ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIVIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN ---NGUYỄN BÍCH TRÀ VĂN BIA VÀ GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU QUA LOẠI HÌNH BIA HẬU Khảo sát trên địa bàn Hà Tây cũ Luận văn Thạc sĩ C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-NGUYỄN BÍCH TRÀ
LOẠI HÌNH BIA HẬU (Khảo sát trên địa bàn
Hà Tây cũ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Việt Nam Học
Hà Nội, 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-NGUYỄN BÍCH TRÀ
VĂN BIA VÀ GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU QUA
LOẠI HÌNH BIA HẬU
(Khảo sát trên địa bàn Hà Tây cũ)
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành: Việt Nam Học
Mã số : 603160 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn Quân
Hà Nội – 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong luận văn này
do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Bích Trà
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Vũ Văn Quân – Thầy đã dành nhiều thời gian hướng dẫn hết sức tận tình trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo Viện Việt Nam Học và Khoa Học Phát Triển, Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè – Những người đã luôn sát cánh động viên và tiếp sức để tôi hoàn thành được luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Bích Trà
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ 9
MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
3 Mục tiêu nghiên cứu 13
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Nguồn tư liệu 14
7 Đóng góp của luận văn 15
8 Cấu trúc của luận văn 15
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VĂN BIA VIỆT NAM 17
1.1 Thuật ngữ văn bia 17
1.2 Sự hình thành và phát triển văn bia ở Việt Nam 20
1.3 Tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia ở Việt Nam 22
1.4 Các loại hình văn bia ở Việt Nam 26
1.5 Giá trị nghiên cứu của văn bia 29
1.5.1 Giá trị nghiên cứu về lịch sử 29
1.5.1.1 Giá trị nghiên cứu về lịch sử tư tưởng 29
1.5.1.2 Giá trị nghiên cứu về lịch sử khoa cử 34
1.5.1.3 Giá trị nghiên cứu về lịch sử làng xã 36
Trang 61.5.2 Giá trị nghiên cứu về kinh tế, xã hội, văn hóa 38
1.5.2.1 Giá trị nghiên cứu về kinh tế, xã hội của các địa phương 38
1.5.2.2 Giá trị nghiên cứu về văn hóa 41
1.5.2.3 Giá trị nghiên cứu về văn chương 44
1.5.2.4 Giá trị mỹ thuật của văn bia 48
* Tiểu kết chương 1 50
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VĂN BIA HÀ TÂY 51
2.1 Vài nét về vùng đất Hà Tây cũ 51
2.2 Văn bia Hà Tây 56
2.2.1 Tình hình chung 57
2.2.1.1 Niên đại 57
2.2.1.2 Địa điểm 63
2.2.2 Những nội dung chủ yếu 67
2.2.2.1 Văn bia góp phần nghiên cứu các nhân vật lịch sử 67
2.2.2.2.Văn bia góp phần nghiên cứu các di tích văn hóa lịch sử 69
2.2.2.3 Văn bia góp phần tìm hiểu các hoạt động của làng xã 71
2.2.3.4 Văn bia góp phần nghiên cứu sinh hoạt văn hóa 80
2.2.3.5 Văn bia góp phần nghiên cứu phong tục, tập quán ở địa phương 82
* Tiểu kết chương 2 85
CHƯƠNG 3: BIA HẬU VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ NGHIÊN CỨU 86
3.1 Bia hậu 86
3.1.1 Số lượng 86
3.1.2 Phân bố 87
3.1.2.1 Phân bố theo không gian 87
3.1.2.2 Phân bố theo thời gian 89
3.2 Giá trị nghiên cứu của bia hậu 91
3.2.1 Về hình thức 91
Trang 73.2.1.1 Kích thước 92
3.2.1.2 Mỹ thuật 93
3.2.1.3 Người soạn 94
3.2.2 Về nội dung 95
3.2.2.1 Tục bầu hậu, cúng hậu 95
3.2.2.2.Vấn đề huy động đóng góp cộng đồng được phản ánh qua loại hình bia hậu……… 106
3.2.2.3 Phong tục, tập quán làng xã được thể hiện qua bia hậu………110
* Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
Trang 9DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ
Bảng 2.1: Văn bia thời Lê sơ ở Hà Tây……… 55
Bảng 2.2 : Văn bia thời nhà Mạc ở Hà Tây……… 56
Bảng 2.3: Văn bia thời Lê Trung hƣng ở Hà Tây……….57
Bảng 2.4: Văn bia thời Nguyễn ở Hà Tây……….59
Bảng 2.5: Phân bố văn bia theo huyện, thành……… 61
Bảng 2.6: Phân bố theo di tích các huyện, thành……… 63
Bảng 3.1: Văn bia hậu ở các huyện, thành Hà Tây (đơn vị: số văn bia)… 85
Bảng 3.2: Văn bia hậu thời Lê Trung hƣng ở Hà Tây (đơn vị: số văn bia) ……… 87
Bảng 3.3: Văn bia hậu thời Nguyễn ở Hà Tây (đơn vị: số văn bia)……… 88
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những di sản văn hóa dân tộc mà cha ông để lại, di sản HánNôm chiếm một vị trí quan trọng Tư liệu di sản Hán Nôm có giá trị lâu bềnnhất là văn bản khắc trên bia đá Ở khắp các tỉnh thành Việt Nam hầu nhưnơi đâu cũng có văn bia Cho đến nay, có khoảng hơn 30.000 thác bản vănbia Hán Nôm đã được sưu tầm, niên đại dựng bia có từ thời Bắc thuộc đếnhết thời kỳ phong kiến ở Việt Nam [30, tr.9] Việc tìm hiểu và nghiên cứu sốvăn bia sưu tầm này đã được tiến hành cho chúng ta nhiều giá trị quý báu.Những giá trị của văn bia Hán Nôm là cơ sở để tìm hiểu về xã hội Việt Namthời kỳ trung và cận đại Đó cũng là nhu cầu cấp bách của khoa học và thựctiễn
Hà Tây (cũ) vốn là vùng đất cổ và cũng là địa phương có số lượngvăn bia Hán Nôm nhiều nhất trong cả nước Cho đến năm 2007, chúng ta đãsưu tầm được khoảng 2700 thác bản văn bia ở đây và chủ yếu từ các di tíchđình, chùa, đền, miếu [30, tr.51] Với nhiều loại hình, nội dung văn bia phảnánh đa dạng và phong phú về các lĩnh vực văn hóa, xã hội, lịch sử, kinh tếcủa địa phương Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu vềnhững giá trị nội dung của văn bia Hà Tây
Trong số văn bia ở Hà Tây có một loại hình văn bia tôi đặc biệt chú ý,
đó là văn bia hậu Thần, hậu Phật, hậu Hiền (gọi chung là văn bia hậu) Vănbia hậu chiếm một khối lượng lớn trong số văn bia ở Hà Tây Loại văn bia
Trang 11này bắt đầu xuất hiện từ những năm giữa thế kỷ XVII và có sự phát triểnnhanh chóng về số lượng ở thời kỳ sau Nội dung ghi lại trên bia hậu rấtphong phú và có giá trị để nghiên cứu tình hình văn hóa xã hội ở Hà Tây nóiriêng và Việt Nam thời kỳ phong kiến nói chung Chính vì những lý do trên,tôi quyết định đề tài cho luận văn của mình là: “Văn bia và giá trị nghiêncứu qua loại hình bia hậu (khảo sát trên địa bàn Hà Tây cũ)”.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn bia đã có ở Việt Nam cách đây hơn một thiên niên kỷ và niên đại
cổ nhất còn tìm thấy được là bia đời Tùy, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14(618) Ba thế kỷ sau, năm 973, với cột kinh Hoa Lư trên đó khắc những bàikinh Phật ghi nhận thêm sự hiện diện của thể loại văn bia khắc trên đá củaViệt Nam [39] Trải qua các triều đại Lý – Trần – Lê sơ – Mạc - Lê Trunghưng - Tây Sơn - Nguyễn, văn bia được dựng ở khắp các làng quê và ngàycàng phát triển
Nghiên cứu và tìm hiểu giá trị văn hóa của kho thác bản văn bia ViệtNam đang là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước
Công trình nghiên cứu văn bia Hán Nôm sớm nhất là vào cuối thế kỷ
XVIII của nhà bác học Lê Quý Đôn, trong sách “Kiến văn tiểu lục” mục
Thiên chương, ông đã nêu tên được 16 bài văn bia của các đời Lý – Trần –
Lê [14] Tiếp đó, đến công trình của học giả Bùi Huy Bích, trong bộ sưu tập
nổi tiếng “Hoàng Việt văn tuyển”, đã giới thiệu 30 bài văn bia của các đời,
trong đó có 4 bài của triều Trần, 17 bài của triều Lê, 6 bài của triều Mạc, cònlại từ Lê Trung hưng đến Gia Long [60]
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại
Hà Nội (viết tắt là E.F.E.O) đã tổ chức một đợt sưu tập cho in, rập các vănbia, tạo thành một bộ sưu tập các thác bản văn bia Việt Nam gồm hơn
Trang 1220.000 mặt bia chữ Hán, Nôm [54, tr.3] Một số không nhỏ các văn bia quý
chia làm 25 tập, lần đầu tiên khai thác và mô tả kho văn bia hồi bấy giờ [4]
Tiếp đó là bộ “Thư mục bia giản lược” do Hoàng Lê chủ biên cùng một
nhóm tác giả thuộc Viện nghiên cứu Hán Nôm biên soạn, gồm 30 tập, ngót
6000 trang đánh máy [22] Hai bộ thư mục vừa nêu trên đã mô tả và giớithiệu lược thuật về văn bia Việt Nam
Năm 1993, có hai ấn phẩm là “Danh mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam” và “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam” được xuất bản, do Nguyễn
Quang Hồng chủ biên [17] Trong đó, văn bia ở mỗi địa phương được chọnmột số văn bản tiêu biểu cho từng thời kỳ, từng di tích
Từ năm 2005 đến nay, với phối hợp của Viện nghiên cứu Hán Nôm,Viện Viễn Đông Bác Cổ và Trường Cao học thực hành (Cộng hòa Pháp) đã
xây dựng được ba hạng mục lớn đó là: Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm [51], Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm [28], và cơ sở dữ liệu tin
học về văn khắc Hán Nôm Công trình nghiên cứu này với mục đích giớithiệu toàn bộ thác bản văn khắc Hán Nôm hiện đang lưu giữ tại Viện nghiêncứu Hán Nôm
Trên đây là các bộ thư mục lớn giới thiệu khái quát về kho thác bản vănkhắc Hán Nôm Việt Nam Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu văn biacủa từng địa phương trong đó có tỉnh Hà Tây Nghiên cứu về văn bia Hà Tây
có những công trình như sau: Văn bia Hà Tây do Nguyễn Tá Nhí chủ biên, xuất bản năm 1993, biên dịch và giới thiệu 40 bài văn bia [34]; Tư
Trang 13liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, do Vũ Văn Quân chủ biên, xuất bản
năm 2010 [34] Đây là cuốn sách giới thiệu thư mục thác bản văn bia HánNôm trước năm 1945, trong đó có 14 quận huyện thuộc tỉnh Hà Tây (cũ),với hơn một nghìn văn bia
Những năm gần đây có một số luận án Tiến sĩ và Thạc sĩ chuyênngành Hán Nôm đã đi sâu nghiên cứu khai thác giá trị của văn bia Các luận
án Tiến sĩ về văn bia như: Văn bia Việt Nam và giá trị của nó khi nghiên cứu văn học Việt Nam thời Trung đại của Trịnh Khắc Mạnh [24]; Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã của Phạm Thị Vinh [52]; Văn bia khuyến học Việt Nam của Nguyễn Hữu Mùi [31]; Văn bia thời Mạc và đóng góp của nó trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI của Đinh Khắc Thuân[41] Và một số luận văn Thạc sĩ như: Nghiên cứu văn bia chợ của Đỗ Bích Tuyển[45]; Nghiên cứu văn bia chữ Nôm của Nguyễn Thị Hường [17] ; Nghiên cứu văn bia chùa quận Ba Đình Thành phố Hà Nội của Đoàn Trung Hữu [19]; Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa của Ngô Thị Thanh Tâm [37]; Nghiên cứu hệ thống văn bia đình Thừa Thiên Huế của Nguyễn Lãm Thắng [39], v.v.…
Cùng với các loại văn bia khác, văn bia hậu cũng đã bắt đầu đượcnhiều nhà nghiên cứu Hán Nôm khai thác Những bài viết giới thiệu về biahậu được đăng trên các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Hán Nôm, Tạp
chí Khảo cổ học, v.v… Luận văn Thạc sĩ viết về bia hậu có đề tài: Tìm hiểu văn bia hậu thời Tây Sơn của Lê Văn Cường [9].
Những công trình nghiên cứu trên là tiền đề cho tôi tìm hiểu, nghiêncứu về văn bia và bia hậu ở Hà Tây
3 Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, tôi muốn tìm hiểu về văn bia Việt Nam nói
chung, văn bia Hà Tây nói riêng và tôi đặc biệt lưu ý đến loại hình bia hậu ở
Trang 14Hà Tây Trên cơ sở đó, việc tìm hiểu về văn bia Hà Tây có được tính hệthống về hình thức và nội dung Qua đây, thấy được những giá trị của vănbia và giá trị của văn bia hậu Hà Tây.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung khái quát vềvăn bia Hán Nôm Từ đó, đi vào nghiên cứu nội dung tất cả các thác bản vănbia Hán Nôm Hà Tây trong các thời kỳ lịch sử và trên các đơn vị huyện,thành của tỉnh
Về phạm vi thời gian nghiên cứu văn bia Hán Nôm Hà Tây, chúng tôitìm hiểu văn bia Hà Tây từ khi xuất hiện đến năm 1945
Phạm vi không gian nghiên cứu: Trong luận văn này tôi tập trung tìmhiểu văn bia trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ) trước khi sát nhập vào Hà Nội(trước ngày 1/8/2008)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ những vấn đề về văn bia, văn bia Hà Tây, bia hậu ở
Hà Tây, gồm sự phân bố về không gian, về niên đại, về di tích dựng bia, vềtác giả,… chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, định lượng, phân loạithác bản bia Phương pháp này quán xuyến toàn bộ luận văn
Để tìm hiểu nội dung được đề cập đến trong văn bia chúng tôi sửdụng phương pháp liên ngành trong quá trình nghiên cứu về văn bia như: sửhọc, văn hóa học, văn bản học
Để làm sáng tỏ những băn khoăn trong khi nghiên cứu thác bản, tôi sửdụng phương pháp điền dã về các địa phương
6 Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng nguồn tư liệu thác bản Hán Nôm do E.F.E.O tiến hành in rập vào những năm đầu của thế kỷ XX Công trình đã sưu tập ngẫu nhiên tại các địa phương nên có thể có nơi sưu tập được nhiều, có nơi ít
Trang 15Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi không đưa ra những nhận xét phỏng đoán cho số lượng văn bia của từng địa phương, mà căn cứ hoàn toàn vào kết quả sưu tập của E.F.E.O để kết luận.
Đồng thời tôi sử dụng tài liệu do PGS.TS Vũ Văn Quân (ch.b) (2010):
Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội: Thư mục tư liệu trước 1945 T1, 2.
Nxb Hà Nội Trong đó tập một của tập sách này giới thiệu và tóm tắt toàn bộcác văn khắc Hán Nôm khắc trên đá (văn bia) hoặc chuông khánh ở hầu hếtcác địa điểm như đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ họ, văn miếu, văn chỉ, lăngmộ trên địa bàn Hà Nội, được sắp xếp theo thứ tự ABC tên các địa danh,trong đó có văn bia các huyện của Hà Tây (cũ)
Tài liệu “ Văn bia Hà Tây” do Nguyễn Tá Nhí (ch.b), xuất bản năm
1993 cũng là cuốn tư liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu
Các bài viết trên các tạp chí về văn bia, bia hậu cũng là những tư liệutham khảo quan trọng trong quá trình nghiên cứu về văn bia và giá trị nghiêncứu của loại hình bia hậu
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần cung cấp tư liệu đã được định tính, định lượng vềvăn bia Hà Tây và bia hậu Hà Tây Đây là lần đầu tiên có luận văn nghiêncứu phân loại văn bia Hà Tây theo niên đại, theo địa danh và theo loại hình
8 Cấu trúc của luận văn
Trang 16Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung luận văn được chialàm ba chương như sau:
Chương 1 Vài nét về văn bia Việt Nam
Khái lược về thuật ngữ văn bia, nguồn gốc của văn bia Giới thiệu về
sự hình thành và phát triển văn bia, tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia,các loại hình văn bia, những giá trị của văn bia Việt Nam
Chương 2 Khái quát văn bia Hà Tây
Trình bày khái quát về địa danh hành chính của vùng đất Hà Tây cũqua các thời kỳ lịch sử Ở chương này tôi đã nghiên cứu về văn bia ở HàTây theo niên đại, theo sự phân bố của huyện thành ở Hà Tây Những nộidung chủ yếu của văn bia Hà Tây thể hiện: lịch sử về các nhân vật anh hùng,lịch sử của làng xã, lịch sử khoa bảng trên đất Hà Tây; nội dung phản ánh vềkinh tế, văn hóa, xã hội Hà Tây thời kỳ trước Những nội dung đó đã chothấy văn bia Hà Tây chiếm số lượng lớn và có nhiều giá trị cho các lĩnh vựcnghiên cứu của khoa học
Chương 3: Bia hậu Hà Tây và những giá trị nghiên cứu
Khi khảo sát số văn bia ở Hà Tây có loại hình bia hậu chiếm số lượnglớn hơn các loại bia khác Bia hậu Hà Tây xuất hiện bắt đầu từ thế kỷ XVII
và bùng phát về số lượng ở niên đại Chính Hòa, Cảnh Hưng Bia hậu cónhiều giá trị khi nghiên cứu về lịch sử làng xã, về tình hình kinh tế, xã hội,văn hóa Hà Tây thời kỳ trung và cận đại Khi tìm hiểu bia hậu, chúng tôi tìmthấy nét đẹp văn hóa trong tục bầu hậu các làng quê Hà Tây, mặc dù bêncạnh đó vẫn có mặt hạn chế
Trang 17CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VĂN BIA VIỆT NAM
1.1 Thuật ngữ văn bia
Trong kho tàng di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam, cũngnhư các dân tộc khác trong khu vực đã từng chịu nhiều ảnh hưởng của vănhiến Trung Hoa, có một khối lượng lớn những văn bản bằng chữ Hán và chữNôm Người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để ghi chép các côngvăn, tài liệu và khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, v.v… và cùng
nhiều loại tư liệu thành văn khác mà ngày nay chúng ta gọi chung là di sảnHán Nôm
Các văn bản chữ Hán, chữ Nôm (gọi tắt là văn bản Hán Nôm) đượctrình bày trên các chất liệu khác nhau như: các văn bản viết tay (thường làbằng bút lông, tẩm mực hoặc son), trên giấy bản, trên lụa, vải, v.v… ; Cácvăn bản được khắc (bằng dao, đục) trên đá, đồng, gỗ,v.v…; Các văn bảnđược in ra trên giấy, lụa, vải… từ khuôn in là những tấm ván được bào nhẵn
và khắc (cũng bằng dao, đục) chữ ngược lên đó, v.v…[15, tr.5] Trong sốcác văn bản Hán Nôm khắc tay thì văn bia là phổ biến nhất Văn bia là một
bộ phận quan trọng trong nền văn hóa thành văn nói chung và di sản HánNôm nói riêng, là hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ đời sống xã hội, lànét đặc thù và một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trungđại
Văn bia xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia bắt đầu
từ Trung Quốc, sau đó lan truyền sang các nước như Triều Tiên, Nhật Bản,Việt Nam
Trang 18Xét về nguồn gốc “ bi” (hay bia) ở Trung Quốc thì bia vốn là phiến đádựng ở trong cung để đánh dấu ánh nắng mặt trời, hay những phiến đá dựng
ở giữa sân tông miếu để buộc con vật cúng tế tổ tiên, hoặc những phiến đádựng khi mai táng người đã chết và trên phiến đá người ta ghi công đức củavua quan, của cha mẹ mình Thoạt tiên bia không có chữ Loại bia có chữđược các nhà Kim thạch học gọi là văn khắc từ bi (bia khắc văn từ) chỉ xuấthiện vào thời Đông Hán (Đông Hán (東東) 25–220) [55, tr.26] Lệ dựng bia ởTrung Quốc được ghi chép lại có những nguyên tắc như sau: Một là, thuậtđức - tôn sùng bậc thánh nhân, ca ngợi kẻ hiền tài, biểu dương người trungthuận, nêu gương hiếu nghĩa; Hai là, ghi công - khắc vào đá ghi việc thánhthượng khi tuần du cho đến việc ghi công trạng của các tướng lĩnh; Ba là,
kỷ sự- ghi việc xây dựng đền đài lăng tẩm; Bốn là, toản ngôn - từ công vănthư tín đến các sáng tác văn nhân [58, tr.171] Còn ở Việt Nam lệ dựng bia,khắc vào đá hoàn toàn mang ý nghĩa muốn lưu truyền dài lâu
Văn bia là danh từ có nguồn gốc chữ Hán, được dịch theo nghĩa của từ
bi văn (東 東), bi ký (東 東) hay bi minh (東 東) Bi văn, bi ký, bi minh là
những thuật ngữ đều bắt nguồn từ chữ bi (東)- “cái bia”, “tấm đá ghi nhớ” [3,tr.27] Còn văn, kí, minh là những thể văn dùng để ghi chép trên tấm đá đó Khidịch những thuật ngữ bi văn, bi ký, bi minh chúng đều có chung nghĩa đó lànhững thể văn cổ, là văn chương khắc trên bia đá với ý dùng bia ghi sự việc.Trên văn bia đa phần chúng ta thấy xuất hiện từ “ bi ký” còn “bi văn” xuất hiệnkhá ít Điều đó có thể giải thích là các tác giả soạn văn bia trước kia khiêm tốntheo kiểu nhà nho Dùng chữ bi văn nghĩa là bài văn trên bia thì ý nghĩa trangtrọng hơn, có tính chất văn chương hơn Dùng chữ bi ký nghĩa là những ghichép trên bia thì mang ý nghĩa khiêm tốn hơn, giản dị hơn, chỉ là những ghichép thông thường chứ không phải là phô diễn văn chương
Trang 19Theo khảo chứng của các nhà nghiên cứu Trung Quốc thì văn bia vốn
là một hình thức được chuyển hóa từ minh văn trên đồ vật đúc đồng thời Ân– Chu Vào thời Ân- Chu, người ta khắc chữ trên các vật dụng bằng đồng đểghi lại chiến công hay sự việc, phần văn từ đó được gọi là minh Muộn hơn,người ta chuyển sang khắc chữ trên chất liệu đá, đó chính là cái mà nhà líluận văn học cổ đại Trung Quốc Lưu Hiệp gọi là : “ Dùng đá thay đồng, lưudanh bất hủ”[57, tr.59]
Tuy có sự thay đổi về chất liệu tạo tác văn bản, song theo thói quen,người ta vẫn gọi đó là minh Tuy phần nhiều các bài vẫn bảo lưu được phầnminh có gốc gác cổ xưa, song trước bài minh thường có thêm một bài vănthuộc thể kí; có thể được viết bằng biền văn hoặc tản văn (hay còn gọi đơnthuần là văn xuôi), dùng để trình bày lại sự việc Bài minh phía sau tổng kết
sự việc đã trình bày ở trước đó, thêm lời ca tụng, nó vẫn được viết bằng vănvần Bài ký phía trước thường định danh là ký, tự hoặc chí Ký (tự, chí) vàbài minh, tuy là hai phần, song vẫn thuộc vào một bài văn bia thống nhất, lànhững bộ phận tổ thành của văn bia, cho nên gọi chung là văn bia Về sau tất
cả nội dung ghi trên phiến đá gọi là văn bia
Văn bia quy định hình thức trình bày trang trí và cách gọi tên nhưsau: “Bia có mặt trước gọi là mặt dương, mặt sau gọi là mặt âm; hai bên gọi
là mé bia, phía trên là trán bia, phía dưới là bệ bia Bệ bia của loại bia bìnhthường là khối đá vuông, còn đối với loại bia hoa mỹ thì được tạc thànhhình rùa Bài văn khắc trên bia gọi là văn bia Ở trán bia khắc tiêu đề, mặtdương khắc nội dung văn bia, mặt âm và mé bia khắc tên người Có bài vănbia dài, khắc ở mặt dương không hết thì khắc tiếp sang mặt âm và mé bia”[58, tr.112]
Văn bia khi gặp các chất liệu tạo tác khác nhau được mang những têngọi khác nhau, ví như khi được khắc vào vách đá nó được gọi là ma nhai
Trang 20hoặc khắc thạch Như vậy, thuật ngữ văn bia là văn chương khắc trên bia
đá, ma nhai [6, tr.53] Các thuật ngữ văn bia sử dụng chữ Hán và chữ Nôm ởViệt Nam tương đương mà chúng tôi dùng trong luận văn này là: bi văn, bi
ký, văn bia, văn bia Hán Nôm Việt Nam hoặc văn bia Việt Nam
1.2 Sự hình thành và phát triển văn bia ở Việt Nam
Văn bia Hán Nôm Việt Nam được hình thành trong mối quan hệ vănhóa và tiếp nhận ảnh hưởng truyền thống sáng tạo văn bia từ Trung Quốc.Tuy nhiên, văn bia Việt Nam có sự hình thành và phát triển mang những nétđặc trưng riêng theo bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc
Thời kỳ phong kiến sản sinh ra văn bia nhiều nhất, gắn với mọi sinh hoạtcủa thời đại: Xây dựng hoặc trùng tu một ngôi chùa, một ngôi miếu, một vănchỉ, một từ đường… của một họ, một làng, một xã cũng dựng bia; Đúc một quảchuông, một cái khánh, một pho tượng gỗ cũng dựng bia; Xây một cây cầu đá,cầu gỗ, một cái cống dẫn nước vào đồng ruộng hay sửa giếng cũng có bia; Lậpmột cái chợ mới, mở con đường, một khúc sông, một cái làng mới cũng có bia;Khai hoang, lấn biển, tranh chấp ruộng cũng có bia; Bất cứ thắng cảnh nàocũng có bia kỉ niệm; Có bia ghi công đức các vị anh hùng dân tộc, các bậc đạikhoa của một số triều đại, các vị hằng tâm hằng sản của từng địa phương đãtham gia vào công ích….; Lại có bia ghi cả
luật lệ phong tục của thôn xã ngày xưa, việc chia ruộng đất cho con cháu,việc xác định ranh giới đất đai của từng thôn, v.v…Không chỉ vì nó gắn liềnvới mọi sinh hoạt của thời đại mà tạo dựng nên bia, có lẽ còn do một quanniệm chi phối chung từ triều đình đến người dân giống nhau là ca ngợi biểudương việc làm tốt, ngăn ngừa việc làm chưa tốt không chỉ với hiện tại màcòn tương lai lâu dài Đó là lý do đời nào và ở nơi nào cũng có bia
Thời gian chính xác văn bia du nhập vào Việt Nam chưa được định rõ.Tuy nhiên theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu văn bia du nhập vào nước ta
Trang 21cùng với quá trình trị nhậm của các quan lại Trung Quốc dưới thời Bắcthuộc, khi văn bia đã có hình thức ổn định kiểu trên tự dưới minh [5, tr.43].Cho đến thời điểm hiện tại văn bia được xem là cổ nhất ở Việt Nam vẫn làtấm bia mà cụ Đào Duy Anh phát hiện ở Thanh Hóa: đó là bia “ Đại TùyCửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn”, bia dựng ngày 8 tháng 4 nămMậu Dần, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (7/5/618) Tấm bia này được coi làmột chứng tích sớm nhất về sự xuất hiện của văn bia ở nước ta.
Tiếp đó là văn bản chuông Thanh Mai (huyện Thanh Oai, Hà Tây)khắc vào năm 798 và chuông Nhật Tảo (Từ Liêm, Hà Nội) năm 948, chobiết Phật giáo và Đạo giáo thời Tùy – Đường đã ảnh hưởng và khá phổ biến
ở Việt Nam
Những cột kinh Phật ở Hoa Lư (Ninh Bình) được khắc vào thế kỷ Xthuộc thời nhà Đinh được Giáo sư sử học Hà Văn Tấn đánh giá: “ Có thểnói đây là một loại bi ký có niên đại sớm nhất của thời kỳ phong kiến tự chủtrong số các bi ký đã phát hiện từ trước đến nay”[38, tr.40]
Văn bia từ thế kỷ X trở về trước tuy ít ỏi, nhưng hết sức quan trọng
đã bổ sung nhiều thông tin hữu ích về sự hình thành văn bia Việt Nam gắnliền với các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đương thời
Văn bia thời Lý- Trần, mở đầu cho thời kỳ hưng thịnh của văn biaĐại Việt, có số lượng khá phong phú, tuy đã bị hủy hoại mất mát nhiều, baogồm cả thảy là 18 văn bia thời Lý [48], 44 văn bia thời Trần [49] Thời Lê sơ(1428- 1527), chúng ta tìm thấy hơn 70 văn bia [30, tr.49] Thời Mạc (1527-
1533, các năm sau đó được coi là ngụy triều và đến năm 1677 thì mất hẳn)chúng ta tìm được 165 văn bia [43] Các thời kỳ tiếp theo, thời Lê Trunghưng (1533- 1789) có khoảng vài ngàn bia Thời Tây Sơn (1789- 1802) dotồn tại trong thời gian ngắn nên số lượng văn bia có khoảng vài trăm bia[30, tr.49] Thời Nguyễn (1802- 1945) cũng có khoảng vài ngàn văn bia
Trang 22Như vậy, trải dài theo thời gian từ các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê,Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn, Nguyễn, văn bia Việt Nam thời phong kiến
về cơ bản được hình thành và phát triển theo chiều hướng ngày càng tăngdần về số lượng, thời kỳ sau tăng hơn thời kỳ trước
1.3 Tình hình sưu tầm và nghiên cứu văn bia ở Việt Nam
Sự phát triển của văn bia Hán Nôm Việt Nam đã để lại một kho tàngvăn bia vô cùng quý giá đồ sộ về khối lượng và phong phú về loại hình Vănbia Hán Nôm của ta còn đáng được chú ý bởi vị trí và tầm quan trọng của nó.Nhiều ngành khoa học như triết học, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội học,pháp luật, quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, vănhọc, nghệ thuật, tôn giáo, toán học, địa lí, y dược, nông nghiệp, kiến trúcvv… sẽ phải dựa vào không ít văn bia Hán Nôm để dựng lại diện mạo mộtthời
Nhưng sưu tầm văn bia thì lại chưa thấy mấy người làm, vì sao?Phải chẳng người xưa coi nhẹ công việc đó? [21, tr.65]
Sưu tầm không phải là mục đích tự thân, song sưu tầm chỉ có ý nghĩakhi nó phục vụ cho một mục đích cao hơn Sưu tầm là điều kiện đầu tiêncho việc xử lý, nghiên cứu và khai thác những di sản ấy Khi sưu tầm và tậptrung các văn bia của cha ông, chúng ta mới có thể đối chiếu, cân nhắc vàmới xác định được tính chính xác của những sự kiện trong lịch sử
Từ thế kỷ thứ XV, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã chú ý đến các loạihình văn khắc: Ngô Sĩ Liên (thế kỉ XV) sưu tập hai bài văn bia của Trương
Hán Siêu (? - 1354) và Lê Quát (thế kỉ XIV) trong bộ Đại Việt sử kí toàn thư 東
東 東 東 東 東 đồ sộ [18], Lê Quý Đôn (1726 - 1781) đã sử dụng văn khắc vào bia,
vào đỉnh như một nguồn tư liệu chính thức để viết bộ Đại Việt thông sử 東 東 東
東 nổi tiếng [13] Trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục 東 東
Trang 23東 東 Lê Quí Đôn đã nêu một danh mục gồm 17 bài minh, bài ký khắc trênbia đá chuông đồng thời Lý - Trần [12] Tiếp đó Bùi Huy Bích (1744 - 1818)
đã công bố nhiều bài văn khắc trên bia chuông trong tác phẩm Hoàng Việt
văn tuyển 東 東 東 東, bên cạnh những áng văn chương nổi tiếng khác [61].
Đến thế kỷ XX, văn bia Hán Nôm được giới nghiên cứu khoa họcquan tâm toàn diện hơn ở hai lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu khai thác.Việc sưu tầm bia được tiến hành thông qua biện pháp in rập thành thác bản
để sử dụng cho công tác lưu trữ và nghiên cứu
Những năm đầu của thế kỷ XX, E.F.E.O đã tổ chức một đợt sưu tậpthác bản văn khắc Hán Nôm ở hơn 40 tỉnh trong phạm vi cả nước Sau nhiềunăm triển khai, kết quả E.F.E.O đã thu thập được 11.651 đơn vị văn khắcvới 20.980 mặt thác bản Những con số tuy cụ thể mà vẫn cứ không chínhxác bởi đã có ai từ trước tới nay thống kê được từng triều đại bia đá có baonhiêu, mất bao nhiêu và mất do nguyên nhân nào Ngay cả những con số màchúng ta được biết trên cũng mới chỉ dựa vào bản rập có trong tầm tay doTrường Viễn Đông Bác Cổ in rập trong vòng 25 năm (1920-1945) Côngviệc chưa hoàn thành vì còn nhiều nơi chưa rập hết hoặc chưa rập, nhất làcác tỉnh, các huyện, xã mà phương tiện giao thông không thuận lợi Tuynhiên, công trình in rập giai đoạn này là cơ sở dữ liệu quan trọng cho nhiềucông trình nghiên cứu văn bia Việt Nam về sau
Tình hình sưu tầm văn bia từ năm 1945 đến nay Đảng và Nhà nước
từ lâu đã quan tâm tới việc sưu tầm bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm, trong
đó có văn bia, loại di vật dễ mất mát, trong khi không còn được sản xuất ranữa Sự quan tâm này thể hiện ngay từ khi Đảng ta còn hoạt động bí mật
Trong bài “Mấy nguyên tắc của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam hiện nay” đăng trên báo Đảng năm 1944, đồng chí Trường Chinh viết: “những
Trang 24công trình và tác phẩm văn hóa của thời phong kiến Việt Nam để lại là vốnquý của dân tộc ta, chúng ta cần phải giữ gìn và nghiên cứu, để phát huy cáihay cái đẹp…”[8, tr.141] Sau ngay giành được chính quyền, các nhà lãnhđạo Đảng và nhà nước ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn,đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng… mỗi khi có dịp, đềunhắc tới nhiệm vụ sưu tầm, bảo vệ di sản văn hoá cha ông.
Công tác sưu tầm, bảo vệ tài liệu Hán Nôm được Nhà nước quan tâmlần lượt giao cho một số cơ quan chịu trách nhiệm Khởi đầu là Bộ Văn hoá,với Chỉ thị số 117/TTg ngày 13-12-1963 của Thủ tướng Chính phủ Cuối
1979, theo Quyết định số 326/CP ngày 13-9-1979 của Hội đồng Chính phủ,Viện nghiên cứu Hán Nôm thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam đượcthành lập và trở thành trung tâm sưu tầm, bảo vệ, chỉnh lý, khai thác các tưliệu chữ Hán, chữ Nôm trong phạm vi cả nước Lần đầu tiên kể từ sau 1945,công tác sưu tầm, bảo vệ thư tịch Hán Nôm được nhà nước chính thức giaocho một Viện nghiên cứu chuyên ngành đảm trách
Cho đến nay, qua nỗ lực nhiều năm của các cơ quan có trách nhiệm,công tác sưu tầm, bảo vệ văn bia Hán Nôm đã thu được kết quả bước đầu
Viện nghiên cứu Hán Nôm đã và đang tổ chức tiến hành điều tra cơ bản
và thu thập các văn khắc Hán Nôm hiện có ở các địa phương trong cả nước.Đến năm 2008, Viện đã hoàn thành cơ bản việc sưu tầm văn khắc Hán Nôm ởcác địa phương: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, HảiDương, Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, QuảngNinh, Hải Phòng, Thái Bình; đang tiếp tục thực hiện ở một số địa phương như:Thanh Hoá, Nghệ An Kết quả khối lượng tư liệu văn khắc Hán Nôm đã đượcthu thập khoảng hơn 30.000 mặt thác bản Trong đó, bổ sung mới vào kho sáchHán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm được nhiều đơn vị văn khắc HánNôm có giá trị mà lần sưu tầm trước đây chưa kịp thu thập,
Trang 25như hơn 30 văn khắc thời Lý - Trần, hơn 80 văn khắc khu vực phố Hiến(Hưng Yên), nhiều văn khắc Hán Nôm vùng núi phía Bắc và vùng đồngbằng sông Hồng, v.v…[30, tr.51]
Hằng năm, Viện nghiên cứu Hán Nôm cùng các Sở Văn hóa ở các địaphương lại sưu tầm thêm nhiều văn bia có giá trị Gần đây nhất đã sưu tầmđược 68 văn bia đá cổ - mang niên đại chủ yếu trong ba thế kỷ XVII, XVIII,XIX và nửa đầu thế kỷ XX - tại ba huyện Bình Xuyên, Lập Thạch và TamĐảo của tỉnh Vĩnh Phúc [62] Công tác sưu tầm văn bia vẫn được tiếp tụcvới nhiều cuộc điều tra, sưu tầm tại các địa phương trong cả nước, nhất làcác tỉnh phía Nam
Những kết quả của việc sưu tầm văn bia Hán Nôm là tiền đề cho cáccông trình nghiên cứu về văn bia ra đời và phát triển theo cả chiều rộng vàchiều sâu
Việc sử dụng các tài liệu văn bia Hán Nôm để tìm hiểu lịch sử quákhứ đã được giới nghiên cứu ngày càng chú ý và nghiên cứu khai thác
Ngoài ra, trên các tạp chí như: Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Khảo cổ học, Văn học, Văn hóa nghệ thuật, Việt Nam truyền thống (tiếng Nga); Thông báo Hán Nôm học hàng năm, v.v ; đã công bố nhiều bài văn khắc
vừa mới phát hiện và đăng tải nhiều bài viết nghiên cứu về văn khắc HánNôm Việt Nam
Những thành quả về công tác sưu tầm và nghiên cứu văn khắc Hán Nôm
ở trên, cho thấy được những giá trị phong phú của loại hình tư liệu này
Ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, vănkhắc Hán Nôm là nguồn tư liệu rất có giá trị để tìm hiểu quá khứ dân tộc thuộc ởnhiều lĩnh vực khác nhau như: tư tưởng chính trị xã hội, lịch sử, văn hóa, kinh tế,dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ văn tự, v.v
Trang 261.4 Các loại hình văn bia ở Việt Nam
Kết quả của công tác sưu tầm đã giúp chúng ta lưu giữ được một sốlượng thác bản văn bia đồ sộ với nội dung vô cùng phong phú Các côngtrình nghiên cứu biên soạn thành sách đã được tiến hành trong suốt nhữngnăm qua Để nghiên cứu một cách chuyên sâu, từng vấn đề của văn bia thìthật khó nếu không có sự phân chia chúng thành các loại hình văn bia khácnhau
Sẽ có rất nhiều loại hình văn bia khi xem xét chúng ở từng khía cạnhkhác nhau của văn bia Khi căn cứ vào địa điểm dựng bia ta có loại hình biachùa, bia đình, bia miếu, bia quán, bia đền, bia mộ ….; Khi căn cứ vào hìnhthức của bia có thể là bia vuông, bia tròn, bia tượng….; Khi căn cứ theo nộidung của bia thì có loại hình bia ghi công, bia ghi việc, bia ca ngợi (thuậtđức), ….Nghiên cứu văn bia Hán Nôm Việt Nam cần xem xét một cách đầy
đủ và hài hòa các loại hình trên
Cách phân chia loại hình văn bia nhiều người sử dụng đó là căn cứ vàonội dung văn bia phản ánh:
Thứ nhất, là văn bia kiến trúc tu tạo: loại bia này chiếm số lượng lớn và
có giá trị về mặt sử liệu, văn học khi nghiên cứu văn bia Xã hội phong kiếnViệt Nam xưa, mỗi khi xây dựng hay tu sửa chùa, đình, đền, miếu, từ đường,văn chỉ, hay làm đường, xây cầu, mở chợ,…thì thường lập bia hoặc khắcchuông, để ghi lại sự việc và ghi công những người hưng công đóng góp.Chính vì vậy, bia ghi việc có nằm trong các văn bia xây dựng và tu sửa đình,chùa, đền miếu (văn bia tại các cơ sở thờ tự tín ngưỡng), hay văn bia làmđường, xây cầu, sửa cầu, mở chợ (văn bia công trình công cộng) [5, tr.44].Thứ hai, là văn bia ghi việc: là loại văn bia được viết ra để ghi nhớ một
sự kiện nào đó Đây là loại hình văn bia rất phổ biến, bao gồm, văn bia gửi
Trang 27giỗ, bia hậu, bia giao ước, lệnh chỉ, sắc chỉ,v.v….Loại văn bia này có giá trịmạnh về mặt sử học, yếu về tính văn học.
Văn bia gửi giỗ (ký kị bi) là loại bia ghi lại nội dung những người đónggóp để gửi giỗ cho bản thân, cho cha mẹ, cho họ hàng Nơi họ gửi giỗ có thể
là ở làng, xã, chùa, ở đình, giáp nhà thờ họ Lệ gửi giỗ nảy sinh từ nhu cầumong muốn cho bản thân hoặc người thân không có người nối dõi đượchưởng sự thờ cúng sau khi qua đời Hình thức gửi giỗ là thân chủ gửi tiềnhoặc ruộng để nơi nhận (nhà chùa, đình, nhà thờ họ…) sử dụng số tiền của
đó làm giỗ lâu dài cho thân nhân họ, hoặc chính bản thân họ sau khi qua đời,chứ không đóng góp tiền của làm công đức
Văn bia hậu là loại bia ghi nhận đóng góp của người dân cho làng xã,cho các cơ sở thờ tự và họ được tôn bầu làm hậu, có sự cam kết của làng xãvới những người được bầu này Đối tượng được bầu hậu cũng khá đa dạng:
có thể là những người có công với dân làng được làng xã bầu làm hậu Thần,hậu Phật; hoặc do nhu cầu chi tiêu của làng xã quá lớn trong các việc tu sửađình chùa, đền miếu, cầu cống, đường sá, nộp thuế v.v các quan viên,chức sắc trong làng tổ chức bán hậu Những người vì không có con hoặc chỉ
có con gái lo sau này không có ai hương khói đã bỏ tiền của ra để mua hậu.Cũng có người mua hậu cho người thân của mình Về điểm này bia hậutưởng như giống bia gửi giỗ Song thực chất hai loại này có khác nhau vềnhững điểm cơ bản: Bia gửi giỗ là loại bia đại trà mang tính chất bằng cứgiữa bên nhận và bên gửi Mục đích là cho bên nhận nhớ mà cúng giỗ Hơnnữa gửi giỗ có thể gửi ở nhà thờ họ, chùa, đình, còn bia hậu thì không thể có
ở nhà thờ họ được Bia hậu mang tính chất nêu gương tốt về phẩm giá và đạođức cho đời sau Bia hậu xuất hiện ở nước ta từ lâu, theo các tài liệu thì ít nhất đếnđầu thế kỷ XVII tục cúng hậu và khắc bia ký hậu đã khá phổ biến Các thế kỷ saubia hậu phát triển khắp các đình, chùa, miếu mạo, của
Trang 28làng quê Việt Nam Bia hậu có khối lượng lớn nhất trong tất cả các loại vănbia khác Cách gọi bia hậu cũng rất đa dạng: gọi theo tâm linh tín ngưỡng,như: hậu Thần (東 東), hậu Phật (東 東), hậu Hiền (東東),….; gọi theo
không gian tín ngưỡng, như :Giáp hậu, hậu ngõ, hậu xóm, hậu phườngv.v…Trong bia hậu Thần, hậu Phật chiếm đa số Văn bia hậu có những giátrị quý báu khi nghiên cứu tập tục, sinh hoạt làng xã của cộng đồng ngườiViệt
Bia giao ước là những bia ghi lại nhưng giao kèo, khế ước của cácphường hội, làng xã Trong loại bia giao ước này nhiều nhất phải kể đếnnhững khế ước của các phường hát về việc mua bán quyền thu hát cửa đình.Thứ ba, thuật đức, ca ngợi hiền tài chủ yếu nằm trong các văn bia đềdanh, văn bia lăng mộ, từ đường, sinh từ
Văn bia đề danh chủ yếu là văn bia đề danh Tiến sĩ, được bắt đầu từvua Lê Thánh Tông (năm 1484) tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội Việclập bia đề danh chủ yếu nhằm tôn vinh bậc trí thức nho học đỗ đạt đại khoa
và được nhiều thế kỷ sau tiếp tục, tạo thành một hệ thống văn bia đề danhTiến sĩ Hiện có khoảng hơn 100 văn bia trong cả nước
Loại văn bia lăng mộ chiếm số lượng khiêm tốn trong toàn bộ số vănbia hiện còn Bởi lẽ bia lăng mộ, từ đường, sinh từ, đa phần được viết chobia mộ của các vị vua, danh nhân và do những cây bút nổi tiếng soạn Chính
vì vậy, văn bia mộ bảo tồn được rất nhiều sử liệu quý giá về các danh nhân,
do đó chúng có giá trị lịch sử rất lớn
Với số lượng văn bia đồ sộ của Việt Nam thì sự phân chia thành cácloại hình văn bia ở trên chỉ mang tính tương đối Khi nghiên cứu cụ thể từngloại văn bia này chúng ta sẽ thu được những giá trị có ý nghĩa to lớn
Trang 291.5 Giá trị nghiên cứu của văn bia
Văn bia đối với khoa học lịch sử nói riêng và khoa học xã hội nóichung là những tài liệu rất quan trọng Ta có thể gọi đó là những trang “sửđá” Văn bia sẽ có đủ thẩm quyền chỉnh lý và giám định các tài liệu sách vởkhác, vừa đầy đủ, vừa chính xác về không gian cũng như về thời gian Từngvăn bia cho ta biết từng khía cạnh lịch sử, chính trị, kinh tế, nghệ thuật, vănhọc, v.v… chúng đan xen lẫn nhau để thể hiện nội dung và hình thức củavăn bia đó Chính vì vậy, khi nghiên cứu giá trị của văn bia thật khó lòngtách bạch một cách rõ ràng Việc chia những giá trị để nghiên cứu trong luậnvăn này chỉ là tương đối
1.5.1 Giá trị nghiên cứu về lịch sử
Trải dài theo thời gian, đất nước Việt Nam được hình thành và pháttriển qua nhiều thăng trầm của lịch sử Có những sự kiện và những nhân vậtlịch sử còn được lưu, có cái đã mất Những điều còn băn khoăn cần đượcgiải đáp chúng ta vẫn tiếp tục tìm kiếm qua các văn bia và thư tịch Văn bia
có vai trò rất quan trọng trong việc bổ sung những tư liệu lịch sử phục vụviệc nghiên cứu Giá trị lịch sử của văn bia Việt Nam thể hiện ở những nộidung sau:
1.5.1.1 Giá trị nghiên cứu về lịch sử tư tưởng
Những văn bia sớm trong thời kì Bắc thuộc hiện nay tìm thấy quá ít, duy
nhất có tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn (東 東 東 東
東 東 東 東 東 東 東 東) có nghĩa là "Văn bia ở đàn Bảo An quận Cửu Chân triều ĐạiTùy" Đầu đề bài văn bia đã cho chúng ta những thông tin về sự tồn tại của
Phật giáo và Đạo giáo ở Việt Nam thời bấy giờ, hai chữ đạo tràng (東 東) của đầu đề bài văn bia đã cho chúng ta biết điều này, vì đạo tràng là nơi dạy kinh
và cầu cúng của Phật giáo và Đạo giáo
Trang 30- Thời kỳ đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc: Thời kỳ này tính từ nhàNgô cho đến cải cách của Hồ Quý Ly (thế kỷ X - XIV) Các nhà tư tưởngtiêu biểu trong giai đoạn này là Lý Thường Kiệt và Trần Quốc Tuấn.
Đặc điểm nổi bật của tư tưởng Việt Nam giai đoạn này là: Phật giáophát triển mạnh trở thành như quốc giáo, Nho giáo tồn tại như một hiệntượng hiển nhiên, Đạo giáo chi phối ảnh hưởng mê tín của nhân dân, ba tôngiáo này là nền tảng tư tưởng của đời sống tinh thần người Việt
Khi nói các bài văn bia thời Lý là những tài liệu có giá trị khi nghiêncứu lịch sử tư tưởng Việt Nam và đặc biệt lịch sử Phật giáo Việt Nam quảthật không sai Xin nêu lên một số bài văn bia tiêu biểu có giá trị khi nghiên
cứu lịch sử tư tưởng thời kỳ này như: An Hoạch sơn Báo Ân tự bi kí (東 東東
東 東 東 東 東) do Chu Văn Thường soạn, niên đại Hội Phong 9 (1100) ở chùa
Báo Ân núi An Hoạch, Đông Sơn, Thanh Hóa; Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi (東
東 東 東 東 東) do Lý Thừa Ân soạn, niên đại Long Phù Nguyên Hòa (1107) ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang; Ngưỡng sơn Linh Xứng tự bi minh (東 東 東 東 東 東
東) ở chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, Ngọ Xá, Hà Trung, Thanh Hóa và
Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh (東 東 東 東 東東 東) ở chùa Sùng Nghiêm
Diên Thánh, Hậu Lộc, Thanh Hóa do Pháp Bảo soạn trước năm 1107 vànăm 1118;
Thời nhà Trần, khi Phật giáo còn chiếm ưu thế trong xã hội, một số tác
phẩm có giá trị về triết lý và tư tưởng của Phật giáo xuất hiện, như: Khóa hư lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục ,v.v Văn bia thời kì này cũng vẫn xuất
hiện những bài văn bia truyền bá tư tưởng Phật giáo, có thể kể như bài văn
bia Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn đại bi tự (東 東 東 東 東 東 東 東 東) do Phạm Sư
Mạnh soạn, niên đại Thiệu Khánh 3 (1372) Nhưng ở thời Trần, Nho giáocũng đã bắt đầu phát huy tích cực vai trò của mình và phát triển
Trang 31dung hòa cùng Phật giáo trong đời sống xã hội, một số bài văn bia thời kỳnày cũng đã phản ánh mối quan hệ cùng tồn tại của Phật giáo và Nho giáo.
Ví dụ như: bài văn bia Hưng Phúc tự bi (東 東 東 東 ), niên đại Khai Thái
(1324) Từ nửa cuối thế kỷ XIV, khi nhà nước phong kiến thời Trần ngàycàng trở nên suy yếu, Phật giáo ở nước ta cũng tỏ ra kém hiệu lực trong khigiải quyết các vấn đề của đời sống xã hội, nhất là những vấn đề tư tưởngchính trị, một trào lưu tư tưởng chống Phật giáo ở nước ta xuất hiện, cácnhà nho lên tiếng phê phán triết lý và tư tưởng Phật giáo nhằm dành lấy địa
vị thống trị cho Nho giáo trong đời sống xã hội Vào những năm cuối củathế kỷ XIV, đạo Phật đã kết thúc thời kỳ huy hoàng của mình khi mà HồQuý Ly ra lệnh sa thải tăng đồ, bắt những người dưới 40 tuổi phải hoàn tụcvào năm 1396 Từ đây lịch sử tư tưởng Việt Nam có bước phát triển mới
- Thời kỳ ổn định và thịnh trị của xã hội phong kiến (thế kỷ XV): Những nhà tư tưởng lớn của dân tộc nổi bật ở thời kỳ này là Hồ Quý
Ly, Lương Thế Vinh, Ngô Sỹ Liên, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Phan PhuTiên Các nhà tư tưởng thời kỳ này cho thấy họ là những người chịu ảnhhưởng kinh học: Đề cao thiên mệnh, thiên đạo, thiên đế; Chú trọng tudưỡng đạo đức, cương thường Nho gia
Văn bia thời kỳ Lê sơ phát triển trong xu thế chung của toàn xã hội, củanền văn hóa chính thống - văn hóa Nho giáo Số lượng văn bia của thời kỳ nàycòn khá nhiều, có nhiều bài văn bia đã tập trung ngợi ca vai trò của Nho giáotrong đời sống chính trị xã hội, ca ngợi chế độ chuyên chế của nhà nước phongkiến và đề cao nhà vua Một sự kiện quan trọng thể hiện cho sự tôn sùng Nhogiáo là các vua Lê mà mở đầu là vua Lê Thánh Tông cho dựng các bia Tiến sĩ ởVăn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) Nghiên cứu các bài văn bia ở Văn Miếu(Hà Nội) chúng ta thấy rõ điều này Có thể nêu một số ví dụ như sau: Bài văn
bia Đại Bảo tam niên Nhâm tuất khoa Tiến sĩ đề danh
Trang 32kí (東 東 東 東 東 東 東 東 東 東 東 東) do Thân Nhân Trung soạn, niên đại Hồng Đức
15 (1484) từng ngợi ca nhà nước phong kiến và Nho giáo Thời kỳ này, vănhóa Nho giáo được đề cao, văn bia có nội dung Nho giáo cũng khá nhiều,nhưng một điều được lưu ý là: Phật giáo vẫn được duy trì ở nông thôn, dựavào sinh hoạt làng xã để tồn tại và văn bia ở các chùa chiền vẫn phát triển Nộidung của các bài văn bia không phải là những giáo lý nhà Phật mà là lời cangợi cảnh chùa cùng những vẻ đẹp của non sông đất nước, hoặc về đất đai của
chùa, về thờ tự Có thể kể như: văn bia chùa Phúc Thắng tự bi 東 東 東 東 (Thạch Thất) do Vũ Quang Tuấn soạn, niên đại năm Hồng Đức 1(1470) Văn bia Phật,
niên đại năm Hồng Đức 18 (1487) ở chùa Thiên Phúc, thôn Trạch Lôi, xãTrạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ v.v
- Thời kỳ chia cắt của xã hội phong kiến (thế kỷ XVI- XVIII):
Bước vào thế kỷ XVI, chế độ phong kiến thời Lê sơ rơi vào tình trạngsuy thoái, các phe phái ở trong triều thì tranh giành quyền lợi và địa vị lẫnnhau, các quan lại thì ngang ngược hoành hành, nhân dân khởi nghĩa khắpnơi Đất nước lâm vào tình trạng nội chiến kéo dài liên miên, nội chiến Lê -Mạc, rồi cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, đến cuộc khởi nghĩa nông dân vĩđại Tây Sơn Nỗi đau khổ chiến tranh triền miên đã đưa người dân trở lạivới Phật giáo và họ đã tìm thấy ở đạo Phật một miền an ủi trong tâm hồn,Phật giáo được phục hưng Tuy nhiên, Nho giáo vẫn là hệ tư tưởng chínhthống của các tập đoàn phong kiến sử dụng điều hành chính quyền và xâydựng trật tự xã hội Những nhân tố nêu trên đã góp phần làm thay đổi tìnhhình tư tưởng chính trị xã hội ở Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII
Đây là thời kỳ về tư tưởng dân tộc Việt Nam có nhiều lúng túng Thế
kỷ XVIII Phật giáo được phục hồi và phát triển Đây là giai đoạn có thể nóikhông làng nào không có chùa, chùa nào cũng có kinh tế riêng, nhân dân tin
Trang 33Phật nhiều hơn tin Nho Đây cũng là thời kỳ Đạo giáo được truyền bá rộngrãi, nhiều đạo quán mọc lên ở Thăng Long, Huế, Lạng Sơn, nhiều Nho sỹtên tuổi cũng tin theo Đạo giáo như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sỹ, Phan HuyÍch Đạo giáo thực sự sánh vai cùng Nho giáo, Phật giáo.
Ở mỗi thời kỳ lịch sử, sự đồng nguyên lại được biểu hiện khác nhau,thời kỳ này Nho giáo đang thịnh thì đồng nguyên đã dựa trên cơ sở Nho
giáo Bài văn bia Trùng tu Phổ Tế tự bi kí (東 東 東 東 東 東 東) do Ngô Thì
Nhậm soạn, niên đại Cảnh Thịnh 2 (1794) ở chùa Phổ Tế (Nội Vũ - ỨngHòa) đã nói lên sự cảm nhận đạo Thiền của một danh Nho, một nhà chính trịlỗi lạc đương thời, Nho - Phật hòa quyện trong một con người: "Ta thíchuống rượu, ta thích ngâm thơ, ta còn thích đàm đạo về Thiền Tấm thân duchơi trong Thiền, còn cái tâm lại nhởn nhơ ngoài Thiền Đó mới là thấyđược cái tinh của Thiền" [33, tr.201]
- Thời kỳ nhà Nguyễn (1802- 1945) :
Dưới thời nhà Nguyễn, Nho giáo được suy tôn lên địa vị độc tônnhưng luôn coi Phật giáo là ngọn cờ nhằm thu phục nhân tâm, biểu hiện của
tư tưởng thời kỳ này là rất phức tạp: Ở niên đại Gia Long Phật giáo bị bác
bỏ, Nho giáo giành địa vị độc tôn tuyệt đối trong hệ tư tưởng chính thống; ởniên đại Minh Mạng là khuynh hướng và nỗ lực xây dựng một hệ tư tưởnghoàn chỉnh của vương triều mang màu sắc Việt Nam tuy vẫn lấy Nho giáolàm nòng cốt
Văn bia gắn với hệ tư tưởng Nho giáo thời kỳ này phát triển với sốlượng khá lớn, trước hết phải kể đến hệ thống bia ở Văn Miếu (kinh đô Huế)với hơn 30 bài văn bia đề danh cho các vị đại khoa và ở văn miếu của các địaphương Bia tại các từ đường lăng mộ, bia tiên hiền tại các văn chỉ, văn từ và
văn hội ở các địa phương, có thể kể như: Sơn Bình tổng văn từ bi kí (
Trang 34東 東 東 東 東 東 東) do Hoàng Hữu Tạo soạn, niên đại Tự Đức 7 (1854) ở văn
chỉ tổng Sơn Bình, Lập Thạch, Vĩnh Phúc; Văn hậu bi kí (東 東 東 東) do Đỗ
Lệ soạn, niên đại Thành Thái 3 (1891)
Lịch sử tư tưởng Việt Nam có những chuyển biển với các hệ tưtưởng chi phối tư tưởng chính trị xã hội ở mỗi thời kỳ có lúc mạnh, lúc yếu.Các tài liệu văn bia Hán Nôm đã cung cấp thông tin có giá trị khi nghiên cứulịch sử tư tưởng chính trị xã hội Việt Nam thời phong kiến
1.5.1.2 Giá trị nghiên cứu về lịch sử khoa cử
Lịch sử khoa cử Việt Nam gắn liền với sự phát triển của Nho giáo ởViệt Nam Nước ta từ đời Lý, mới có khoa cử Vua Lý Thánh Tông, năm
1075 mở khoa thi Tam trường để chọn người minh kinh bác học bổ làmquan Năm 1076, vua lại lập trường Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài,rồi đến năm 1086 mở khoa thi chọn người vào Hàn Lâm viện Thời kỳ nhàHậu Lê, chế độ khoa cử Việt Nam bước vào giai đoạn hưng thịnh, vua chúacác đời, không ai là không lấy việc mở khoa thi tuyển chọn kẻ sĩ làm côngviệc đầu tiên Trong thời gian Lê Thánh Tông ở ngôi, khoa cử cực thịnh mộtthời Lê Thánh Tông tại vị 38 năm (1460 - 1497), mở hơn 12 khoa, lấy đỗhơn 511 Tiến sĩ, số khoa thi và số người lấy đỗ đều hơn hẳn triều Lý, triềuTrần, khoa cử hưng thịnh xưa nay chưa từng có Sau đó, đế vương các đờicũng đều theo đó mở khoa thi chọn kẻ sĩ Càng về sau việc tổ chức khoa cửNho học được tiến hành càng chặt chẽ và chu đáo hơn Việc tổ chức khoa cử
và tên những người đỗ đạt qua các kì thi đã được ghi lại trên bia đá, tiêubiểu là hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ ở các văn miếu
Ở Việt Nam việc lập bia đề danh Tiến sĩ được bắt đầu từ đời vua LêThánh Tông (năm 1484) tại Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội Chủ trương
của vua Lê Thánh Tông về việc lập văn bia đề danh Tiến sĩ là nhằm tôn vinh
Trang 35bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa, chủ trương này đã được các vua đời saunối tiếp và các quan lại tại các địa phương đời sau hưởng ứng, tạo nên một
hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ trong cả nước Văn bia đề danh Tiến sĩViệt Nam thời kỳ phong kiến hiện còn tập trung ở 2 văn miếu cấp quốc gia:Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội (82 bia) và Văn miếu Huế (34 bia), 2 vănmiếu cấp tỉnh: Văn miếu Bắc Ninh (11 bia) và Văn miếu Hưng Yên (9 bia);ngoài ra ở một số văn miếu, văn từ, văn chỉ ở nhiều địa phương từ cấp phủtrở xuống đến cấp thôn cũng có lập văn bia đề danh Tiến sĩ [27, tr.14]
Khi tìm hiểu các văn bia đề danh Tiến sĩ, chúng ta thấy được các triềuđại phong kiến Việt Nam đều quan tâm tới việc chiêu tập hiền tài, đào tạonhân tài cho đất nước, luôn có những chính sách phù hợp để phát triển nềngiáo dục khoa cử Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam còn là những tư liệu rất
có giá trị góp phần nghiên cứu lịch sử khoa cử Việt Nam, như: chế độ thi cử(việc qui định niên khoá thi, thể lệ thi,v.v ), tên gọi các khoa thi (Minh kinhbác sĩ, Thái học sinh, Hương, Hội, Đình, v.v ), cách gọi các thứ bậc nhữngngười đỗ đại khoa của từng thời kỳ lịch sử (Trạng nguyên, Bảng nhãn,Thám hoa, Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp, v.v.)
Qua các bài văn bia đề danh Tiến sĩ, chúng ta còn thấy toát lên mộtvấn đề quan trọng, đó là ý nghĩa giáo dục của việc lập bia và khắc đá đềdanh, nhằm răn dạy các nhà khoa bảng, phải sống sao cho có ích với xã tắc,phải làm sao cho xứng danh kẻ sĩ khi được hưởng ơn vua lộc nước, khiđược người dân kỳ vọng [27, tr.19]
Đến thời kỳ Pháp thuộc, với việc sử dụng chữ Quốc ngữ, chữ Hán mấtdần vị thế Sự suy yếu và sụp đổ của triều Nguyễn cũng khiến cho khoa cửNho học bị mất đi Văn bia là nguồn tư liệu không thể thiếu khi chúng tanghiên cứu lịch sử khoa bảng Việt Nam Qua đó khẳng định, Việt Nam làđất nước có truyền thống hiếu học, việc học luôn được khuyến khích, việc
Trang 36khắc văn bia các nhà khoa bảng đã khẳng định điều đó Năm 1919, là nămViệt Nam chấm dứt khoa cử, cũng là thời điểm kết thúc của chế độ khoa cử[thời kỳ phong kiến] trên phạm vi toàn thế giới.
1.5.1.3 Giá trị nghiên cứu về lịch sử làng xã
Làng xã là một tổ chức thể hiện bản sắc của cộng đồng Việt Nam.Trong đó làng là một tập hợp nhiều gia đình tụ cư trong một khu vực địa lýnhất định, một hệ thống cấu trúc cộng đồng đan xen chặt chẽ dựa trên quan
hệ cư trú (thôn, xóm…), quan hệ huyết thống (dòng họ), quan hệ đẳng cấp,quan hệ nghề nghiệp, quan hệ tương thân tương ái Như vậy, làng là mộtcấu trúc cộng đồng gồm nhiều cấp độ và thể loại cồng đồng liên quan chặtchẽ các thành viên với nhau Xã là một đơn vị hành chính bao gồm một hoặcmột vài làng, trong đó có sự phân biệt rõ ràng giữa dân chính cư (dân gốc ởlàng) và dân cư ngụ (dân ở nơi khác đến cư trú) Trong lịch sử, làng xã làchỗ dựa vững chắc cho con người Việt Nam trong công cuộc chống giặcngoại xâm và đương đầu với những thử thách của thiên tai, bão lụt… Đặctrưng nổi bật của làng xã là cuộc sống đóng kín thành thế giới riêng của mộthoặc nhiều dòng họ, trong đó có thờ thần hoàng, có đình miếu, có lễ hộiriêng của làng Để giữ gìn tôn ti trật tự của làng xã đòi hỏi phải có hươngước- lệ làng để điều chỉnh các quan hệ trong dòng họ hoặc giữa các dòng họvới nhau, mọi vi phạm của thành viên bị xử theo lệ làng chứ không theopháp luật Trong làng xã hình thành tình làng nghĩa xóm đã lâu, cá nhânsống dựa vào tình nghĩa làng xóm, đi đâu xa cuối đời cũng phải quay về làngxã
Gần đây đã có những công trình nghiên cứu về làng xã, ngoài nhữngmiêu tả có giá trị, đã nêu lên mô hình nhằm vạch rõ cơ chế của làng xã ViệtNam cổ truyền Nhưng đáng tiếc là trong đó không ít những khái quát không
có mối liên hệ rõ rệt với tài liệu thực tế được miêu tả Tình trạng đó không
Trang 37phải là không thể giải thích Đề tài nghiên cứu làng xã cơ bản là một đề tài
xã hội học – dân tộc học Khi nghiên cứu nó như một đề tài sử học nghĩa làbiến nó như một đề tài xã hội học – lịch sử, ngoài những tài liệu quan sáttrực tiếp, chúng ta cần có những tài liệu lịch đại Điều này đáng tiếc lànhững tài liệu giúp ta đi sâu vào kết cấu làng xã hiện còn, thường khôngsớm hơn thế kỷ XVII Vì thiếu tài liệu, trong các công trình nghiên cứu làng
xã Việt Nam trong lịch sử, phương pháp hồi cố “lấy nay suy ra xưa”, “lấymuộn suy ra sớm” vẫn chiếm một vị trí đáng kể Và vì vậy, hiển nhiên khótránh được những suy diễn, những giả thuyết không được chứng minh haychứng minh yếu Những thư tịch và văn bia Hán Nôm được sưu tập đã khắcphục được những hạn chế này khi tìm hiểu về lịch sử làng xã
Sự xuất hiện phổ biến văn bia vào thời Hậu Lê đến Nguyễn tạo nétđặc sắc của "văn hóa làng" đồng bằng sông Hồng Các làng xã ở Kinh Bắc,Hải Dương, Hà Đông, Sơn Tây, tuy số lượng nhiều ít có khác nhau, nhưngđều có hiện tượng xuất hiện văn bia Nhiều như làng Vân ở Bắc Giang có
trên 100 văn bia, làng Phù Ninh ở Gia Lâm - Hà Nội có trên 90 bia.
Những văn bia của các làng xã còn đến hiện nay giúp chúng ta có thêmthông tin về làng xã thời kỳ trước đây, những sự kiện đã diễn ra ở vùng đó…
Ví dụ như qua tấm bia tại làng Đăm (Tây Tựu- Từ Liêm), chúng ta
biết thêm tên làng Đăm có sự thay đổi là vì sao, địa thế của làng, những ngườicon đã làm rạng danh cho làng: “Làng ta xưa gọi Tây Đàm, nhân kiêng têntriều Lê mới cải là Tây Đam, sau lại phạm huý quốc triều nên mới đổi là TâyTựu Địa thế của núi Trai hùng vĩ, sông Nhuệ chảy ven làng, nước biếc nonxanh, tinh anh tụ hội Về văn hoá có hai Tiến sĩ họ Nguyễn hàm thụ quốc triều,
có hàng cửu phẩm văn giai Về võ có quan Thái uý mệnh danh hộ quốc côngthần triều Lê Xã có ba thôn nối liền một dải, dân cư đông đúc của trăm vùng
Ơn nhờ quan Hoàng tướng công dân, ta như người đi đêm
Trang 38gặp đuốc sáng, ngài đã đưa người lên Sở Canh nông mang hạt giống vềtrồng, nghề rau thịnh đạt, ngô Đăm nổi tiếng nhất vùng tỉnh Hà Đông” [23,
tr 321]
Văn bia của làng xã phản ánh quá trình vận động phát triển của kếtcấu và tổ chức xã hội nông thôn Đó là kết cấu tự quản, tự trị của làng xãngày càng đậm đà, nặng nề Ở đây có cộng đồng làng xã, có cộng đồng giáp,
có cộng đồng họ tộc, có quan viên hương lão, có tư văn Các cộng đồng trên
có tính địa vực, có tính huyết thống, có tính tuổi tác và vị trí xã hội; trong đótính cộng đồng huyết thống và địa vực là nổi trội
Tóm lại, giá trị nghiên cứu lịch sử của văn bia được thể hiện trênnhiều lĩnh vực khi nghiên cứu như: các sự kiện lịch sử, lịch sử tư tưởng thời
kỳ phong kiến Việt Nam, lịch sử khoa cử, hay nghiên cứu lịch sử của từnglàng Văn bia như cuốn lịch sử chính xác để có thể đối chiếu các sự kiện lịch
sử diễn ra
1.5.2 Giá trị nghiên cứu về kinh tế, xã hội, văn hóa
Văn bia không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, mà còn có giá trị đểnghiên cứu về kinh tế, xã hội, văn hóa của các thời kỳ phong kiến ở ViệtNam
1.5.2.1 Giá trị nghiên cứu về kinh tế, xã hội của các địa phương Kinh tế của địa phương thể hiện đầu tiên là ở đơn vị chợ Các văn biachợ ghi lại hoạt động mua bán và điều kiện kinh tế của từng địa phương quacác thời kỳ Văn bia chợ là loại văn khắc trên bia đá ghi chép việc mở chợ
và những việc liên quan đến chợ ở nước ta thời xưa Theo số liệu điều traqua những công trình sưu khảo mới công bố gần đây, đời Lý và đời Trần cóhơn 60 văn bia, nhưng chưa có văn bia chợ Tình hình như thế cũng diễn rađối với các văn bia thời Lê sơ Chỉ bắt đầu từ nhà Mạc, mới tìm thấy 6 vănbia nói về việc mở chợ buôn bán ở nông thôn Từ đời Lê Trung hưng về sau,
Trang 39văn bia chợ phát triển nở rộ [46, tr.266] Có thể kể đến các văn bia: văn bia
Môn nha thị, soạn năm 1709 (Vụ Bản - Nam Định), đã ghi: “tứ phương
buôn bán thông hành, tài vật tụ hội la liệt Người người kéo đến, dần dầnnhư mây họp sao đàn; vật vật đổi trao, nườm nượp của trao tiền trả Việc
mở chợ kéo theo đó là việc đặt ra lệ chợ, lệ làng với tính qui mô, tổ chứcđược hình thành” Tất cả các chợ được phép hoạt động đều phải đóng thuếtheo qui định Tuy nhiên, những qui định về thuế má ở mỗi chợ lại có sự
khác nhau Ví dụ như: Chợ Phù Ninh trên văn bia Tập thị bi ký, tạo năm
1748, ghi việc xã định ra điều lệ: hễ trong tổng ai mua bán trâu bò, ngườibán phải trình mỗi con 10 văn tiền cổ; Còn chợ Bình Vọng, người bán trâu
bò phải nộp 15 văn tiền cổ, người mua phải nộp 6 văn; Chợ Cầu Đơ ngườibán nộp 30 quan, người mua nộp 20 quan Chợ Bình Vọng và chợ Cầu Đơthuế đánh cả vào người bán và người mua; Chợ Phạm Lâm ở Hải Dương,nguồn thuế thu được lại dùng vào việc cấp dưỡng cho các lãnh binh Ngoài
ra, ở các chợ làng khác, mặc dù trên đã ra lệnh không phải nộp ngạch thuế,song ở các địa phương, các tuần phiên vẫn thu thuế để chi dùng vào nhữngviệc công của xã
Giá trị hàng hóa - dịch vụ cũng được xác định và ghi chép trên văn bia,như sửa lại một bia cũ hết 10 quan, 1 mẫu ruộng trị giá 30 quan Bia ở chùaSùng Thiện làng Thị Đức tỉnh Hải Dương, ghi việc làm tiền đường chùa từnăm Mậu Dần (1338) đến năm Tân Tị (1341) mới thượng lương (đặt chồngnóc nhà hoặc còn có nghĩa là hoàn thành việc cất nhà), tốn mất bạc thoi là 4lạng, 5 đồng cân, làm nhà hậu ba gian hai chái hết 36 quan, hai tiền Biachùa Đại Bi ở Hưng Yên cho biết giá một cỗ bia có đủ đế rùa, hết 50 quan,v.v…
Ngoài văn bia chợ, chúng tôi còn thấy các văn bia phản ánh tình trạng
sở hữu ruộng đất thời phong kiến Các triều đại phong kiến Việt Nam đều
Trang 40coi trọng việc sở hữu ruộng đất “cái gốc của chính sự quốc gia là ở ruộngđất”, quan điểm này được khẳng định trên văn bia chùa Tam Bảo (TừLiêm) Bên cạnh những chính sách quản lí ruộng đất, các vương triều cònkhuyến khích việc khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích đất sản xuất, như
văn bia Lập trại Sĩ Lâm (xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định): Trại được lập vào năm Nhân Tý niên hiệu Tự Đức thứ 5 (1852)
nhằm mục đích khai hoang, lấn biển Nội dung của bia đã cung cấp chochúng ta những thông tin sơ bộ ban đầu về việc khẩn hoang lập nên trại SĩLâm Tuy việc khẩn hoang lập trại trên quy mô nhỏ nhưng có thể coi đó làmột thành tựu trong quá trình khẩn hoang cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷXIX Bên cạnh đó, nội dung bia cung cấp cho chúng ta hiểu biết thêm về cácchính sách điền địa của triều Nguyễn, tiêu biểu là dưới triều vua Tự Đức(1848-1883) Triều Nguyễn quy định việc miễn thuế cho những người đikhẩn hoang trong khoảng thời gian là 23 năm
Văn bia có giá trị nghiên cứu các công trình công cộng phục vụ đờisống kinh tế, xã hội như: thủy lợi, đường sá, đê điều, cầu cống, mươngmáng, v.v…
Việc đắp đê, với ý nghĩa là ngăn nước chống lụt đảm bảo cuộc sốngcho người dân, còn mang ý nghĩa phát triển giao thông nông thôn Một số
văn bia ghi lại việc đắp đê như sau: văn bia Bản xã tự sự bi kí ở xã Lại Yên
(huyện Hoài Đức), niên đại Cảnh Hưng thứ 19 (1758), ghi lại nội dung bản
xã lo việc đắp đê ngăn lũ, làm đường cho nhân dân
Việc xây dựng cầu cống, làm đường, sửa sang lại những con đường
phục vụ dân sinh có nhiều văn bia phản ánh như: văn bia Hà lộ bi (Hoàng
Xá - Quốc Oai), soạn năm Quý Sửu (1793), ghi lại nội dung nhân dân thônHoàng Xá đắp con đường ra xứ Sông Chuối để ngăn sóng, đồng thời thuậntiện cho việc ra sông trồng hoa màu và đánh cá