1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sang kien hoa hoc - DUONG

20 317 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống bài tập hoá học trong giảng dạy hoá học ở bậc Trung học cơ sở
Tác giả Lương Xuân Dương
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Tổng kết kinh nghiệm
Thành phố Pleiku
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 206,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy làm thế nào để giúp học sinh nắm được kiến thức hoá học một cách cơ bản, hệ thống bài tập hoá học giữ một vai trò to lớn trong việc dạy và học hoá học ở trường phổ thông, được coi là

Trang 1

MỤC LỤC

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

III PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:

1.Điều tra thực trạng và tâm lý học sinh:

2.Phương pháp:

2.1 Bài tập về các phép tính về nồng độ dung dịch: 2.2 Bài tập về các phép tính về công thức hoá học 2.3 Bài tập về các phép tính theo phương trình hoá học ở dạng phức tạp hơn.

2.4 Một số bài toán tổng hợp:

3.Dạy đối chứng và dạy thực nghiệm:

IV KẾT LUẬN

Trang 2

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Bộ môn hoá học ở nhà trường phổ thông có mục đích trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức hoá học cơ bản bao gồm các kiến thức về cấu tạo chất, các định luật hoá học cơ bản, các khái niệm, các học thuyết phân loại các chất và tính chất của vật Việc nắm vững các kiến thức hoá học cơ bản góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc Phổ thông, chuẩn bị cho học sinh tham gia các hoạt động sản xuất và xã hội sau này

Nhưng hiện nay tỉ lệ học sinh yêu thích môn này rất hạn chế chỉ

khoảng 40% học sinh ở tại Thành Phố Pleiku trả lời “thích” khi được hỏi

“em có thích học môn hoá học không ?” còn lại thì mơ hồ và coi bộ môn hoá học “là rất khó đối với chúng em” Còn tại địa phương tôi giảng dạy có

trên 30% học sinh người đồng bào thì trên 70% học sinh không thích bộ môn vì nó quá trừu tượng và các em không được thực hành do điều kiện nhà trường (không có phòng thí nghiệm) Đây là một khó khăn không nhỏ trong việc đào tạo một thế hệ làm chủ đất nước trong tương lai, khi mà trên thế giới công nghệ thay đổi từng ngày Vậy làm thế nào để giúp học sinh nắm được kiến thức hoá học một cách cơ bản, hệ thống bài tập hoá học giữ một vai trò to lớn trong việc dạy và học hoá học ở trường phổ thông, được coi là một trong những phương pháp quan trọng nhất để nâng cao dạy học của môn học, hệ thống bài tập hoá học nhằm mục đích củng cố khắc sâu, hoàn thiện kiến thức đã học, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức

đi vào sản xuất, đời sống, đồng thời từ nội dung bài tập có thể mở rộng, đi sâu và rút ra những kiến thức mới Một cách khái quát có thể nói rằng: hệ thống bài tập hoá học và phương tiện quan trọng trong việc phát triển tư

Trang 3

duy học sinh Việc giải bài tập của học sinh, các thiếu sót được sửa chữa, kiến thức được mở rộng và đào tạo sâu và rèn luyện cho học sinh kỷ năng vận dụng kiến thức đã học vào từng trường hợp cụ thể

Qua quá trình nghiên cứu, sử dụng các phương pháp, hướng dẫn học sinh giải bài tập, bản thân tôi thấy được việc sử dụng phương pháp giải bài tập hoá học hợp lý có tác dụng thu hút sự chú ý, lôi cuốn học sinh vào quá trình tiếp thu bài giảng, giúp học sinh hiểu sâu, nắm vững các kiến thức

hoá học cơ bản nên tôi chọn đề tài “Hệ thống bài tập hoá học trong giảng dạy hoá học ở bậc Trung học cơ sở”

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

-Điều tra tìm hiểu thực trạng và tâm lý học sinh

-Đề ra phương pháp

-Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng

-Rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 4

III PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:

1.Điều tra thực trạng và tâm lý học sinh:

Khi tôi tiến hành điều tra 15 học sinh trường Phan Bội Châu “em có cảm nhận gì về bộ môn hoá học ?” thì có 4 học sinh trả lời “em thấy bộ môn này rất hay và em thích nó nhưng nó cũng tương đối rắc rối” còn lại thì “bộ môn này phức tạp và em chẳng thích tí nào” đối với trường tôi khi

điều tra 30 học sinh trong đó có 10 học sinh đồng bào thì chỉ có 5 học sinh

(có 1 em đồng bào) “bộ môn này hay, em thích học nó”, còn lại đều cho rằng “bộ môn này rất phức tạp đối với em”.

Ngay trong thực tế giảng dạy ở trường Phổ thông phần lớn các em đều mơ hồ, kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải bào tập còn rất kém, cả khi học thuộc bài, chính vì vậy mà các em cảm thấy chán và không muốn học bộ môn đó:

Bộ môn có tính trừu tượng cao nên chỉ được học lớp 8, 9 của bậc Trung học cơ sở vì học sinh có thể chỉ tiếp thu được môn học này trên cơ sở đã có những kiến thức nhất định về toán học và đặt biệt là vật lý học, những kiến thức mở đầu khá trừu tượng như thuyết nguyên tử, phân tử, học sinh không thể quan sát được, do đó khó nhớ, khó hình dung Việc được hệ thống bài tập nhất là bài tập định hướng giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc hiểu nắm vững những khái niệm này, trong khi giải bài tập, giúp học sinh sẽ có điều kiện vận dụng những kiến thức có liên quan đến vật lý, toán học, biết sử dụng các thao tác toán học để giải các bài tập tính toán về hoá học để hiểu rõ hơn mặt định hướng của hoá học

Trang 5

Nên việc sử dụng bài tập trong dạy - học môn hoá học ở bậc Phổ thông Trung học cơ sở nói riêng là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng Cần phải thấy rằng kết quả học tập hoá học của học sinh gắn liền với kết quả thu được về kỹ năng giải bài tập hoá học liên tục trong suốt quá trình dạy và học hoá ở tất cả mọi khâu giảng bài mới trên lớp, củng cố luyện tập, dựa trên quan điểm đó, mà trong quá trình dạy hoá học ở bậc trung học cơ sở tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài tập hoá học theo một hệ thống bài tập nhằm khắc sâu củng cố kiến thức cho học sinh có khả năng tiếp cận kiến thức về hoá học từ lớp này sang lớp khác, từ cấp II lên cấp III một cách dễ dàng hơn

2.Phương pháp:

Giải bài tập hoá học là biện pháp quan trọng giúp học sinh nắm vững có cơ sở hoá học Việc đưa hệ thống bài tập hoá học vào quá trình dạy - học hoá học nhằm thực hiện các vấn đề sau

- Đảm bảo tính tích cực và tự lực của học sinh

- Đạt độ bền kiến thức và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức

- Thực hiện gắn liền việc dạy - học hoá với thực tiễn hàng ngày và nền sản xuất đặc biệt là sản xuất hoá học

- Hệ thống bài tập hoá học phải được lựa chọn sao cho phù hợp với thời gian có thể có được của thầy và trò trên lớp cũng như ở nhà Số lượng bài tập không được nhiều quá làm mệt mỏi học sinh, làm mất hứng thú của các em, nhưng cũng không ít quá Hệ thống bài tập phải vừa sức đối với học sinh, chú ý trình độ chung cho mọi học sinh, những bài tập dành riêng cho từng loại giỏi, khá, trung bình và yếu Bài tập không dễ quá làm học sinh coi thường, không nên khó quá làm học sinh dễ nản chí và mất nhiều thời gian để giải, ảnh hưởng đến các môn học khác Hệ thống bài tập được lựa chọn hoặc tự soạn phải tuân theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ những

Trang 6

bài tập đơn giản đến những bài tập tổng hợp Tất cả các bài tập đã ra cho học sinh phải được giáo viên kiểm tra, đánh giá đối với từng học sinh Những thiếu sót của việc giải bài tập phải được chỉ rõ, những phương pháp giải hay phải được khen và phổ biến rộng rãi Nội dung ôn tập củng cố những khái niệm và định luật hoá học Hệ thống bài tập càng đa dạng, tranh giải nhiều một dạng dễ khiến học sinh nhàm chán mệt mỏi Thí dụ có thể cho học sinh giải bài tập lần lượt theo các dạng khác nhau như sau:

+ Đầu tiên dạy học sinh giải các bài tập dạng 1: Lập công thức hoá học các chất theo hoá trị các nguyên tố, theo các số liệu phân tích khi học sinh nắm được thì chuyển sang dạng 2: Tính theo công thức hoá học, khi học sinh đã có kỹ năng phối hợp dạng 1 và dạng 2 thì chuyển sang dạng 3 đó là lập phương trình hoá học Khi học sinh giải thành thạo 3 dạng phối hợp 1, 2 ,3 thì chuyển sang dạng 4 tính theo phương trình hoá học dựa trên cơ sở định luật bảo toàn khối lượng các chất, tính khối lượng, thể tích các chất tác dụng và sản phẩm tạo thành, tính khối lượng các chất ban đầu vào tạo thành khi chúng có chứa tạp chất hoặc hiệu suất phản ứng sau đó chuyển sang dạng 5 là các phép tính về dung dịch, khối lượng chất tan, khối lượng dung dịch, thể tích dung dịch, tính nồng độ phần trăn, nồng độ mol/l của dung dịch, các bài toán về sự thay đổi nồng độ của dung dịch

+ Hệ thống trật tự này có thể biểu thị bằng sơ đồ

1 2; 1,2  3; 1,2,34; 1,2,3,4 5

* Để việc học, luyện tập, giải bài tập đạt kết quả cần phải lưu ý học sinh những điểm sau đây:

- Nắm vững ý nghĩa định tính và định lượng của các ký hiệu hoá học của nguyên tố, hiểu nhớ và sử dụng chính xác các ký hiệu hoá học.

- Nắm vững ý nghĩa định tính và định lượng của công thức hoá học, có kỹ năng lập công thức hoá học các chất Hình thành kỷ năng đọc, nhớ

Trang 7

chính xác và vận dụng công thức hoá học để giải thích thành phần các chất, các quá trình hoá học xảy ra theo quan điểm cấu tạo chất.

- Biết đọc, viết đúng và hiểu công thức hoá học dưới dạng công thức phân tử, công thức cấu tạo của một số hợp chất vô cơ, hữu cơ trong chương trình và đồng thời biết vận dụng công thức cấu tạo để trình bày các vấn đề thuộc thành phần, tính chất hoá học và phương pháp điều chế các chất

- Nắm vững ý nghĩa định tính và định lượng của các phương trình hoá học, biết lập và cân bằng các phương trình phản ứng Biết dựa vào phương trình hoá học để giải bài tập

Môn hoá học ở Trường trung học cơ sở được nghiên cứu bắt đầu từ lớp 8 và kết thúc ở lớp 9 tuỳ theo khối lượng kiến thức được tích luỹ, số lượng bài tập định hướng và các dạng bài tập cũng được tăng dần với nội dung bài tập cũng dần dần khó khăn và phức tạp , từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng Căn cứ vào chương trình hoá học lớp 9 có thể chia bài tập định lượng ở lớp 9 theo hệ thống bài tập thành 3 loại

Loại bài tập mới: Tính nồng độ các chất trong dung dịch bao gồm: Nồng độ, phần trăm, nồng độ mol/l

Loại bài tập nâng cao: Tính theo công thức và phương trình hoá học bao gồm nội dung các kiến thức hoá học của vô vơ và hữu cơ

Loại bài tập tổng hợp: Phối hợp nhiều loại kiến thức với nhiều dạng bài tập khác nhau

2.1 Bài tập về các phép tính về nồng độ dung dịch:

Để hình thành cho học sinh có kỹ năng giải hệ thống bài tập: Trong loại bài tập này một cách thành thạo, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững về các công thức tính toán nồng độ phần trăm, nồng độ mol/l, các công thức có liên quan giữa nồng độ phần trăm với nồng độ mol/l, từ

Trang 8

những công thức tính toán đó các em có thể biến đề để xác định một đại lượng khi đã biết các đại lượng kia và thể hiện mối liên quan giữa các đại lượng theo sơ đồ hợp thức sau:

Dùng các công thức tính toán để giải bài tập hoá học về dung dịch là rất tiện lợi, tiết kiệm nhiều thời gian Việc sử dụng các công thức tính toán để giải bài tập hoá học tạo thói quen cho học sinh dùng công cụ toán học như là phương tiện cần thiết và quan trọng để nghiên cứu hoá học về một định lượng Với quan điểm này giáo viên có thể dẫn dắt học sinh đi xa hơn nữa trong việc sử dụng các công thức toán học nghiên cứu việc giải các bài tập về nồng độ của dung dịch phức tạp hơn, đó là các bài toán về thay đổi nồng độ của dung dịch bằng cách pha loãng dung dịch với nước hoặc bằng cách trộn lẫn các dung dịch có nồng độ khác nhau

Ví dụ1: Cần lấy bao nhiên gam H

2SO

4 để pha chế 100ml dung dịch H

2SO

4 40% (biết D =1,31g/ml)

Giải: mdd = V.D = 100 × 1,31 = 131(g)

Ta có C% =‘mct × 100% => mct = ‘md2.C% = 121×40 =52,4(g)

Đáp số: mH

2 SO

4 = 52,4(g)

Ví dụ 2:

Cần bao nhiêu gam NaCl để pha chế 1500ml dung dịch NaCl 0,5M

Giải: 1500ml = 1,5(l)

Ta có: CM= ‘n => n = CM.V

‘v Từ n-> m(CT);C%‘mdd D Vddvà ngược lại ‘mct ‘mdd

Trang 9

‘nNaCl= 1,5 × 58,5 = 43,75 (g) Khối lượng NaCl nguyên chất cần dùng

0,75 × 58,5 = 43,875 (g) ĐS: mNaCl=43,875 (g)

Ví dụ 3: Cho 40g dung dịch HCl 3,65% vào 160g dung dịch HCl

18,25% Ta thu được một dung dịch mới có nồng độ phần trăm là bao nhiêu?

Giải:

Khối lượng HCl có trong 40g dung dịch HCl 3,65%

Ta có C% =‘mt × 100% => mt = C%.md2 = 3,65.40 =1,46(g)

Khối lượng HCl có trong 100g dung dịch HCl 18,25%

18,25 160 = 29,2(g)

100

Tổng khối lượng HCl có trong dung dịch: 1,46 + 29,2 = 30,66 (g) Khối lượng dung dịch mới: 160 + 40 = 200 (g)

Nồng độ phần trăm của dung dịch thu được

Từ C%= ‘mt × 100% Thay số 30,66 100% =15,33 (%)

Vậy nồng độ dung dịch thu được là 15,33%

* Ngoài ra ta có thể sử dụng sơ đồ đường chéo để giải

‘dd

1 : 3,65%; 40g 18,25 - C

C

‘dd

2 : 18,25%; 160g C - 3,65

 40 = 18,25 - C => 160(18,25 - C) = 40 (C – 3,65)

Trang 10

160 C -3,65

=>2920 - 160C = 40C – 146 => 2920 + 146 = 40C +160C

=> C = 1533 Vậy C% của dung dịch mới 15,33%

2.2 Bài tập về các phép tính về công thức hoá học

Đơn giản :

Ví dụ: Lập công thức hoá học của canxi phốt phát

Giải: Gọi công thức cần tìm Ca

x(PO

4)

y

Vậy công thức của Canxi phốt phát là Ca

3(PO

4)

2

Dạng phức tạp hơn :

Ví dụ1: Lập công thức hoá học của canxi photphat biết trong hợp

chất Ca chiếm ≈ 38,7%, O chiếm ≈ 41,29%

Giải: Công thức cần tìm Ca

xP

yO

z

Ta có: %P = 100% - (38,7 + 41,29) = 20,01%



=

=

=

=

= >

=

2 6

3

6 6

)

(

III y

II

x III

II

BCNN

16

29 , 41 : 31

01 , 20 : 40

7 , 38 :

x

= 3 : 2 : 8 Vậy công thức của canxi phốt phát là Ca

3(PO

4)

2

Trang 11

Ví dụ 2: Tìm công thức phân tử của tinh thể Hyđrat hóa của axit

sunfuaric biết rằng thành phần phần trăm của H

2SO

4 trong tinh thể là 52,13%

Giải: Công thức cần tìm có dạng H

2SO

4.× H

2O

Giải ra ra được x = 5

Vậy công thức của tinh thế H

2SO

4 5H

2O

Ví dụ 3: Đốt chát hoàn toàn 3g một một hợp chất đó

Giải :

Công thức hợp chất có dạng C

xH

yO

z

2.3 Bài tập về các phép tính theo phương trình hoá học ở dạng phức tạp hơn.

Ví dụ 1: Dạng bài toán trong đó có một số phản ứng hoá học xảy ra

nối tiếp nhau

Bài toán: Cho một miếng kim loại Na vào dung dịch FeCl

3 dư Quan sát thí nghiệm ta thấy xuất hiện một kết tủa màu nâu đỏ Kết tủa được tách

ra và đem sấy khô thì được chất rắn màu đỏ đậm có khối lượng 32g Tính khối lượng Na đem dùng

% 100

%

4 2 2

4 2

4

O xH M

M

SO

H

SO

100

13 , 52 18 98

98

= +

>

x

g

44

6 , 6

12× =

=

4 , 0 18

6 , 3 2

=

×

=

H m

g

m O = 3 − ( 1 , 8 + 0 , 4 ) = 0 , 8

60 8 , 0

16 4 , 0 8 , 1

12

=

=

x

Vậy công thức phân tử hợp chất C

3H

8O

Trang 12

)

FeCl − >  →to

Giải: Na là 1 kim loại hoạt động mạnh nên khi cho tác dụng với

dung dịch muối, Na tác dụng với H

2O có trong dung dịch trước và sau đó NaOH tác dụng với FeCl

3

Khối lượng Na đem phản ứng 0,12.23=2,76 (g) Đáp số: m Na =2,76 (g)

Ví dụ 2: Dạng bài toán có tính đến hiệu suất phản ứng

Bài toán: Cho glucôza lên men, khó CO

2 sinh ra được cho vào nước vôi trong (dư) thu được 20g một chất kết tủa Hãy tính

a Khối lượng glucôzơ đã dùng (biết hiệu suất phản ứng là 80%)

b Khối lượng C

2H

5OH sinh ra

GiảiC6H12O6CO2 Nước vôi CaCOtrong 3 ↓ lên men đạt 80%

‘nCaCO 3 = 20 = 0,2 (mol)

100

) ( 02 , 0 160

2 , 3

3

2

2

2Na+ H O= NaOH +H

3

3NaOH +FeCl = NaCl +Fe OH

O H O Fe to OH

Fe( )3 2 3 3 2

Trang 13

b Khối lượng C

2H

5OH

sinh ra: 0,2.4,6.80%=7,36 (g)

2.4.Một số bài toán tổng hợp:

Các bài toán thường được sử dụng ở cuối mỗi chương hoặc tổng kết chương trình với mục đích ôn tập, luyện tập vận dụng các kiến thức của một hay nhiều mục, do đó nội dung bài tập tổng hợp phức tạp hơn, khá hơn Ngoài việc kiểm tra kết quả dạy và học hoá học, bài tập tổng hợp còn được sử dụng trong việc thi lên lớp Những điều kiện cần thiết để giải bài toán hoá học tổng hợp là: Học sinh phải nắm vững các kiến thức hoá học, biết vận dụng những kiến thức đó vào các trường hợp cụ thể mà bài toán cần thực hiện các thao tác toán học phù hợp với từng dạng của bài toán Sau khi nghiên cứu phân tích kỹ các dữ kiện bài toán, học sinh biết lựa chọn phương pháp giải phù hợp, tiết kiện được thời gian, tránh cách giải cồng kềnh, không cần thiết

Ví dụ: Khi cho sắt vào dung H

2SO

4 đặc nóng, khi thoát ra cho lội vào dung dịch KOH, ta thu được dung dịch K

2SO

3 15,8% có khối lượng 500g Xác định khối lượng sắt đem phản ứng

Giải:

Phương trình phản ứng

2Fe + 6H

2SO

4  H2SO 4dacnong  → Fe

2(SO

4)

3 + 3 SO

2↑ + 6H

2O

SO + 2KOH = K SO + H O

Ngày đăng: 29/10/2013, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w