn đệm giữa hai nữa bạc
lót Dầu nhờn bôi trơn thường được cấp vào bạc lót qua lỗ phía trên của nắp ổ
đỡ Phía trong bạc lót có rãnh dẫn dầu bôi trơn để đảm bảo dầu nhờn phân bố
Trang 34đều xung quanh bạc lót Bạc lót được đặt trong ổ đỡ chính và được cố định nắp
ổ đỡ bằng các gu-dông và êcu hoặc kích chống
3.2.3 Khung máy
Khung máy đặt trên bệ máy, nó được cấu tạo bởi các khung hình hộp có các
tấm dọc và các vách ngang “hình chữ A” (hình 3.5) Khung máy phải có nắp có thể
mở để kiểm tra bên trong cácte Nó còn phải có ống thông hơi, các thiết bị an toàn
như: van an toàn, thiết bị kiểm tra hơi dầu trong cácte khi động cơ làm việc Trên
khung máy có lắp bulông liên kết khung máy với bệ máy, hoặc bệ máy với khung
và khối sơmi xylanh
Hình 3.5 Khung máy
3.2.4 Khối xylanh
Khối xylanh của động cơ thấp tốc là các khối độc lập Chúng bao gồm từ ba
đến mười hai khối giống nhau và liên kết với nhau bằng các bulông Cấu tạo khối
xylanh của động cơ hai kỳ phức tạp hơn so với động cơ bốn kỳ vì chúng có các
cửa quét và cửa xả (đối với động cơ quét vòng) Giữa khối xylanh và sơmi xilanh
có không gian cho nước làm mát tuần hoàn (hình 3.6)
Trang 35Hình 3.6 Thân xi lanh
3.2.5 Sơmi xylanh
Sơmi xylanh của động cơ hai kỳ công suất lớn, thấp tốc chế tạo bằng phương
pháp đúc và có cấu tạo không gian làm mát như hình 3.7
Hình 3.7 Sơ mi xi lanh
Trang 36Sơmi xylanh phải có khẳ năng chịu được hai ứng suất: ứng suất cơ do áp suất
cháy và ứng suất nhiệt do sự chênh lệch nhiệt độ giữa vách trong và vách ngoài
sơmi xylanh Bề mặt phía tiếp xúc với nước làm mát của sơmi xylanh sẽ là nơi
xuất hiện các vết nứt đầu tiên Các vết nứt này ngày càng sâu và xuyên qua thành
sơmi xylanh; sau đó tiếp tục kéo dài xung quanh chu vi sơmi xylanh
Sơmi xylanh của các động cơ có đường kính lớn, hoặc có patanh bàn trượt
được bôi trơn bằng cách dùng các bơm dầu nhờn kiểu piston cụm, cấp dầu nhờn bôi
trơn cho sơmi xylanh qua các lỗ trên sơmi xylanh Các lỗ dầu này được khoan ở
phía trên của sơmi xylanh để hạn chế sự mài mòn sơmi xylanh Trên các lỗ dầu
nhờn này người ta bố trí các van một chiều để ngăn ngừa việc dầu nhờn chảy ngược
lại do tác dụng của áp lực khí cháy Các miệng lỗ phía trong sơmi xylanh được nối
với nhau bằng rãnh lượn sóng, hoặc thẳng để phân phối dầu nhờn đều xung quanh
chu vi sơmi xylanh (hình 3.7) Dầu bôi trơn cấp vào khi xécmăng đầu tiên đi qua các
lỗ dầu ở hành trình đi lên của piston
3.2.6 Nắp xylanh
Hình 3.9 Nắp xi lanh động cơ hai kỳ quýet thẳng
Trang 37Nắp xylanh cùng với đỉnh piston, thành sơmi xylanh tạo thành không gian
buồng đốt Nó rất dễ bị cháy và nứt do tiếp xúc trực tiếp với khí cháy có áp suất
và nhiệt độ cao Do điều kiện làm việc, nắp xylanh cần phải làm mát thích hợp
Việc thiết kế nắp xylanh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: kích thước sơmi
xylanh, các xupáp, vòi phun và hình dáng của buồng đốt Nắp xylanh của động cơ
hai kỳ, tác dụng đơn, quét thẳng qua xupáp có cấu tạo tương tự như nắp xylanh
của động cơ bốn kỳ (hình 3.9) Nắp xylanh của động cơ hai kỳ quét vòng chỉ có
các lỗ để lắp vòi phun, van khởi động và có cấu tạo đơn giản hơn
Nắp xylanh được làm mát bằng nước, đường nước vào làm mát ở phía ngoài
nắp xylanh, đường nước làm mát ra được lắp ở vị trí cao nhất để tránh tạo thành các
túi hơi trong khoảng thời gian làm mát Các túi hơi có thể là nguyên nhân tạo thành
các vùng quá nhiệt và dẫn đến hiện tượng rạn nứt
3.3 Các chi tiết chuyển động
3.3.1 Nhóm piston và xéc măng
a Piston
Piston là một chi tiết quan trọng, quyết định khả năng sinh công của động cơ
đốt trong Có hai loại piston : piston của động cơ không có patanh bàn trượt và
piston của động cơ có bàn trượt Piston của động cơ có patanh bàn trượt hiện đại
được làm mát bằng dầu nhờn Dầu nhờn vào làm mát piston bằng ống lồng, sau đó
đi ra bằng đường ống trong cán piston Đỉnh piston được chế tạo bằng vật liệu có
khả năng chịu được áp suất và nhiệt độ cao Đỉnh piston điển hình được chế từ
thép chịu nhiệt như: hợp kim crôm, môlíp đen, niken Loại piston này chịu
được ứng suất kéo, hạn chế được rạn nứt Để tăng khả năng chịu mài mòn, va
đập, rãnh xécmăng thường được phủ một lớp crôm hoặc được hoá cứng
Piston của các động cơ hai kỳ quét vòng có patanh bàn trượt có phần dẫn
hướng dài để ngăn không cho cửa quét và của xả thnôg nhau khi piston ở ĐCT
Phần dẫn hướng thường được chế tạo bằng gang vì phải tải nhiệt và cơ trên phần
dẫn hướng nhỏ hơn phần đỉnh piston Trên phần dẫn hướng có thể lắp các đai bằng
đồng thau để hạn chế mài mòn sơmi xylanh Piston của các động cơ hai kỳ quét
thẳng có patanh bàn trượt, hành trình dài thì không có phần dẫn hướng vì patanh bàn
trượt giữ vai trò dẫn hướng Đối với các động cơ không có patanh bàn trượt, piston
có phần dẫn hướng dài hơn Vật liệu chế tạo piston phụ thuộc vào kích thước, loại
nhiên liệu sử dụng và tốc độ động cơ
Trang 38Hình 3.10 Piston động cơ hai kỳ quýet thẳng
Đỉnh piston tiếp xúc trực tiếp với khí cháy, nhưng cần phải duy trì nhiệt độ của
nó dưới 5000C để đảm bảo độ bền của piston Đỉnh piston phải có độ dày cần thiết
để có khả năng chịu được lực của khí cháy Quá trình truyền nhiệt từ đỉnh piston cho
sơmi xyanh phải diễn ra đều xung quanh piston.Vị trí nào truyền nhiệt kém sẽ làm
cho piston bị quá nhiệt, là nguyên nhân làm cho piston bị biến dạng dẫn đến quá
trình mài mòn sơmi xylanh Trong trường hợp đặc biệt, đây cũng có thể là nguyên
nhân làm kẹt piston
Giữa piston và sơmi xylanh phải luôn tồn tại khe hở cho sự giãn nở vì nhiệt
Hầu hết piston có đường kính đỉnh piston nhỏ hơn phần dẫn hướng vì đỉnh piston có
nhiệt độ cao hơn phần dẫn hướng Giá trị khe hở này phụ thuộc vào công suất
và vật liệu chế tạo piston Nó nằm trong khoảng 0,01% đường kính piston đối với
piston thép rèn, 0,1% đối với piston chế tạo bằng hợp kim nhôm
Hình 3.11 Piston động cơ hai kỳ Sulzer RTA84T
Trang 39Nếu piston được làm mát bằng nước thì cần phải làm kín khoang nước làm mát
để tránh rò lọt nước xuống cácte Với piston làm mát bằng dầu nhờn thì vị trí đường
dầu vào thường cao hơn vị trí đường dầu ra do đó không gian làm mát thường không
đầy dầu Khi động cơ hoạt động sẽ làm cho lượng dầu trong khoang làm mát lắc
mạnh và toàn bộ bề mặt làm mát sẽ tiếp xúc với một lớp dầu và hiệu quả làm mát
tăng lên (hình 3.12)
Hình 3.12 Làm mát Piston động cơ hai kỳ quýet thẳng
Trang 402 Xéc măng
Xéc măng có nhiệm vụ :
- Làm kín buồng đốt ngăn không cho rò lọt khí cháy và khí nén
- Gạt dầu bôi trơn cho sơmi xylanh
- Dẫn nhiệt từ piston đến sơmi xylanh
a Kết Cấu Xéc Măng:
Có hai loại xéc măng: xéc măng khí và xéc măng dầu (hình 3.13)
Xéc măng nằm trong rãnh trên piston, vị trí của xéc măng trên cùng không
được quá cao để đảm bảo nhiệt độ của xéc măng không quá cao, tránh làm cháy dầu
nhờn và làm kẹt xéc măng Xéc măng phải có khả năng chuyển động tự do trong
rãnh, do đó giữa xéc măng và rãnh xéc măng phải có khe hở cần thiết theo chiều dày
của xéc măng
Hình 3.13 Xéc măng khí và xéc măng dầu
b Kiểm tra, lắp ráp xéc măng
- Khe hở của xéc măng có ba loại:
- Khe hở giữa hai đầu của xéc măng khi xéc măng nằm trong sơmi xylanh
gọi là khe hở miệng Trước khi lắp xéc măng vào piston phải đưa xéc măng vào
sơmi xylanh sao cho mặt phẳng của xéc măng vuông góc với đường tâm sơmi
xylanh, vị trí đặt xéc măng trong sơmi xylanh phải có độ mài mòn ít nhất Dùng
thước lá đo khoảng cách giữa hai đầu của xéc măng Các nhà máy chế tạo động cơ
đã chỉ rõ giá trị khe hở nhỏ nhất và lớn nhất Nếu khe hở nhỏ hơn giá trị nhỏ nhất
thì hai đầu của xéc măng có thể chống vào nhau do sự giãn nở vì nhiệt của xéc măng
khi động cơ làm việc Đó là nguyên nhân làm cho xéc măng bó chặt sơmi xylanh,
làm tăng ma sát giữa piston và somi xylanh; trong một số trường hợp có thể làm kẹt