– nhà hóa học người Pháp – đưa ra định luật thành phần không đổi có nội dung như sau: “Mỗi chất hóa học có thành phần định tính và định lượng không đổi, không phụ thuộc vào phương pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA HÓA – BỘ MÔN HÓA VÔ CƠ & ỨNG DỤNG
GIÁO TRÌNH HÓA ĐẠI CƯƠNG A1
Biên soạn: Trần Hớn Quốc
Nguyễn Quốc Chính
TP HCM – 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
Chương 1 CẤU TẠO NGUYÊN TỬ 5
1.1 Sự phát triển của Thuyết cấu tạo nguyên tử 5
1.2 Cấu trúc lớp vỏ electron 6
1.2.1 Các bước phát triển của thuyết lượng tử về cấu tạo lớp vỏ của nguyên tử 6
1.2.1.1 Bức xạ điện từ (electromagnetic radiation) 7
1.2.1.1.1 Bản chất sóng của bức xạ điện từ 7
1.2.1.1.2 Năng lượng của bức xạ điện từ 8
1.2.1.1.3 Thuyết lượng tử của Planck 8
1.2.1.1.4 Bản chất hạt của bức xạ điện từ 8
1.2.1.1.5 Bản chất nhị nguyên sóng – hạt của bức xạ điện từ 9
1.2.1.2 Quang phổ vạch của Hydro 9
1.2.2 Mẫu nguyên tử Hydro của Bohr 10
1.2.3 Mô hình nguyên tử theo cơ học lượng tử 11
1.2.3.1 Các luận điểm cơ sở 11
1.2.3.1.1 Bản chất nhị nguyên sóng – hạt của electron 11
1.2.3.1.2 Nguyên lý bất định Heisenberg 11
1.2.3.1.3 Hàm sóng 12
1.2.3.1.4 Phương trình sóng Schrodinger 12
1.2.3.2 Orbital (vân đạo) 13
1.2.3.3 Số lượng tử (Quantum numbers) 14
1.2.3.3.1 Số lượng tử chính (principal quantum number): ký hiệu là n 15
1.2.3.3.2 Số lượng tử phụ (subsidiary quantum number): ký hiệu là 15
1.2.3.3.3 Số lượng tử từ (magnetic quantum number): ký hiệu là m 15
1.2.3.3.4 Số lượng tử spin (spin quantum number): ký hiệu là ms 16
1.2.3.4 Nguyên lý loại trừ Pauli (1925) 16
1.2.4 Cấu hình electron của nguyên tử 16
1.2.4.1 Nguyên tử 1 electron 16
1.2.4.2 Nguyên tử nhiều electron 16
1.2.5 Quy tắc Slater 19
1.2.5.1 Đại cương 19
1.2.5.2 Quy tắc Slater về số lượng tử chính hiệu dụng n* 19
1.2.5.3 Quy tắc Slater về điện tích hạt nhân hiệu dụng Z* 19
1.2.5.4 Thí dụ 20
1.3 Một số vấn đề khác 21
Trang 41.3.1 Cấu hình electron đặc biệt 21
1.3.2 Phân loại các nguyên tố 21
1.3.3 Cấu hình electron của các ion đơn giản 21
1.3.3.1 Anion (ion âm) 21
1.3.3.2 Cation (ion dương) 21
Chương 2 BẢNG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC 22
2.1 Sự phát triển của hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học 22
2.1.1 Sự phát hiện ra các nguyên tố – Cơ sở của định luật tuần hoàn 22
2.1.2 Quá trình Mendeleev xây dựng định luật tuần hoàn 23
2.1.3 Những hiệu chỉnh và bổ xung cho hệ thống tuần hoàn 23
2.2 Bảng phân loại tuần hòan 24
2.2.1 Định luật tuần hoàn 24
2.2.2 Cấu trúc bảng phân loại tuần hoàn 25
2.2.3 Nguyên tắc sắp xếp nguyên tố vào bảng phân loại tuần hoàn 25
2.2.3.1 Chu kỳ 25
2.2.3.2 Nhóm 26
2.2.3.3 Phân nhóm 26
2.3 Sự biến đổi tính chất của các nguyên tố trong hệ thống tuần hoàn 27
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất nguyên tố 27
2.3.2 Bán kính nguyên tử (Atomic Radii) 27
2.3.3 Bán kính ion (Ionic Radii) 29
2.3.4 Năng lượng ion hóa (Ionization Energy) 30
2.3.5 Ái lực điện tử (Electron Affinity) 31
2.3.6 Độ âm điện (Electronegativity) 33
2.3.7 Tính kim loại-không kim loại 33
Chương 3 LIÊN KẾT HÓA HỌC 34
3.1 Các khái niệm cơ bản về liên kết hóa học 34
3.1.1 Bản chất liên kết hóa học 34
3.1.2 Liên kết dưới quan điểm nhiệt động lực hóa học 34
3.1.3 Các thông số đặc trưng cho liên kết 35
3.1.3.1 Năng lượng liên kết (E) 35
3.1.3.2 Độ dài liên kết (d) 35
3.1.3.3 Độ bội liên kết 35
3.1.3.4 Góc liên kết 35
3.2 Vài nét về sự phát triển của các lý thuyết về liên kết hóa học 35
3.3 Liên kết ion 37
3.3.1 Điều kiện hình thành liên kết ion 37
3.3.2 Tính chất của liên kết ion 37
3.3.3 Độ bền liên kết ion 38
Trang 53.4 Liên kết cộng hóa trị 39
3.4.1 Thuyết liên kết hóa trị 39
3.4.1.1 Các luận điểm cơ sở của thuyết VB 39
3.4.1.2 Tính chất của liên kết cộng hóa trị theo VB 40
3.4.1.3 Độ bền liên kết cộng hóa trị theo VB 40
3.4.1.4 Liên kết cộng hóa trị-cho nhận theo VB 40
3.4.1.5 Các loại liên kết 40
3.4.1.6 Tính định hướng của liên kết cộng hóa trị và hình dạng của phân tử 41
3.4.1.6.1 Phân tử 2 nguyên tử 41
3.4.1.6.2 Phân tử 3 nguyên tử 41
3.4.1.6.3 Phân tử 4 nguyên tử 42
3.4.1.6.4 Phân tử nhiều hơn 4 nguyên tử 42
3.4.1.7 Thuyết lai hóa 42
3.4.1.7.1 Nguyên tắc lai hóa 42
3.4.1.7.2 Các kiểu lai hóa thông thường 42
3.4.1.7.3 Điều kiện lai hóa bền 43
3.4.1.7.4 Phương pháp xác định trạng thái lai hóa của nguyên tử trung tâm 43
3.4.1.8 Các dạng công thức cộng hưởng 44
3.4.1.9 Dự đoán cấu hình không gian và góc hóa trị của phân tử 44
3.4.1.9.1 Thuyết VSEPR 45
3.4.1.9.2 Các quy tắc viết công thức lập thể của phân tử 45
3.4.1.9.3 Công thức lập thể của các hợp chất thông thường 46
3.4.1.10 Góc liên kết 47
3.4.1.11 Moment lưỡng cực của liên kết và phân tử 48
3.4.1.11.1 Moment lưỡng cực của liên kết 48
3.4.1.11.2 Moment lưỡng cực của phân tử 48
3.4.1.12 Tính ion của liên kết cộng hóa trị 49
3.4.1.13 Khiếm khuyết của thuyết liên kết hóa trị 50
3.4.2 Thuyết vân đạo phân tử 51
3.4.2.1 Điều kiện để hình thành MO liên kết từ các AO 51
3.4.2.2 Các loại MO 51
3.4.2.2.1 MO 51
3.4.2.2.2 MO 52
3.4.2.3 Cách sắp xếp điện tử trong vân đạo phân tử 52
3.4.2.4 Bậc liên kết 52
3.4.2.5 Giản đồ năng lượng của các MO tạo từ phân tử 2 nguyên tử đồng nhân A2 53
3.4.2.6 Giản đồ năng lượng của các MO tạo từ phân tử 2 nguyên tử dị nhân AB 55
3.5 Liên kết kim loại 55
3.5.1 Mô hình liên kết kim loại cổ điển 55
Trang 63.5.2 Mô hình liên kết kim loại theo cơ học lượng tử 55
3.6 Sự phân cực ion Tính cộng hóa trị trong liên kết ion 56
3.6.1 Tác dụng phân cực của cation 57
3.6.2 Tác dụng bị phân cực của ion 58
3.7 Phân biệt tác dụng phân cực của ion và độ phân cực của liên kết 58
3.8 Sự không phân định ranh giới giữa các loại liên kết hóa học 59
Chương 4 TRẠNG THÁI TẬP HỢP CỦA CÁC CHẤT VÀ CÁC KIỂU MẠNG TINH THỂ 60
4.1 Trạng thái tập hợp của chất 60
4.2 Trạng thái khí 62
4.2.1 Phương trình trạng thái khí lý tưởng 62
4.2.2 Hỗn hợp khí lý tưởng 62
4.2.2.1 Áp suất riêng phần 62
4.2.2.2 Nồng độ mol riêng phần 63
4.2.3 Khí thật 63
4.3 Trạng thái lỏng 64
4.4 Trạng thái rắn tinh thể 64
4.4.1 Đại cương về tinh thể 64
4.4.1.1 Mạng lưới tinh thể 64
4.4.1.2 Ô mạng cơ sở 65
4.4.1.3 14 mạng Bravais 66
4.4.2 Phân loại mạng tinh thể theo liên kết – Tính chất vật lý của các chất 68
4.4.2.1 Tinh thể kim loại 68
4.4.2.2 Tinh thể ion 69
4.4.2.3 Tinh thể cộng hóa trị 70
4.4.2.4 Tinh thể phân tử 71
4.4.2.4.1 Liên kết Van der Waals 71
4.4.2.4.2 Liên kết Hydro 72
4.4.2.4.3 Đặc điểm của tinh thể phân tử 73
4.4.2.5 Cấu trúc của tinh thể có liên kết hỗn tạp 74
Trang 7Chương 1 CẤU TẠO NGUYÊN TỬ
1.1 Sự phát triển của Thuyết cấu tạo nguyên tử
Thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên: nhà triết học Hy Lạp Democrit đưa ra khái niệm về nguyên tử (atomos): “ Mọi vật đều cấu tạo từ những hạt rất nhỏ gọi là nguyên tử, đó là giới hạn cuối cùng của các chất, các nguyên tử cực kỳ cứng và không bị biến đổi”
Giữa năm 400 trước Công nguyên đến thế kỷ 16 (khoảng thời gian 2000 năm): thuộc về trào lưu giả kim thuật Mục tiêu biến kim loại thường thành vàng với quan niệm “vàng là kim loại nguyên chất, các kim loại còn lại bị lẫn tạp chất” hay “mọi kim loại đều cấu tạo từ lưu huỳnh, thủy ngân và muối theo những tỉ lệ khác nhau”
Từ đầu thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 17: là thời kỳ phát triển của Hóa y học và kỹ thuật
Trong khoảng cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 19: đánh dấu thời kỳ phát triển của ngành khoa học hóa học với sự ra đời liên tiếp của các định luật mang tính chất định lượng như:
Năm 1748, Lomonosov M V – nhà khoa học người Nga – đã tìm ra một trong các định luật quan
trọng nhất trong tự nhiên, được gọi là định luật bảo toàn khối lƣợng Định luật này được phát biểu
như sau: “Khối lượng (trọng lượng) của các chất tham gia phản ứng bằng khối lượng (trọng lượng) của các chất tạo thành sau phản ứng”
Năm 1799, Proust J L – nhà hóa học người Pháp – đưa ra định luật thành phần không đổi có nội
dung như sau: “Mỗi chất hóa học có thành phần định tính và định lượng không đổi, không phụ thuộc vào phương pháp điều chế nó”
Năm 1803, Dalton John – nhà hóa học người Anh – đưa ra định luật tỉ lệ bội, có nội dung như sau:
“Nếu hai nguyên tố tạo thành với nhau một số hợp chất, thì khối lượng của nguyên tố này kết hợp với cùng một khối lượng của nguyên tố kia sẽ tỷ lệ với nhau như tỷ lệ giữa những số nguyên đơn giản”
Dựa trên cơ sở của các định luật trên, năm 1808 Dalton đưa ra thuyết nguyên tử với nội dung như
sau:
khác nhau thì khác nhau
luôn chứa một tỷ lệ xác định các loại nguyên tử
không bị biến đổi trong các phản ứng hóa học
40 năm cuối của thế kỷ 19: sự phát triển của kỹ thuật tạo điều kiện cho sự tìm hiểu nguyên tử
Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20: giai đoạn của hóa học hiện đại với sự phát triển của lý thuyết về cấu tạo nguyên tử
rỗng và hạt nhân của nguyên tử mang điện tích dương Đến năm 1919, ông xác định được sự
có mặt của hạt proton mang điện tích dương, có khối lượng nặng hơn electron 1840 lần
Trang 8 1932: Chadwick khi bắn phá miếng kim loại Berili bằng tia đã phát hiện ra hạt neutron trung hòa điện
Từ những kết quả trên, có thể mô tả cấu trúc nguyên tử như sau:
1 amu (atomic mass unit) = 1 đvC = 1,66054.10 –24 gam
A
Z: số hiệu nguyên tử của nguyên tố
Z = điện tích hạt nhân = số proton A: số khối
biệt các nguyên tố hóa học Vậy nguyên tố hóa học là tập hợp các nguyên tử có cùng điện tích
hạt nhân
1.2 Cấu trúc lớp vỏ electron
Với cấu trúc nguyên tử như trên, electron chiếm hầu như toàn bộ thể tích nguyên tử Trong các phản ứng hóa học chỉ có lớp vỏ electron của nguyên tử bị biến đổi còn hạt nhân được giữ nguyên Như vậy cấu trúc lớp vỏ electron quyết định tính chất hóa học của nguyên tử
Một câu hỏi được được đặt ra là làm thế nào để biết được trạng thái chuyển động của electron
trong nguyên tử?
Do nguyên tử là một hạt vi mô (có kích thước rất nhỏ) ta không thể quan sát trực tiếp được sự chuyển động của nó mà chỉ có thể dựa vào các hiện tượng thực nghiệm thể hiện tính chất của
electron trong nguyên tử để xây dựng nên những mô hình để mô phỏng cấu trúc lớp vỏ electron
Nhiều mô hình đã được xây dựng như mô hình của Thomson, Rutherford, Bohr, Schrodinger (mô hình lượng tử) Trong số đó mô hình lượng tử là mô hình hoàn thiện nhất và đang được áp dụng rộng rãi hiện nay
1.2.1 Các bước phát triển của thuyết lượng tử về cấu tạo lớp vỏ của nguyên tử
Phần lớn hiểu biết của con người về cấu tạo lớp vỏ của nguyên tử được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu bức xạ (sóng) điện từ cũng như hiện tượng phát xạ và hấp thu bức xạ điện từ của các nguyên tử (gọi tắt là quang phổ nguyên tử)
Trang 91.2.1.1 Bức xạ điện từ (electromagnetic radiation)
1.2.1.1.1 Bản chất sóng của bức xạ điện từ
từ trường cùng pha và vuông góc với nhau
y Asin t Asin2 t
: tần số
Dao động điện và dao động từ của sóng điện từ Dao động hình sin của sóng điện từ
là bị triệt tiêu hay cộng hưởng năng lượng của các sóng này
Trang 101.2.1.1.2 Năng lƣợng của bức xạ điện từ
Khi vật chất được nung nóng chúng sẽ phát ra bức xạ (ví dụ như miếng sắt nóng đỏ, dây tóc bóng đèn)
Vào cuối thế kỷ 19 bằng thực nghiệm người ta đã xác định được rằng năng lượng của bức xạ phát ra
tỉ lệ với bước sóng của bức xạ Tuy nhiên với quan niệm “năng lượng có tính liên tục” các nhà khoa học thời đó đã không thể tìm ra được mối liên hệ giữa bước sóng bức xạ với năng lượng của chúng
1.2.1.1.3 Thuyết lƣợng tử của Planck
Năm 1900 Max Planck đã giải quyết vấn đề trên bằng cách đưa ra một khái niệm hoàn toàn mới đó
là “năng lƣợng có tính gián đoạn”
Quan niệm cổ điện cho rằng nguyên tử hấp thu và phát xạ năng lượng một cách liên tục Trong khi
đó Planck cho rằng nguyên tử phát xạ năng lượng theo từng lượng nhỏ gọi là lƣợng tử (quantum)
Năng lượng của 1 lượng tử bức xạ được tính theo biểu thức:
5 năm sau (1905) với thí nghiệm về hiệu ứng quang điện Einstein đã trả lời được câu hỏi này
Albert Einstein dùng những bức xạ khác nhau chiếu vào 1 tấm kim loại và tiến hành khảo sát số lượng các hạt electron phát ra từ tấm kim loại đó cùng với động năng của chúng
Kết quả thực nghiệm cho thấy:
1 Electron chỉ bị bứt ra khi tần số của bức xạ vượt qua một giá trị 0 nào đó (gọi là giá trị
không tỉ lệ thuận với tần số bức xạ
Trang 11Từ những kết quả trên Einstein đưa ra nhận xét như sau:
có thể thấy rằng Eliên kết = h0
loại Phần năng lượng dư ra của bức xạ sẽ biến thành động năng của electron sau khi thốt khỏi
bề mặt kim loại
Ekin = h h0
Qua hiện tượng quang điện vừa nêu trên, Einstein đã chứng tỏ được rằng bức xạ điện từ vừa có bản
chất sóng vừa có bản chất hạt
1.2.1.1.5 Bản chất nhị nguyên sóng – hạt của bức xạ điện từ
của bức xạ điện từ
2
c
E h h mc
1.2.1.2 Quang phổ vạch của Hydro
Vào khoảng những năm 1859, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng khi các nguyên tử bị kích thích (bằng nhiệt hoặc bằng điện áp cao) chúng sẽ phát ra bức xạ Ví dụ như Ne phát ra ánh sáng vàng cam, Na phát ra ánh sáng vàng Các bức xạ này là tổ hợp của nhiều bức xạ đơn sắc có tần số (bước sóng) khác nhau Khi cho các bức xạ này đi qua các lăng kính các tia đơn sắc sẽ bị tách ra tạo thành các vạch tương ứng với bước sóng của chúng trên màn hình hoặc phim chụp Tập hợp các vạch này được gọi là quang phổ vạch của các nguyên tử Mỗi loại nguyên tử sẽ có một bộ quang phổ vạch gồm những vạch phổ xác định đặc trưng cho nguyên tố đó Chính vì vậy quang phổ vạch của nguyên tử được sử dụng để nhận diện các nguyên tố
Trang 12Bước sóng (nm) 410 434 486,1 656,2
Tuy hiện tượng quang phổ vạch đã được phát hiện nhưng bản chất của nó vẫn chưa được xác định Năm 1885, Balmer đưa ra công thức thực nghiệm xác định vị trí các vạch phổ của hydro như sau:
1.2.2 Mẫu nguyên tử Hydro của Bohr
Năm 1913, Niels Bohr áp dụng khái niệm lượng tử của Planck và đưa ra mô hình của nguyên tử Hydro như sau:
quanh hạt nhân Năng lượng của electron ở quỹ đạo thứ n được tính theo công thức:
được cung cấp năng lượng thì electron sẽ chuyển từ vân đạo có năng lượng thấp lên quỹ đạo
có năng lượng cao; khi phát ra năng lượng thì electron sẽ chuyển từ quỹ đạo có năng lượng cao xuống quỹ đạo có năng lượng thấp)
E n – E m = h
Với mẫu nguyên tử này Bohr đã giải thích được nguyên nhân của quang phổ vạch Áp dụng mô hình Bohr ta có thể tính toán chính xác vị trí các vạch phổ của Hydro
Trang 13Vị trí (tần số và bước sóng) của các vạch phổ được xác định theo công thức:
1.2.3 Mô hình nguyên tử theo cơ học lượng tử
Mô hình nguyên tử của Bohr tuy có thành công ở việc giải thích được bản chất của quang phổ vạch
và tính toán chính xác quang phổ vạch của Hydro Tuy nhiên Mô hình này có hạn chế là chỉ có thể
nhiều electron Do đó cần phải có một mô hình khác thích hợp hơn để mô tả cấu trúc lớp vỏ electron
Hạn chế của mô hình Bohr nằm ở chỗ, trong khi chấp nhận khái niệm “lượng tử” của Planck, Bohr lại vẫn coi electron như là một hạt tuân theo các định luật của cơ học cổ điển
1.2.3.1 Các luận điểm cơ sở
1.2.3.1.1 Bản chất nhị nguyên sóng – hạt của electron
Năm 1925, Louis de Broglie mở rộng quan điểm về bản chất nhị nguyên sóng – hạt cho toàn bộ các
hạt vật chất Theo De Broglie: “Nếu bức xạ có thể đƣợc coi là các dòng hạt photon thì các hạt vi
mô nhƣ electron, proton, neutron cũng thể hiện tính chất sóng”
De Broglie cho rằng bước sóng của electron là hàm số của vận tốc và khối lượng của nó
Bản chất sóng hạt của electron đưa đến hệ quả quan trọng về sự chuyển động của nó, thể hiện qua
nguyên lý bất định do Heisenberg đưa ra năm 1927: “Không thể đồng thời xác định chính xác cả
vị trí và vận tốc của electron”
Trang 14Nguyên lý này được thể hiện dưới dạng toàn học như sau:
Tổng quát hơn, khi nói về trạng thái chuyển động của electron ta không thể nói tới đường đi chính xác của nó mà chỉ có thể nói đến xác suất có mặt của nó trong vùng không gian quanh hạt nhân
1.2.3.1.3 Hàm sóng
Theo cơ học cổ điển, trạng thái chuyển động của một vật tại thời điểm t được xác định khi biết tọa
độ không gian và vận tốc của vật
Phương trình sóng Schrodinger được xem là định luật cơ học lượng tử về sự chuyển động của các hạt vi mô, tương tự như các định luật Newton trong cơ học cổ điển cho chuyển động của các hạt vĩ
E: năng lượng toàn phần của electron (động năng và thế năng) U: thế năng phụ thuộc vào tọa độ x, y, z
m: khối lượng electron
(vân đạo) nguyên tử
Trang 15Trên thực tế, người ta thường chuyển phương trình sóng sang hệ tọa độ cầu:
,m
Heisenberg ta thấy, đối với electron đang chuyển động trong nguyên tử, chúng ta chỉ có thể biết
đấy electron sẽ xuất hiện thường xuyên hơn
Thay cho việc mô tả sự chuyển động của electron trong nguyên tử bằng những quỹ đạo chính xác,
vị trí chính xác ở thời điểm này hay thời điểm khác, cơ học lượng tử quan niệm rằng khi chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử, electron đã tạo nên vùng không gian bao quanh hạt nhân mà
nó có thể có mặt ở thời điểm bất kỳ với xác suất có mặt khác nhau Vùng không gian như vậy được được hình dung như là một đám mây (vân đạo) electron Nơi nào electron thường hay xuất hiện, nghĩa là xác suất có mặt của nó lớn, thì mật độ đám mây lớn
1.2.3.2 Orbital (vân đạo)
gian, ta được các vùng không gian thể hiện xác suất hiện diện của electron Các vùng này có hình
orbital (hay vân đạo) electron
(Lưu ý: hình dạng đám mây electron hay orbital nguyên tử chính là cách biểu diễn hình học của
hàm sóng trong hệ tọa độ cầu)
Các orbital s
(a) Mật độ phân bố electron trong các orbital 1s, 2s, 3s
(b) Bề mặt giới hạn của các orbital 1s, 2s, 3s
Trang 16Bề mặt giới hạn và sự định hướng của các orbital p
Bề mặt giới hạn và sự định hướng của các orbital d
Bề mặt giới hạn và sự định hướng của các orbital f
1.2.3.3 Số lượng tử (Quantum numbers)
trình Mỗi hàm sóng được đặc trưng bởi một bộ các số nguyên gọi là các số lượng tử (thực chất các
số lượng tử là các số xuất hiện khi áp dụng các điều kiện biên để giải phương trình Schrodinger) Các số lượng tử sẽ cho ta biết năng lượng, hình dạng và định hướng không gian của các vân đạo (orbital)
Trang 171.2.3.3.1 Số lƣợng tử chính (principal quantum number): ký hiệu là n
Có các giá trị: 1, 2, 3, 4, …, n
Xác định trạng thái năng lượng của electron trong nguyên tử
Electron ở lớp vỏ electron thứ n sẽ có năng lượng tính theo biểu thức:
Xác định kích thước vân đạo: n càng lớn vân đạo càng lớn, electron càng có nhiều thời gian ở xa hạt nhân
1.2.3.3.2 Số lƣợng tử phụ (subsidiary quantum number): ký hiệu là
Số lượng tử phụ đặc trưng cho moment động lượng của electron khi chuyển động trong nguyên tử
, xác định hình dạng của các vân đạo
Số lượng tử phụ thường được ghi dưới dạng chữ
1.2.3.3.3 Số lƣợng tử từ (magnetic quantum number): ký hiệu là m
của đám mây electron trong không gian
Bộ các số lượng tử cho phép xác định các trạng thái có thể có của các vân đạo
trong phân lớp
Số vân đạo trong lớp
Ký hiệu lớp
Ký hiệu vân đạo
Trang 181.2.3.3.4 Số lƣợng tử spin (spin quantum number): ký hiệu là m s
Khái niệm spin electron được đưa ra bởi Samuel Gondsmit và George Uhlenbeck vào năm 1925 Khi nghiên cứu phổ nguyên tử họ thấy rằng các vạch phổ đơn thực chất là do hai vạch phổ có vị trí rất gần nhau tạo thành do đó cần phải có thêm một số lượng tử thứ tư để giải thích phổ hấp thu của các nguyên tử Dựa vào các số liệu quang phổ họ đưa ra khái niệm rằng electron có moment từ do
sự quay quanh trục của nó Do chỉ có hai chiều quay nên chỉ có hai giá trị moment Hai giá trị này
2
và 1
2
Như vậy, 4 số lượng tử: n, , m, và m s hoàn toàn xác định trạng thái của electron trong nguyên tử
1.2.3.4 Nguyên lý loại trừ Pauli (1925)
Wolfgang Pauli đưa ra nguyên lý: “Trong nguyên tử, không thể nào tồn tại đồng thời hai nguyên
Các Orbital nguyên tử được sắp xếp theo thứ tự các mức năng lượng từ thấp đến cao như sau:
1.2.4.2 Nguyên tử nhiều electron
Trong nguyên tử nhiều electron trạng thái năng lượng của electron được xác định bởi số lượng tử chính n và số lượng tử phụ , trong đó ảnh hưởng của số lượng tử phụ càng lớn khi nguyên tử càng nhiều electron Điều này do năng lượng của electron trong nguyên tử nhiều electron không chỉ phụ thuộc sức hút hạt nhân mà còn vào lực đẩy giữa các electron
Do đó trạng thái năng lượng của electron chịu ảnh hưởng của 2 hiệu ứng: hiệu ứng chắn và hiệu ứng xâm nhập
Trạng thái nền
Trang 19 Hiệu ứng chắn: các electron bên trong biến thành màn chắn làm yếu lực hút của hạt nhân
hơn điện tích Z của hạt nhân (Z*: gọi là điện tích hiệu dụng)
Tác dụng chắn của các electron phụ thuộc vào các số lượng tử n, như sau:
cùng một phân lớp các electron chắn nhau càng yếu hơn
bên ngoài
lớp electron bên trong để xâm nhập vào gần hạt nhân
Các Orbital nguyên tử được sắp xếp theo thứ tự các mức năng lượng từ thấp đến cao như sau:
Sự phân bố electron trong nguyên tử nhiều electron (ở trạng thái nền) tuân theo các quy tắc sau:
1 Nguyên lý bền vững (Aufbau principle): Các electron chiếm dần các orbital có năng lượng từ
thấp đến cao
Trạng thái nền
Trang 20 Qui tắc Klechkowski:
Trong một nguyên tử nhiều electron, trật tự điền electron vào các orbital (đặc trưng bởi n
và ) sao cho tổng (n + ) tăng dần
Khi hai orbital khác nhau có cùng giá trị (n + ) thì orbital bị chiếm trước ứng với n nhỏ hơn
Như vậy thứ tự điền electron được sắp xếp theo trật tự sau: ns (n–2 )f (n–1)d np
Quy tắc này còn được cụ thể hóa bằng giản đồ sau:
2 Nguyên lý Pauli (Pauli exclusion principle): Trong một nguyên tử, không thể nào tồn tại
đồng thời hai nguyên tử có cả 4 số lượng tử giống như nhau Nghĩa là trong mỗi orbital electron chỉ có thể có tối đa hai electron
3 Quy tắc Hund (Hund’s rule):Trong cùng một phân lớp với nhiều orbital có cùng mức năng
lượng như nhau, các electron sẽ được phân bố thế nào để tổng spin của chúng là cực đại Nói cách khác, trong một phân lớp các electron sẽ phải phân bố sao cho số electron độc lập là tối
đa, đồng thời các electron đó phải có spin giống nhau
Hai cách sắp xếp trên thể hiện trạng thái kích thích của nguyên tử cacbon
(Lưu ý: chỉ có một cách sắp xếp thể hiện trạng thái nền, trong khi đó có rất nhiều cách sắp xếp thể hiện trạng thái kích thích)
Trang 211.2.5 Quy tắc Slater
1.2.5.1 Đại cương
nlm(r,,) = Rnl(r).Ylm(,) Kết quả giải phương trình Schroedinger đã xác định được hàm cầu nên muốn xác định hàm sóng thì
Sau khi nghiên cứu nhiều tài liệu thực nghiệm và tính toán theo lý thuyết, năm 1930, Slater đã đưa
ra hệ thức gần đúng xác định hàm bán kính R và hàm năng lượng E của một điện tử được đơn giản hóa theo biểu thức sau:
n ( Z )
2 2
1.2.5.2 Quy tắc Slater về số lượng tử chính hiệu dụng n *
1.2.5.3 Quy tắc Slater về điện tích hạt nhân hiệu dụng Z *
điện tử x nên không có tác dụng chắn
Trang 22d Riêng đối với điện tử x thuộc các vân đạo ns và np thì các điện tử trên tầng năng lượng
fluor có cấu hình điện tử 1s2 2s2 2p5
Giải:
năng lượng của các điện tử 2s và 2p
Giá trị thực nghiệm là 17,42eV
năng lượng của các điện tử 2s và 2p
Trang 23Giá trị thực nghiệm là 3,52eV
1.3 Một số vấn đề khác
1.3.1 Cấu hình electron đặc biệt
Do năng lượng của phân mức (n-1)d và ns sai khác nhau không đáng kể nên các nguyên tử có cấu hình electron (n1)d4 ns2, (n1)d9 ns2 lần lượt chuyển sang cấu hình (n1)d5 ns1, (n1)d10 ns1 với
1.3.2 Phân loại các nguyên tố
Dựa vào cấu hình electron, người ta phân loại thành các nguyên tố s, p, d, f
Để xác định loại nguyên tố, ta căn cứ vào electron cuối cùng được điền vào phân lớp nào thì tương ứng với loại nguyên tố đó
1.3.3 Cấu hình electron của các ion đơn giản
1.3.3.1 Anion (ion âm)
những phân lớp có năng lượng cao hơn (theo quy tắc Klechkowski)
Ví dụ: O [1s2 2s2 2p4] + 2e O2- [1s2 2s2 2p6]
1.3.3.2 Cation (ion dương)
hình electron của nguyên tử
Ví dụ: Al [1s2 2s2 2p6 3s2 3p1] – 3e Al3+ [1s2 2s2 2p6]
nhường electron, các electron ở phân lớp ns lại mất trước
Ví dụ 1: Ti ([Ar] 3d2 4s2) – 2e Ti2+ ([Ar] 3d2 4s0)
– 3e Ti3+ ([Ar] 3d1 4s0) – 4e Ti4+ ([Ar] 3d0 4s0)
Ví dụ 2: Fe ([Ar] 3d6 4s2) – 2e Fe2+ ([Ar] 3d6 4s0)
– 3e Fe3+ ([Ar] 3d5 4s0)
Trang 24Chương 2 BẢNG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC
1 Số lượng các nguyên tố và hợp chất được khám phá và tổng hợp ra càng ngày càng tăng với tốc
độ rất nhanh
2 Để có thể hiểu rõ các tính chất của các nguyên tố cũng như dễ dàng dự đoán và so sánh tính chất của các nguyên tố và các hợp chất của chúng, cần phải phân loại các nguyên tố theo các tính chất giống nhau của chúng
3 Có nhiều nỗ lực phân loại các nguyên tố theo các tiêu chuẩn khác nhau, trong đó, công trình thành công rực rỡ nhất là của nhà hóa học Nga Mendeleev
2.1.1 Sự phát hiện ra các nguyên tố – Cơ sở của định luật tuần hoàn
Vào thời kỳ đầu của nền hóa học, với quan niệm sai lầm về cấu tạo vật chất, các nhà hóa học trên thế giới bị cuốn vào trào lưu giả kim thuật trong đó họ tìm kiếm cách điều chế ra vàng từ những kim loại bình thường
Đến cuối thế kỷ 16 trào lưu giả kim thuật lụi tàn Các nhà hóa học tập trung vào công việc khám phá ra các nguyên tố hóa học, xác định khối lượng nguyên tử và tính chất của các nguyên tố
Tính đến năm 1800 đã có 36 nguyên tố hóa học được phát hiện Con số này là 55 vào năm 1840 và
63 vào năm 1870 (thời điểm mà Mendeleev đưa ra định luật tuần hoàn)
Với số lượng nguyên tố tìm được khá lớn, một nhu cầu cần thiết được đặt ra đó là hệ thống hóa lại tính chất của các nguyên tố hóa học nhằm tìm ra một quy luật biến đổi từ đó giúp việc phát triển của hóa học thuận lợi hơn
Với mục đích này, một hội nghị hóa học quốc tế đã được tổ chức tại Karlsruhe (Đức) Các nhà Hóa học trên thế giới tập trung lại để bàn bạc , thống nhất ý kiến về các vấn đề: “sự tồn tại của nguyên tử”; “khối lượng chính xác của các nguyên tố”; “sự liên hệ giữa tính chất của các nguyên tố” Trong hội nghị này có sự tham gia của hai nhà hóa học: Dimitri Mendeleev người Nga và Lothar Meyer người Đức
Sau hội nghị Karlsruhe, một loạt ý tưởng về sắp xếp các nguyên tố theo hệ thống đã được ra đời Điển hình là hai cách sắp xếp của Dechancourtois và Newlands
Năm 1862, Dechancourtois sắp xếp 50 nguyên tố theo trật tự khối lượng nguyên tử tăng dần theo đường xoắn ốc quanh một hình trụ
Năm 1864, Newlands sắp xếp 56 nguyên tố thành từng bộ 8
Cả hai sắp xếp trên đều mang tính liệt kê các nguyên tố, chưa thể hiện được quy luật biến đổi tính chất của các nguyên tố
Chỉ đến năm 1869 bài toán về quy luật sắp xếp các nguyên tố mới được giải khi đồng thời cả Mendeleev và Meyer đưa ra cách sắp xếp các nguyên tố theo các hàng và các cột theo chiều tăng dần của khối lượng nguyên tử Mendeleev gọi sự sắp xếp này là ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀN Tuy Mendeleev và Meyer cùng đưa ra cách sắp xếp tương tự nhau cho các nguyên tố, nhưng chính Mendeleev là người có công lớn nhất trong việc xây dựng hệ thống tuần hoàn khi ông sử dụng các ô trống trong hệ thống để tiên đoán được sự tồn tại của các nguyên tố chưa được tìm thấy lúc bấy giờ, trong khi Meyer lại không tán đồng việc tiên đoán sự tồn tại của các nguyên tố đó
Trang 252.1.2 Quá trình Mendeleev xây dựng định luật tuần hoàn
Mendeleev sinh ngày 27/1/1834 tại thành phố Tobol, Siberi Năm 1967, ông được đề cử làm giáo sư tại trường đại học Saint Petersburgs Trong quá trình viết cuốn sách “Cơ sở của Hóa học” (Principles of Chemistry) của mình, ông đã nghiên cứu sâu về tính chất của các nguyên tố cũng như
sự liên hệ giữa các nguyên tố với nhau Ông nhận thấy có sự biến đổi có quy luật của tính chất các nguyên tố và cố gắng sắp sắp xếp các nguyên tố theo quy luật đó
Để làm việc này, Mendeleev đã làm những tấm thẻ trên đó có viết tên các nguyên tố cùng với khối lượng nguyên tử và các tính chất của chúng Sau đó ông thử sắp xếp các tấm thẻ theo những trật tự khác nhau để tìm ra quy luật biến đổi tính chất Sự sắp xếp cuối cùng mà Mendeleev lựa chọn đó là xếp các nguyên tố theo từng hàng theo chiều tăng dần của khối lượng nguyên tử Bắt đầu mỗi hàng mới là một vòng lặp lại các tính chất của hàng cũ Cách sắp xếp này đặt các nguyên tố có tính chất giống nhau theo từng cột
Trong bảng sắp xếp của mình, Mendeleev đã để trống một số ô mà theo ông sẽ được điền vào bởi các nguyên tố chưa được tìm thấy vào thời điểm đó Ông thậm chí còn tiên đoán tính chất của các nguyên tố sẽ được điền vào các ố trống đó
Mendeleev gọi tên các nguyên tố ở 3 ô còn trống là eka-Bo, eka- Aluminium, và ekasilic (có nghĩa
là các nguyên tố đứng sau Bo, Nhôm, Sillic)
Mendeleev
Hệ thống tuần hoàn do Mendeleev đề nghị
Một thời gian sau lần lượt ba nguyên tố đã được phát hiện
1877: lecoq de Bois baudran tìm ra Gallium (eka-aluminium)
1879: Lar Federic Nilson tìm ra Scandium (eka- Bo)
1886: Clemens Winkler tìm ra Germanium (eka-silic)
Cả ba nguyên tố mới được phát hiện đều có khối lượng nguyên tử và tính chất tương tự như Mendeleev đã dự đoán hơn 10 năm trước đó
Với sự tìm ra 3 nguyên tố trên, định luật tuần hoàn Mendeleev đã chứng tỏ được giá trị của mình và
đã được chấp nhận rộng rãi
2.1.3 Những hiệu chỉnh và bổ xung cho hệ thống tuần hoàn
Tuy đạt được những thành công rực rỡ và được áp dụng rộng rãi Hệ thống tuần hoàn của Mendeleev cũng có một số khuyết điểm
Trang 26Người đầu tiên nhận thấy khuyết điểm của HTTH là William Ramsay Vào những năm 1894 – 1898 Ramsay đã tìm ra một loạt các khí trơ như Ar, Ne nhưng các nguyên tố này hầu như không được Mendeleev nhắc tới trong hệ thống tuần hoàn
Ramsay đã đề nghị xếp thêm một nhóm vào hệ thống tuần hoàn ngay sau nhóm 7 của F, Cl, Br và trước nhóm của kim loại kiềm Li, Na, K Nhóm các khí trơ này được gọi là nhóm 0 hay nhóm VIII Một mâu thuẫn nữa nảy sinh trong hệ thống tuần hoàn đó là thứ tự sắp xếp các nguyên tố theo chiều tăng dần của khối lượng nguyên tử có một vài bất ổn
Nếu xếp như vậy thì Ar (khối lượng nguyên tử = 39.94) phải xếp sau K (khối lượng nguyên tử = 39.098); Ni (khối lượng nguyên tử = 58.70) phải xếp trước Co (khối lượng nguyên tử = 58.9332) như vậy sẽ không đảm bảo quy luật biến đổi tính chất
Đến năm 1913 mâu thuẫn này mới được giải quyết bởi nhà bác học người Anh tên Hendry Moseley
Moseley nhận thấy khi các nguyên tố bị bắn phá bởi các điện tử chuyển động nhanh thì chúng sẽ phát ra bức xạ có năng lượng lớn (gọi là tia X) Năng lượng tia X này phụ thuộc vào điện tích hạt nhân của các nguyên tố Thông qua việc nghiên cứu tia X phát xạ từ các nguyên tố, Moseley đã xác định chính xác điện tích hạt nhân của các nguyên tố
Sau nghiên cứu này, Moseley đề nghị sắp xếp các nguyên tố theo chiều tăng dần của đơn vị điện
tích hạt nhân
Sự thay đổi cơ bản gần đây nhất được thực hiện bởi Glenn Seaborg Bắt đầu từ việc ông phát hiện
ra nguyên tố Plutonium vào năng 1940 khi bắn các hạt neutron vào hạt nhân Uranium Tiếp đó ông tổng hợp được các nguyên tố “Siêu Uranium” có thứ tự từ 94 đến 102 bằng phương pháp bắn hạt nhân Glenn Seaborg cũng chính là người đã đề nghị xếp các nguyên tố họ Lantan (Lanthanide) và
họ Actini (Actinide) ra thành hai hàng riêng biệt
Hiện nay, hệ thống tuần hoàn đã có 109 nguyên tố, các nguyên tố tiếp theo (110, 111, 112) đang được tổng hợp
2.2 Bảng phân loại tuần hòan
2.2.1 Định luật tuần hoàn
1 Năm 1869, Mendeleev công bố định luật tuần hoàn như sau:
Tính chất của các nguyên tố cũng như thành phần và tính chất của các đơn chất và hợp chất tạo nên từ các nguyên tố đó biến thiên một cách tuần hoàn theo thứ tự tăng dần của khối lượng nguyên tử
2 Với những thành quả trong việc xác định cấu trúc nguyên tử từ năm 1913, người ta đổi việc sắp
xếp nguyên tử lại theo thứ tự tăng dần của điện tích hạt nhân
Trang 272.2.2 Cấu trúc bảng phân loại tuần hoàn
Bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học lần đầu tiên được Mendeleev đề nghị gồm 63 nguyên tố Dựa trên định luật tuần hoàn này, Medeleev xây dựng bảng phân loại tuần hoàn dạng ngắn giống như dạng bảng ngắn hiện nay gồm 8 cột thể hiện 8 nhóm và 7 hàng thể hiện 7 chu kỳ Tuy nhiên hiện nay, người ta thường sử dụng dạng bảng dài, gồm 114 nguyên tố được sắp xếp theo
trật tự tăng dần của đơn vị điện tích hạt nhân
Cấu trúc của bảng phân loại tuần hoàn dạng dài được biểu diễn như sau:
7 chu kỳ: mỗi chu kỳ bắt đầu bằng một kim loại kiềm (trừ hydro) có cấu hình điện tử lớp
Chu kỳ dài
nguyên tố f thuộc họ Lanthanide)
thuộc họ Actinide và một số nguyên tố p)
8 nhóm (với 18 cột): mỗi nhóm được chia thành hai phân nhóm:
Phân nhóm chính (phân nhóm A): gồm các nguyên tố s, p
Phân nhóm phụ (phân nhóm B): gồm các nguyên tố d Riêng nhóm 8B gồm 3 cột ứng
Trang 28Ví dụ: S [Ne] 3s2 3p4: có 3 lớp vỏ điện tử thuộc chu kỳ 3
2.2.3.2 Nhóm
Các nguyên tố có số điện tử hóa trị bằng nhau được xếp vào cùng một nhóm
Số điện tử hóa trị = Số thứ tự của nhóm
(Điện tử hóa trị là các electron có năng lượng lớn, liên kết không chặt lắm với hạt nhân Do đó các
electron này có khả năng tham gia vào việc tạo thành liên kết hóa học)
Đối với nguyên tố s, p:
Số điện tử hóa trị = (e ns + e np ) = số điện tử lớp ngoài cùng (n: lớp ngoài cùng)
Đối với nguyên tố d:
Số điện tử hóa trị = (e ns + e (n-1)d ) (n: lớp ngoài cùng)
Trường hợp ngoại lệ:
lượt là 9, 10 nhưng tính chất của các nguyên tố này có nhiều điểm giống với các nguyên
4s2: có 8e hóa trị Co: [Ar] 3d7 4s2: có 9e hóa trị Ni: [Ar] 3d8 4s2: có 10e hóa trị
trường hợp electron hóa trị dường như chỉ là các electron ở phân lớp ns, tức là có giá trị
1, 2 Do đó, các nguyên tố này được xếp tương ứng vào nhóm I và II
Đối với nguyên tố f: các nguyên tố này được xếp ngoài bảng tuần hoàn
với nguyên tố Lantan
2.2.3.3 Phân nhóm
Các nguyên tố có cùng số electron hóa trị và giống nhau cả về cấu trúc lớp vỏ electron được xếp cùng một phân nhóm
Các nguyên tố s, p: xếp thành các phân nhóm A Phân nhóm này gồm các nguyên tố thuộc
cả chu kỳ nhỏ và chu kỳ lớn Riêng phân nhóm 8A vì có cấu hình bão hòa ns2 np6 bền vững, các electron lớp ngoài cùng không tham gia liên kết hóa học nên còn được gọi là nhóm 0
Trang 29Ví dụ: Na: [Ne] 3s1 thuộc phân nhóm IA
Các nguyên tố d: xếp thành các phân nhóm B Phân nhóm này chỉ gồm các nguyên tố thuộc
2.3 Sự biến đổi tính chất của các nguyên tố trong hệ thống tuần hoàn
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất nguyên tố
Tính chất của các nguyên tố phụ thuộc vào trạng thái của lớp điện tử hóa trị Các yếu tố ảnh hưởng đến lớp điện tử hóa trị gồm:
1 Số thứ tự lớp vỏ điện tử hóa trị (n)
2 Điện tích hạt nhân nguyên tử (Z)
điện tử hóa trị
4 Hiệu ứng xâm nhập của các điện tử hóa trị: ns > np > nd
5 Độ bão hòa hay bán bão hòa của lớp vỏ điện tử hóa trị
6 Trong các yếu tố trên, n và Z có ảnh hưởng mạnh Tùy vào mối tương quan giữa n và Z có
thể giải thích được xu hướng biến đổi tính chất của các nguyên tố
Các yếu tố còn lại giúp giải thích tính không đều đặn và đơn điệu trong xu hướng biến đổi tính chất của các nguyên tố Trong đó, do tác dụng dụng chắn yếu của các phân lớp (n-1)d và (n-2)f dẫn đến
sự xuất hiện 2 hiệu ứng đặc biệt sau:
Hiệu ứng co d: Tại chu kỳ 4 và 5, sau các nguyên tố s có sự xuất hiện của 10 nguyên tố d
làm cho điện tích hạt nhân tăng vọt so với các chu kỳ trước Sự tăng vọt điện tích hạt nhân này sẽ tác động mạnh đến lực hút giữa hạt nhân lên các điện tử của các nguyên tố p và chính các nguyên tố d Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng co d
Hiệu ứng này ảnh hưởng mạnh đến sự biến đổi tính chất của các nguyên tố p nằm ở chu kỳ
4, yếu hơn ở chu kỳ 5
Hiệu ứng co f: Tại chu kỳ 6 và 7, sau các nguyên tố s có sự xuất hiện của 14 nguyên tố f
làm cho điện tích hạt nhân tăng vọt so với các chu kỳ trước Sự tăng vọt điện tích hạt nhân này sẽ tác động mạnh đến lực hút giữa hạt nhân lên các điện tử của các nguyên tố p, nguyên
tố d và chính các nguyên tố f Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng co f
Hiệu ứng này ảnh hưởng mạnh đến sự biến đổi tính chất của các nguyên tố p nằm ở chu kỳ
6, yếu hơn ở chu kỳ 7
Dựa vào vị trí của các nguyên tố trong hệ thống tuần hoàn ta có thể giải thích được quy luật biến đổi tính chất của các nguyên tố Cụ thể là các tính chất: kích thước nguyên tử, năng lượng ion hóa, ái lực điện tử, độ âm điện
2.3.2 Bán kính nguyên tử (Atomic Radii)
Từ mô hình cơ học lượng tử chúng ta đã biết rằng nguyên tử không có kích thước xác định
Người ta thường dùng bán kính của các nguyên tử sau khi đã liên kết bằng một liên kết nào đó Bán kính này được đo thông qua khoảng cách giữa hai hạt nhân của phân tử hay tinh thể đơn chất
Bán kính được xác định theo nguyên tắc trên gọi là bán kính hiệu dụng
Trang 30Hai loại bán kính nguyên tử thường được sử dụng đó là bán kính kim loại (đo trên kim loại) và bán kính cộng hóa trị (đo trên chất có bản chất liên kết cộng hóa trị)
Thông thường bán kính cộng hóa trị có xu hướng nhỏ hơn bán kính kim loại vì khi tạo liên kết cộng hóa trị, các lớp vỏ điện tử thường có xu hướng xen phủ với nhau
Người ta vẫn quy ước bán kính cộng hóa trị của nguyên tử A bằng một
cộng hóa trị
A A A
dr
Xu hướng biến đổi bán kính nguyên tử trong hệ thống tuần hoàn
Sự biến đổi bán kính nguyên tử trong hệ thống tuần hoàn thể hiện qua đồ thị sau:
Ta nhận thấy xu hướng biến đổi bán kính nguyên tử như sau:
Theo chiều tăng dần điện tích hạt nhân, bán kính nguyên tử giảm Điều này giải thích do
số lớp điện tử bằng nhau nhưng điện tích hạt nhân tăng dần nên sức hút của hạt nhân đối với điện tử lớp ngoài cùng tăng lên làm cho nguyên tử co rút lại, do đó bán kính nguyên
tử giảm dần
Sự giảm bán kính nguyên tử trong một chu kỳ xảy ra không đơn điệu: sự giảm bán kính xảy mạnh khi electron được điền vào phân lớp s và yếu dần khi electron điền vào các
các lớp electron bên trong nên ít chịu ảnh hưởng của hiệu ứng chắn của các lớp bên
- Trong một chu kỳ nhỏ, chỉ có nguyên tố s và p, do đó bán kính giảm một cách rõ ràng và tương đối đều đặn
- Trong chu kỳ dài, khi đi qua nguyên tố d và f điện tích hạt nhân vẫn tăng nhưng do
chúng có tác dụng chắn bớt một phần sức hút của hạt nhân với lớp vỏ ngoài cùng, do
đó bán kính giảm chậm
Trang 31 Trong một phân nhóm chính:
Khi đi từ trên xuống dưới, bán kính nguyên tử tăng dần do tăng dần số lớp vỏ electron (điện tích hạt nhân cũng tăng nhưng ảnh hưởng không mạnh so với sự tăng số lớp vỏ)
“co f”
Khi đi từ trên xuống dưới, bán kính thay đổi không nhiều do ảnh hưởng đồng thời của sự
2.3.3 Bán kính ion (Ionic Radii)
Bán kính ion thường được tính từ khoảng cách giữa hai hạt nhân kề nhau trong tinh thể ion Nó được áp dụng cho các hợp chất ion
nhỏ hơn bán kính nguyên tử tương ứng
Ví dụ: Bán kính của các kim loại kiềm và các ion dương tương ứng như sau:
bán kính của nguyên tử tương ứng
Ví dụ: Bán kính của các nguyên tố Halogen và các ion tương ứng như sau:
Trang 32Xu hướng biến đổi bán kính ion trong hệ thống tuần hoàn
tăng dần
2s2 2p6
dần từ trái sang phải
tử d19
2.3.4 Năng lượng ion hóa (Ionization Energy)
Năng lượng ion hóa (I) là năng lượng cần tiêu tốn để tách một electron ra khỏi nguyên tử cô lập ở thể khí và ở trạng thái cơ bản
M(K) + I1 M+(K) + e
trình bứt electron thứ nhất, thứ hai, thứ ba,… , trong đó I1 < I2 < …
M+(K) + I2 M2+(K) + e
M2+(K) + I3 M3+(K) + e
…
ứng với quá trình thu nhiệt
Đơn vị đo: eV/nguyên tử hoặc KJ/mol
Đối với cùng một nguyên tố: I1 < I2 < I3 < …
kim loại của các đơn chất
Xu hướng biến đổi năng lượng ion hóa trong hệ thống tuần hoàn
Sự biến đổi năng lượng ion hóa thứ nhất trong hệ thống tuần hoàn thể hiện qua đồ thị sau:
Trang 33 Trong một chu kỳ, khi đi từ trái sang phải, năng lượng ion hóa tăng dần do bán kính giảm dần nên lực hút của hạt nhân lên điện tử tăng dần
tăng dần nên lực hút của hạt nhân lên điện tử giảm dần
cấu hình điện tử bão hòa hay bán bão hòa sẽ có năng lượng ion hóa cao hơn bình thường
do độ bền của các cấu hình này
Ví dụ: Trong chu kỳ 2 ta thấy IB < IBe và IO < IN
2.3.5 Ái lực điện tử (Electron Affinity)
Ái lực điện tử (A) là năng lượng tỏa ra hay cần cung cấp để nguyên tử cô lập ở thể khí nhận thêm một điện tử để trở thành ion âm
X(K) + e X(K) + A1
Trang 34 Dấu của ái lực điện tử được quy ước theo dấu của nhiệt động học:
- Dấu (+) tương ứng với quá trình thu nhiệt
(Cần lưu ý: có tài liệu sử dụng dấu của ái lực điện tử ngược với dấu nhiệt động học)
luôn có giá trị dương vì quá trình nhận thêm điện tử vào các ion âm cần phải tiêu tốn năng lượng
Năng lượng ái lực điện tử cho biết phần nào khả năng nhận điện tử, tức là tính oxi hóa
hay tính không kim loại của các đơn chất
Xu hướng biến đổi năng lượng ion hóa trong hệ thống tuần hoàn
Sự biến đổi ái lực điện tử của các nguyên tố trong hệ thống tuần hoàn thể hiện như sau:
Trang 35 Trong một phân nhóm, khi đi từ trên xuống dưới, ái lực điện tử giảm dần do bán kính tăng dần
đơn điệu, các tiểu phân có cấu hình điện tử gần bão hòa hay bán bão hòa sẽ có ái lực điện tử cao hơn bình thường do độ bền của các cấu hình này
Ví dụ: Trong chu kỳ 2 ta thấy: ái lực điện tử của Li > Be và C > N
2.3.6 Độ âm điện (Electronegativity)
hóa học với nguyên tử của nguyên tố khác
Độ âm điện được sử dụng để giải thích bản chất liên kết hóa học giữa 2 nguyên tử
Có nhiều thang độ âm điện, nhưng phổ biến nhất là thang độ âm điện của Pauling và Mulliken
lần lượt là EAA, EBB và EAB
Nếu liên kết là cộng hóa trị 100%, ta có:
A B A A B B
I A2
Xu hướng biến đổi năng lượng ion hóa trong hệ thống tuần hoàn
trong lúc bán kính nguyên tử giảm làm lực hút giữa hạt nhân và điện tử tăng
nhân tăng nhưng hiệu ứng chắn của các điện tử ở lớp bên trong làm lực hút giữa hạt nhân và điện tử giảm
2.3.7 Tính kim loại-không kim loại
Biến thiên của tính kim loại-không kim loại phù hợp với biến thiên của độ âm điện
tính không kim loại tăng dần nên tính oxi hóa tăng
Và tính không kim loại giảm dần nên tính oxi hóa giảm
Trang 36Chương 3 LIÊN KẾT HÓA HỌC
3.1 Các khái niệm cơ bản về liên kết hóa học
3.1.1 Bản chất liên kết hóa học
Người ta thừa nhận liên kết hóa học có bản chất điện
Một cách chính xác, khi tạo liên kết để hình thành tiểu phân, cấu trúc điện tử của các nguyên tử không còn tồn tại như trạng thái ban đầu của nó
Một cách gần đúng, người ta cho rằng chỉ có các điện tử hóa trị nằm trong các vân đạo hóa trị của nguyên tử tham gia vào quá trình tạo liên kết
Vì vậy, trước khi xem xét các biến đổi của liên kết trong quá trình phản ứng, phải xác định rõ ràng cấu hình điện tử của các nguyên tử tham gia phản ứng, nghĩa là xác định các điện tử hóa trị và vân đạo hóa trị của chúng
Hình dung một cách trực quan là khi hình thành liên kết, các điện tử sẽ phân bố lại vị trí trong không gian để tạo thành liên kết khiến cho các hạt nhân gắn kết lại với nhau
Có hai cách phân bố điện tử hóa trị chủ yếu để tạo thành hai loại liên kết chính là liên kết ion và liên kết cộng hóa trị
So sánh liên kết ion và liên kết cộng hóa trị
tố có độ âm điện lớn hơn
Điện tử hóa trị được sử dụng chung cho cả hai nguyên tử
3.1.2 Liên kết dưới quan điểm nhiệt động lực hóa học
Trong một thời gian dài trước đây, người ta không giải thích được tại sao lại có
thể chuyển hóa chất này thành chất kia một cách dễ dàng mà khó, thậm chí không
thể, tiến hành quá trình ngược lại
Bằng cách vay mượn các quan điểm của ngành nhiệt động lực học, người ta xác
định được động lực của các quá trình hóa học chính là chênh lệch năng lượng tự
do của hệ phản ứng trước và sau khi phản ứng
Hệ sẽ càng bền khi năng lượng tự do của hệ càng thấp Phản ứng chỉ tự xảy ra khi
có sự giảm năng lượng của hệ
(2 mol nguyên tử H) là 103,6 kcal
Trang 37Phần giảm năng lượng tự do này được hình thành là do sự biến đổi của các liên kết khi chuyển hóa
từ các tác chất thành sản phẩm
Theo quy ước của nhiệt động lực học, liên kết càng bền nếu năng lượng liên kết càng âm, nghĩa là càng nhỏ
Điều này có nghĩa là nếu các liên kết mới được hình thành trong sản phẩm có năng lượng càng âm
so với các liên kết cũ trong tác chất thì sản phẩm càng bền
Thực tế thì các nhà hóa học hay sử dụng giá trị tuyệt đối của năng lượng liên kết nên lại thường nói rằng liên kết càng bền khi năng lượng liên kết càng lớn Do đó, cần lưu ý điều này để tránh các nhầm lẫn đáng tiếc
3.1.3 Các thông số đặc trưng cho liên kết
3.1.3.1 Năng lượng liên kết (E)
nguyên tử cô lập Năng lượng liên kết càng lớn thì liên kết càng bền
3.1.3.2 Độ dài liên kết (d)
với nhau Độ dài liên kết càng ngắn thì liên kết càng bền
diện đều Nguyên tử C nằm ở vị trí tâm của tứ điện còn 4 nguyên tử H nằm ở 4 đỉnh tứ diện
3.2 Vài nét về sự phát triển của các lý thuyết về liên kết hóa học
Tính chất của các chất phụ thuộc vào bản chất của liên kết hóa học và cách sắp xếp các nguyên tử trong chất Do đó việc tìm hiểu bản chất và đưa ra mô hình mô tả tính chất của liên kết hóa học là việc làm vô cùng cần thiết
Đã có nhiều lý thuyết được đưa ra, tuy nhiên chưa có một lý thuyết nào có thể giải thích hoàn chỉnh tính chất của tất cả các loại liên kết hóa học Mỗi lý thuyết đều có một số ưu khuyết điểm riêng Do
đó, ta phải sử dụng những lý thuyết thích hợp cho từng điều kiện cụ thể
Trang 38Trước thế kỷ 20, khi lý thuyết về cấu trúc lớp vỏ điện tử của nguyên tử chưa hình thành, đã có nhiều lý thuyết giải thích bản chất của liên kết hóa học ví dụ như “Thuyết lực hấp dẫn” của Bergmann, Berthollet; “Thuyết điện hóa” của Berzelius; “Thuyết Hóa Trị” của Frankland; tuy nhiên những thuyết này đều tỏ ra có nhiều khiếm khuyết nên đã không được áp dụng rộng rãi
Cùng với sự phát triển của các hiểu biết về cấu tạo nguyên tử vào đầu thế kỷ 20, các lý thuyết có giá trị về liên kết hóa học lần lượt ra đời
Năm 1916, dựa trên quan niệm về cấu hình điện tử Lewis đưa ra “Thuyết bát tử” để giải thích liên
kết hóa học Theo thuyết này khi các nguyên tử tương tác với nhau thì lớp điện tử ngoài cùng của chúng sẽ thay đổi để đạt cấu hình bền của khí trơ gồm 8 điện tử Mỗi liên kết hóa học trong trường hợp này được thực hiện bằng một cặp điện tử trao đổi giữa 2 nguyên tử tương tác Nếu cặp điện tử
đồng thời thuộc về cả 2 nguyên tử tương tác thì liên kết được gọi là liên kết cộng hóa trị, còn nếu cặp điện tử chỉ thuộc về một nguyên tử tương tác thì liên kết được gọi là liên kết ion
Ví dụ:
có cấu hình (1s2 2s2 2p6); Cl (1s2 2s2 2p6 3s2 3p5 ) nhận từ Na một điện tử để tạo thành Cl– có cấu hình (1s2 2s2 2p6 3s2 3p5)
hòa 8 điện tử
Thuyết bát tử tuy đơn giản nhưng không giải thích được bản chất của sự tạo thành liên kết cũng như các đặc trưng của liên kết (như độ bền liên kết, góc của liên kết) Do đó, thuyết bát tử đã không giải
quanh nguyên tử có nhiều hoặc ít hơn 8 điện tử
Đối với trường hợp ion cũng vậy, các kim loại chuyển tiếp thường không có cấu hình bát bộ như
Fe2, Fe3, Cu, Cu2, …
Thuyết liên kết hóa học hiện đại được xây dựng dựa trên lý thuyết cơ học lượng tử về cấu tạo
quá phức tạp nên người ta phải sử dụng các phương pháp gần đúng Hai phương pháp được sử dụng rộng rãi là: Phương pháp VB (Valence Bond) của Heitler, London, Pauling, Slater và Phương pháp
MO (Molecular Orbital) của Mulliken, Hund
Năm 1927, W Heitler, F London xây dựng phương pháp VB (còn gọi là “Thuyết liên kết hóa
trị”) trên cơ sở áp dụng kết quả của hóa học lượng tử và đưa ra khái niệm “xen phủ vân đạo” Theo
thuyết này liên kết hóa học được hình thành do sự xen phủ của các vân đạo nguyên tử của các
nguyên tử Về sau L Pauling và J C Slater (năm 1931) bổ sung thêm khái niệm “lai hóa vân đạo”
giúp cho thuyết liên kết hóa trị giải thích được đa số các tính chất của liên kết cộng hóa trị như hình dạng phân tử, độ bội liên kết, độ bền liên kết Tuy nhiên thuyết liên kết hóa trị có nhiều khuyết điểm, đặc biệt là không giải thích được các tính chất từ cũng như phổ điện tử của các phân tử
Năm 1931, Hund, Mulliken, xây dựng phương pháp MO (còn gọi là “Thuyết vân đạo phân tử”)
để bổ sung cho những khiếm khuyết trên Thuyết MO dựa trên sự mở rộng khái niệm hàm sóng cho trường hợp phân tử
Trang 39Phân tử là hệ phức tạp gồm nhiều hạt nhân và nhiều điện tử tương tác với nhau, do đó theo cơ học lượng tử ta chỉ có thể nói về hàm sóng chung của cả hệ phân tử mà không thể nói về trạng thái riêng
rẽ của từng hạt cấu thành
Cũng giống như trạng thái của nguyên tử nhiều điện tử được mô tả dưới dạng tập hợp các vân đạo nguyên tử, trạng thái của phân tử nhiều điện tử cũng được mô tả bởi các Vân đạo phân tử Trạng thái của toàn bộ phân tử được xác định bởi trạng thái của tất cả các điện tử trong phân tử nghĩa là
tử) qua đó xác định được trạng thái của các điện tử trong phân tử từ đó giải thích được tính chất cũng như bản chất của liên kết giữa các nguyên tử trong phân tử
3.3 Liên kết ion
Mô hình liên kết ion
Liên kết ion được hình thành khi các điện tử hóa trị của các nguyên tử tham gia liên kết thuộc về nguyên tố có độ âm điện cao hơn
điện tích q+ và bán kính r+
điện tích là q– và bán kính r–
Lực tương tác giữa các ion là lực tĩnh điện
3.3.1 Điều kiện hình thành liên kết ion
Khả năng tạo thành liên kết ion của các nguyên tố thể hiện ở khả năng tạo thành ion của chúng Đối với các ion đơn giản 1 nguyên tử, khả năng này được đánh giá dựa trên năng lượng ion hóa và
ái lực điện tử của nguyên tố Các nguyên tố có năng lượng ion hóa nhỏ dễ tạo thành ion dương Các nguyên tố có ái lực điện tử lớn dễ tạo thành ion âm
Ngoài liên kết ion giữa các ion đơn giản, liên kết ion còn tạo thành giữa các ion phức tạp
Thực tế không có liên kết ion 100% Trong một liên kết giàu tính ion nhất thì mật độ điện tử cũng
thuộc một phần về ion dương chứ không mất hẳn về cho ion âm Điều này có thể giải thích do hiện
tượng phân cực hóa lẫn nhau giữa các ion trái dấu (xem mục 3.4.4)
3.3.2 Tính chất của liên kết ion
Do bản chất của lực liên kết là lực tĩnh điện nên liên kết ion có 2 tính chất chính là:
Bất định hướng: Tính bất định hướng khiến cho một ion hút các ion ngược dấu theo mọi
phương là như nhau nên các ion có thể liên kết với các ion trái dấu theo bất kỳ phương nào
Bất bão hòa: Tính bất bão hòa khiến cho một ion hút các ion ngược dấu với một số lượng
tối đa, ngoại trừ hiệu ứng lập thể làm hạn chế lượng ion trái dấu có thể bao quanh ion đó
Hệ quả là sự phân bố trong không gian của các ion chủ yếu phụ thuộc vào kích thước và điện tích của các ion