Ngày nay, vấn đề giáo dục Tiểu học đang được nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu. Thực tế các nước phát triển cho thấy: Giáo dục tiểu học là một bộ phận không thể thiếu được, làm nền tảng cho sự phát triển của đất nước. Bất kỳ một quốc gia nào muốn thành một nước phát triển nhất thiết phải đạt được trình độ phổ cập giáo dục Tiểu học. Sở dĩ như vậy là ở bậc tiểu học, lần đầu tiên trẻ
Trang 1MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ : 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử của đề tài : 2
3 Mục đích nghiên cứu đề tài: 2
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu: 3
5 Giới hạn ( phạm vi ) nghiên cứu: 3
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu: 3
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ : 3
1 Cơ sở lý luận của vấn đề: 3
2 Thực trạng viết chính tả của học sinh tiểu học: 8
3 Thực trạng của vấn đề: 12
4 Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề : 12
5 Hiệu quả của đề tài : 14
III KẾT LUẬN : 15
1 Đúc kết lại những nội dung chính đã trình bày : 15
2 Đề ra biện pháp triển khai, áp dụng đề tài vào thực tiễn : 16
3 Nêu kiến nghị, đề xuất : 17
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ :
1 Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, vấn đề giáo dục Tiểu học đang được nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu Thực tế các nước phát triển cho thấy: Giáo dục tiểu học là một bộ phận không thể thiếu được, làm nền tảng cho sự phát triển của đất nước Bất kỳ một quốc gia nào muốn thành một nước phát triển nhất thiết phải đạt được trình
độ phổ cập giáo dục Tiểu học Sở dĩ như vậy là ở bậc tiểu học, lần đầu tiên trẻ tiến hành hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo Nhờ hoạt động chủ đạo này mà học sinh Tiểu học hình thành được cách học với hệ thống kỹ năng học tập cơ bản tạo năng lực học tập của các em Vì vậy yêu cầu hàng đầu ở bậc tiểu học hiện nay là hình thành cho học sinh kĩ năng học tập cơ bản , đặc biệt là kĩ năng viết đúng chính tả Do đó việc dạy đúng chính tả phải được coi trọng ngay đối với học sinh các lớp của trường Tiểu học Việc dạy chính tả được hiểu như việc rèn luyện những chuẩn mực của ngôn ngữ viết Ở các lớp Tiểu học, chính tả sẽ tạo điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ của các em
Qua học chính tả các em nắm bắt được các qui tắc chính tả và hình thành
kĩ năng kĩ xảo chính tả , từ đó có năng lực và thói quen viết đúng chính tả Tiếng Việt Kĩ năng viết đúng chính tả sẽ tạo điều kiện cho sự hình thành nhân cách học sinh
Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm nhiều phân môn Phân môn chính tả trong trường Tiểu học có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các qui tắc chính tả và thói quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt cùng với các phân môn khác , chính tả giúp học sinh chiếm lĩnh Tiếng Việt văn hóa – công cụ để giao tiếp , tư duy để học tập , trau dồi kiến thức và nhân cách làm người Ngay từ đầu bậc Tiểu học trẻ cần phải học môn chính tả một cách khoa học , cẩn thận để có thể sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời
kỳ học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cả cuộc đời Chính vì vậy nên phân môn chính tả chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học Chính tả cùng với Tập Viết , Tập Đọc , Tập Làm Văn giúp cho người học chiếm lĩnh được Tiếng Việt Văn hóa – Công cụ giao tiếp và tư duy
Do đó viết đúng chính tả giúp cho học sinh có điều kiện để sử dụng Tiếng Việt
có hiệu quả cao trong việc học tập các môn khác nhân cơ bản và quan trọng nhất
là học sinh ở đây có thói quen phát âm sai , lẫn lộn giữ- Qua quá trình giảng dạy ,từ thực trạng chính tả trường học ở địa phương Tôi thấy các em còn mắc nhiều lỗi chính tả Vấn đề này do nhiều nguyên nhân , nhưng một trong những nguyên a các âm c - k , s - x , ng - ngh , dấu hỏi – dấu ngã , n - ng , c - t dẫn
Trang 3việc tiến, áp dụng một phương pháp hợp lý với học sinh vùng phương ngữ Trước tình hình búc xúc như vậy , việc nhìn nhận lại việc dạy chính tả để từ đó tìm ra một số biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng học chính tả cho học sinh tiểu học là hết sức cần thiết, đặc biệt là việc cải tiến cách dạy chính tả sao cho khoa học , cho hiệu quả , coi trọng phương pháp dạy học chính tả có ý thức để việc viết đúng chính tả trở thành kĩ năng , kĩ xảo cho học sinh ngay từ các lớp đầu cấp Từ Lý do trên , bản thân là giáo viên nhiều năm giảng dạy nên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài : Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng viết chính tả cho học sinh lớp 2
2 Lịch sử của đề tài :
Chúng ta đều biết rằng: “ Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động giao tiếp” Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp được thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không chỉ lúc nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết đóng vai trò quan trọng của Tiếng Việt nói riêng và trong tiếng nói của các quốc gia nói chung Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ.Mục đích của nó là phương tiện thuận tiện cho việc giao tiếp bằng chữ viết đảm bảo cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều
đã viết Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản trở giữa các địa phương trong cả nước
Ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi cộng đồng dân tộc cũng như với mỗi người Trong xã hội, một ngôn ngữ văn hoá không thểkhông có chính tả thống nhất Bởi vì chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới thuận lợi giữa các địa phương trong một nước Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt ở trường tiểu học Phân môn này giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hoá, tiếng Việt chuẩn mực Viết tốt chính tả, học sinh sẽ có được công cụ để học tập tốt các môn học khác cũng như góp phần hình thành thái độ và thói quen giữ gìn sự trong sáng,giàu đẹp vàthống nhất của Tiếng Việt
3 Mục đích nghiên cứu đề tài:
- Hệ thống sắp xếp lại những kinh nghiệm của bản thân đã tích luỹ được
về phương pháp dạy học chính tả ở bậc tiểu học, làm tài liệu để nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy chính tả trong nhà trường
Trang 4Qua học chính tả các em nắm bắt được các qui tắc chính tả và hình thành
kĩ năng , kĩ xảo chính tả , tạo thói quen viết đúng chính tả Tiếng Việt cũng là điều kiện cho sự hình thành nhân cách của học sinh phát triển toàn diện sau này
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Nhiệm vụ :
Đánh giá thực trạng dạy và học phân môn chính tả khối 2 Đồng thời chỉ
ra những nguyên nhân mắc lỗi và những biện pháp khắc phục Đề ra một số phương pháp nhằm hạn chế lỗi chính tả của học sinh lớp 2A trường Tiểu học Vạn Phước 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
a) Phương pháp điều tra:
Dự giờ dạy môn chính tả của giáo viên trong khối, trong trường
Điều tra các lỗi chính tả của học sinh thường mắc phải trong lớp thông qua các bài kiểm tra môn chính tả và các môn học khác
b) Phương pháp quan sát :
Quan sát bài làm của học sinh trong lúc viết bài chính tả trước khi áp dụng các biện pháp và quan sát bài làm của học sinh trong lúc viết bước đầu vận dụng các biện pháp
c) Phương pháp thống kê:
Ghi chép và thống kê, tổng kết các lỗi chính tả mà học sinh mắc phải trong các bài làm của học sinh theo số lần với tổng số học sinh cả lớp
d) Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động :
Nghiên cứu bài làm của học sinh trước khi áp dung các biện pháp (các lỗi thường mắc phải ) So sánh với bài làm của học sinh bước đầu vận dụng các biện pháp (Các lỗi chính tả thường mắc phải)
5 Giới hạn ( phạm vi ) nghiên cứu:
Học sinh lớp 2 A Trường tiểu học vạn Phước 2
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Để ra những biện pháp dạy học phân môn chính tả nhằm nâng cao chất lượng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
Trang 5Để nắm chắc cách viết chính tả đầu tiên ta cần phải hiểu khái niệm về chính tả
1.1 Chính tả là gì ?
- Chính tả là hệ thống các qui tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Nói cách khác chính tả là một chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân Nó là phương tiện thuận lợi cho việc lưu truyền thông tin đảm bảo cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều đã viết Chính tả trước hết là sự qui định có tính thống nhất xã hội bắt buộc gần như tuyệt đối , nó không cho phép con người vận dụng qui tắc linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân
- Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất Có thống nhất về chính tả thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị trở ngại giữa các địa phương trong cả nước , cũng như giữa thế hệ đời trước và đời sau
- Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa phát triển của một dân tộc
1.2 Chuẩn chính tả là gì?
Chuẩn chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ Chuẩn chính tả phải được quy định rõ ràng , chi tiết tới từng từ của Tiếng Việt
và phải được mọi người tuân theo Vấn đề đặt ra là chính tả phải được xây dựng sao cho hợp lý , có độ tin cậy và sức thuyết phục cao Chuẩn chính tả có một số đặc điểm như sau
Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối chẳng hạn ta không thể viết là :ngề nghiệp , iêu gét mà phải viết là : Nghề nghiệp, yêu ghét …
Chuẩn chính tả có tính chất ổn định cao , rất ít thay đổi , thường được giữ nguyên trong thời gian dài nên thường tạo thành thói quen , tạo nên tâm lý bảo thủ trong lối viết của người bản ngữ Mặc dù vậy , chuẩn chính tả không phải là bất biến , nhưng khi chuẩn chính tả đã lỗi thời , sẽ dần dần được thay thế bằng những chuẩn chính tả mới
Ví dụ : Chuẩn chính tả cũ là : đày tớ , trằm trổ …
Chuẩn chính tả mới là : đầy tớ , trầm trổ …
Cũng như chuẩn ngôn ngữ khác, chuẩn chính tả là kết quả của sự lựa chọn
giữa nhiều hình thức chính tả đang cùng tồn tại
1.3 Một số vấn đề về tâm lý học và ngôn ngữ học liên quan đến việc dạy chính tả
1.3.1 Về tâm lý :
Trang 6Học sinh tiểu học thường hiếu động,chóng quên do đó giáo viên cần hình thành cho các em kĩ xảo chính tả Nghĩa là : Giúp cho học sinh viết đúng chính
tả một cách tự động hóa , không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả , không cần tham gia của ý chí Để đạt được điều này có thể tiền hành theo hai
phương pháp : Có ý thức và không có ý thức
1.3.2 Phương pháp có ý thức :
Được hiểu là hình thành các kĩ xảo chính tả cho học sinh dựa trên cơ sở vận dụng ý thức một số mẹo luật , một số qui tắc nhất định cho học sinh Giải quyết các hiện tượng chính tả có hệ thống , có tính tự động Phương pháp này giữ vị trí quan trọng trong việc giúp học sinh nắm chắc các quy tắc chính tả ,
“các Mẹo” chính tả là cơ sở để hình thành kỹ năng , kỹ xảo Vì vậy vấn đề đặt
ra cho các trường Tiểu học là giáo viên cần sử dụng khai thác tối đa phương pháp có ý thức Muốn vậy giáo viên cần được trang bị kiến thức về ngữ âm học , về từ vựng ngữ nghĩa học có liên quan đến chính tả Cụ thể là giáo viên phải biết vận dụng về ngữ âm học Tiếng Việt vào việc phân loại lỗi chính tả , các mẹo chính tả giúp học sinh ghi nhớ một cách hệ thống
Chẳng hạn : Khi đứng trước các nguyên âm : i , e ,ê thì
Âm “ Cờ” viết là k
Âm “gờ” viết là gh
Âm “ ngờ” viết là ngh
Khi đứng trước các nguyên âm còn lại âm“cờ” viết là c , âm “gờ” viết là g , âm “ngờ” viết là ng
Ngoài ra lập các quy tắc theo “mẹo” chính tả :
Ví dụ : Những từ ghi ngờ viết ch/tr nếu chúng chỉ những đồ dùng trong gia đình thì hầu hết được viết là “ch” như : chai chén , chăn , chậu , chảo
Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm thời gian , công sức và mang lại kết quả nhanh chóng , chắc chắn , gây được hứng thú cho học sinh Đó là con đường ngắn nhất và mang lại hiệu quả cao
1.3.3 Phương pháp không có ý thức:
Đó là phương pháp hình thành kĩ năng ,kĩ xảo dựa trên sự lặp lại của các hoạt động không cần hiểu lý do , quy luật của các hành động Phương pháp này nhằm củng cố máy móc ở mức độ nhất định Phương pháp này cũng cần phải được khai thác sử dụng hợp lý ở các lớp đầu cấp tiểu học gắn liền với bài tập viết , tập chép
Trang 7Phương pháp này có ưu điểm giúp học sinh nhanh chóng làm quen với các con chữ “ từ dạng” hình thức chữ viết của các từ Phương pháp này là tiền
đề những xuất phát điểm cần thiết đối với học sinh mới làm quen chữ Tiếng Việt
ở các lớp đầu cấp Mặt khác phương pháp này phát huy tác dụng khi giáo viên hướng dẫn học sinh ghi nhớ các hiện tượng chính tả có tính chất võ đoán không gắn với một quy tắc nào như khi viết phân biệt d/gi/,r ; ch/tr, s/x…
Tóm lại để dạy chính tả một cách có hiệu quả cho học sinh người giáo viên không chỉ sử dụng một phương pháp mà cần sử dụng hai phương pháp này một cách hợp lý Tuy nhiên đối với học sinh vùng phương ngữ , sự nhầm lẫn cách phát âm và lỗi chính tả đã trở thành thói quen vì vậy giáo viên cần coi trọng phương pháp có ý thức để vận dụng khi viết chính tả
Ngoài hai phương pháp cơ bản nói trên , trong Tiếng Việt còn có phương pháp tích cực với phương pháp tiêu cực “ Xây dựng cái đúng ,bỏ cái sai” Muốn dạy chính tả một cách có hiệu quả người giáo viên phải phối hợp các phương pháp trên một cách hợp lý
1.3.4 Về ngôn ngữ :
Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm , nghĩa lã mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ Nói cách khác giữa cách đọc và cách viết đúng bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết , giữa tập đọc và viết chính tả có quan hệ mật thiết với nhau ( Chính tả nghe viết ) nhưng lại có quy trình hoạt động trái ngược nhau : Tập đọc là sự chuyển hóa từ văn bản âm thanh thành văn bản viết : “Đọc có cơ sở chuẩn mực là chính âm còn viết có cơ sở chuẩn mực là chính tự” Tuy chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học , giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau là về nguyên tắc chung nhưng trong thực tế sự biểu hiện của mối quan hệ giữa đọc (phát âm) và viết ( Viết chính tả) khá phong phú và đa dạng Bởi vậy chính tả Tiếng Việt không hoàn toàn dựa vào cách phát âm thực tế của mọi phương ngữ nhất định nào vì nó đều có những sai lệch
so với chính âm Do đó “Không thể nghe như thế nào thì viết như thế ấy”
Mặc dù chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả thì việc nắm nghĩa của từ là rất cần thiết Đây là cơ sở giúp người học viết đúng chính tả
1.4 Một số nguyên tắc chính tả Tiếng Việt :
Cơ sở tâm lý học và ngôn ngữ học nêu trên , để hạn chế được lỗi chính tả cho học sinh , người giáo viên cần nắm chắc , hiểu , vận dụng và giảng dạy cho học sinh một số nguyên tắc chính tả Tiếng Việt sau đây :
Trang 81.4.1 Chính tả ngữ âm học
Theo nguyên tắc này , cách viết của từ phải biểu hiện đúng âm hưởng của
từ :Phát âm thế nào thì viết thế ấy Giữa cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau , được nghe đúng đúng thì học sinh viết sẽ đúng , bởi Tiếng Việt là chữ ghi âm vị nên nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản , nó thể hiện ở chỗ “Cách viết của mỗi từ thể hiện đúng âm đọc của từ Quan hệ giữa âm và chữ là quan
hệ 1-1” Nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên phát âm chuẩn thì học sinh mới viết đúng Nếu với nguyên tắc này ở một địa phương phát âm lệch chuẩn , học sinh không thể dựa vào cách phát âm thực tế của phương ngữ nhất định nào đó vì cách phát âm đó sai lệch so với chính âm giáo viên phải sửa chữa , vạch rõ những cách phát âm sai theo phương ngữ để các em hiểu rõ và tự sửa Chẳng hạn Một số địa phương phát âm sai các âm :
+ Bắc bộ : Phụ âm đầu : Ch/tr ; s/x ; d/ gi/r ; c/k/q ; l/n
+ Trung bộ : Sai âm điệu :? /~ (nghỉ học – nghĩ học ; cái rổ - cái rỗ )… Sai vần :iê/ yê ; ươ/ iêu …( Con hươu – con hiêu , bình rượu – bình riệu…)
+ Nam bộ : Sai âm v/d (vô nam – dô nam…) hay đồng hóa hai âm cuối
là /n/ và /ng/(luôn luôn – luông luông ) ; /l/ và /c/ ( tuốt tuột – tuốc tuộc) ; /i/ và / y/ (bay nhảy - bai nhải )…
1.4.2 Nguyên tắc chính tả ngữ nghĩa
Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả thì việc nắm nghĩa của mỗi từ thì rất quan trọng Hiểu nghĩa của
từ là một trong những cơ sở giúp người đọc viết đúng chính tả
Ví dụ :
Nếu giáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là :/ za/ thì học sinh có thể lúng túng , khó xác định chữ viết nhưng nếu đọc trọn vẹn là “Gia đình” “da thịt” hay “ra vào” …thì học sinh sẽ hiểu nghĩa của các từ đó và viết đúng
1.4.3 Nguyên tắc chính tả có ý thức
Là loại chính tả nhằm phát hiện ra các quy tắc chính tả trên cơ sở đó mà viết đúng chính tả Học sinh cần nắm chắc một số quy tắc làm căn cứ để viết đúng các từ , các chữ nằm trong phạm vi quy tắc mà không cần gắn sức ghi nhớ cách viết của từng từ một Dạy chính tả theo con đường này có những thuận lợi sau :
Khi nắm được quy tắc chính tả các em sẽ nắm được cách viết đúng mà không cần ghi nhớ máy móc
Trang 9Rút ngắn được thời gian rèn luyện nhanh chóng hình thành phát hiện các
kỹ năng kỹ xảo chính tả
Qua so sánh phân tích , đối chiếu , khái quát hóa , trừu tượng hóa …Từ đó rút ra quy tắc chính tả , học sinh được rèn luyện khả năng tư duy
Ví dụ :
Chữ viết thể hiện âm vị :/k/ khi nó đứng trước các nguyên âm hàng trước (I, e, ê ) Thì được viết là “k” , khi nó đứng trước các nguyên âm hàng sau (o, a,
ă, ô, ơ,…) thì được viết là “c” , khi nó đứng trước âm đệm /u/ thì được viết là
“q”
Từ cơ sở lý luận trên , để hạn chế lỗi chính tả do học sinh , giáo viên cần nắm chắc các nguyên tắc chính tả và phải có trình độ lý luận khoa học để đáp ứng tốt vào thực tiễn
2 Thực trạng viết chính tả của học sinh tiểu học:
2.1 Những trở ngại lớn của hiện tượng chính tả không có ý thức
Bên cạnh điều kiện thuận lợi của chính tả ngữ nghĩa , chính tả có ý thức
và chính tả ngữ âm , chính tả Tiếng Việt còn có hiện tượng không có ý thức
Đó là hiện tượng chính tả phức tạp , người học phải thuộc các trường hợp chính
tả bất quy tắc bằng cách ghi nhớ máy móc Đó là cách viết theo thói quen mà lịch sử tạo nên hiện tượng chính tả có tính chất võ đoán , không giống với quy luật nguyên tắc nào
Ví dụ : phân biệt v/d/gi, s/x , tr/ ch; ; ?/~
Ngoài ra học sinh còn sai chính tả do viết hoa tùy tiện hoặc một âm vị được viết tùy tiện theo hai cách khác nhau
Ví dụ : giải /dải / rải ; giò / dò ; giàn / dàn ; giây / dây ; giặm / dặm
Đó là hai trường hợp không được viết thống nhất ở nhiều người Thậm chí ngay trong một người ở những lúc khác nhau hay trong những văn bản khác nhau cũng viết khác nhau
Mặt khác chính tả Tiếng Việt còn tồn tại cách viết không thống nhất đối với các âm tiết khó xác định một chuẩn mực, một phát âm cụ thể, cách phát âm chưa ổn định Và có tiếng có đến vài ba biến thể phát âm địa phương khác nhau:
Ví dụ: cay sè/ cay xè, công sá/công xá, bãy/ bẫy, giàu/ giầu, lĩnh/ lãnh, thực/ thiệt, nhất/ nhứt
Trang 10Ngoài ra còn hiện tượng song tồn (hai hình thức viết chữ của một từ song song tồn tại).Ví dụ: oe sèo/ eo xèo; dà dặn/ già giặn; suýt soa/ suýt xoa; chòng chành/ tròng trành; sây sát/ xây xát; sum suê/ xum xuê; dập dờn/ rập rờn
Điều bất cập là cả hai hình thức chính tả trong từng cặp từ nói trên đều có tần số xuất hiện như nhau trong các văn bản Do đó rất khó lựa chọn hình thức nào là chuẩn
Từ thực tế cho thấy,chính tả là Tiếng Việt rất đa dạng và phức tạp.Để dạy chính tả cho học sinh tốt hơn,hạn chế lỗi chính tả cho các em,đòi hỏi người giáo viên phải hiểu rộng và sâu sắc về trình trạng Tiếng Việt để hướng dẫn cho các
em viết đúng chính tả
2.2 Kết quả khảo sát:
Từ thực tế giảng dạy các năm qua, dựa trên những nguyên tắc chính tả, với phạm vi đề tài không cho phép nên tôi chỉ tiến hành khảo sát lỗi chính tả về phụ âm đầu , âm cuối , cấu trúc âm tiết của học sinh lớp 2 trường tiểu học Vạn Phước 2
Kết quả khảo sát được thống kê cụ thể như sau
Lớp Tổng số Lần
Các lỗi chính tả thường mắc c-k s - x an/ang ng-ngh Cấu trúc
âm tiết
Nhận xét: Qua bảng thống kê kết quả khảo sát trên tôi thấy ở lớp Từ thực
tế trên cho thấy, chính tả Tiếng Việt rất đa dạng và phức tạp Để dạy chính tả cho học sinh tốt hơn, hạn chế lỗi chính tả cho các em, đòi hỏi người giáo viên phải hiểu biết rộng và sâu sắc về tình trạng chính tả Tiếng Việt để hướng dẫn cho các em viết đúng chính tả
2A, trường tiểu học Vạn Phước 2 Tỉ lệ mắc lỗi chính tả phụ âm đầu c/k , s/x , âm cuối an/ ang , c/t Đây là nguyên nhân chính dẫn đến học sinh phát âm sai giữa s/x , an/ ang , c/t , Nó có tác động rất lớn đến hiện tượng nói chưa chuẩn của người dân Bên cạnh đó hiện tượng mắc lỗi chính tả về phụ âm đầu d/ r/gi Đó là lỗi chính tả phương ngữ ảnh hưởng của phương ngữ Trung Bộ Cuối cùng là tỉ lệ mắc lỗi về phụ âm,vần,chiếm tỉ lệ nhỏ Điều đó cho thấy rằng giáo viên ở đây đã chú ý rèn chính tả cho học sinh
2.3 Nguyên nhân: