1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Văn học 2 thi pháp văn học dân gian

53 361 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 310,27 KB
File đính kèm Văn học 2 - thi pháp văn học dân gian.rar (291 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu môn văn học 2 thi pháp học thi pháp văn học dân gian dành cho các bạn học văn, nghiên cứu các loại hình thi pháp của văn học dân gian. Hi vọng đây sẽ là tài liệu các bạn cần để qua môn, hoặc có thể đọc thêm, mở rộng kiến thức về văn học dân gian nhé. Cảm ơn các bạn đã mua tài liệu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN

BÀI GIẢNG VĂN HỌC 2 THI PHÁP HỌC – THI PHÁP VĂN HỌC

DÂN GIANDÙNG CHO HỆ CĐ NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC

HỌ VÀ TÊN GV:Th.sĩ Nguyễn Thị Hồng Liên

Quảng Ngãi, tháng 5 /2016

Trang 2

3 Thi pháp không gian, thời gian nghệ thuật

4 Thi pháp chi tiết nghệ thuật

5 Thi pháp cốt truyện, kết cấu

6 Thi pháp giọng điệu và lời văn nghệ thuật

Chương 2: Những đặc điểm thi pháp của một số thể loại văn học dân gian

1 Thi pháp văn học dân gian

2 Thi pháp truyện dân gian

2.1 Đặc điểm thi pháp của thể loại thần thoại

2.2 Đặc điểm thi pháp của truyện truyền thuyết lịch sử

2.3 Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích

2.4 Đặc điểm thi pháp truyện ngụ ngôn

2.5 Đặc điểm thi pháp truyện cười

3 Thi pháp văn vần dân gian

3.1 Đặc điểm thi pháp của tục ngữ

3.2 Đặc điểm thi pháp của câu đố

3.3 Đặc điểm thi pháp của ca dao

 TÀI LIỆU HỌC TẬP

 PHỤ LỤC: CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH

34489121315

17181920232729323236465152

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Bài giảng Văn học 2 do các tác giả ở Tổ Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Phạm

Văn Đồng biên soạn với mục đích trang bị cho sinh viên những hiểu biết nhất định về thi

pháp học nói chung, thi pháp văn học dân gian nói riêng nhằm dạy tốt môn Tiếng Việt ở

trường tiểu học trên tinh thần "dạy văn qua môn Tiếng Việt", đồng thời có thể vận dụng

vào nghiên cứu những tác phẩm văn học dành cho trẻ em trong và ngoài nhà trường.Công trình là sự kế thừa những kiến thức lí luận về thi pháp, thi pháp học của các chuyêngia nghiên cứu đi trước Tuy nhiên khi vận dụng vào tìm hiểu văn học được dạy trong

chương trình tiểu học, chúng tôi đã có những điều chỉnh cho phù hợp với đặc trưng củađối tượng nghiên cứu, khảo sát và đối tượng tiếp nhận bài giảng này

Tổng số thời gian của chuyên đề là 30 tiết (2 tín chỉ) với 2 chương chính: Mở đầu

chương Thi pháp học: trình bày những vấn đề cơ bản về mặt thi pháp của các sáng tác văn

học như: Quan niệm nghệ thuật về con người, không - thời gian nghệ thuật, cốt truyện,kết cấu và ngôn từ nghệ thuật trong văn học; chương 2: Thi pháp văn học dân gian: trìnhbày những vấn đề đặc điểm của thi pháp truyện dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổtích, ngụ ngôn, truyện cười) trên phương diện cốt truyện, nhận vật, thời gian và khônggian nghệ thuật; đặc điểm thi pháp văn vần dân gian (tục ngữ, câu đố) và ca dao trên

phương diện ngôn ngữ, thể thơ, cấu tứ, nhân vật trữ tình, không gian và thời gian nghệ

thuật

Lần đầu tiên, tài liệu được biên soạn theo chương trình và phương pháp mới, chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiếnchỉ giáo, góp ý để có thể hoàn thiện thêm nhằm cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên, vànhững ai quan tâm đến vấn đề còn rất mới mẻ này Chúng tôi trân trọng cám ơn

Quảng Ngãi tháng 5 năm 2016

Tác giảTh.sĩ Nguyễn Thị Hồng Liên

 QUY ƯỚC VỀ VIẾT TẮT

- Vhdg: Văn học dân gian

- Nxb: Nhà xuất bản

- PK : Phong kiến

- XH : Xã hội

Trang 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ THI PHÁP HỌC

1 THI PHÁP VÀ THI PHÁP HỌC

1.1 Khái niệm về thi pháp

Việc xác định khái niệm thi pháp cũng có nhiều quan niệm Ở đây chỉ trình bàycách hiểu đơn giản nhất về thuật ngữ thi pháp như sau:

Theo lối chiết tự: Chữ “thi” dùng để chỉ toàn bộ văn học nói chung chứ khôngriêng về thơ; Chữ “pháp” chỉ phương pháp, phép tăc làm văn, làm thơ Vậy “thi pháp” cónghĩa là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, sửdụng ngôn từ để tạo thành tác phẩm nghệ thuật

Theo nghĩa hẹp: thi pháp là sự tổng hợp các thành tố (hoặc các cấp độ) của hìnhthức nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ: Cốt truyện, kết cấu, các hiện tượng ngôn ngữ nghệthuật, nhịp và vần

Theo nghĩa rộng, thi pháp không chỉ có những thành tố kể trên mà còn bao gồm cảnhững vấn đề loại hình, thể tài, những nguyên tắc và phương pháp phản ánh thực tại vàcác phạm trù: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của tácgiả về thế giới và con người

1.2 Khái niệm về thi pháp học

Thuật ngữ “thi pháp học”(poétique, poetics, 诗 学) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp

“Poietike”, chỉ một lĩnh vực tri thức về các quy tắc chuyên ngành sáng tác nghệ thuật,

phân loại về thể loại nghệ thuật, thể hiện tập trung trong công trình Poetica của Aristote(384 – 322)

Thi pháp học thực tế không phải là mới mẻ mà nó đã có từ thời Arixtốt, nhà mĩ học

cổ đại Hi Lạp (khoảng 2400 năm về trước), đã đặt những viên gạch nền móng cho khoathi pháp học của nhân loại qua cuốn “Nghệ thuật sáng tác” (Poetika – nghĩa là sáng tạo)

Và được phát triển, biến tướng qua nhiều thế kỷ dưới nhiều dạng thức khác nhau

Ở phương Tây, lịch sử phát triển của lý luận văn chương đã có một tiến khá dài,trong đó có những công trình mang nội dung khá cụ thể về thi pháp:

* “Cuốn nghệ thuật thơ ca” của Boileau (Boalo 1636-1717) được xem như là những

nguyên tắc căn bản của thi pháp chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII

* “Tựa kịch Cromwell” của Huygo được xem như cương lĩnh sáng tác của chủ nghĩa lãng

mạn

* “Tựa tấn trò đời” của Balzac trở thành nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa hiện thực

Tuy nhiên, lý luận về thi pháp như một ngành chuyện biệt thì thực sự mới chỉhình thành từ thế kỷ XX và phát triển một cách mạnh mẽ ở Liên Xô (vào những năm 20)

Trang 5

với những tên tuổi lẫy lừng như Vichto Sôlốpxki, V.Êykhonbam và dần tới những năm 60thì thi pháp học mới thực sự ảnh hưởng sâu rộng trong giới văn học Phương Tây vớinhiều nhà nghiên cứu tên tuổi: Bakhtine, Jakobson.

Lịch sử lý luận văn học Á Đông, nhiều vấn đề khá cụ thể của thi pháp cũng đã

được đề cập tới từ trong sách “Tả truyện” của nho gia Hay những ý kiến về thi pháp thơ

của Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long”

Ở Việt Nam, thuật ngữ thi pháp mới chỉ được làm quen vào những năm 80 của thế

kỉ XX với những công trình nghiên cứu của PGS Tiến sỹ Trần Đình Sử như Thi pháp thơ

Tố Hữu (1987), Những thế giới nghệ thuật thơ (1995) Thi pháp Truyện Kiều (2002) đãlàm chấn động giới nghiên cứu, tạo nên một cơn sốt nghiên cứu thi pháp học

Đầu thế kỷ XX, Thi pháp học hiện đại hình thành và chia làm nhiều khuynhhướng: Thi pháp học thể loại, Ngôn ngữ - Hình thức, Cấu trúc - Ký hiệu học, Phê bình

Mới, Thi pháp học văn hóa - lịch sử Thi pháp học ở Việt Nam cũng có đầy đủ các

khuynh hướng trên nhưng bước đường phổ biến khá gập ghềnh Mãi đến cuối thế kỷ XX,

nó mới trở thành một phong trào nghiên cứu sâu rộng

Thi pháp học là bộ môn khoa học của ngành nghiên cứu văn học chuyên nghiêncứu hình thức nghệ thuật tác phẩm văn chương (đặc trưng, tổ chức, các phương thức,

phương tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của văn học trong tính chỉnh thể của văn

bản Đó là lĩnh vực nghiên cứu quy luật nội tại của tác phẩm, cấu tạo và phong cách, nóphân biệt (chứ không đối lập) với các lĩnh vực nghiên cứu khác) Thi pháp về thực chất là

hệ thống ngôn ngữ (kí hiệu) nghệ thuật, mang tính mở

Nếu thi pháp là nguyên tắc nằm bên trong tác phẩm văn học thì thi pháp học là mộtkhoa học dùng để phát hiện, khám phá các nguyên tắc thi pháp ấy

1.3 Đối tượng và phương pháp ngiên cứu của thi pháp

1.3.1 Đối tượng

Nếu xưa nay chúng ta quen với cách khám phá các tác phẩm nghệ thuật theo lốitruyền thống như giới thiệu, cảm nhận, đánh giá, phân tích các yếu tố nghệ thuật riêng lẻthì ở thi pháp học hiện đại có cái nhìn và cách khám phá hoàn chỉnh, cụ thể và cách tiếpcận văn chương với quy luật phổ quát hơn

Xét theo chỉnh thể thế giới nghệ thuật, thi pháp học nghiên cứu các phạm trù thipháp phản ánh các yếu tố, các thuộc tính của thế giới nghệ thuật nói chung và của thế giớinghệ thuật nói riêng Các phạm trù đó là thế giới nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con

người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, biến cố nghệ thuật, điểm nhìn nghệ

thuật, hình tượng tác giả, cốt truyện, kết cấu, nhịp điệu, giọng điệu, lời văn… thì

- Đối tượng của thi pháp học trước hết là các nguyên tắc thi pháp

Xét tác phẩm văn học là một hình thái ý thức xã hội; tác phẩm văn học là một hiện

tượng ngôn ngữ, dưới sự tổ chức hình thức mang tính nội dung của sáng tác văn học, thì

Trang 6

đối tượng của thi pháp học không phải là hình thức mang tính cấu trúc, quan điểm ngôn

ngữ mà là hình thức mang tính nội dung

- Đối tượng của thi pháp học còn là hình thức mang tính nội dung

+ Nội dung của văn học tức là cuộc sống được ý thức và là ý thức về cuộc sống

+ Hình thức của văn học tức là tính xác định của cuộc sống được ý thức và của ý thức vềcuộc sống

Như vậy giữa hình thức và nội dung có mối quan hệ sâu sắc: nghiên cứu hinh thức

tức là nghiên cứu tính xác đinh của nội dung Do gắn với nội dung nên hinh thức là cụthể Cần phân biệt ý đồ với nội dung (tức điều muốn nói và điều đã nói) Cái trước là mộtnội dung tiềm tàng, chưa có hình thức nghệ thuật, còn cái sau là nội dung đã được hìnhthức hoá Do đó ta nói ở đây là nội dung được xác định trong hình thức chứ không phảinội dung trong ý nghĩa của người sáng tác Còn hình thức là hình thức của nội dung,mang nội dung cụ thể

Tức là cuộc sống được ý thức và sự tự ý thức về cuộc sống thông qua hình thứcnghệ thuật Vì vậy khi khám phá tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp ta sẽ thấy rằnghình thức nghệ thuật luôn gắn với tính hệ thống, tính quan niệm và tính chất tinh thần.Hoàn toàn không mang tính riêng lẻ Cũng chính vì vậy mà tác phẩm văn học được soi rọi

sẽ hiện hữu khả năng phản ánh đời sống của một hình thức nghệ thuật được sự giới hạn vàchiều sâu ở từng góc độ thẩm mỹ của nó Bên cạnh đó nó còn giúp ta thấy được sự vận

động và phát triển của tư duy, tính xác định của nội dung tác phẩm Từ đó nâng cao khảnăng cảm thụ cho người đọc với tác phẩm văn học được khám phá

Trong văn học, hình thức có những đặc điểm như sau:

a) Hình thức mang tính quan niệm (tính quan niệm của thi pháp)

Hình thức của một tác phẩm nghệ thuật không đơn giản là những thủ pháp phươngtiện, chất liệu, mà là những thủ pháp, phương tiện, chất liệu mang tính quan niệm Chẳnghạn trong Truyện Kiều, khi miêu tả Kiều, Nguyễn Du viết “Làn thu thuỷ nét xuân sơn…”,khi miêu tả Tú bà thì “Thoắt trông lờn lợt màu da…”; hai cách miêu tả đó xuất phát từquan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Du về hai loại nhân vật (nhân vật “đấng bậc”: đấng tàihoa, bậc tài danh, đấng anh hùng, và nhân vật “vô loài”) Như vậy tính quan niệm về thipháp là những hình thức miêu tả các hiện tượng đời sống cụ thể, cảm tính trên cơ sở mộtkiểu quan niệm cảm nhận nhất định về thế giới Cho nên để miêu tả những người, nhữngcảnh, những sự vật cụ thể trong văn học bao giờ cũng có quan niệm trước về chúng, biếtphải miêu tả chúng bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đâu Vì vậy các hình thức thi pháp đều thấmnhuần một quan niệm nhất định về thế giới và con người

b) Hình thức có tính hệ thống (tính hệ thống của thi pháp)

Thi pháp là một hệ thống hình thức nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật nhất định,thế giới nghệ thuật phản ánh thế giới thực tại cho nên cấu trúc của nó bao gồm các yếu tố:

con người, không gian thời gian, đồ vật, ngôn ngữ… đều mang phẩm chất nghệ thuật,

khác hẳn với thực tại Trong hệ thống thi pháp, quan niệm con người có vai trò chủ đạo và

Trang 7

chi phối các yếu tố khác Ví dụ, nhân vật trong truyện cổ tích được xem là chưa có đờisống nội tâm (bởi con người xuất hiện như một cộng đồng xã hội Nó tiêu biểu cho mộtphẩm chất nào đó, là hiện thân của một quy ước xã hội) thì tương ứng với nó truyện chưa

có thời gian quá khứ và tương lai, chưa có ngôn ngữ, có sắc thái tâm lí nhân vật Câuchuyện được kể theo trật tự tự nhiên Còn tiểu tuyết hiện đại được quan niệm là có đờisống nội tâm thì nhà văn có thể kể từ đoạn giữa truyện, truyện có thời gian quá khứ, có lời

độc thoại của nhân vật v.v… Nghệ thuật là một hệ thống tự ý thức về đời sống của conngười, trong đó mối quan hệ giữa chủ thể cùng điểm nhìn của nó với thế giới được ý thức

là bất biến Nếu thay đổi điểm nhìn thì toàn bộ thế giới được miêu tả cũng thay đổi theo(ví dụ: trong văn học cổ điển Việt Nam, điểm nhìn của các nhà văn là “Thiên Nhân tươngcảm” do đó trong thơ văn chỉ xuất hiện một con người đứng trước đất trời Vì thế lối trữtình trong thơ cổ điển cũng theo lối “Thể trọng” nghĩa là nói căm hờn thì “bầm gan tímruột”, nói buồn thì “đứt ruột, héo gan”…Nhưng sang đến văn học hiện thực phê phán thìkhông còn con người hô ứng với thiên nhiên nữa mà là con người xã hội ) Đó là tính tự

điều chỉnh của hệ thống thi pháp Những đặc điểm trên cho thấy cần nghiên cứu thi pháp

trong tính hệ thống, qua các yếu tố và mối quan hệ qua lại của chúng

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu thi pháp

a) Xác lập các phạm trù thi pháp lí thuyết: các phạm trù thi pháp phản ánh các phươngdiện, yếu tố của thế giới nghệ thuật trên hai cấp độ Một là cấp độ thế giới hình tượng (cóquan niệm nghệ thuật về con người, không thời gian nghệ thuật, biến cố, chi tiết, nhânvật, người kể chuyện…) Hai là cấp độ văn bản ngôn từ (có các hình thức lời văn trựctiếp, gián tiếp, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu, hình thức kịch hoá, trần thuật, tính đathanh, lời độc thoại nội tâm, tính đối thoại trong các hình thức…)

b) Nghiên cứu và khái quát các phạm trù thi pháp cụ thể

c) Vận dụng phương pháp hệ thống

d) Phương pháp quy nạp, khái quát, so sánh, đối chiếu

1.3.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp

- Khả năng phản ánh đời sống của một hình tượng

- Thấy sự vận động và phát triển của tư duy nghệ thuật

- Nâng cao khả năng cảm thụ cho người tiếp nhận

Chúng ta đã biết bản chất của văn học là phản ánh đời sống bằng hình tượng, chính

vì vậy mà hình tượng nghệ thuật là linh hồn của tác phẩm văn học nghệ thuật Nghệ thuậtkhẳng định vẻ đẹp tâm hồn con người, do đó nghiên cứu tác phẩm văn học là nghiên cứuthế giới tinh thần do con người sáng tạo ra và đó cũng chính là hình thức tồn tại của tácphẩm nghệ thuật Cho nên khi nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp sẽ giúp

chúng ta tránh được và hạn chế được việc chia tách tác phẩm theo cấu trúc văn bản để

nghiên cứu mà phải nhìn một cách vừa cụ thể vừa tổng quát về hình tượng nghệ thuật ởtừng mảng của nó như quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật, khônggian nghệ thuật, màu sắc nghệ thuật, hình tượng tác giả trong tác phẩm Chẳng hạn khi

Trang 8

tìm hiểu con người trong văn học Việt Nam hiện đại ta sẽ thấy mỗi tác giả có cách quanniệm riêng về con người trong tác phẩm của mình Con người trong tác phẩm của NgôTất Tố có hai dạng con người là con người oan trái (nhưng rất đẹp) và con người tạo ra

oan trái Con người trong tác phẩm Nam Cao là con người bán dần sự sống để duy trì sự

sống vì vậy mà con người trong tác phẩm của Nam Cao luôn có ý thức về tâm trạng Và

nó sẽ khác hoàn toàn với con người vũ trụ, con người chí khí, con người tỏ lòng trong

văn học trung đại Như ai cũng biết Kiều bị bán vào lầu xanh chịu bao tủi nhục ê chề.Nhưng khi Từ Hải xuất hiện cứu nàng thì cái "lầu xanh" ấy lập tức biến thành "lầu hồng"

Vì màu hồng có cảm giác đem lại sự hạnh phúc ấm áp cho con người và người con gái kiavẫn là một con người danh giá trong tâm khảm tác giả Ngược lại màu trắng sẽ biểu hiện

đầy đủ sự tang tóc thê lương, lạnh lẽo và cả sự trong trắng của linh hồn người trinh nữ

“Sáng nay vô số lá vàng rơiNgười gái trinh kia đã chết rồi

Có một chiếc xe màu trắng đụcHai con ngựa trắng xếp hàng đôi

Đem đi một chiếc quan tài trắng

Và những bông hoa trắng lạnh người

Theo bước những người khăn áo trắng

Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.”

(Viếng hồn trinh nữ - Nguyễn Bính)Bên cạnh những vấn đề trên, dưới góc nhìn thi pháp ta còn có cách nhìn chi tiết

hơn ở các khía cạnh như cốt truyện, tình tiết truyện, kết cấu, thi pháp thể loại, thi pháp

ngôn ngữ trong tác phẩm văn học một cách hoàn thiện hơn

Vấn đề thi pháp học là một vấn đề lớn không phải trong vài bài viết mà nói hết

được Nhưng ngày nay, có thể nói đây là một trong những món ăn tinh thần thời thượng

Nó rất cần thiết trong việc nghiên cứu cũng như giảng dạy văn học trong nhà trường Nógiúp chúng ta khám phá một cách chính xác các cấu trúc hình thức mang tính nội dungcủa tác phẩm văn học, phục vụ cho việc tìm hiểu nội dung tác phẩm một cách đích thực,hoàn toàn không có sự gán ghép hoặc cảm nhận thiếu cơ sở Bên cạnh đó nó còn giúpchúng ta hiểu đủ, hiểu đúng các tác phẩm văn chương trong quá trình phát triển tư duynghệ thuật, đánh giá đúng tư duy nghệ thuật của mỗi tác phẩm văn chương và hình tượngtác giả Nhưng không sa vào hình thức chủ nghĩa

2 THI PHÁP NHÂN VẬT

2.1 Nhân vật văn học – chức năng và cấu trúc.

2.1.1 Nhân vật văn học là hình thức thể hiện con người trong văn học

- Với ý nghĩa văn học là nhân học thì toàn bộ văn học đều là sự biểu hiện con người Songtập trung hơn hết văn là sự thể hiện con người qua hình thức nhân vật - Nhân vật văn học

có thể là người mà cũng có thể là loài vật, đồ vật, cây cỏ

Trang 9

- Xét theo vai trò, vị trí trong tác phẩm ta có thể chia ra: Nhân vật hành động (kẻ làm nênmọi việc trong tác phẩm) Nhân vật kể chuyện – người thuyết minh, miêu tả trần thuật câuchuyện cho người đọc Nhân vật trữ tình – người bộc lộ cảm xúc thầm kín của mình trongtác phẩm Các hình thức nhân vật này cũng pha trộn nhau: vừa là nhân vật hành động, vừa

là người kể chuyện, vừa tự sự vừa trữ tình

2.1.2 Chức năng chung của nhân vật văn học là khái quát các quy luật về nhân cách, vừa

tổ chức tác phẩm, vừa biểu hiện quan niệm tác giả về cuộc đời, vừa bày tỏ tư tưởng, thái

độ trước cuộc sống (ví dụ) Do vậy, khi nghiên cứu nhân vật văn học cần nhìn nhận toàn

diện chức năng của nó trong thế giới nghệ thuật

2.1.3 Cấu trúc của nhân vật văn học

a) Nhân vật văn học là một sáng tạo của nhà văn và được giới thiệu dần dần Nhân vật vănhọc được cấu tạo bởi các yếu tố sau:

- Nhân vật văn học thường có cái tên: tên riêng hay tên viết tắt, hoặc gọi theo đặc điểm,nghề nghiệp… Đó là điểm để quy tụ các hành động, ý nghĩ khác nhau của một người

- Nhân vật có tính cách, tính khí, mục đích xuyên suốt các hoạt động của nó

- Nhân vật có ngoại hình, nội tâm, diện mạo, được biểu hiện trực tiếp hay gián tiếp

b) Xét về mặt vận động thì nhân vật là người khắc phục trở ngại của môi trường (thể loại

tự sự) Nhân vật trong tác phẩm tự sự không tách rời với biến cố, cốt truyện

2.2 Thi pháp nhân vật

Để nghiên cứu thi pháp nhân vật ta có thể xem xét rất nhiều yếu tố của nó Nhưng

ở đây ta chỉ dừng lại ở các khía cạnh sau:

2.2.1 Chân dung – ngoại hình: đây là phương diện thể hiện thi pháp khá rõ nét Đọc mộtchân dung ta tìm hiểu quan niệm nghệ thuật được mã hoá và cách thức mã hoá của nó (vídụ: chân dung Thuý Vân trong Truyện Kiều thể hiện tính chất cao quý, phi phàm của con

người Chân dung Chí Phèo là sản phẩm của hoàn cảnh)

2.2.2 Hành động – việc làm: hành động việc làm là phạm vi hoạt động của con người,cách biểu hiện phẩm chất của nó trong thực tiễn Trong văn học, hành động – việc làmcủa nhân vật là biểu trưng tính chất nhân cách của nó, đồng thời cũng là biểu hiện cáchhiểu con người của tác giả, là sự đánh giá con người về mặt văn hoá (ví dụ: nhân vật sử

thi thường hành động vì nghĩa vụ, danh dự)

2.2.3 Ngôn ngữ: ngôn ngữ nhân vật phụ thuộc vào quan niệm nghệ thuật về nhân vật (vídụ: nhân vật trong cổ tích chưa có ngôn ngữ của mình, nếu có thì cũng mang hình thức rất

đặc biệt – vần vè Nhân vật văn học hiện đại mang nội dung và hình thức cá tính, tâm lí cá

nhân)

3 THI PHÁP KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

Trong hiện thực, thời gian và không gian vận hành theo quy luật tự nhiên (gần - xa,sớm – tối, xuân – hạ – thu – đông…) Trong sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ cũng có

Trang 10

thể sử dụng những chất liệu của không gian, thời gian tuân theo sự vận hành của tự nhiên

ấy Nhưng khi đi vào nghệ thuật thời gian, không gian đã được lựa chọn sắp xếp tổ chức

sáng tạo lại thông qua quá trình chủ quan của người nghệ sĩ đó là thời gian, không giannghệ thuật

3.1 Thi pháp không gian nghệ thuật

3.1.1 Khái niệm:

Không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại

và triển khai của thế giới nghệ thuật Không gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền vớicảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh Vì thế không gian nghệ thuật trở thành phương tiệnchiếm lĩnh đời sống và trở thành ngôn ngữ, biểu tượng nghệ thuật Ví dụ: khi Tố Hữu viết

“Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Nhìn lên Việt Bắc mà nuôi chí bền”

thì Việt Bắc đã trở thành một hình tượng tượng trưng Là một hiện tượng nghệ thuật.3.1.2 Đặc điểm của không gian nghệ thuật

- Không gian trong tác phẩm nghệ thuật ngoài ba chiều còn có chiều không gian tâm

tưởng – không gian của cảm xúc, của hồi tưởng, của ước vọng (ví dụ: Giữa hai đứa mênh

mông là biển rộng), nên đó là một không gian tượng trưng, ước lệ

- Không gian nghệ thuật không giản đơn là không gian vật chất mà chủ yếu là tái hiện lạikhông gian tinh thần – chứ không phải là một hiện tượng cơ giới máy móc (nói cách khác

đó là hình tượng không gian) Vì thế, không gian nghệ thuật thường mở ra một trường

nhìn từ một điểm nhìn, cách nhìn Không gian này có thể rất mênh mang (trông vời trờibiển mênh mang…) cũng có khi rất hẹp (ai đem ta đến chốn này, bên kia là núi bên này làsông) Không gian này cũng có viễn cảnh, giá trị tình cảm

- Không gian nghệ thuật có nhiều lớp: không gian vũ trụ, không gian xã hội, không gian

địa lí, không gian con người (có 2 bình diện: nơi con người cư ngụ và tất cả những gì tâmtưởng con người có thể đạt đến)

Tất cả những vấn đề của không gian nghệ thuật ta thấy nó thể hiện rất rõ trong cácthể loại văn học Thần thoại luôn gắn với không gian định tính, cổ tích gắn với không giankhông cản trở, thơ cổ điển gắn với không gian vị trí Có điều khác với thời gian, khônggian nghệ thuật còn bị chi phối rất nhiều bởi tính dân tộc, tâm lý dân tộc Chẳng hạn tathấy rất cụ thể cái hồn tính đó trong hai câu thơ trong bài Qua Đèo Ngang của Bà HuyệnThanh Quan

“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốcThương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Người Việt thường rất ngại đi xa vì nơi chốn nhau cắt rốn chính là nơi sống ở thác

về của mỗi con người, nơi đó có tất cả những gì quý báu nhất của tâm hồn Cũng vì lẽ đó

Trang 11

mà chuyến vào Nam nhậm chức Cung trung giáo tập là một việc hết sức khó khăn nhưngkhông thể từ chối được Qua Đèo Ngang, một không gian quạnh quẽ hoang sơ dễ làm cho

con người cảm thấy cô độc, chạnh lòng mà nhớ thương da diết Tiếng chim cuốc, chim đa

đa kêu chiều là tiếng gọi bầy lẻ bạn của đôi lứa sau một ngày đi kiếm ăn, đó cũng là tiếng

lòng kín đáo của người phụ nữ đi xa nhớ nhà nhớ chồng ở nơi xứ lạ quê người Cái không

gian địa lý tràn ngập trong không gian tâm tưởng, không gian tâm tưởng chan hòa bất tận

vào không gian vị trí của con người

3.1.3 Biểu hiện của không gian nghệ thuật

- Biểu hiện bằng các không gian điểm mang tính ước lệ, tượng trưng như Tây Trúc, làng

quê, trong nhà, ngoài vườn…

- Biểu hiện bằng các từ không gian vốn đã mã hoá sẵn về ý nghĩa trong đời sống: trên cao,

dưới thấp, rộng, hẹp, quanh co…

- Không gian được biểu hiện ở kích thước, tầm nhìn gần xa: Thể hiện tập trung vào cáinhìn, điểm nhìn, điểm quan sát: xa, gần, cao , thấp… và điểm nhìn thời gian (nhớ lại, dạo

ấy, bây giờ…) cũng là chiều thứ tư của không gian

3.2 Thời gian nghệ thuật

3.2.1 Khái niệm:

Thời gian nghệ thuật là một phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phươngthức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Hay nói cách khác thời gian nghệ thuật

là một hình tượng thời gian được sáng tạo nên trong tác phẩm nghệ thuật Thời gian được

dùng làm phương tiện nghệ thuật để phản ánh đời sống

3.2.2 Đặc điểm của thời gian nghệ thuật:

- Thời gian nghệ thuật cũng có 3 chiều như thời gian khách quan (sáng, trưa, chiều tối,quá khứ, hiện tại, tương lai…) Ngoài thời gian khách quan, thời gian nghệ thuật luônmang cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh Nó mang đầy tính chất chủ quan

- Thời gian nghệ thuật mang tính chất tự do hơn thời gian khách quan Nó có thể đảo

ngược (thời gian có thể rong ruổi ngược xuôi, đảo chiều một cách tự do), không hoàn toàn

phụ thuộc vào thời gian vật lý Nó luôn đóng vai trò là hình thức tồn tại, hình thức triển

khai hành động, cảm thụ trong tác phẩm nghệ thuật Trong thời gian nghệ thuật luôn tồn

tại hai lớp là thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật Trong thời gian trần thuậtlại bao gồm nhiều thời gian khác nhau như thời gian nhân vật, thời gian tâm lý, thời giantập thể, thời gian lịch sử, thời gian sự kiện các thời gian này đi cùng với các chiều (quákhứ - Tương lai - hiện tại) để tạo nên cấu trúc thời gian hoàn chỉnh cho mỗi tác phẩm vănhọc Ta thử đọc đoạn thơ sau của Nguyễn Văn Tài

“Không còn trẻ để cùng hoa phượng vỹ

Và cùng em trầm lặng dưới sân trườngMùa hạ thoáng ngậm ngùi trong ý nghĩDặm đường đời em có vẹn yêu thương?”

Trang 12

(Trích Đường tim - Nguyễn Văn Tài)

Bốn câu thơ mang một chuỗi thời gian tâm trạng, đứng ở cái thời gian "không còntrẻ" để nhìn một dấu ấn kỷ niệm "hoa phượng vỹ" và lui dần về quá khứ" cùng em trầmlặng dưới sân trường" rồi lại trở về hiện tại mùa hạ ngậm ngùi và ý nghĩ trôi dần vào một

tương lai nào đó đầy sự lo lắng pha chút trách hờn "Dặm đường đời em có vẹn yêuthương" Một đoạn thơ ngắn nhưng có sự tổ chức thời gian tâm lý để làm nổi bật tâm

trạng của nhân vật trữ tình, đưa người thưởng thức trôi theo mạch, nhịp của thời gianphiêu bồng lãng đãng vốn dĩ của dòng đời đầy bất trắc

3.2.3 Biểu hiện của thời gian nghệ thuật

- Thời gian nghệ thuật được xây dựng theo cách cảm nhận thời gian của con người hoặc

được tạo thành bởi bởi quan hệ các sự kiện, các đoạn thời gian của sự kiện, hay tương

quan của thời gian miêu tả

- Thông qua các trạng từ chỉ thời gian (ngày xửa ngày xưa, dạo ấy, cách đây không

lâu…), các từ chỉ đoạn thời gian, cách tính thời gian, hay được chỉ bằng các dấu hiệu thờigian như tuổi trẻ, tuổi già, xuân hạ, thu đông, tiếng chuông chùa, phiên chợ ngày lễ kỉ

niệm…

3.3 Vận dụng phân tích không - thời gian nghệ thuật trong một số tác phẩm.

Phân tích thi pháp không gian, thời gian trong tác phẩm tức là khám phá mô hìnhkhông gian – thời gian và ngôn ngữ không thời gian trong tác phẩm nghệ thuật đó để giúp

ta hiểu thêm cách biểu hiện của tác phẩm

Ví dụ: “Chiều hôm nhớ nhà” – Bà huyện Thanh Quan

“Chiều về bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn”

Bài thơ nói về thời điểm nhớ nhà, song cả bài lại thể hiện tâm trạng, cảm giác côđơn lạc lõng gữa không gian xa lạ: xa đưa, ngàn mai gió cuốn, dặm liễu sương sa? khắc

hoạ thêm tính chất xa lạ, lạnh lẽo của không gian Còn không gian thân thuộc của người

lữ thứ càng ở xa qua điển cố: liễu Chương Đài

4 THI PHÁP CHI TIẾT NGHỆ THUẬT

4.1 Khái niệm chi tiết.

- Trong nghĩa rộng thì bao gồm tất cả những chi tiết tạo nên một thế giới nghệ thuật, mộtchỉnh thể của tác phẩm nghệ thuật

Trang 13

- Trong nghĩa hẹp chi tiết chỉ những yếu tố có tính chất tạo hình hay liệt kê Nó bộc lộtrạng thái của khách thể (chân dung, áo quần, cây cỏ, màu sắc, đường nét…) Vậy có thểhiểu chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó không có ý nghĩa độc lập, nhưng lại biểu hiện

được ý nghĩa của các chỉnh thể mà chúng thuộc vào Do đó Hêghen ví chi tiết như là

những con mắt giúp ta nhìn thấu suốt đối tượng Nghĩa là chi tiết nghệ thuật tạo thànhnhững điểm nhìn vào đối tượng, thể hiện cái nhìn và quan niệm về đối tượng

Chẳng hạn qua chi tiết có thể nghiên cứu ánh sáng, bóng tối, ấm lạnh… tức là thế giớikhách thể của tác phẩm

Ví dụ: Trong thơ Tố Hữu ánh nắng rất nhiều lại chói lọi, rực rõ “ Bừng nắng hạ…” “Nắng

chói sông Lô…” Anh sáng thì bằng lửa, khối sao băng

Thơ lãng mạn thì đầy hoàng hôn Thơ cổ đầy trăng Thơ Bác vừa đầy ánh trăng vừa đầy

ánh nắng

4.2 Phân tích chi tiết nghệ thuật trong một số tác phẩm (SV tập phân tích)

5 THI PHÁP CỐT TRUYỆN, KẾT CẤU

5.1 Thi pháp cốt truyện

5.1.1 Khái niệm: Cốt truyện là yếu tố của tác phẩm tự sự Theo định nghĩa truyền thống,

đó là tất cả các hành động, biến cố được phát triển trong tiến trình kể chuyện

- Khi thuật lại truyện, ta có thể kể lại các biến cố ấy theo một trình tự logic

- Khi phân tích các thành phần của cốt truyện người ta thường chỉ ra các thànhphần để nhận ra mạch truyện và sự vận hành của hành động, biến cố (sự kiện) của truyệntạo thành ý nghĩa của truyện

Vậy thi pháp cốt truyện không phải là chỉ ra đâu là khai đoạn, đâu là đỉnh điểm,

đâu là mở nút …, mà là tìm hiểu các ý nghĩa của truyện và các nguyên tắc, quan niệm chi

phối các ý nghĩa ấy cùng cách thức xây dựng truyện của tác phẩm

5.1.2 Phân tích thi pháp cốt truyện

Cơ chế phát hiện cốt truyện: Mọi biến cố đều xuất hiện trên cấu trúc không có biến

cố Ví dụ: “Cây tre trăm đốt”:

- Nếu anh Khoai thông minh, nghe phú ông hứa gả con gái cho, liền không tin?không có truyện

- Nếu phú ông giữ lời hứa thì cũng không có truyện

- Ở đây có 2 hướng lệch chuẩn gây nên chuyện: 1/ anh Khoai nghe nói tưởng thật,bập vào Đó là sự ngờ nghệch làm cho truyện hàm chứa một nụ cười chế nhạo 2/ Phú ôngnuốt lời hứa, gây tức tối cho anh Khoai và cho những ai ghét hạng người lừa dối như phú

ông và đồng tình với giải pháp của Bụt

Vậy muốn hiểu ngữ nghĩa của truyện, trước hết phải tìm hiểu cấu trúc không có cốttruyện (tính thứ nhất) Cấu trúc cốt truyện mang tính thứ hai Nhưng một khi hành độngcốt truyện được thực hiện thì ý nghĩa của tình trạng không có chuyện được thay đổi

Trang 14

Ví dụ: “Tấm Cám” là xung đột trong gia đình, mẹ ghẻ con chồng, sau thành truyệntranh chồng hại chị.

Đây là truyện cậy mạnh hiếp yếu, thủ đoạn lừa dối trắng trợn, tàn bạo mang tính

chất một mất một còn Truyện được tạo thành bởi một chuỗi gây hại (lấy giỏ tép, giết cábống, bắt nhặt thóc, giết người, giết chim, chặt cây, đốt khung cửi) Biện pháp gây hại thôthiển, trần trụi không có phép thuật gì Kẻ bị hại được cứu vớt nhờ lòng thương của bụt,nhờ quy luật hóa sinh của tự nhiên (giỏ tép còn bống, bống chết còn xương, chim chết cònlông, khung cửi đốt còn tro…)

Truyện thể hiện niềm tin vào sự sống bất diệt và thái độ không thể dung hòa củathiện và ác

Truyện có 3 giai đoạn: 1/ Tấm chỉ khóc; 2/ Tấm liên tiếp bị hại, Tấm căm thù; 3/Tấm trả thù

5.2 Thi pháp kết cấu

5.2.1 Khái niệm thi pháp kết cấu

- Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của tác phẩm nhằm phản ánh đờisống, biểu hiện sự cảm nhận trước đời sống và thức tỉnh những thái độ, tình cảm nhất

định đối với thực tại Cụ thể là xây dựng nhân vật, tính cách, biểu hiện quan niệm về conngười, về không gian, thời gian, sắp xếp chi tiết để tạo thành bức tranh sống động, tạo khảnăng cảm thụ cuộc sống ấy sao cho có thể rút ra được những ý nghĩa nhân sinh, những

phản ứng tình cảm như tác giả mong đợi

- Mục đích của kết cấu là tạo thành một thế giới nghệ thuật mang nội dung kháiquát của tác giả Đưa thế giới hình tượng mà người đọc có thể cảm nhận được bằng trí

tưởng tượng vào dòng liên tục của phương tiện ngôn từ (từ ngữ, câu, đoạn, liên kết, chỗ

ngừng, nhịp điệu, vần, trùng điệp…)

- Về bản chất, có thể nói kết cấu cũng có nghĩa là tổ chức cho người đọc con

đường đi vào tác phẩm, tổ chức cho họ một trường nhìn, một cái nhìn để thấy được hìnhtượng nghệ thuật với tất cả chiều sâu và chiều rộng

- Kết cấu bao gồm các phương diện:

a) Hệ thống hình tượng nhân vật, sự kiện và chi tiết nghệ thuật: sắp xếp sao cho các nhânvật, sự kiện, chi tiết có thể tương phản, đối chiếu bổ sung cho nhau

Ví dụ: Anđrây chết – Natasa rơi vào khủng hoảng tinh thần vậy truyện tiếp diễn

như thế nào? Nhà văn đưa cái chết của Pêchia vào… (Anna Karenina, Lev Tolstoy)

b) Hệ thống điểm nhìn và tổ chức văn bản: (tức là hiện tượng đời sống được nhìn theo conmắt của ai, chủ thể nào: người kể chuyện – nhân vật, nhân vật trữ tình, nhân vật chính haynhân vật phụ… Cuộc sống ấy được nhìn theo điểm nhìn thời gian và không gian nào…)

Hệ thống điểm nhìn quy định cách thức tổ chức văn bản (văn bản được bắt đầu từ đâu, từkhi sự việc phát sinh hay kể từ giữa rồi hồi tưởng lại quá khứ…)

Vậy hệ thống các nguyên tắc kết cấu của tác phẩm, thể loại tạo thành thi pháp kết

Trang 15

cấu của văn học.

5.2.2 Phân tích thi pháp kết cấu (SV tập phân tích)

6 THI PHÁP GIỌNG ĐIỆU VÀ LỜI VĂN NGHỆ THUẬT

6.1 Khái niệm giọng điệu

- Trong đời sống hàng ngày giọng điệu là giọng nói, lời nói biểu thị một thái độ nhất định

- Trong văn học giọng điệu là thái độ, tình cảm của nhà văn đối với sự vật, hiện tượng

được miêu tả mà người đọc có thể cảm nhận được qua sắc thái biểu cảm lời văn

Ví dụ: + Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

+ Lạ gì bỉ sắc tư phong Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

(Biểu hiện thái độ khinh bỉ, chì chiết, căm ghét của Nguyễn Du đối với “thuyết tài mệnh

tương đố”; “cái thói” ghanh ghét vô lý nghiệt ngã, ngang trái của cuộc đời)

+ “Bài tiếng chổi tre’ dùng từ “em” thể hiện giọng điệu tâm tình mang màu sắc độcthoại

- Giọng điệu được bộc lộ qua nhiều yếu tố, phương diện khác nhau của lời văn nghệ thuật

như cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa – gần, thân – sơ,

thành kính hay suồng sã, gợi ca hay châm biếm…

Ví dụ: + “Chí Phèo” giọng điệu suồng sã, đay nghiến

+ “Dế Mèn phiêu lưu kí” giọng điệu hóm hỉnh

- Trong văn chương, giọng điệu không phải được thể hiện ở chỗ nói cái gì (nội dung nói)

mà là ở chỗ nói như thế nào (hình thức nói) Tuy nhiên giữa nội dung và hình thức có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Chính nhờ đó mà từ giọng nói có thể nhận ra người nói, từgiọng điệu có thể xác định được tác giả Giọng điệu có vai trò rất lớn trong việc tạo nên

phong cách nhà văn Thiếu một giọng điệu nhất định nhà văn chưa thể viết ra được tác

phẩm mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp hệ thống nhân vật Ví dụ: “Trăm năm cô đơn”của G.Macket (Mỹ la tinh) 5 năm sau mới tìm được giọng điệu: mượn cách kể của một bàgià nói về những chuyện hoang đường siêu nhiên, không khí huyền thoại đầy hấp dẫn

- Giọng điệu thường thể hiện ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm (ví dụ)

- Trong một tác phẩm văn học thường có giọng điệu chủ yếu và những giọng điệu khác.Giọng điệu chủ yếu tạo thành âm hưởng chung bao trùm lên toàn bộ tác phẩm Nó quyết

định nhiều khâu, nhiều yếu tố trong việc xây dựng tác phẩm, kể cả phương thức, cách

thức xây dựng nhân vật

Ví dụ: Nam Cao ngoài giọng điệu buồn thương da diết còn có giọng khách quanlạnh lùng tàn nhẫn bên ngoài mà cảm thông thương xót bên trong (một cách ngụy trangcủa Nam Cao nhằm tái hiện cuộc sống theo nguyên tắc chủ nghĩa hiện thực – phản ánhcuộc sống với tất cả sự trần trụi, làm rõ bản chất vốn có của nó Tsêkhôp nhận xét “Chỉ có

sự lạnh lùng mới nhìn được sự việc một cách tỏ tường”)

+ “Bà lão ấy hờ con suốt một đêm Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà

lại hờ con Làm như chính tại con bà nên bây giờ bà phải đói” (Một bữa no)

Trang 16

+ “Thế là xong Anh chết rồi đấy nhỉ? Không lẽ tôi lại vui khi được cái tin như thế.Nhưng thật tôi cũng không biết có nên buồn không đây” (Điếu văn).

- Phân tích tác phẩm văn học mà bỏ qua giọng điệu, tức là tước đi cái phần rất quan trọngtạo nên bản sắc độc đáo của tác phẩm Ví dụ: “Tướng về hưu” (Nguyễn Huy Thiệp) giọng

điệu rời rạc, cộc lốc qua cách kể rời rạc, nhát ngừng kiểu “ông bảo, cô bảo, tôi bảo, cha

tôi bảo…”, thể hiện mối quan hệ lỏng lẻo, rời rạc không giao cảm Tác phẩm là tiếngchuông cảnh tỉnh về sự rạn vỡ của truyền thống đạo lý

- Không nên lẫn lộn giọng điệu với ngữ điệu (là phương tiện của biểu hiện của lời nói thểhiện qua cách lên giọng xuống giọng, nhấn mạnh, nhịp điệu, chỗ ngừng…

- Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học Nó đòi hỏi người trần thuật,

kể chuyện hay nhà thơ phải có khẩu khí, có giọng và có điệu

6.2 Khái niệm lời văn nghệ thuật

6.2.1 Khái niệm

- Dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bảnnghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học (lời thơ, lời trần thuật,lời nhân vật, lời thoại trong kịch và các dạng của chúng đều là các bộ phận tạo thành lời

và theo loại hình (tự sự, trữ tình, kịch), cách tư duy nghệ thuật (lãng mạn, hiện thực,

tượng trưng…), loại hình văn hóa nghệ thuật (dân gian, thành văn), ý thức nghệ thuật

(một giọng, hai giọng, nhiều giọng…)

6.2.2 Các phương tiện ngôn ngữ của lời văn nghệ thuật

- Để xây dựng ngôn ngữ nghệ thuật, nhà văn nhà thơ khai thác các phương tiện biểu hiệnvốn có của ngôn ngữ tự nhiên như vần, giọng điệu, bằng trắc, các phương thức tu từ, cáckiểu lặp lại, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình, các biểu tượng, các thành ngữ, cách chơichữ …

- Phương tiện của lời văn nghệ thuật là từ ngữ, cụm từ, câu (các kiểu câu, lời phát ngônvới giọng điệu lập trường chủ thể trong câu đó: lời độc thoại, độc thoại nội tâm, lời quêkệch, suồng sã hay tao nhã, quý phái, trau chuốt…), văn bản (với các nguyên tắc liên kết

như phép lặp câu, phép chiếu ứng, sự tương ứng đoạn mở đầu và đoạn cuối…)

6.2.3 Thi pháp lời văn nghệ thuật là cách sử dụng các phương tiện lời văn để tạo ra tínhhình tượng, theo những nguyên tắc nhất định Các nguyên tắc sử dụng, tổ chức ngôn ngữ

thành văn bản nghệ thuật là thi pháp lời văn

- Thi pháp học lời văn nghệ thuật là chỉ ra nguyên tắc dùng từ, dùng câu trong tác phẩm.Khám phá tính nội dung, tính quan niệm của các phương tiện ấy trong tác phẩm

Trang 17

6.2.4 Phân tích thi pháp lời văn nghệ thuật trong một số tác phẩm

- Thăng long thành hoài cổ (Bà huyện Thanh Quan), Tùng (Nguyễn Trãi)

- Mời trầu (Hồ Xuân Hương)

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA MỘT SỐ THỂ LOẠI

VĂN HỌC DÂN GIAN

1: THI PHÁP VĂN HỌC DÂN GIAN

1.1 Khái niệm thi pháp Văn học dân gian

- Ở Việt Nam, thuật ngữ thi pháp vhdg được sử dụng khá muộn (1980)

- Theo chu Xuân Diên:

“Thi pháp vhdg là toàn bộ các đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức

và thủ pháp miêu tả, biểu hiện; về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện và phương pháp xâydựng hình tượng con người…”

Như vậy, việc nghiên cứu thi pháp vhdg bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi

pháp riêng lẻ như phép so sánh thơ ca, các biểu tượng và luật thơ, các mô típ và cách cấutạo cốt truyện, cách mô tả diện mạo bên ngoài và tâm lý bên trong của nhân vật… đếnviệc khảo sát những đặc điểm thi pháp chung của từng thể loại, và cuối cùng là việc nêulên những đặc điểm phổ thông và những đặc điểm dân tộc của thi pháp vhdg nói chung

1.2 Nghiên cứu thi pháp Văn học dân gian:

Văn học dân gian là nghệ thuật ngôn từ Vì thế thành phần ngôn từ là chủ yếu Do

đó, đối tượng nghiên cứu chính của vhdg là ngôn từ (cái hồn) tồn tại trong tác phẩm

(chỉnh thể nghệ thuật) cụ thể thuộc thể loại cụ thể Điều này có nghĩa là:

- Phân tích tác phẩm vhdg là phải nắm được đặc trưng thể loại của tác phẩm được phântích

1.2.1 Khái niệm thể loại:

Thể loại là tổng thể các tác phẩm cùng có chung mấy dấu hiệu (tiêu chí) sau:

a) Hệ đề tài (mỗi thể loại vhdg, trên thực tế, đều chú trọng khai thác một số phạm vi nhất

định những hiện tượng cuộc sống – đó là hệ đề tài của nó)

* Đề tài là phạm vi những hiện tượng cuộc sống được phản ánh và lý giải trong tác phẩm

nghệ thuật từ những lập trường, quan điểm tư tưởng nhất định Đề tài không tách rời tư

Trang 18

- Thể văn: bao gồm các thể thơ ca, văn xuôi, câu nói vần vè.

- Kết cấu: bao gồm các kiểu kết cấu tác phẩm gắn với các thể văn nói trên của nghệ thuậttruyền miệng

- Thủ pháp nghệ thuật: bao gồm các thủ pháp xây dựng hình tượng nhân vật, cấu tạo hình

ảnh và chi tiết nghệ thuật, biểu đạt không – thời gian nghệ thuật, v.v…

Tóm lại: thi pháp thể loại là toàn bộ hệ thống nghệ thuật của một thể loại

1.3 Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp thể loại

- Giúp ta khai thác sâu hơn giá trị thẩm mỹ của vhdg, một giá trị ít được chú ý hơn so vớigiá trị nhận thức và giá trị giáo dục

- Mỗi thể loại vhdg có cách nói riêng của nó nhằm biểu đạt nội dung riêng của nó – thipháp thể loại chính là cách nói riêng ấy Vì thế, có nắm được thi pháp thể loại mới có khả

năng giải mã được các tác phẩm thuộc thể loại vhdg

- Trong nhà trường, kể cả nhà trường tiểu học, dạy tác phẩm không chỉ là truyền đạtnhững gì người giáo viên cảm nhận được, nhận thức được ở tác phẩm Do đó, cần quycách thức giải mã tác phẩm ấy thành một hệ thống thao tác hợp lý Và những thao tác nàyphải được thực hiện một cách nhất quán đối với các tác phẩm cùng một thể loại Như vậyviệc nghiên cứu thi pháp thể loại giúp người giáo viên không những có khả năng tự mìnhhiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm vhdg trong chương trình mà còn có khả năng hoàn thiện hệthống thao tác phân tích tác phẩm nhằm luyện cho HS cách thức đọc – hiểu tác phẩmngay chính trong quá trình các em được hướng dẫn tìm hiểu tác phẩm

2 THI PHÁP TRUYỆN DÂN GIAN

2.1 Đặc điểm thi pháp của thể loại thần thoại

Trong hệ thống phân loại vhdg, thần thoại được xác định là một thể loại

2.1.1 Hệ đề tài: Có 2 nhóm đề tài

a) Thần thoại suy nguyên: là những thần thoại giải thích nguồn gốc của một số sự vật,hiện tượng tự nhiên và xã hội mà con người thời cổ nói chung và cộng đồng tộc ngườichủ nhân của mỗi “hệ” thần thoại nói riêng cho là có quan hệ đến sự sống còn của họ

Ví dụ: truyện kể về trời đất, núi sông, loài người, vạn vật,… như: Thần trụ trời, Đi sanmặt đất, Cóc kiện trời, Kinh và Ba na là anh em, Đẻ đất đẻ nước, Quả bầu mẹ

Trang 19

b) Thần thoài sáng tạo văn hoá: là những thần thoại giải thích nguồn gốc của những sựvật, hiện tượng tạo thành “thiên nhiên thứ hai” của con người (tức là nền văn hoá) Đó lànhững chuyện kể về những “anh hùng văn hoá” – những vị thần đã lập nên những kỳ tích

khai phá địa bàn sinh tụ và chế ngự những quái vật gây hại cho cộng đồng (như Lạc Long

Quân diệt ngư tinh, mộc tinh và hồ tinh; Sơn Tinh Thuỷ Tinh; Thần sắt; Âu Cơ dạy cáchtrồng lúa, dệt vải, làm bánh; Thần Kim Quy và Cao Lỗ chế nỏ thần…)

- Một bộ phận lớn thần thoại sáng tạo, về sau đã được lịch sử hoá biến thành nhữngtruyền thuyết về thời các Vua Hùng hoặc truyền thuyết địa danh như: Lạc Long Quân –

Âu Cơ (Truyền thuyết con rồng cháu tiên), Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Truyền thuyết về Hồ

Tây,… Một số biến thành truyện cổ tích hoặc để lại những mảnh võ trong truyện cổ tích

như: Bánh trưng bánh dày, sự tích dưa hấu,…

- Chức năng cơ bản của thần thoại là nhận thức và “giáo dục phổ cập” của cộng đồng

(người nguyên thuỷ khi sáng tạo thần thoại không phải là để làm nghệ thuật mà là để cất

giữ những tri thức kinh nghiệm để phổ biến cho mọi người hoặc cho đời sau) và chínhchức năng này quy định đặc trưng về phương thức diễn xướng của thể loại này

2.1.2 Đặc điểm thi pháp của thần thoại

Các nhà thần thoại học chú ý đến việc giải mã ý nghĩa bí ẩn của thần thoại hơn là đi sâuvào việc tìm hiểu nguyên nhân của sức hấp dẫn về mặt thẩm mỹ của thần thoại đối với

chúng ta ngày nay Hơn nữa nguồn tư liệu mà ta hiện có thì khoảng cách so với thần thoạiđích thực còn xa hơn nhiều Cho nên, không có cơ sở để nói về “thi pháp của thần thoại”như với các thể khác Ở đây, chỉ có thể nêu ra một vài nét chung nhất về mặt thi pháp thần

thoại như sau:

a) Về kết cấu:

Thần thoại không phải là những tác phẩm có cốt truyện hoàn chỉnh và ổn định mà

thường chỉ là những mẩu truyện hoặc tình tiết mà người kể hoặc người biên soạn có thể

tuỳ ý sắp xếp theo những hệ thống ít nhiều khác nhau Cũng vì vậy mà tuy có thể căn cứvào nội dung đề tài phân thành 2 nhóm, song những đề tài ấy vẫn thường xen kẽ nhautrong cùng một truyện

Ví dụ: Sơn Tinh Thuỷ Tinh vừa phản ánh hiện tượng lũ lụt, vừa gắn với các sựkiện lịch sử thời Hùng Vương Truyện ông Dóng kể chiến công của người anh hùng bảo

vệ bộ lạc, lại có khá nhiều mẫu đề thần thoại suy nguyên…

Trong quá trình lưu truyền về sau, thần thoại thường trải qua nhiều sự thay đổithêm bớt Điều đó làm cho kết cấu của thần thoại thường rất phức tạp về chủ đề và về cáctầng lịch sử văn hoá

b) Về nhân vật:

Trong thần thoại thế giới là thế giới các thần, “nhân vật” trong đó là các vị thần

Con người chưa có vai trò gì (đến sử thi, lần đầu tiên con người mới thật sự xuất hiện và

là nhân vật trung tâm; tuy thế thế giới các thần vẫn ngự trị)

Trang 20

Các vị thần trong thần thoại là sản phẩm của quan niệm vạn vật đều có linh hồn,quan niệm “thần” và người đồng hình, đồng tính… của tư duy vốn mang những nét đặcthù của người thời cổ (chữ thần đặt trong ngoặc kép là để tránh nhầm lẫn với khái niệmthần thánh, ngọc hoàng của các tôn giáo đời sau Hai là để có tên gọi chung cho cả họ nhàthần).

Các vị thần trong thần thoại đều chưa có tính cách (như các nhân vật cổ tích) Họkhác nhau ở chức năng

Ví dụ: Thần trụ trời chỉ có chức năng phân chia trời đất, tạo ra núi đồi, sông biển.Còn các vị thần khác có nhiệm vụ làm tiếp công việc đó, mỗi người một việc

Những nét miêu tả, kể cả miêu tả tính tình, nếu không phải do người đời sau hoặcnhà biên soạn thêm thắt vào, đều chỉ có ý nghĩa giải thích sự vật hiện tượng Ví dụ: Thầnsét (Thiên lôi, ông sấm) là một người mặt mũi rất nanh ác, tiếng quát tháo rất dữ dội, tínhrất nóng nảy… đều liên quan đến sự giải thích hiện tượng sét Thần biển là một con rùa tokhi thở ra… lúc hít vào… là hiện tượng thuỷ triều

Tóm lại, thần thoại không biết đến nghệ thuật xây dựng chân dung Con ngườitrong thần thoại chỉ quy về một bình diện, một năng lực, làm một việc nào đó

c) Thời gian và không gian nghệ thuật trong thần thoại

c.1) Thời gian nghệ thuật trong thần thoại là:

- Thời gian tĩnh tại, không đầu không cuối, không có trật tự và người ta không bao giờcảm thấy thiếu thời gian, không bao giờ phải hồi hộp

- Các yếu tố dàn hàng ngang, không có thứ tự trước sau (đó là cách tư duy của người cổ

đại – giống như trẻ thơ chưa ý thức được thời gian)

c.2) Không gian nghệ thuật trong thần thoại:

Không gian định tính Đó là không gian các thần tồn tại (không ai biết thần ở đâu)

Không gian ấy gắn liền với phép lạ Cho nên nhân vật tồn tại trong không gian mà nhưtồn tại ngoài không gian Ví dụ: Thần trụ trời sinh ra từ một khối hỗn mang (ta gọi là vậtchất) Khối hỗn mang đó không biết có tư bao giờ Thần tách đôi khối hỗn mang đẩy mộtnửa lên cao, nửa còn lại, thần ra sức đào bới để đắp cột chống nửa trên, tạo thành địa hình

như ngày nay… (câu chuyện này thể hiện một quan niệm về vũ trụ, về mối quan hệ giữa

vật chất và ý thức)

2.2 Đặc điểm thi pháp của truyền thuyết lịch sử

Truyền thuyết ra đời sau thần thoại, khi xã hội phân chia giai cấp, khi nền kinh tế

đã khá phát triển Con người lúc này không chỉ có nhu cầu nhận thức tự nhiên mà còn có

nhu cầu nhận thức xã hội

Ở nước ta truyền thuyết bắt đầu phát triển từ thời các Vua Hùng dựng nước Theođặc trưng tiêu biểu nhất của truyền thuyết là gắn với lịch sử, phản ánh lịch sử cách riêng

của mình, trong đó thể hiện sự đánh giá của nhân dân Tuy nhiên truyền thuyết chưa baogiờ nói sự thật một trăm phần trăm Ở giai đoạn đầu tiên, những yếu tố hoang đường kỳ

Trang 21

diệu rất nhiều, về sau có giảm đi nhưng vẫn không rũ bỏ hết được Như vậy ở đây còn có

xu hướng thứ hai, xu hướng kỳ ảo hoá sự thật lịch sử Con đường kỳ ảo hoá sự thật là conđường của sáng tạo nghệ thuật (lịch sử không trần trụi mà đã được nhào nặn thêm thắt)

2.2.1 Hệ đề tài: Có 3 nhóm

a) Truyền thuyết địa danh (phản ánh quá trình chung của của lịch sử)

Là truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử của những tên gọi địa lý khác nhauhoặc về nguồn gốc của bản thân những địa điểm, địa hình, sự vật địa lý ấy (giải thích tên

đất) Ví dụ: Sự tích hồ Tây (Lạc Long Quân đánh Hồ tinh), Sự tích hồ gươm, Sự tích núi

ngũ hành, Sự tích đầm nhất Dạ và bãi tự nhiên…

b) Truyền thuyết phổ hệ

Là những truyện kể dân gian về nguồn gốc của các thị tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng

xã, thành thị, xưởng máy… cùng các đại biểu tài năng nhất của các nghề thủ công mỹnghệ … (giải thích cội nguồn) Ví dụ: căn cứ vào khái niệm trên thì chuỗi truyền thuyết

về thời các Vua Hùng là truyền thuyết phổ hệ Nhưng đây là một trường hợp đặc biệt vàduy nhất (vừa là truyền thuyết phổ hệ vừa là truyền thuyết lịch sử mang màu sắc sử thicủa thời đại dựng nước)

c) Truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử (truyền thuyết lịch sử)

Là những truyện kể có mục đích tái hiện chính bản thân sự thật lịch sử Đây là biếnthể tiêu biểu nhất của truyền thuyết Việt Nam

Truyền thuyết lịch sử được chia thành 2 nhóm: 1/ Những truyền thuyết về thời cácVua Hùng (nhóm truyện này gồm những nhân vật thần thoại về anh hùng văn hoá thời cổ

đại đã được lịch sử hoá và nhất loạt quy về thời đại Hùng Vương Nhằm suy tôn các Vua

Hùng và ca ngợi công lao dựng nước, giữ nước của các vua Hùng trong buổi bình minhcủa lịch sử dân tộc), 2/ Những truyền thuyết đời sau (nhằm chỉ những toàn bộ truyềnthuyết lịch sử sau thời các Vua Hùng Vì thế truyện không phản ánh những quá trìnhchung của lịch sử thời dựng nước mà hướng hẳn vào những sự kiện và nhân vật lịch sử cụthể Do đó nó bao quát một phạm vi rộng lớn những sự kiện và nhân vật lịch sử đượcnhân dân quan tâm)

Chức năng cơ bản của truyền thuyết là vừa làm sử vừa gắn với thực hành tín

ngưõng, nghi lễ thờ cúng

2.2.2 Đặc điểm thi pháp của truyền thuyết

a) Về cốt truyện

Cốt truyện đơn giản (đơn điệu) mang dáng dấp của lược đồ 3 phần:

Hoàn cảnh xuất hiện Sự nghiệp của Chung cục thân thế

Nhân vật chính nhân vật nhân vật

(con người nhân vật chính) (chiến công) (vinh phong, hiển thánh)

b) Về nhân vật

Trang 22

- Là nhân vật lịch sử (có chọn lựa) được tái tạo lại, được dựng lại diện mạo, tầm vóc rồi lý

tưởng hoá những việc, những người mình muốn ca ngợi

- Hành động trong sự kiện lịch sử, nên không có phép màu nào có thể đảo ngược được sựthật lịch sử (truyện cổ tích có thể đảo ngược nhờ yếu tố thần kỳ)

- Tìm hiểu nhân vật truyền thuyết nhất thiết phải lý giải được thái độ và cách đánh giá của

nhân dân đối với nhân vật và sự kiện mà nhân vật này là trung tâm

c) Xung đột trong truyền thuyết

- Ở những truyền thuyết thời cổ (nhân vật trung tâm là những anh hùng văn hóa) xung đột

chính là xung đột giữa con người với thiên nhiên (Truyện thần Tản Viên – một trong Tứ

bất tử của người Việt)

- Trong những truyền thuyết đời sau, xung đột nổi bật, trước hết là xung đột giữa dân tộc

và xâm lược

- Giai đoạn TKXV đến nửa đầu XIX là xung đột giữa nhân dân và chính quyền phongkiến (do mâu thuẫn xã hội gay gắt đặc biết là mâu thuẫm giữa nhân dân và địa chủ phongkiến) Phản ánh xung đột này có những thái độ và cách đánh giá khác hẳn chính sử của

nhà nước phong kiến)

- Những truyền thuyết về danh nhân văn hóa không miêu tả những xung đột dữ dội, quyếtliệt như truyền thuyết về anh hùng chồng xâm lược và chồng áp bức phong kiến Ở đây cóphần tương tự như ở truyện cổ tích sinh hoạt về nhân vật tài trí và đức hạnh

d) Không gian thời gian nghệ thuật

- Không gian thường gắn với các chiến trường, các địa danh làng xã

- Thời gian là thời gian quá khứ tuyệt đối (đối với người nghe), là thời gian khép kín.e) Lịch sử và hư cấu trong truyền thuyết

- Truyền thuyết dân gian là sự thật lịch sử đã được lý tưởng hóa theo trí tưởng tượng củadân gian Nghĩa là “sự thật lịch sử” là những sự kiện và nhân vật lịch sử có tên tuổi hẳn

hoi Nhưng sự thật lich sử là đối tượng phản ánh, là “cái lõi” chứ không phải là bối cảnh,

là đường viền Nhân vật và sự kiện được phản ánh trong truyền thuyết cũng không trần

trụi mà còn bao hàm cả cách đánh giá của nhân dân

- Hư cấu trong truyền thuyết không phải là yếu tố chỉ tô điểm thêm cho sự thật lịch sử mà

nó can thiệp cả vào sự thật lịch sử: nó có thể thêm chi tiết, tình tiết, nhân vật phụ,… vàthậm chí nhào nặn lại sự thật lịch sử trong chất “thơ và mộng”, trong chất kỳ ảo, nhằm lý

tưởng hóa những con người làm nên lịch sử và thể hiện tâm tình của nhân dân đối với

những con người anh hùng của quê hương

f) Lời kể của truyền thuyết

- Kém điêu luyện về mặt nghệ thuật

- Sử dụng một số thủ pháp (dẫn ra một vài chi tiết cụ thể về hoàn cảnh, sự việc, hành động

kể cả lời nói cô đúc của nhân vật chính…) nhằm tô đậm tính chất xác thực của câuchuyện kể Trong những chi tiết cụ thể nói trên, có loại chi tiết cũng được gọi bằng “cổ

tích” (tức là chứng tích xưa còn lại) Ví dụ: cả vùng trung Châu hiện vẫn còn những dấu

Trang 23

vết của Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân: chân ngựa thành ao, chuôm (Thuận Thành - QuếVõ); roi sắt gãy cắm trên đỉnh Châu Sơn.

- Nhưng “cổ tích” trong truyền thuyết là chứng tích (bằng chứng) về tính xác thực của câuchuyện kể Còn “cổ tích” trong truyện cổ tích chỉ là những chi tiết nghệ thuật nhằm đemlại cho câu chuyện tưởng tượng, không có thực một màu sắc có vẻ như thật, được ngườinghe tiếp nhận với nụ cười ý nhị hóm hỉnh hơn là với một niềm kính tín hồn nhiên

2.3 Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích

2.3.1 Hệ đề tài

Truyện cổ tích là một thể loại lớn gồm ba nhóm đề tài (ba tiểu loại): Cổ tích thần

kỳ, cổ tích về loài vật, cổ tích sinh hoạt (cổ tích thế sự) Những biến thể này của truyện cổtích có sự khác nhau đáng kể về mặt thi pháp Tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự tương

đồng về những đặc trưng cơ bản, kể cả ở đặc trưng thi pháp đó là thế giới cổ tích

Thế giới cổ tích là một sáng tạo độc đáo của trí tưởng tượng dân gian: từ nhữngyếu tố của thực tế trí tưởng tượng dân gian đã cải biến thành một thứ vật liệu, đem nhàonặn trong một chất “phụ gia” đặc biết gọi là “hư cấu” để xây dựng nên một thế giới khácvới thế giới thực tại, mà ta gọi là “thế giới cổ tích” – thế giới không có thực Cố nhiên, khicần ta có thể dựa vào dân tộc học và khoa học tương cận, để quy nó về một thực tế, thựctại nào đó, xác định những phương diện nào đó của thực tế, của sinh hoạt (như tập tục, tín

ngưỡng, những quan hệ xã hội và xung đột xã hôi thời cổ…) đã làm nảy sinh những cốt

truyện, những mẫu đề (môtíp) ấy hoặc đã được phản ánh trong những câu chuyện kỳ lạ

ấy

Điều hấp dẫn đối với người nghe truyện cổ tích, có ý nghĩa đối với họ chính là cái

thế giới cổ tích ấy, chứ không phải ở chỗ thế giới ấy phản ánh thực tế nào

- Định nghĩa: Truyện cổ tích là truyện kể về những chuyện không thể xảy ra trong thực

tế Người kể và người nghe đều mơ ước về những điều “nên có và có thể có” diễn ra trongthế giới cổ tích, nhưng không ai, cả người kể lẫn người nghe, coi câu chuyện kể là có thật

Đây chính là điểm khác biết căn bản giữa thể loại cổ tích với thể loại truyền thuyết

2.3.2 Những đặc điểm thi pháp truyện cổ tích

Các phương

diện

Các tiểu loại loại truyện

Cổ tích thần kỳ Cổ tích sinh hoạt Cổ tích loài vật

Về nhân vật Chỉ có một số kiểu nhân vật chính nhất định đó

là:

* Kiểu nhân vật bất hạnh, đức hạnh - (xấu xa)

- Người em út (Bánh chưng…, Cây khế)

Là các con vật.Nhằm hiểu biết về

đời sống tập tính

của loài vật, phát

Trang 24

- Người con riêng (Tấm Cám…)

- Người mồ côi (Chử Đồng Tử…)

- Người mang lốt vật (Sọ dừa…)

- Người đi ở (Cây tre trăm đốt…)

* Kiểu nhân vật kỳ tài, trí xảo - (khờ khạo)

- Người dũng sĩ (Thạch Sanh…)

- Nhóm người có tài lạ (Bốn anh tài…)Gọi là kiểu nhân vật là vì những nhân vật này cónhững nét tương đồng căn bản về tính cách, hành

động và số phận; thường xuất hiện trong cổ tích

thần kỳ và có cốt truyện đại thể giống nhau

Theo quan điểm xã hội học: phân loại nhân vật

chính của cổ tích theo tiêu chuẩn “nguồn gốcxuất thân” Theo tiêu chuẩn này , nhân vật đượcphân thành 2 loại: Loại có nguồn gốc “thần kỳ”

(gọi là nhân vật cao quý), Loại có nguồn gốc

“tầm thường” (gọi là nhân vật thấp hèn) Loại thứ

nhất được trời phú cho sức mạnh thần kỳ từ lúc

ra đời Loại thứ hai (thường là nông dân, người

nghèo khổ) chỉ bộc lộ tài trí phi thường, hoặc

được nhân vật trợ thủ thần kỳ (thần, phật, tiên,thánh…) ban cho sức mạnh thần kỳ khi gặp khókhăn, thử thách bất thường

Cách phân loại này có ý nghĩa: giúp ta nhận rõ

hơn mối quan hệ giữa nhân vật và kết cấu truyện

cổ tích (kết cấu của truyện có nhân vật “thấp

hèn” thường phức tạp hơn so với truyện nhân vật

có nguồn gốc “cao quý”) Ví dụ

Kiểu kết cấu này có ý nghĩa: thể hiện ước mơnêu cao tài trí của những “con người bé nhỏ”,

“kẻ nghèo trở thành giàu”, thể hiện niềm tin vào

chiến thắng cuối cùng của chính nghĩa

Hình tượng nhân vật “con người bé nhỏ” trongTCT là kết quả của lối tư duy NT mới hướng vàocuộc sống đời thường

triển tương ứng với

Trang 25

Đây là sự tiếp nối hợp quy luật về đề tài cuộc đấu

tranh của con người nhằm tìm hiểu và chế ngựthiên nhiên trong thần thoại

Xung đột thường được giải quyết nhờ can thiệp

của các lực lượng thần kỳ Nhân vật chính

thường thụ động (lực lượng thần kỳ có 2 loại: 1

trợ giúp người bất hạnh – phía thiện, 2 trợ giúpcác thế lực đen tối – phía ác)

Lực lượng thần kỳ về bản chất là những môtípthần thoại Chúng tạo nên cái lõi của cổ tích TK

Môtíp XH tạo nên khung cảnh của câu chuyện

* Cổ tích sinh hoạt: Chủ yếu tập trung vào đề tài

XH Cụ thể là

- Đạo đức (= CTTK đề tài xung đột gia đình)

- Trí khôn (= CTTK đề tài sức khỏe và tài lạ)

Dấu vết ấy thểhiện:

+ Ở những môtíprất cổ gắn với tín

ngưỡng tôtem (vật

tổ)

+ Thể hiện giántiếp qua môtíp gọi

là “dư âm của cái

thời con người bắtthú về nuôi

 Qua thời gian

đã chuyển hóathành xung đột sinh

hoạt xã hội

- Xung đột giữa kẻyếu và kẻ mạnh (làxung đột nổi bật

Nhưng không có sự

lý tưởng hóa nhânvật)

Về kết cấu Xây dựng theo một sơ đồ chung nhất định Cơ sở

để xác lập sơ đồ kết cấu là hành động của nhân

vật chính

1/ Xuất hiện : a) Thấp hèn,

b) thần kỳ

2/ Phiêu lưu : a) Ra đi (hoặc bước

vào tình huống khó khăn)b) Gặp thử tháchc) Chiến thắng

3/ Đổi đời (thay đổi số phận)a) Thưởng (phạt)

+ Kết cấu xâu chuỗi (sử dụng rộng rãi trong đề

Do đề tài đơn giản

nên kết cấu phổbiến là hình thức kểchuyện ngắn – đốithoại Vì thế, câuchuyện thường

mang dáng dấp một

hành động kịch

- Có 2 kiểu kết cấu:

+ Đơn tình tiết+ Đa tình tiết (Cóc

kiện trời: 1 là đoànkết, 2 là giao đấu

Trang 26

tài trí khôn).

Không gian

nghệ thuật

- Không gian không cản trở nên hành động của

con người không bị trở ngại của hoàn cảnh Tính

chất thần kỳ của truyện cổ tích là do không giankhông cản trở này tạo nên Bởi thế, nhân vật củatruyện cổ tích không biết đến mệt mỏi, ốm đau,

núi sông không ngăn chặn được bước chân củacon người Con người có thể làm được nhiềuđiều kỳ diệu

- Không gian, hoàn cảnh không chịu trách nhiệm

gì về hành động của nhân vật Tất cả là do nhânvật chịu trách nhiệm

+ Nếu là thiện thì bất khả chiến bại

+ Nếu có lòng thành thì ác lai trong khoảnh khắc

có thể được lên cõi niết bàn dù anh ta vốn là một

kẻ cắp (Sự tích cá he)

 Con người cổ tích không có tính tích cực vật

chất, không phải khắc phục gì cả (khóc một cái làlập tức bụt hiện lên giúp) Thế nên, nhân vật cổ

tích thường không khéo léo, không có trí tuệ cá

nhân, tất cả tài ba đều là do trời phú

- Không gian không cản trở cho phép tạo nênmột thế giới đa dạng trong truyện cổ tích

*Cổ tích SH: Không gian làng xã Việt Nam:

+ Cảnh nông thôn+ Cảnh chợ+ Cảnh trường thi+ Chốn cửa quan

 Môtíp xã hội chiếm một vị trí lớn, nên hư cấuthường không mang tính kì ảo mà được xây dựng

trên sự miêu tả phi lí (phóng đại) của nét tính

cách nào đó của nhân vật  tính chất gây cười

- không gian củanhững quan niệm

hư cấu

- Hư cấu nảy sinh

từ sự thống nhấtcác mặt đối lập củathế giới người vàloài vật làm mộtkhông gian, một

môi trường  Đó

là một thế giới đặcbiết “quái đản”

không phải thế giới

người mà cũngkhông phải thế giớiloài vật (thế giớicủa những quanniệm thực tế lẫnlộn)

Ví dụ: những convật trò truyện nói

năng với nhau, làmthơ phú v.v… nhưngười

- Không gian môi

trường sinh thái tự

nhiên (bờ sông,rừng núi, ngọncây…)

Thời gian nghệ

thuật

2/ Thời gian cổ tích

- Mang tính chất sự kiện không có thời gian tâm

lý, thời gian đợi chờ Là dòng chảy của chuỗi

Ngày đăng: 23/01/2021, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w