Các bài toán có lời văn mà học sinh Tiểu học được giải có nội dung là những vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng từ những dạng khác nhau của cùng một phép tính
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh lớp 4 giải toán có lời văn bằng sơ đồ
tư duy
2 Lĩnh vực (mã)/cấp học: Toán 4/ Tiểu học
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 5 tháng 9 năm 2019 đến ngày 1 tháng 7 năm 2020
4 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Trần Tịnh
Năm sinh: 1996
Nơi thường trú: Vĩnh Hào- Vụ Bản- Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Tiểu học TT Quỹ Nhất
Điện thoại: 0964 743 043
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
5 Đồng tác giả (nếu có):
Họ và tên:
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ công tác:
Nơi làm việc:
Điện thoại:
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: …….%
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học TT Quỹ Nhất
Địa chỉ: Thị trấn Quỹ Nhất- Nghĩa Hưng-Nam Định
Điện thoại:0228 872 699
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
Toán học giúp con người giải quyết các bài toán thực tế Các bài toán thực tế được diễn đạt bằng lời văn từ đó có tên gọi bài toán có lời văn Các bài toán có lời văn
mà học sinh Tiểu học được giải có nội dung là những vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng từ những dạng khác nhau của cùng một phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) đến những dạng kết hợp của hai hay nhiều phép tính Việc giải các bài toán có lời văn là dịp để học sinh vận dụng một cách tổng hợp và ngày càng cao các tri thức và kỹ năng về toán Tiểu học với kiến thức cuộc sống Việc dạy học môn Toán không chỉ giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức, rèn các kĩ năng tính toán mà còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, tưởng tượng, óc sáng tạo, thói quen làm việc khoa học, phát triển ngôn ngữ, tư duy lô-gic, góp phần hình thành các phẩm chất, nhân cách của người lao động
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Trong chương trình Toán Tiểu học nói chung, chương trình Toán 4 nói riêng, phần giải Toán có lời văn đóng vai trò hết sức quan trọng và có mặt hầu hết ở tất cả các bài học Ngoài các bài ở các dạng toán cụ thể như: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu, tổng và tỉ số hay hiệu và tỉ số của hai số đó thì giải toán có lời văn còn được dùng
để rèn luyện các kỹ năng và kiểm tra việc áp dụng các kiến thức cơ bản
Việc hướng dẫn học sinh học sinh giải toán có văn cũng là vấn đề mà nhiều GV đang quan tâm: Làm thế nào để hướng dẫn các em hiểu và biết giải bài toán một cách cách nhanh nhất? Bản thân tôi luôn băn khoăn, trăn trở tìm biện pháp nhằm đáp ứng phần nào khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh giải toán có văn Để các
em giải bài toán có lời văn được tốt, tìm được hướng giải thì thiết nghĩ bản thân phải xây dựng cho các em có hệ thống cách giải một cách có logic Cần giúp các
em sử dụng, phát huy khả năng ghi nhớ cũng như khả năng sáng tạo của mình qua việc vẽ sơ đồ tư duy để liên kết những mối liên hệ giữa những cái đã cho và cái cần tìm; từ đó phân biệt,phân loại dạng toán,tìm ra phương pháp giải tối ưu cho từng bài toán cụ thể Tôi thấy giải toán có lời văn bằng sơ đồ tư duy có nhiều ưu điểm và bước đầu được giáo viên lựa chọn để hướng dẫn học sinh giải toán Phương pháp
Trang 4này có tính trực quan cao, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ Tiểu học, hình thành và phát triển kỹ năng, kỹ xảo, năng lực tư duy, tưởng tượng từ đó giúp cho học sinh lập được kế hoạch và giải bài toán một cách dễ dàng
Từ những lý do trên, tôi đã đi sâu tìm hiểu về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giải toán với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy giải toán cho học
sinh Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài: Hướng dẫn học sinh lớp 4 giải toán
có lời văn bằng sơ đồ tư duy”.
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
Dạy học toán nói chung và dạy giải toán có lời văn nói riêng là một hoạt động trí tuệ đầy khó khăn và phức tạp, nó làm nền tảng cho việc học tiếp chương trình học toán ở các lớp trên, Trong thực tế, tôi nhận thấy, việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn chưa đạt kết quả cao
- Đa số học sinh Tiểu học nói chung và học sinh khối 4 nói riêng đều gặp khó khăn khi giải toán lời văn.Vì thế, các em ít hứng thú và có tâm lý sợ giải toán có lời văn
- Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên nhanh quên các dạng bài toán
- Các em không có phương pháp giải và ngôn ngữ còn hạn chế nên việc hiểu nội dung, yêu cầu của bài toán có lời văn chưa được đầy đủ và chính xác từ đó không xác định được dạng toán
- Khả năng tư duy, suy luận của các em còn kém, ngại suy nghĩ dẫn đến việc đa
số các em chưa nắm được đề, chưa khái quát được cách tìm ra từng bước giải
Cụ thể: + Học sinh chưa hiểu đề bài: 25%-30%
Học sinh chưa hiểu đề bài tức hiểu các thành phần của nó
Gồm 3 thành phần:
+ Những cái đã cho
+ Những cái cần tìm
+ Những mối liên hệ giữa những cái đã cho và cái cần tìm
+ Học sinh chưa biết phân biệt, phân loại bài toán:20%- 25%
+ Học sinh giải bài toán sai: từ 30%-35%
Qua đề tài này, tôi muốn vừa giảng dạy cho học sinh phương pháp học tập tích cực, các em sẽ không còn sợ giải các bài toán có lời văn nữa và yêu thích môn toán hơn, học toán tốt hơn Đề tài này được áp dụng tại học sinh lớp 4C ở Trường Tiểu học TT Quỹ Nhất năm học 2019-2020 Đầu năm tôi tiến hành khảo sát tình hình giải toán có văn của học sinh, kết quả như sau:
Sĩ số: 32 học sinh
Trang 5Tổng số Số HS giải tốt Số HS biết cách giải Số HS chưa giải được
32 Tổng số Tỉ lệ % Tổng số Tỉ lệ % Tổng số Tỉ lệ %
2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến.
2.1 Kiểm tra phân loại học sinh
Ngay từ đầu năm học, thông qua bài kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm và kiểm tra miệng trực tiếp từng em, tôi đã tiến hành phân loại học sinh xem:
Có bao nhiêu em biết xác định cái đã cho, cái cần tìm của bài toán?
Có bao nhiêu em biết cách xác định dạng toán?
Có bao nhiêu em đã thực hiện tốt giải toán có văn?
Có bao nhiêu em đã có kĩ năng xác định đề bài, mối liên hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm?
Có bao nhiêu em chưa giải được bài toán có văn? Vì sao?
Có bao nhiêu em giải bài toán còn chậm, Nguyên nhân?
* Yêu cầu học sinh:
- Biết xác định cái đã cho và cái cần tìm
- Biết xác định dạng toán
2.2 Hướng dẫn học sinh giải toán có văn bằng sơ đồ tư duy.
2.2.1 Hướng dẫn học sinh lập sơ đồ tư duy
Những tiết học toán trong sách giáo khoa là những tiết học rất quan trọng, nhằm cung cấp cho các em học sinh những yêu cầu cơ bản nhất mà chương trình đặt ra Bằng hình ảnh trực quan sinh động và phương pháp sư phạm của giáo viên, các em dần dần nắm chắc kiến thức, rèn luyện các kĩ năng, Việc nắm chắc kiến thức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức ban đầu của học sinh Giáo viên cần xuất phát từ những vấn đề rất cụ thể, chi tiết; học sinh phải nắm được bản chất của vấn đề, các
em phải có nền kiến thức đại trà vững chắc rồi mới đến ngọn là giải quyết các bài toán ở mức độ cao hơn Để làm được điều đó giáo viên cần chuyển nội dung từng bài toán cụ thể thành các sơ đồ tư duy để ghi nhớ kĩ hơn, sâu hơn
Từ cơ sở thực tiễn đã nêu ở trên,cũng như những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chương trình SGK, khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy để lập kế hoạch giải toán có lời văn qua các bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề bài, xác định yêu cầu
Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu tố
cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện cần thiết liên quan đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để đạt một cách rõ ràng hơn
Bước 2: Thay thế lời giải bằng sơ đồ tư duy
Trang 6- Ở bước này giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ tư duy để học sinh tìm ra mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm để tìm ra cách giải - Ở bước này giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ tư duy để học sinh tìm ra mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm để tìm ra cách giải Suy nghĩ theo đường lối phân tích: Tập trung suy nghĩ vào câu hỏi của bài toán, nghĩ xem muốn trả lời được câu hỏi của bài toán thì ta phải biết những
gì và phải làm những phép tính gì? Trong những điều cần biết đó cái nào đã cho sẵn trong đề toán, cái nào phải tìm? Muốn tìm được cái này thì ta phải biết những
gì và làm phép tính gì? v v Cứ như thế ta suy nghĩ từ câu trả lời của bài toán trở
về các điều đã cho của bài toán
Bước 3: Dựa vào sơ đồ tư duy viết bài giải
Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em dễ dàng thực hiện làm giải của mình (Ở bước này HS dựa vào sơ đồ tư duy giải ngược lại theo chiều mũi tên) Gồm:
-Viết lời giải
-Viết phép tính tương ứng
-Viết đáp số
Qua các bước đó học sinh cần đạt các yêu cầu:
Yêu cầu 1: Từ đề bài đã cho học sinh dùng sơ đồ phân tích tìm ra cái đã cho, cái cần tìm, xác định được dạng toán và bước giải
Yêu cầu 2: Học sinh có óc phân tích, phán đoán, suy luận nhanh và có tư duy lô-gíc cũng như có cách khái quát cao
Yêu cầu 3: Rút ra được kinh nghiệm cho bản thân, diễn đạt được cách tìm ra các đại lượng
Qua nghiên cứu chương trình Toán 4 tôi xin trình bày một số dạng cụ thể như sau:
2.2.1.1 Dạng toán tìm số trung bình cộng
Ví dụ: Một cửa hàng bán hoa quả ngày đầu bán được 120kg, ngày thứ hai bán được bằng 12 số lượng hoa quả ngày đầu, ngày thứ ba bán được gấp đôi số lượng ngày đầu Hỏi trung bình mỗi ngày cửa hàng đó bán được bao nhiêu ki-lô-gam hoa quả?
Bước 1:
- HS đọc kĩ đề toán 3 lần và phân tích đề toán bằng cách gạch chân dưới các thông tin
+ Cái đã cho ( Ngày đầu bán 120 kg, ngày thứ 2 bán bằng 12 ngày đầu, ngày thứ ba gấp 2 ngày đầu
+ Cái cần tìm (Tính trung bình cộng mỗi ngày bán)
Trang 7Một cửa hàng bán hoa quả ngày đầu bán được 120kg, ngày thứ hai bán được bằng 1
2
số lượng hoa quả ngày đầu, ngày thứ ba bán được gấp đôi số lượng ngày đầu Hỏi trung bình mỗi ngày cửa hàng đó bán được bao nhiêu ki-lô-gam hoa quả?
Bước 2:
Ở bài tập này ta hướng dẫn vẽ như sau
Muốn Hỏi trung bình mỗi ngày cửa hàng đó bán được bao nhiêu ki-lô-gam hoa quả ta phải biết cả 3 ngày bán được bao nhiêu ki-lô-gam Mà bài toán mới cho + Ngày đầu : 120 kg
+ Ngày thứ hai bán bằng 12 ngày đầu -> ngày thứ 2 sẽ bán là 120 : 2 = 60 kg
+ Ngày thứ ba bán gấp đôi ngày đầu - > ngày thứ ba bán là 120 x 2 = 240 kg
Trang 8Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ như sau:
Bước 3:
Bài giải Ngày thứ hai cửa hàng bán được số kg hoa quả là : 120 : 2 = 60 (kg) Ngày thứ ba cửa hàng bán được số kg hoa quả là : 120 x 2 = 240 (kg)
Cả ba ngày cửa hàng bán được số kg hoa quả là : 120 + 60 + 240 = 420 (kg) Trung bình mỗi ngày cửa hàng bán được số kg hoa quả là : 420 : 3 = 140 (kg)
Đáp số: 140 kg
2.2.1.2 Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
Ngày đầu bán :
120kg
3 ngày bán được số ki-lô-gam hoa quả là : 120+60+240 =420 kg
Ngày thứ hai bán:
120 : 2 = 60 kg
Trung bình
mỗi ngày bán
được bao
nhiêu kg hoa
quả?
420 : 3 = 140 kg
Ngày thứ ba bán:
120 x 2 = 240 kg Tổng số ngày
bán hoa quả là
3 ngày
Trang 9Bài toán: Mảnh đất hình chữ nhật có chu vi là 240m Chiều dài hơn chiều rộng 60m Tính diện tích mảnh vườn đó
Bước 1:
- HS đọc kĩ đề toán 3 lần và phân tích đề toán bằng cách gạch chân dưới các thông tin
+ Cái đã cho ( Chiều dài hơn chiều rộng 60m; chu vi hình chữ nhật là 240m) + Cái cần tìm (Tính diện tích )
Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi 240m Chiều dài hơn chiều rộng
60m.Tính diện tích mảnh đất đó
Bước 2: Ở bài tập này ta hướng dẫn vẽ như sau
Muốn tính diện tích mảnh vườn hình chữ nhật ta phải biết chiều dài và chiều rộng hình chữ nhật Mà bài toán cho biết chiều dài hơn chiều rộng là 60m -> hiệu chu vi hình chữ nhật là 2 lần tổng, muốn tính tổng ta lấy chu vi : 2 -> ta biết được đây là dạng toán tổng hiệu
+ Chiều rộng ( Nửa chu vi – hiệu) : 2
+ Chiều dài Nửa chu vi – chiều rộng
Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ như sau
Mảnh đất hình chữ nhật Chu vi:240m
Tìm nửa chu vi:
240:2=120(m)
(tổng)
Tìm chiều rộng (120 – 60) : 2 = 30(m)
Chiều dài hơn chiều rộng 60m
(hiệu)
Diện tích
mảnh đất
90 x 30
=2700 m 2
Tìm chiều dài
120 – 30 = 90 (m)
Trang 10Bước 3:
Bài giải Nửa chu vi mảnh vườn là : 240 : 2 = 120 (m) Chiều rộng mảnh vườn là : (120 – 60) : 2 = 30 (m) Chiều dài mảnh vườn là: 120 – 30 = 90 (m) Diện tích mảnh vườn là: 90 x 30 = 2700 (m2) Đáp số: 2700 m2
2.2.2.3 Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
Ở dạng Toán này HS phải xác định được tổng và tỉ số của 2 số
Ví dụ: Tổng số cam trong cả hai rổ là 49 quả Số cam trong rổ thứ nhất bằng 34 số cam trong rổ thứ hai Hỏi trong mỗi rổ có bao nhiêu quả cam
Bước 1:
Tổng số cam trong cả hai rổ là 49 quả Số cam trong rổ thứ nhất bằng 34 số cam trong rổ thứ hai Hỏi trong mỗi rổ có bao nhiêu quả cam
Bước 2: Ở bài tập này ta hướng dẫn vẽ như sau
Tìm số cam mỗi rổ tức là tìm số cam ở rổ 1 và số cam ở rổ 2 Mà dựa vào bài đã cho tổng số cam là 49 Tỉ số cam rổ 1 và rổ 2 là 34 -> ta biết được đây là dạng toán tổng tỉ
+ Số cam trong rổ 1 là 49 : ( 3+4) x 3 = 21 quả
+ Số cam rổ 2 là 49 -21 = 28 quả
Trang 11
Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ như sau:
Bước 3: Bài giải
Ta có sơ đồ
Rổ thứ nhất: 49 quả
Rổ thứ hai:
Theo sơ đồ, tổng số phần bằng nhau là : 3 + 4 = 7 ( phần)
Giá trị mỗi phần là : 49 : 7 = 7
Số cam ở rổ thứ nhất là : 7 x 3 = 21 (quả)
Số cam ở rổ thứ hai là: 49 – 21 = 28 (quả) Đáp số: rổ thứ nhất 21 quả, rổ thứ hai 28 quả
Tổng số cam 2 rổ là
49 quả
(tổng)
Rổ thứ nhất
bằng 34 rổ thứ
hai
Tìm tổng số phần bằng nhau 4+3=7 (phần) Dạng toán tổng
– tỉ
Tìm số cam rổ1:
7 x 3 = 21 quả
Tìm giá trị của một phần:
49 : 7 = 7
Tính số cam
mỗi rổ
Số cam ở rổ 2:
49-21 = 28 quả
Trang 122.2.1.4 Dạng toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
Ở dạng toán này phải xác định được hiệu và tỉ số của 2 số
Ví dụ: Số nữ ở thôn Đoài nhiều hơn số nam là 60 người Số nam bằng 78 số nữ Hỏi thôn Đoài có bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ
Hỏi thôn Đoài có bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ
Bước 2: Ở bài tập này ta hướng dẫn vẽ như sau
Để tìm số nam, số nữ thôm Đoài Ta đã biết số nữ nhiều hơn nam ( tức là hiệu) là
60 người Tỉ số giữa nam và nữ là 78 -> ta biết được đây là dạng toán hiệu- tỉ + Số nữ thôn Đoài là 60 : ( 8 -7 ) x 8 = 480 người
+ Số nam thôn Đoài là 480 – 60 = 420 người
Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ như sau:
Số nữ nhiều hơn
số nam là 60 người
(hiệu)
55
Số nam bằng
7
8 số nữ
( tỉ số)
Tìm hiệu số phần bằng nhau 8-7=1 (phần)
Tìm số nữ:
60 x 8 = 480 người
Dạng toán
Hiệu-tỉ
Tìm giá trị của một phần:
60 : 1 = 60
Tìm số nam:
480 - 60 = 420 người