1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Ăn Uống Và Trị Bệnh Tiểu Đường

311 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 311
Dung lượng 15,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Avạndia được chọn đầu tiên trong điều trị bệnh đái tháo đường hoặc dùng kết hợp.. Những thảo dược như hành tây, mướp[r]

Trang 1

N G U Y Ễ N V Ẩ N N H Ư Ơ N G

Ăn uống

và trị bệnh

Trang 3

NGUYỄN VĂN NHƯƠNG

ĂN UỐNG

Trang 4

P H Ầ N I MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT

VỀ BÊNH ĐÁI THÁO ĐỦỞNG

Trang 5

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG l À Gì?

Đái tháo đường (tiểu đường) là xuất hiện đường trong nước tiểu (bìnn thường không có), làm cho nước tiểu có vị ngọt Đây là bệnh lý nội khoa mãn tính, có mức đường tăng bất thường trong máu Đường trong máu tăng làm xuất hiện đường trong nước tiểu

Bình thưòmg, đưòTig trong máu được kiểm soát bằng msulin, là một nội tiết tố của tuyến tụy Insulin có tác dụng làm giảm đường trong máu Khi đường máu tăng (chảng hạn sau khi ăn), insulin sẽ đưa mức đường huyết trở về bình thường, ở người bị tiểu đưèíng, do sự sản xuất insulin khống

đủ, là nguyên nhân làm tăng đường huyết

F>áị tháo đường là một bệnh lý mãn tứih ảnh hưởng đến cuộr- scng người bệnh, v ề lâu dài, bệnh đái đường có thể gây lổn 'li.umg mạch máu, thần kinh, suy thận, bệnh đái tháo đưcmg cũng là một yếu tố quan trọng làm tăng tình trạng xơ

Trang 6

vưa động mạch, đột quị, bệnh mạch vành tim và gây ra các bệnh lý mạch máu kliác trong cơ thể.

Bênh đái tháo đường chiếm tỷ lệ khá cao và tỷ lệ thuận với tinh trạng dinh dưỡng Có rất nhiều người bị bệnh đái tháo đường mà không hề hay biết Chi phí trực tiếp và gián tiếp

cho điêu trị bệnh đái tháo đường cũng khá cao, vì bệnh đái tháo đường phải điều trị suốt đời Tử vong do bệnh đái tháo đường 'đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và ung thư

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tâng đường máu, do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin Tuy nhiên, ở đây có hai vấn

đề cần phải lưu ý - Thứ nhất, ĐTĐ có thể là một bệnh, nhưng cũng có thể là một triệu chứng của một bệnh nội tiết khác Trong trường hợp là triệu chứng của một bệnh (chẳng hạn một trong những triệu chứng của bệnh nhiễm độc giáp hay hội chứng Cushing v.v là tăng cường máu) thì khi chữa khỏi bệnh đó, triệu chứng ĐTĐ cũng sẽ khỏi hẳn

Thứ hai, ĐTĐ có nguyên nhân là thiếu insulin, nhưng cũng có thể do nguyên nhân khác như khả năng hoạt động của insulin bị suy giảm, hay tình trạng bệnh lý tại thụ thể (nơi tiếp nhận glụcose insulin hoạt hóa), hoặc bệnh lý bên trong tế bào, hoặc do sự kháng lại insulin ở mô đích v.v Trong những trường hợp này, lượng insulin lại không thiếu, vì thế

Trang 7

cách điều trị sẽ không giống nhau Hay nói cách khác, người ta phân biệt có hai loại đái tháo đường: ĐTĐ type 1 và ĐTĐ type2.

Trong ĐTĐ type 1 hay còn gọi là ĐTĐ phụ thuộc insulin, do hậu quả của quá trìn tự miễn dịch mạn tính, các tế bào bêta (tế bào tiết ra insulin) của đảo lụy Langerhans bị hủy hoại, dẫndeens tình trạng thiếu hoặc không còn insulin trong máu Do vậy khi đ id i trị ĐTĐ type 1 buộc phải dùng insulin hay có nghĩa là cần phải đưa vào cơ thể một lượng insulin ngoại lai để duy trì chuyển hóa bình thưòmg của cơ thể Ngược lại, bệnh nhân ĐTĐ type 1 thường không phụ thuộc vào việc tiêm insulin Tuy nhiên, sau một thời gian nhiều người trong

số họ có biểu hiện giảm sản xuất insulin và đòi hỏi có insulin

bổ sung, đặc biệt khi bị căng thẳng (sưess) hoặc ốm đau Các nghiên cứu cho thấy ờ bệnh nhân ĐTĐ type 2, mỗi năm tuyến

tụy mất đi 4% các tế bào sản xuất insulin.

Khi nào được coi là bị bệnh đái đáo đường?

Trước hết là phải nhấn mạnh rằng để khẳng định có bị ĐTĐ hay không, không nhất thiết cần tiêu chuẩn có đường trong nước tiểu Trong thực tế, khi người bệnh có đường trong nước tiêu thì thường lúc đó bệnh đã ở giai đoạn muộn, nhiều khi đã có biến chứng, nhất là đối với những người mắc bệnh ĐTĐ type 2 Để chẩn đoán bệnh ĐTO, bắt buộc phải làm xét nghiệm đường máu Trong trưcmg hợp chẩn đoán sớm, các

Trang 8

thầy thuốc phải cho người bệnh làm nghiệm pháp tăng dưcmg máu Tổ chức Y tế Thế giới quy định 3 tiêu chí để chẩn đoán bệnh ĐTĐ như sau:

- Đưòng huyết tương lúc đói (tối thiểu là 8 giờ sau khi ăn)

Như vậy để biết mình có bị ĐTĐ hay không nhất thiết bạn phải đến các cơ sở y tế các thầy thuốc (nhất là các bác sĩ chuyên khoa) thăm khám, đặc biệt phải làm xét nghiệm đường máu mới có thể kết ĩuận chính xác được

Ngày nay, các chuyên hoa nội tiết đang dùng mọi cách đổ làm sao phát hiện sớm được bệnh ĐTĐ, nhất là ở những người có các yếu tố nguy cơ, để có biện pháp phòng ngừa kịp thời, nhằm hạn chế sự phát triển của bệnh, hoặc làm giảm mức độ của các biến pháp

Biến chứng của bệnh đái tháo đường là không thể tránh khỏi và được chia thành hai loại.

- Biến chứng cấp tinh (hạ đường huyết; nhiễm toan xêtôn và hôn mê nhiễm toan xêtôn; hôn mê do tăng cường

Trang 9

màu hay hôn mê tãng áp lực thấm thấu; hôn mê nliiểm toa lactic ) là những biến chứng xảy ra đột ngột, diền biến nhanh, triệu chứng lâm sàng đa dạng và phong phú Những biến chứng này đe dọa đến mạng sống cúa người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.

- Biến chựng mạnh tính (tổn thương các mạch máu lớn có thể gây bệnh tim -mạch, hoại tử chi; tổn thương mạch máu nhỏ gây mù lòa, bệnh lý cầu thận, hủy hoại các dây thần kinh; giảm khả năng chống lại các bệnh nhiễm trùng ), lạ tứiững biến chứng xảy ra liên tục và kín đáo nên không dễ nhận ra, thường khi phát hiện được thì chúng đã ớ giai đoạn muộn.Tuy không thể tránh được các biến chứng, nhưng chúng

ta có thể làm chậm sự tiến triển và mức độ trầm trọng bàng cách quản lý tốt bệnh nhân Ngoài ra cũng phải lưu ý, biến chứng xuất hiện sớm hay muộn còn phụ thuộc vào type ĐTĐ

Ví dụ biến chứng mạch máu nhỏ, thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 sau 5 năm mắc bệnh, nhưng lại có ngay từ khi bệnh mới được chẩn đoán ở người ĐTĐ type 2

Về phòng bệnh

Đối với người có nguy cơ mắc bệnh: Ngày nay, người ta

biết ĐTĐ type 2 có thể phòng ngừa được Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu bệnh được phát hiện từ khi còn là yếu tố nguy

cơ thì có thể sử dụng chế độ ăn, chế độ luyện tập để làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ người mắc bệnh

Trang 10

Cắc yếu tố nguy cơ đó là: Thừa vân hoặc béo phì (chỉ sô trọng lượng cơ thể BMI > 23); Tăng huyết áp vô cân; Trong gia đinh có người mắc bệnh ĐTĐ ở thê hệ File: Tiền sử có ĐTĐ thao nghén hoặc khi sinh, con có cân nặng trên 4kg; Người từ 45 tuổi trờ lên; Người được chẩn đoán là có rối loạn đường máu lúc đói hay rối loạn dung nạp glucose; Người được chẩn đoán có rối loạn chuyển hóa lipit, đặc biệt khi có HDL - cholesterol thấp (<0,9mmol/L và tryglicerid máu cao (từ 2,2 mmol/L trở lên); Người gốc châu á, Phi đến sống ở nước cống nghiệp phát triển, hoặc dân cư ờ các nước đang có

;ự thay đổi nhanh chóng về lối sống như ít hoạt động thể lực,

ăn thừa calori v.v

Đối với người đỡ bị mắc bệnh đái tháo đường: Cần được

quản lý tốt để làm chậm sự tiến triển và làm giảm các biến chứng của bệnh

Gia đình và cộng đồng cần làm gì?

Hãy cùng vợ (hoặc chồng) bạn đi khám bệnh; hãy giúp nhau lập thời gian biểu để uống thuốc, để luyện tập, hãy cùng nhau lập thực đơn điều trị về chế độ dinh dưỡng Người bạn đời thủy chung phải vừa là thầy thuốc, vừa là người tư vấn tình cảm để giúp người thân phát hiện sớm những bất thường trong sinh hoạt, phát hiện sớm các biến chứng

Có nhiều bệnh nhân trẻ tuổi thường hỏi họ có nên lập gia đình không? Cũng có nhiều bậc phụ huynh hỏi có nên cho

11

Trang 11

con em họ lấy người bị mắc bệnh ĐTĐ không?

Tại sao lại không? Nếu họ yêu nhau hãy để cho họ kết duyên Nên để cho người ĐTĐ trẻ tuổi sớm xây dựng gia đình

và ổn định cuộc sống Cũng là rất tốt cho người bị ĐTĐ có một người bạn đời khỏe mạnh

Ngoài quan hệ vợ chồng, sự quan tâm của cấỆ thành viên trong gia đình như con cháu, bố mẹ, sự quan tâm của người thân sẽ giúp người ĐTĐ có thêm nhiều nghị lực

Nhiểu người e ngại không muốn cho đồng nghiệp biết mình mắc bệnh ĐTĐ, nhưng những người có vãn hóa họ sẽ thông cảm và sẽ sẵn sịn g giúp đỡ bạn Còn kẻ vô vãn hóa sẽ lợi 'dụng sự không may mắn này để kỳ thị hạn Chính vì thế, việc công khai bệnh tật hay không là tùy bạn và gia đình bạn

Còn những người cùng cản h ngộ?

Họ sẽ dễ dàng cảm thông, sẩn sàng chia sẻ kinh nghiệm, với bạn trong quản lý theo dõi, điều trị bệnh Hình thức nhóm, câu lạc bộ là hình thức cần được phát triển để giúp người ĐTĐ mở rộng kiến thức cho bản thân

Trang 12

QUAN ĐIỂM SỐNG KHI BỊ

BỆNE ĐÁI THẤO ĐƯỜNG

Chắc chắn là bạn có thể có cuộc sông chất lượng/ có ý nghĩa và sống lâu như mọi người Đừng sợ hãi ví bạo cổ thể kiềm chế và phòng tránh hữu hiệu các biến chứng đo bệnh đái máo đường nếu:

- Đầu tư cho sức khỏe, phòng ngừa và điều trị

- Trau dổi kiến thức chữa bệnh và thực hiện tự kiểm tra,

- Cẩn thận, kiên nhẫn và dẻo dai

- Tự tin và gây được niềm tin cho gia đình, bạn bè cũng như nhóm bác sĩ điều trị

- Sự dũng cảm và hy vọng có cơ sở

Trong điều trị, có thể có kết quả kiểm tra chưa tốt làm bạn lo lắng, buồn phiền; những cảm giác bất lợi làm tê liệt ,ý nguyên vì sức khỏe của bạn Những điều lo lắng đó sẽ không còn khi bạn đủ kiến thức về bệnh tật Hãy nhớ: càng hiểu biết càng ít sợ hặi

13

Trang 13

Hãy trau dồi kiến thức để thấu hiểu tất cả các triệu chứng, biến chứng và hậu quả của bệnh tiểu đường Lúc đó, bệnh không còn là bí mật với bạn Bạn sẽ tiếp nhận nó như

"sự đã rồi" một cách có ý thức, đưa nó vào thực lê đời sôngcủa mình và kiếm soát nó bằng tự kiểm tra, bằng phương pháp điềụ trị đúng

Bệnh nhân đái tháo đường được điều trị đúng, về nguyên tắc, có thể có cuộc sống và tuổi thọ y như ở người khỏe mạnh Hãy biết tự chăm lo, kiểm soát bệnh bằng những kiến thức và phương pháp khoa học để tạo nên những điều kiện tốt nhất Các bác sĩ điều trị sẽ cố vấn và cung cấp thêm thòng tin, sự trợ giúp và phương pháp điều trị phù hợp với cách sinh hoạt mà người bệnh đã chọn cho mV»h

Vậy bạn phải không ngừng học hỏi, tìm hiểu về bệnh của mình, phải hiểu và nhớ trả'lời đúng cho các câu hỏi dưới đây:

- Vì sao phải kiểm tra nồng độ đường huyết?

- Phải tự điều hòa nồng độ đưcmg huyết bằng chế đọ dinh dưỡng, tập luyện và dùng thuốc (thí dụ như insulin) như thế nào?

- Các triệu chứng gì có thể xuất hiện khi nồng độ đường huyết quá thấp hoặc quá cao so với mức cho phép? Thế nào là nhiễm toan Ceton huyết? Cách phòng tránh và điều trị các biến chứng trên?

Trang 14

- Phái làm gì khi bệnh nhân đái tháo đường mắc thêm một bệnh cấp tính khác?

- Các biến chứng do bệnh đái tháo đường gây ra đối với mắt, thần kinh, tim mạch, thận, bàn chân; cách phòng tránh

và điều trị các biến chứng đó?

- Bạn có chắc chắn rằng câu trả lời của bạn là đúng chưa? Nếu chưa thì bạn hãy đọc quyển sách này một lần nữa; hãy tìm kiếm trong những tài liệu hướng dẫn điều trị khác và hãy ghi tên ngay vào khóa học hướng dẫn điều trị do Câu lạc

bộ đái tháo đường nơi bạn điểu trị tổ chức.

Thay cho lời kết

Có thể khi làm quen với nội dung cuốn sách này, bạn thấy thật phiền phức; nhiều vấn đề chưa rõ ràng, nhiều ngày tháng thật khác với sự hình dung của bạn và có thể những khó khãn còn lớn hơn cả sự "hình dung" của bạn Nhưng đến một ngày, cuộc sống sẽ mang lại những điều kỳ diệu cho bạn; bạn

sẽ tự hoàn thiện, lại đọc kỹ hơn, càng hiểu hơn và thực hành hiệu quả hơn

Mỗi ngày mới lại đến, mặt trời lại tỏa sáng Mỗi ngày mới đến và bạn lại bắt đầu Hãy quên những gì tồi tệ đã xảy

ra mà nhớ lấy những điều tốt đẹp

15

Trang 15

ĐÁI THÁO ĐỮỜMTG - CĂN BỆNH

TOÀN CẦU

Theo báo cáo của Hiệp hội f)ái tháo đường quốc tế (IDF), bệnh đái tháo đường có xu hưống phát triển rất nhanh trong một thập kỷ trở lại đây Dự báo đến năm 2010 sẽ có

221 triệu người mắc, gấp đôi con sô' của năm 1994 là 110 triệu người Và theo nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Mỹ, đến năm 2030, số người bị đái tháo đường sẽ gấp đôi con sô' hiện nay, đạt 336 triệu người

Có thể nói, đái tháo đường - một căn bệnh phát triển vói tốc độ kỷ lục trên diện rộng chính là sản phẩm của lối sống công nghiệp hóa, đô thị hiện đại và tốc độ thay đổi nhanh chóng về kinh tế và xã hội Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh các yếu tô' như-sự lão hóa của quần thể, giảm hoạt động thể lực, thói quen ăn uống không khoa học, béo phì

là những nguy cơ chính làm phát triển nhanh căn bênh này

Trang 16

Đặc biệt, kết quả nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Mỹ chi rõ sô' lượng các trường hợp mắc đái tháo đường sẽ vẫn đạt 366 triệu vào năm 2030 khi tình trạng béo phì vẫn giữ nguyên tốc độ gia tăng như hiện nay Nói cách khác, nếu số người bị béo phì là lười vận động tãng nhanh hơn thì con sô' người mầc đái tháo đường sẽ \ ượt quá 400 triệu người trong vòng 25 năm nữa Chính do tốc độ và quy mô gia tăng của căn bệnh này mà đái tháo đường không chỉ được liệt vào danh sách các bệnh xã hội mà còn bị coi là một bệnh nằm trong hội chứng thê' giới mới - bao gồm những bệnh dịch không nhiễm trùng đang lâylan rất nhanh qua lối sống không hợp lý của cộng đồng.

Tiểu đường thường gây ra các biến chứng không thể tránh khỏi Có hai loại biến chứng; biến chứng cấp xảy ra đột ngột, dễ dẫn đến tử vong nếu không được cứu chữa kịp thời; biến chứng mãn: tổn thương các mạch máu lốn và nhỏ nhất gây nên các bệnh tim mạch trầm trọng, hoại tử chi, gây giảm thị lực, suy thận Các biến chứng này xảy ra liên tục, không

rõ ràng khi xuất hiện thường là đã ở giai đoạn muộn nên thường dẫn đến tàn tât và.giảm tuổi thọ

Theo IDF, đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thú tư hay thứ năm, và là bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất ưong các rối loạn nội tiết, đái tháo dường được coi là dịch bệnh ở nhiéu nước đang phát ưiển và mới công nghiệp

17

Trang 17

hóa WHO dự báo trongvòng 20 nãm tới, tỷlệ bệnh sẽ tăng 42% ở các nước công nghiệp nhưng tãng tới 170% ở các nước đang phát triển Căn bệnh này là một gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội Một nghiên cứu ghi nhận chi phí điều trị trực tiếp cho 10 triệu người bị đái tháo đường năm

1998 đã tiêu tốn 26,97 tỉ USD

Tuy là một căn bệnh phổ biến vắ dễ dẫn tới các biến chứng nguy hiểm, song đái tháo đường lại là một căn bệnh hoàn toàn có thể phòng tránh hiệu quả bằng lối sống và chế

độ ăn uống, luyện tập thể dục thể thao Vấn đề là ở chỗ có tới 78,8% đối tượng nghiên cứu trong cộng đồng không biết gì về yếu tố nguy cơ gây bệnh, 76,5% không biết bệnh có thể phòng được và 57,7% không biết gì về cách phòng bệnh này.Phòng bệnh đái tháo đường tích cực nhất là từ bỏ, tránh xa những yếu tố nguy cơ gây bệnh Trong các yếu tố nguy

cơ, có những nguy cơ không thể can thiệp hiệu quả đề phòng được bệnh, song rất may nguy cơ này không nhiều như: yếu

tố di truyền, tuổi cao (tỷ lệ bệnh tăng theo số tuổi tăng) Những nguy cốc thể can thiệp gồm có béo phì, tăng huyết áp

vô căn; trong gia đình có người bị đái tháo đưèmg ở thế hệ File; tiền sử có đái tháo đường khi thao nghén hoặc khi sinh con; sinh con có cân nặng trên 4kg; người từ trên 45 tuổi; người có rối loạn đường máu, lipit và cholesterol máu tăng.Người đái tháo đườn biết kiên trì điều trị, ãn uống

Trang 18

kiêng kliem, luyện lập vừa sức theo hướng dẩn của thầy thuốc

sẽ chung sống khá ôn hòa suốt đời với nó Người đái tháo đường vần có cuộc sống, học tập, làm việc, sinh hoạt tương đối bình thường Hy vọng trong tương lai không xa khoa học

sẽ tìm ra phương cách hiệu quả nhất để tiêu diệt căn bệnh quái ác này

19

Trang 19

BẠN CẦN BIẾT VỂ BỆNH

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐƯỜNG

Bệnh đái tháo đường là một rối loạn biến dưỡng chất đường, có tính di truyền, chưa rõ nguyên nhân Trong dân gian, có nhiều người hiểu lầm nếu ăn đường, bánh ngọt nhiều

sẽ mặc bệnh tiểu đường Thật ra không phải vậy, dù bạn ăn ngọt nhiều đến đâu chăn nữa, cơ thể bạn có một cơ chế điều hòa rất hữu hiệu: bài tiết thêm insuline từ tụy tạng nhằm giảm lượng đường máu và để dành lượng dư thừa ở gan dưới dạng glycogen, Khi nào cơ thể thiếu đường như nhịn ăn, chạy bộ, chơi thể thao cơ thể sẽ lấy glycogen từ gan đổi lại thành glucose để lượng đường trong máu lúc nào cũng không đổi là lg/1

ở người bệnh tiểu đường, cơ chế này không còn hiệu quả nữa: bài tiết insuỉine không đủ hoặc có đề kháng vói insuìine, khiến đường máu lên quá cao Điều bí ẩn y học hiộn nay ( hua giải thích được là tại sao tụy tạng người bị đái tháo đường khồng hê hư hại gì Người ta phỂUi biệt hai loại bệnh

Trang 20

Điều trị bộnh đái tháo đường bao gồm chế độ ăn và biện pháp dùng thuốc, v ề chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường hiện nay Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đã thay đổi quan diểm, không còn bắt ăn kiêng nghiêm ngặt như trưóc đây.

21

Trang 21

Người bệnh có thể ăn hơi qúa một, hai bữa không sao nhưng nên kieng lại bữa sau Như vậy, người bệnh đái tháo đường sẽ không bị ràng buộc quá, vì ãn kiêng được lâu dài mới cho kết quả tốt Mục đích của chế độ ãn là duy trì đường máu ở mức ổn định: cân bằng với lượngt hức ăn vào, thuốc và hoạt động hàng ngày nhằm ngăn các biến chứng.

Lượng kcalo tốt nhất là từ 34-36 kcalo/kg/ngày, khoảng 1.700 kcalo/ngày nếu cân nặng 50kg, so với người thưèmg là 40-42 kcalo/kg/ngày Cần thiết phải giảm cân ở những bệnh nhân béo phì

Thành phần thức ăn gồm60-70% đường, 10% đạm hay Ig/kcalo/kg cân nặng, chất béo'không được quá 20% Nếu đã

ăn sáng bánh mì thì không nên ãn thêm bún, phở nữá

Lượng cơm mỗi bữa từ rriột bát rưỡi đến 2 bát Chống đói bằng cách ăn thêm nhiều rau, thịt trơn Lượng rau cải hàng ngày 20-35g như xà lách, cải bắp

Ăn trái đây nhiều như lê, táo, nho nhưng không nên ăn trái cây quá ngọt như chuối, xoài Kliông ăn nhiều chất béo như beurre, thịt quay, da gà, vịt, lòng đỏ trứng

Dùng dầu olive, dầu phông (lạc) tốt hơn dầu cọ (dầu cánh buồm) Nên án nhiều bữa trong ngày giúp lượng đường trong máu cân bàng Không được dùng mật ong, báiứi kẹo, sữa, bánh ngọt, nước ngọt, nước trái cây

Trang 22

Nên dùng đường hóa học thay thế khi uổng cà phê Vitamin, chất khoáng không cần thiết Tập thể dục hàng ngày giúp tránh được các biến chứng về tim mạch.

Về sử dụng thuốc, ngườibệnh khống bao giờ tự điều trị

mà phải có tháy thuốc theo dõi sát theo đường máu, đường nước tiểu thường xuyên Các thuốc đái tháo đường rất nguy hiểm vì một khi uống hoặc tiêm quá liều sẽ hạ đường huyết, không nhận ra kịp, có thể tử vong

Đối với đái tháo đường lúc trẻ hay lệ thuộc insuline, bệnh nhân phải được tiêm insuline dưới da hàng ngày suốt đời Trái lại, người lớn tuổi thuộc loại không lệ thuộc insuline, dùng thuốc uống nhưng phải uống hàng ngày suốt đời, dù sao cũng ít phiền phức, vì khỏi phải tiêm như những người bệnh còn trẻ

23

Trang 23

NGƯYẼN N H Ẫ lĩ GÂY BỆNH

Bệnh đái tháo đường là do thiếu insuline, do tụy sản xuất không đủ insuline (htiếu insuline tưcmg đối hay tuyệt đối so với nhu cầu của cơ thể) hoặc do tế bào không sử dụng được insuline, làm tăng đường huyết và gây tiểu đường

Glucose là loại đườhg đơn có trong thức ăn Glucose là chất dinh dưỡng chính cung cấp năng lượng cho các tế bào trong cơ thể hoạt động Sau khi ãn, thức ăn được tiêu hóa ờ dạ dày và ruột

Sau khi ăn vào, glucose trAig thức ăn sẽ được hấp thu ở ruột bởi những thế bào của ruột, sau đó nó được vận chuyển trong máu đi đến các tế bàọ của cơ thể Tuynhiên glucose không thể vào trong tế bào một mình được, mà nó phải nhờ đến insuline để đưa vào trong tế bào Nếu không có insuline,

tế bào không sử dụng được năng lượng từ glucose, và như vậy làm cho nồng độ glucose trong máu tâng Làm cho glucose bị thải nhiều qua nước tiểu

Trang 24

Insuline là một nội tiết tô' được tế bào đặc biệt là tuyến tụy bài tiết ra Nó có tác dụng giúp đưa glucose vào trong tê bào, cũng như insuline giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa glucose máu Tụy là một cơ quan nằm sâu trong bụng, phía sau bao tử (dạ dày).

Sau khi ãn, glucose trong máu tàn lên E)ể đáp ứng với

sự tăng này, tụy sẽ bài tiết ra insuline giúp đưa glucose vào trong tế bào và như thế sẽ làm mức đường trong máu trở về bình thưèmg Khi glucose trong máu thấp, tụy sẽ ngang bài tiết insuline

ở người bình thường, với hộ thống điều hòa như vậy giúp kiểm soát được mức đường trong máu Còn ở bệnh nhân

bị tiểu dường, chất insuỉine bị thiếu hụt (dái tháo dường type 1) hoặc bài tiết không đủ cho nhu cầu của cơ thể (đái tháo đường type2) Cả hai nguyên nhân này đều làm tãng lượng đường máu

25

Trang 25

sự KHẢO BIỆT CỦA BỆNH

ĐÁI THÁO ĐỮỜNG TYPE 1 VÀ TYPB 2

CÓ hai loại bệnh đái tháo đường chính, gọi là đái tháo đường type 1 và đái tháo đường loại 2 Đái tháo đường type 1 còn gọi là đái tháo đường phụ thuộc insulin hay đái tháo đường ở người trẻ Trong bệnh đái tháo đường type 1, là do cơ chế tự miễn, tức tuyến tuy bị tấn công và phá hủy bởi chứih

cơ thể, làm cho tuyến tuy không còn khả năng sản xuất insulin nữa

Kháng thể bất thường này được thành lập ngay trong cơ thể người bệnh đái tháo đường type 1 Kháng thể này bản chất

là proteín trong máu, một phần trong hệ thống miễn dịch của

cơ thể Bệnh nhân bị đái tháo đường type 1 muốn sống được cần phải chích insulin mỗi ngày Trong bệnh lý miễn dịch, cũng như ở bệnh nhân bị đái tháo đưòHg type 1, hệ thống

Trang 26

miễn dịcb sán xuất ra kháng thể trực tiếp chống lại chính mô của ngưòì bệnh Bệnh tự miễn này thường gây bệnh đái tháo đường type 1 Gen gây bệnh đái tháo đường type 1 có nhiễm sắc thể sò 11 giống nhau (nhiễm sắc thể là nơi lưu trữ mọi thông tin di truyền bằng các nucleotic trong tế bào) Tiếp xúc, nhiễm một sô virus như quai bị, Coxakies virus hay các độc ch^ ‘ trong môi trường có thể khởi phát đáp ứng kháng thể một cách bất thường, là nguyên nhân làm hư tổn tế bào tuy tiết insulin Đái tháo đưcmg type 1 có xu hướng xảy ra ở người trẻ, thường dưới 30 tuổi Tuy nhiên ở bệnh nhân trẻ còn có dạng đái tháo đường do cơ hội Đái tháo dưcmg type 1 chiếm khoảng 10%, còn đái tháo đường type 2 chiếm 90% Đái tháo đường type 2 còn gọi là đái tháo đường không phụ thuộc insulin hay đái tháo đường ở người trưởng thành Trong đái tháo đường type 2, tuỵ người bệnh vẫn còn khả năng sản xuất insulin, nhưng không đủ Trong một số trường hợp, sau khi

ăn, tuỵ sản xuất một lượng insulin nhiều hơn bình thường Đa

số bệnh nhân dái tháo đường loại 2, tế bào cơ thể vẫn còn nhạy cảm với insulin (đặc biệt là tế bào mỡ và tế bào cơ), lượng lớn msulin được sản xuất được tế bào nhận diện

Tóm lại, vấn đề tăng kháng insulin, sự phóng thích insulin từ tuỵ cũng có thể bị thiếu, gây ra tình trạng tăng glucose máu Hầu hết đái tháo đường type 2 xảy ra ở người trên 30 tuổi, và tỷ lf đái tháo đường tăng theo tuổi Yếu tô' di

27

Trang 27

truyền cũng đóng vai trò quan trong trong bệnh đái tháo đường loại 2 Niọi sô' yếu tô' khác như m ^ ‘phì cũng là nguy

cơ bị tiểu đường Có mối liên quan trực tiếp giữa béo phì và đái tháo dường loại 2

Tiểu đường có thể xảy ra thoáng qua trong quá trình thai

kỳ Sự thay đổi đáng kể về hormone trong quá trình mang thai thường làm tăng mức đưòng trong máu ở một số người Trong trường hợp này người ta gọi là đái tháo đưèmg do thai nghén, đái tháo đường do thai kỳ sẽ khỏi sau kh sanh Tuy nhiên, có khoảng 40-50% phụ nữ đái tháo đường do thai kỳ sẽ bị đái tháo đưcmg thật sự sau này ở bệnh nhân đái tháo đường do thai nghén cần phải làm test dung nạp giucose 6 tuần sau khi sinh nhằm xem sau này họ có thể bị đái tháo đường ^ a y không

Tiểu đường "thứ phát" là sự tăng đường ừong máu xảy ra sau khi dùng một sô' thuốc Đái tháo đường thứ phát chỉ xảy

ra khi mô tuy không sản xuất được insulin do mô tuy bị phá huỷ do bệnh lý như viêm tuy mãn (viêm tuy do tác dụng độc của rượu khi uống nhiều rượu), do châíi thương, dọ phẫu thuật cắt bỏ tuy Đái tháo đường cũng có thể do rối loạn các chất nội tiết tô' khác như việc bài tiết quá nhiều hormon tăng trưởng (bệnh to đầu chi) và hội chứng Cushing Trong bệnh to đầu chi là do u tuyến yên nằm ờ đáy não sản xuất quá nhiều hormon tảng trưởng, đưa đến tăng đường huyết Trong hội

Trang 28

chứng Cushing, tuyến thượng thận sản xuất ra quá nhiều cortisol, làm khởi phát sự tăng đưcmg huyết Tóm lại, một số loại thuốc có thể giúp kịểm soát đưcmg huyết hay không che đậy bệnh đái tháo đường tiềm ẩn, đái tháo đường do thuốc thường gặp nhất khi dùng thuốc corticoid (như prednisone).

29

Trang 29

TRIỆỮ CHỨNG CỦA BỆNH

ĐÁI THÁO ĐỮỜNQ

Triệu chứng sớm của bệnh đái tháo đường khi không được điều trị sẽ liên quan đến sự tăng đường trong máu, xuất hiện đường trong nước tiểu Đường có nhiều tròng nước tiểu

sẽ làm lượng nước mất nhiều hơn, làm cho người bệnh khát nước và uống nhiều nước

Mất khả nãng sử dụng glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính, làm cho người bệnh sụt cân, mặc dù ăn ngon miệng và ăn nhiều Nếu không được điều trị, người bệnh sẽ mệt mỏi, buồn nôn, ói mửa Người bệnh đái tháo đường rất dễ

bị nhiễm trùng da, bàng quang, vùng âm đạo Sự dao động đưcmg máu có thể gây ra mắt mờ Khi lượng đường trong máu tăng quá cao người bệnh có thể bị hôn mê (hôn mê do đái tháo đường)

Trang 30

BỆIĨH ĐÁI THẰO ĐỮỜUG Được CHẨƯ ĐÁON NHƠ THỂ HÀO?

Đo đường huyết lúc đói thưcmg dùng để chấn đoán bệnh tiểu đường Xét nghiệm này dề dàng thực hiện Người bệnh phải nhịn đói tối hôm trước để sáng hôm sau xét nghiệm (nhịn đói tối thiểu là 8 giờ), người ta lấy một mẫu máu gửi đến phòng xét nghiệm để phân tích

Bình thưcmg đưcfng huyết lúc đói dưới llOmg/dl (tức 110mg%) Khi đường huyết lúc đói trên I26mg%, ít nhất 2 lần xét nghiệm vào những thời điểm khác nhau trong ngày, sẽ được chẩn đoán là bị tiểu đường

Thử đường huyết vào thời điểm bất kỳ cũng có thể dùng

để chẩn đoán bệnh đái tháo đường (chấp nhận ãn uống trước khi thử), khi người bệnh có triệu chứng Mức đường huyết trên 200mg/dl có thể coi là bị tiểu đường, tuy nhiên cần làm thêm đường huyết lúc đói, hoặc thử nhgiệm dung nạp đường vào một ngày khác

31

Trang 31

THỬ NGHIỆM DƯNG NẠP

BẰNG ĐƯỜNG ỐNG LÀ GÌ?

Với thử nghiệm dung nạp đường bằng đường uống, người bệnh phải nhịn đói (tối thiểu là 8 giờ nhưng không quá 16 giờ) Đầu tiên là đo lượng đường trong máu lúc đói Sau đó người bệnh được cho uống 75 mg đường glucose (phụ nữ có thai cho uống lOOmg) Thông thường, người bệnh được cho uống nước đường đã pha Lấy 4 mẫu máu ở những thòi điểm khác nhau để xét nghiệm

Để có kết quả chính xác, người làm xét nghiệm phải khoẻ mạnh (không bị bất kỳ bệnh nào, thậm chí không mắc bệnh câm), cũng như người làm xét nghiệm cần phải hoạt động không nằm liệt giường, không phải nằm viện và họ không thể đến bác sĩ để đo đường máu

Ba ngày trước khi làm thử nghiệm, người bệnh được cho chế độ ăn giàu carbohydrate (150-200 gam mỗi ngày) Đường huyết được thử vào buổi sáng, người bệnh không được hút thuốc, uống cà phê

Trang 32

Theo thử nghiệm dung nạp glucose cổ điển, đo glucose trong máu 5 lần cách nhau 3 giờ Một số bác sĩ đơn giản hóa vấn đề bầng cách lấy mầu máu đem làm xét nghiệm 2 giờ sau khi uống nước đường.

ở người không bị tiểu đường, mức glucose sẽ giảm

xuống nhanh, ở một 0 người bị đai tháo đựpng mức glucose

tăng cao hơn bình thường

ở người có mức đường huyết cao hơn bình thường nhưng dưới mức đái thái đường nên làm nghiệm pháp dung nạp glucose ở người có bất thưcmg dung nạp glucose nhưng không bị tiểu đưèmg Trong vài nãm sau, chỉ khoảng 1-5% số người có test dung nạp glucose bất thường bị tiểu đường

Tập thể dục, giảm cân có thể giúp người có thử nghiệm dung nạp glucose bất thưcmg có mức đường huyết trở về bình thiịờng Các nghiên cứu mới đây cho thấy rằng 'rĩgười có thử nghiệm dung nạp glucose bất thường có thể là một yếu tố nguy cơ trong bệnh tim mạch

33

Trang 33

LÀM SAO ĐỂ ĨQỂM TRA

ĐƯỜNG MÁU

Xét nghiệm đường máu tại nhà là một phần quan trọng trong kiểm soát đường máu, vì mục tiêu quan trọng của điều trị đái tháo đưcaig là giữ nồng độ đường máu gần mức bình thường 70-120mg/dl trước bữa ãn và dưới 140mg/dl vào khoảng 2 tiếng sau bữa ãn Nồng độ đường máu được xác định bằng cách chích đầu ngón tay với lưỡi trích

Một giọt máu được đặt lên trên bãng thử với bảng màu Các cách xác định nồng độ đưcmg máu chính xác khác được thực hiện bằng cách sử dụng đồng hồ đo glucose, bao gồm trích máu đầu ngón tay (Accucheck Easy, AccUcheck Advantage, One touth II, Glucometer) Kết quả xét nghiệm giúp các bệnh nhân điều chỉnh thuốc, chế độ ăn và hoạt động thể lực

Bởi vì nồng độ đưòng huyết có thể dao động rộng, ngay

cả xét nghiệm đường huyết ở nhà thường xuyên có thể không

Trang 34

phản ánh chính xác mức độ thành công kiểm soát đưèmg huyết Xét nghiệm A IC huyết cầu tô là phưcmg pháp đo lường tốt hiệu quả tổng thể và kiểm soát đường máu trong thời gian

3 tháng Nồng độ A IC huyết cầu tô tăng cho thấy kiểm soát đưcmg huyết kém Mục tiêu của điều trị đái tháo đưctng là giữ

A IC huyết cầu tố ỡ mức bìhh thường là giảm cân, chế độ ăn, thể dục Khi các biện pháp này thất bại trong việc kiểm soát đưòmg huyết, cho bệnh nhân uống thuốc Nếu uống thuốc cũng không đủ, insulỉn sẽ được xem xet đến

35

Trang 35

KẾT QÚẢ THỞ KTGHIỆM DUNG NẠP GLUCOSE NÓI LÊN ĐIỂU GÌ?

Test dung nạp glucose có thể giúp chẩn đoán:

Đáp ứng bình thường, khi đường huyết đo 2 giờ sau uống nước đưcmg thấp hcfn 140mg%, trong 0-2 giờ mức đưòmg huyết thấp hơn 200nig%

Bất dung nạp glucose khi đường huyết lúc đói trên 126mg% và glucose máu 2 giờ sau uống trong khoảng 140- 199mg%

Gọi là đái tháo đường khi: khi xét nghiệm 2 lẩn ớ những thời điểm khác nhau nhưng mức glucose vẫn cao

Tiểu đưcmg ở nữ có thai khi đo 2 lần đường huyết lúc đói trên 105mg%, hoặc 1 giờ sau uống nước đường, xét nghiệm trên 190mg%, 2 giờ đo trên 165mg%, 3 giờ đo trên 145mg%

Trang 36

C ác th u ố c có tác d ụ n g làm giảm sản x u ất glucose từ gan:

Thuốc thuộc nhóm này là biguanides đã được “sử dụng vài năm gần đây ở châu Âu và Canada Năm 1994, PDA chấp nhận cho sử dụng metíormin (Glucophage) trong điều trị đái tháo đường type 2 ở Mỹ Glucophage là thuốc duy nhất trong nhóm đó có khả nãng làm giảm sự sản xuất đường từ gan Tóm lại, vì metíormin không làm tăng insulin nên khi dùng một mình thưcmg không gáy hạ đường huyết

Mặt khác metíormin còn có tác dụng giảm ngon miệng, nên người bệnh bớt ăn cũng giúp cho ổn định đường huyết M etíormin có thể dùng một mình hoặc kết hợp với thuốc hạ đường huyết uống khác hoặc insuỉin Thuốc này không dùng cho bệnh nhân bị suy thận, tuy nhiên có thể dùng được ở bệnh nhân bị suy gan nhưng phải thận trọng

Thuốc có thể gây tăng acid lactic là kết quả của sự tích

tụ thuốc và các chất chuyển hóa của nó M etíormin an toàn,

• là thuốc được khuyên dùng không cần Uên tục trong 24 giờ trước bất kỳ thủ thuật nào Thuốc có thể làm suy thận do tích

tụ thuốc trong máu M etíormin có thể dùng lại khi các bệnh này trở về bình thường

37

Trang 37

BIẾIĨ CHỨNG CẤP TÍNH

CỦA BỆNH EỊẢI THÁO ĐỮỜNG

NỐI LÊN ĐIỂH Gì?

Đường trong mau tưang quá cao do không sử dụng được insulin hoặc do thiếu insulin

Hạ đường huyết bất thường có thể do dùng insulin hoặc

do thuốc uống

Bệnh lý mạch máu liên quan đến mắt, thận, thần kinh, tim Tất cả là do biến chứng lâu dài củá bệnh tiểu đường.Insulin là một chất có tính chất sống còn cho bệnh nhân đái tháo đường type 1 ở bệnh nhân đái tháo đưcmg type 1; nếu thiếu insulin thì đường trong máu sẽ tăng rất cao Khi đưòng máu tăng cao sẽ có đường xuất hiện trong nước tiểu (nên gọi là tiểu đưcmg), kéo theo mất nhiều nước và chất điện giải

KI 11 thiếu insulin, sẽ làm ly giải tế bào mỡ, làm tăng Cí/on ì trong máu Cetone làm toan chuyển hóa máu, còn gọi

Trang 38

là nhiễm cetone acid Triộu chứng của nhiễm cetone acid bao gồm: buồn nôn, ói mửa, và đau bụng.

Nếu không điều ưị kịp thời, người bộnh nhanh chóng rơi vào choáng, hôn mê và chết Nhiẻm cetone acid ở người đái tháo đường thường xảy ra khi có nhiễm trùng, stess, hay khi

có chấn thương Điều trị cấp cứu nhiễm cetone acid bao gồm truyền dịch, chất điện giải, và tiêm insulin Thưcmg người bệnh được cho nằm điều trị tại khoa săn sóc đặc biệt trong bệnh viện Dùng kháng sinh khi có nhiễm trùng

Với điều trị, sự tăng cao đưòfng máu bất thưcfng, nhiễm toan chuyển hóa và mất nước có khả năng phục hồi nhanh chóng, và người bộnh khoẻ trở lại

ở bệnh nhân đái tháo đường loại 2, stess, nhiễm trùng, thuốc (iihư corticoid) cũng có thể làm mức đường huyết tăng lên ở bệnh nhân đái tháo đưcmg loại 2, mức đường huyết tăng cao, làm mất nước, điện giải và tăng áp lực thẩm thấu máu Những yếu tố này có thể làm cho người bệnh hôn mê (hôn mê do tăng áp lực thẩm thâu) Hôn me do tãng áp lực thẩm thấu thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi bị đái tháo đường loại 2 Giống như nhiễm cetone acid, hôn mê do tăng

áp lực thẩm thấu cần phải được điều trị khẩn cấp

Điều trị bằng truyền dịch, chích insulin là vấn đề quan trọng trong điều trị hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu Không giống như bệnh nhân bị đái tháo đường type 1 ở bệnh nhân

39

Trang 39

đái tháo đường type 2 thường không chuyển thành nhiễm cetone acid.

Hạ đường huyết cung là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường Nguyên nhân thường gặp là do dùng nhiều insuỊỊn, hoặc uống thuốc hạ đường huyết làm giảm đường huyết quá mức, Khi hạ đường huyết xả ra do insulin, gọi là phản ứng với insulin Đôi khi đường huyết bị hạ là do ăn uống không đủ năng lượng hoặc do hoạt động thể lực quá múfc.Đưòng trong máu, chủ yếu cho hoạt động của tế bào não

Vì vậy, khi dưòmg trong máu thấp làm cho người bệnh thấy choáng váng, lú lẫn, run Nếu không được điều trị, bệnh nhân

sẽ rơi vào hôn mê, tổn thương não không hồi phục Điều trị hạ đường máụ bằng cách cho người bệnh uông nước đường như uống nước cam, ăn đường thẻ Nếu người bệnh vẫn chưa tỉnh, cho chích thịt glucose, thuốc này có tác dụng giải phóng glucose dự trữ ỏ gan để đem ra sử dụng đặc biệt nếu người bệnh đang dùng insulin

Gia đình và bạn bè của người bệnh đái tháo đường cần phải biết cách chích glucose Từ đó người bệnh hy vọng mình sẽ khồng bị hạ đường máu quá mức để phải đ ưa vào bệnh viện cấp cứu

Trang 40

BrẾN CHỨNữ MÃH CỦA BỆNH ĐÁI THẤO ĐỮỜNG LÀ GÌ?

Biến chứng của bệnh đái tháo đường có liên quan đến bệnh lý mạch máu, thường là các mạch máu nhỏ như mắt, thận, thần kinh (bệnh lý mạch máu nhỏ), và các mạch máu lớn ở tim Bênh đái tháo đường làm gia tăng xơ vữa động mạch ở những mạch máu lớn, ảnh hưởng đến mạch vành tim

Biến chứng mát ở bệnh nhân đái tháo đưòng (bênh íý võng mạc do tiểu đường) xảy ra ở bệnh nhân bị đái tháo đưcmg ít nhất 5 năm Mạch máu nhỏ đáy mắt bị tổn thương, làm thoát protein và máu vào trong võng mạc Bênh* lý mạch máu cũng có thể hình thành phình mạch nhỏ (vi phình mạc),

và những mạch tân tạo này dễ vỡ có thể gây ra sẹo giác mạc

•và bóc tách võng mạc, làm giảm thị lực Điều trị bệnh lý võng mạc do đái tháo đường là dùng laser để phá hủy các phình

41

Ngày đăng: 18/01/2021, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w