Tâm lý học nhân văn là một trong những trường phái tâm lý phổ biến được sử dụng rộng rãi với nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Giống như tên gọi của chính mình, trường phái tâm lý học nhân văn tập trung các yếu tố vào con người. Lấy con người làm trung tâm và chủ đạo để xử lý các vấn đề liên quan Điểm chính của tâm lý học nhân văn là nó tập trung vào tính biệt loại của con người, vào cái phân biệt con người với các loài khác. Nó khác các loại tâm lý học khác bởi vì nó coi con người không chỉ như là một sinh vật được biến đổi bởi văn hóa và kinh nghiệm, nhưng như là một nhân vị, một thực thể biểu tượng có khả năng suy tư về hiện hữu mình, và có khả năng cho hiện hữu mình một ý nghĩa, một hướng đi. (Kinget, 1975, p.v)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN HẾT MÔN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
Giảng viên hướng dẫn:
Họ và tên học viên:
Ngày sinh:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 10 năm 2020
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ……… đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho lớp chúng tôi trong suốt quá trình giảng dạy môn Tâm lý học dạy học Qua thời gian học tập bộ môn, tôi thấy bản thân được học hỏi thêm nhiều điều bổ ích, có thể áp dụng nhiều vào thực tiễn giảng dạy của mình
Xin trân trọng cảm ơn Thầy!
Trang 3NỘI DUNG TIỂU LUẬN
1 Anh/chị hãy phân tích nội dung cơ bản của Trường phái Tâm lý học nhân văn và vận dụng vào việc dạy học ?
Tâm lý học nhân văn là một trong những trường phái tâm lý phổ biến được sử dụng rộng rãi với nhiều ứng dụng trong cuộc sống Giống như tên gọi của chính mình, trường phái tâm lý học nhân văn tập trung các yếu tố vào con người Lấy con người làm trung tâm và chủ đạo để xử lý các vấn đề liên quan
Điểm chính của tâm lý học nhân văn là nó tập trung vào tính biệt loại của con người, vào cái phân biệt con người với các loài khác Nó khác các loại tâm lý học khác bởi vì nó coi con người không chỉ như là một sinh vật được biến đổi bởi văn hóa và kinh nghiệm, nhưng như là một nhân vị, một thực thể biểu tượng có khả năng suy tư về hiện hữu mình, và có khả năng cho hiện hữu mình một ý nghĩa, một hướng
đi (Kinget, 1975, p.v)
Lịch sử hình thành tâm lý học nhân văn
Vào đầu thập niên 1960, một nhóm nhà triết học do Abraham Maslow cầm đầu đã khởi xướng một phong trào được mệnh danh là tâm lý học lực lượng thứ ba Các nhà triết học này cho rằng trường phái hành vi và trường phái phân tâm học, đã
bỏ quên một số thuộc tính quan trọng của con người Cái thiếu sót ở đây là những thông tin có thể giúp ta làm cho những người bình thường trở nên mạnh khỏe hơn, nghĩa là giúp họ đạt hết mức tiềm năng của họ
Điều cần thiết có một mô hình về con người nhấn mạnh tính độc đáo của họ
và các khía cạnh tích cực hơn là tiêu cực của họ, và kiểu mô hình này chính là cái mà tâm lý học lực lượng thứ ba nhằm cung cấp
Mặc dù tâm lý học lực lượng thứ ba phổ biến trong các thập niên 1970 và
1980, nhưng lại bắt đầu mờ nhạt trong thập niên 1980 Tuy nhiên, giống như thuyết hành vi và phân tâm học, tâm lý học lực lượng thứ ba vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn trong tâm lý học hiện đại
Theo Maslow các nhà tâm lý học hoạt động trong mẫu tâm lý học nhân văn
có các niềm tin cơ bản sau:
• Không có nhiều điều gía trị có thể học hỏi được từ việc nghiên cứu loài vật
Trang 4• Thực tại chủ quan là hướng dẫn hàng đầu cho việc nghiên cứu hành vi con người.
• Nghiên cứu các cá nhân mang lại nhiều thông tin hơn nghiên cứu những điểm chung của các tập thể
• Cần có cố gắng đặc biệt để khám phá những điều làm mở mang hay làm giàu cho kinh nghiệm con người
• Nghiên cứu phải tìm các thông tin giúp giải quyết các vấn đề con người
• Mục tiêu của tâm lý học phải là hình thành một mô tả đầy đủ về ý nghĩa của hiện hữu con người là gì Mô tả này phải bao gồm tầm quan trọng của ngôn ngữ, quy trình đánh giá, phạm vi đầy đủ các cảm xúc, và cách thức mà con người tìm kiếm
và đạt đến ý nghĩa cuộc đời của họ
Nội dung cơ bản thứ nhất của trường phải tâm lý học nhân văn đó là Thứ bậc các nhu cầu của con người
Theo Maslow, các nhu cầu con người được sắp đặt theo một thứ bậc Các nhu cầu càng thấp trong thứ bậc, chúng càng cơ bản và càng giống với các nhu cầu của loài vật Các nhu cầu càng cao trong thứ bậc, chúng càng đặc trưng cho con người
Tháp nhu cầu của Maslow
Các nhu cầu được sắp đặt sao cho khi người ta thỏa mãn một nhu cầu thấp hơn, người ta có thể xử lý một nhu cầu cao hơn Thứ bậc các nhu cầu của Maslow có thể tóm tắt trong biểu đồ dưới đây:
Tự thể hiện mình
Trang 5Maslow hiểu sự tự thể hiện mình có nghĩa là đạt đầy đủ tiềm năng con người:
“Các nhạc sĩ phải làm nhạc, các họa sĩ phải vẽ, các thi sĩ phải viết nếu họ muốn cảm thấy hài long với chính mình Con người có thể là gì thì họ phải là như thế Họ phải
là đúng với bản tính họ Nhu cầu này chúng ta có thể gọi là nhu cầu tự thể hiện mình.”
Khái niệm về sự tự thể hiện mình đã bắt nguồn ít là từ thời Aristotle, nhưng Aristotle hiểu sự tự thể hiện mình là khuynh hướng bẩm sinh biểu hiện các tính chất hay yếu tính của một loài Với khái niệm tự thể hiện, cả Jung, Maslow và Rogers có
ý nói tới sự thể hiện tiềm năng của một cá nhân, không phải tiềm năng của loài như lối hiểu của Aristotle Vì không ai có thể đạt tới đầy đủ tiềm năng của mình, nên Maslow cho rằng người tự thể hiện mình là người đã thỏa mãn thích đáng bậc thang các nhu cầu Và ông đã liệt kê các tính chất của những người được xem là đã tự thể hiện mình như sau:
• Họ nhận thức thực tại chính xác và đầy đủ
• Họ rất biết chấp nhận mình và người khác
• Tỏ ra có sự tự nhiên và tự phát
• Có nhu cầu riêng tư
• Có khuynh hướng độc lập với môi trường và văn hóa
• Có sự đánh giá liên tục đổi mới
• Định kỳ có các kinh nghiệm thần bí hay tột đỉnh
• Quan tâm tới mọi người thay vì chỉ quan tâm tới bạn bè hay người thân của họ
• Thường chỉ có ít bạn thân
• Có một tinh thần đạo đức mạnh nhưng không nhất thiết chấp nhận đạo đức truyền thống
• Có óc khôi hài rất phát triển nhưng không mang tính thù nghịch
• Có óc sáng tạo
Tuy Maslow kết luận rằng loại người này là những con người xuất chúng, ông cũng cho thấy không phải họ không có khuyết điểm
Nội dung cơ bản tiếp theo của trường phải tâm lý học nhân văn đó là Lý thuyết của Rogers về nhân cách
Theo yêu cầu của nhiều người, Rogers đã triển khai một lý thuyết về nhân cách để cắt nghĩa các hiện tượng ông đã quan sát trong tiến trình điều trị Các yếu tố
Trang 6cơ bản của lý thuyết của ông được trình bày lần đầu tiên trong bài diễn thuyết ông đọc khi nhận chức chủ tịch APA (1947) và sau này được mở rộng trong cuốn Trị liệu dựa vào khách hàng (1951)
Giống như Maslow, Roger giả thuyết có một động cơ bẩm sinh nơi con người hướng tới sự tự thể hiện mình Và nếu người ta lấy khuynh hướng tự thể hiện này làm tiêu chuẩn sống, có nhiều khả năng họ sẽ thể hiện đời sống một cách sung mãn
và cuối cùng đạt hết tiềm năng của họ
Ta gọi những người như thế là những người sống theo quá trình đánh giá hữu
cơ Sử dụng quy trình này, người ta đạt tới và duy trì được các kinh nghiệm phù hợp với khuynh hướng tự thể hiện nhưng ngăn chặn và tránh được các kinh nghiệm không phù hợp với khuynh hướng ấy
Những người như thế được thúc đẩy bởi các tình cảm chân chính của họ và sống một đời sống trung thực theo kiểu nói của các nhà hiện sinh – nghĩa là một đời sống được thúc đẩy bởi các tình cảm nội tâm chân chính chứ không phải bởi tập tục, niềm tin, truyền thống, giá trị hay các quy ước do người khác áp đặt
Tiếc thay, theo Rogers, nhiều người không sống theo các tình cảm sâu xa nhất của nội tâm họ Một vấn đề phát sinh là vì tuổi thơ chúng ta có nhu cầu được nhìn nhận tích cực Sự nhìn nhận tích cực bao gồm việc đón nhận các thứ như tình yêu, sự
âu yếm, thiện cảm, và sự chấp nhận của những người có liên quan đến đời sống của một đứa trẻ Nếu người ta dành cho đứa trẻ sự nhìn nhận một cách vô điều kiện, thì không có vấn đề gì xảy ra Nhưng thường người ta không làm một cách vô điều kiện
Thường các cha mẹ hay những người có liên quan chỉ dành sự kính trọng cho đứa trẻ nếu nó hành động hay suy nghĩ theo một lối nhất định nào đó Điều này đặt
ra các điều kiện về giá trị
Trẻ em sẽ sớm nhận ra rằng để được yêu thương, chúng phải hành động và suy nghĩ phù hợp với các giá trị của những người có liên quan đến cuộc sống của chúng Dần dần, khi đứa trẻ ngày càng nội tâm hóa các giá trị, các giá trị ấy sẽ trở thành tiêu chuẩn cho đời sống của chúng Nghĩa là chúng sẽ sống theo các điều kiện
về giá trị do người khác áp đặt
Trang 7Theo Rogers, chỉ có một cách để tránh áp đặt các điều kiện về giá trị trên người khác, đó là dành cho họ sự nhìn nhận tích cực và vô điều kiện về giá trị Với
sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện, người ta được yêu mến và kính trọng vì bản chất thực sự của nhân cách họ Và chỉ những ai kinh nghiệm được sự nhìn nhận tích cực
vô điều kiện thì mới có thể trở thành một con người thể hiện sung mãn đời mình
Các phê bình
Người ta không ngạc nhiên khi tâm lý học nhân văn bị phê bình Các phê bình
có thể được tập trung vào điểm sau:
Tâm lý học nhân văn đồng hóa tâm lý học hành vi với công trình của Watson
và Skinner Cả hai tác giả này nhấn mạnh các sự kiện môi trường như là nguyên nhân của hành vi con người, đồng thời phủ nhận hay giảm thiểu tầm quan trọng của các sự kiện tinh thần Tuy nhiên, cũng có các nhà hành vi khác nhấn mạnh các sự kiện tinh thần và mục đích trong các phân tích của họ về hành vi – ví dụ Tolman
Tâm lý học nhân văn không xét đến bản chất tích lũy của khoa học bằng cách nhấn mạnh rằng tâm lý học khoa học không quan tâm đến các thuộc tính siêu vật của con người
Mô tả về con người như các nhà nhân văn đề nghị thì giống với các mô tả được ưa thích trong quá khứ trong lĩnh vực văn học, thi ca hay tôn giáo Nó diễn tả một kiểu tư duy ao ước mà không được sự hỗ trợ của các sự kiện mà khoa tâm lý học khách quan đã tích lũy được
Tâm lý học nhân văn phê bình thuyết hành vi, tâm phân học và tâm lý học khoa học nói chung, nhưng cả ba loại này đều đã có những cống hiến quan trọng cho
sự cải thiện số phận con người, là mục tiêu chính mà tâm lý học nhân văn theo đuổi
Nhiều thuật ngữ và khái niệm mà các nhà tâm lý học nhân văn sử dụng thì quá mơ hồ không thể có một định nghĩa rõ ràng và có thể kiểm chứng Thậm chí người ta còn có sự lẫn lộn về chính định nghĩa của tâm lý học nhân văn
Cống hiến
Trang 8Đóng góp chính của tâm lý học nhân văn cho khoa tâm lý học là việc nó mở rộng lĩnh vực của tâm lý học Trong tâm lý học ngày nay, có một khuynh hướng ngày càng tang muốn nghiên cứu toàn thể con người
Chúng ta không chỉ muốn tìm hiểu con người học tập, suy nghĩ và phát triển thế nào về phương diện sinh vật và tri thức Nhưng chúng ta còn muốn biết con người hình thành thế nào các kế hoạch để đạt các mục tiêu tương lai và tại sao người
ta cười, khóc và tạo ý nghĩa trong cuộc đời họ
Theo đánh giá của nhiều người, tâm lý học nhân văn đã thổi một sức sống mới vào tâm lý học Tâm lý học nhân văn đã nhìn thấy bản chất tốt đẹp trong con người, đề cao hoài bão và nỗ lực vươn lên của con người Vì cho rằng bản chất con người vốn là tốt đẹp, có lòng vị tha, có tiềm năng sáng tạo Nên tâm lý học nhân văn hướng đến mục tiêu giúp con người tìm được bản ngã đích thực của mình Con người cần đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở lẫn nhau
Trường phái Tâm lý học nhân văn vận dụng vào việc dạy học.
Theo tháp nhu cầu Maslow, học sinh cần được tạo điều kiện để theo đuổi những vấn đề được quan tâm Tại các trường học vùng cao, trẻ thiếu ăn, thiếu mặc
Để vận động trẻ tới trường, thầy cô cần cung cấp cho học sinh những bữa ăn, vận động ủng hộ quần áo ấm, sách vở, những vật dụng thiết yếu giúp cho thang bậc nhu cầu đầu tiên của học sinh được đảm bảo Hay tại các trường học đồng bằng, để đảm bảo cho học sinh không phải đi lại quá nhiều, lo cơm ăn, chỗ nghỉ ngơi, tập trung chính vào hoạt động học tập, các trường học có tổ chức ăn trưa và trông bán trú, …
Các nhà trường xây dựng mô hình trường học hạnh phúc, lớp học xanh – sạch – đẹp, … để học sinh có cảm giác an toàn, yên tâm đi học, coi trường học như ngôi nhà thứ hai; tổ chức khám sức khỏe định kì cho học sinh, …, tổ chức tốt các câu lạc
bộ âm nhạc, thể thao, toán học ứng dụng, … để học sinh có thêm một nơi để giao lưu tinh thần, học hỏi lẫn nhau, tổ chức tốt các cuộc thi sáng tạo nhằm phát hiện các tài năng của trẻ
Trong các tiết học, dạy theo quan điểm của thuyết nhân văn là lấy học sinh làm trung tâm Giáo viên là người tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy khả năng tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh, tổ chức các hoạt động nhóm, dạy học
Trang 9hợp tác, phát triển năng lực, …và học sinh là người thực hiện chuỗi các hoạt động nhằm phát hiện tri thức và giải quyết vấn đề
Giáo viên cần tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm để học sinh tăng tình đoàn kết, ý thức trách nhiệm khi làm việc nhóm, …
Giáo viên cần động viên, khen ngợi học sinh để học sinh cảm nhận được yêu thương, sự tin tưởng, tôn trọng và ghi nhận Từ đó, học sinh sẽ hăng hái, tích cực hơn khi được học cái mà mình thích
Giáo viên không được khiển trách học sinh trước tập thể lớp, trường, cần kiềm chế cảm xúc khi đang bực bội, ức chế, không làm cảm xúc ảnh hưởng đến quá trình dạy học
Giáo viên cần kết hợp với phụ huynh tìm hiểu về tâm sinh lý của học sinh, những điểm mạnh, điểm hạn chế của học sinh để từ đó phối kết hợp gia đình và nhà trường để có biện pháp giáo dục tốt nhất
Dựa vào tháp nhu cầu Maslow chúng ta có thể thấy lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi những nhu cầu mà họ cần được thỏa mãn Bởi vậy, giáo viên cần kết hợp với gia đình hướng nghiệp cho học sinh càng sớm càng tốt để có thể giúp học sinh định hướng cho tương lai, tìm ra công việc mà có thể thỏa mãn cả 5 thang bậc Maslow
Trang 102 Anh/chị hãy phân tích mối quan hệ giữa dạy học và phát triển năng lực học sinh? Cần tập trung phát triển năng lực nào cho học sinh hiện nay? Tại sao?
*) Dạy học là gì?
Các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có
mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”,
một số khác dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công
nghệ cho rằng “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có
định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động
với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”.
*) Hoạt động dạy học
Dạy học tiếp cận theo quan điểm hoạt động bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh
Hoạt động dạy: Hoạt động dạy với vai trò chủ đạo của giáo viên là sự tổ
chức, điều khiển tối ưu quá trình truyền đạt nội dung hệ thống tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo một cách khoa học cho học sinh tiếp thu (lĩnh hội) Hoạt động dạy do giáo viên làm chủ thể và tác động vào đối tượng là học sinh và hoạt động nhận thức của học sinh
Hoạt động học: Hoạt động học với vai trò chủ động của học sinh là sự tự
điều khiển tối ưu quá trình tiếp thu (lĩnh hội) một cách tự giác, tích cực, tự lực nội dung hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà giáo viên truyền đạt nhằm phát triển và hình thành nhân cách học sinh Hoạt động học do học sinh làm chủ thể
và tác động vào đối tượng là nội dung kiến thức mới chứa đựng trong tài liệu học tập
*) Năng lực là gì?
Trang 11Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh
„competentia“ Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau.
Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý,
giáo dục học Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm
Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm
nghề, năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
*) Nội dung và Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực: