3.4. Sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong dạy học môn Hóa học 9: Dùng các video clip, thí nghiệm mô phỏng để thay thế cho các thí nghiệm khó thực hiện, xảy ra chậm hoặc thí nghiệm độc hại, nguy hiểm… Sử dụng thí nghiệm mô phỏng hoặc đoạn clip để giới thiệu về nguyên tắc hoạt động của một vài nhà máy sản xuất hóa chất như sản xuất vôi sống, sản xuất axit sunfuric, sản xuất gang thép…mà không cần phải đến tận nơi để quan sát, tìm hiểu. Cung cấp các tranh hình phong phú, thực tế phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy. Dùng các mô hình động về cấu tạo phân tử của chất khi dạy về cấu tạo các chất hữu cơ để học sinh hiểu rõ hơn về cấu tạo của một vài chất hữu cơ được giới thiệu trong chương trình hóa học 9. Liên hệ thực tiễn: vận dụng kiến thức hóa học để giải thích, góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.3.5. Tiến trình thực hiện:1. Dùng các video clip, thí nghiệm mô phỏng để thay thế cho các thí nghiệm khó thực hiện, xảy ra chậm hoặc thí nghiệm độc hại, nguy hiểm… Ví dụ: Bài 2. Một số oxit quan trọng (B. Lưu huỳnh đioxit) (Trang 10 SGK Hóa học 9).Lưu huỳnh đioxit là một chất khí độc (gây ho, gây viêm đường hô hấp…). Khi dạy về tính chất hóa học của nó thì không thể làm thí nghiệm để cho học sinh quan sát. Trong sách giáo khoa chỉ giới thiệu hình vẽ mà nếu như vậy thì học sinh rất khó nhớ và khó tiếp thu bài, giáo viên cũng mất thời gian để giảng giải mà không mang lại hiệu quả cao, lại không thể phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập. Giáo viên nên cho học sinh xem clip thí nghiệm hoặc clip mô phỏng thí nghiệm “Điều chế và thử tính chất của lưu huỳnh đioxit” sau đây:
Trang 1SÁNG KIẾN
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC 9 ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY
III LĨNH VỰC: giải pháp tác nghiệp
IV MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN:
1 Thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy môn Hóa học hiện nay:
Đối với giáo dục Việt Nam những năm gần đây, cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, các trường cũng đã được tăng cường trang bị phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại, trong đó có máy vi tính, máy chiếu tạo điều kiện cho giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động giảng dạy Tuy nhiên thực tiễn của việc ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy của giáo viên có một số hạn chế sau:
- Vẫn còn rất nhiều giáo viên áp dụng phương pháp dạy học truyền thống với phấn trắng, bảng đen, tranh ảnh được cung cấp sẵn hoặc các thiết bị thí nghiệm đơn giản Một số giáo viên chỉ sử dụng máy vi tính, máy chiếu để ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy khi được dự giờ hay dạy chuyên đề
- Vẫn còn giáo viên coi CNTT như một phương tiện trình chiếu (thay bảng đen và phấn trắng truyền thống)
- Chưa biết cách kết hợp có hiệu quả giữa ứng dụng CNTT và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
- Lạm dụng CNTT, để học sinh chủ động khai thác kiến thức thông qua CNTT mà không có sự định hướng của người dạy
2 Yêu cầu cấp thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy:
Trong thời đại của chúng ta sự bùng nổ CNTT đã tác động đến công cuộc phát triển kinh
tế xã hội loài người Công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu, trong đó có lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo Từ lâu, việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã được thực hiện ở rất nhiều nước phát triển trên thế giới Hiện nay ở Việt Nam, tuy khoảng thời gian ứng dụng công nghệ trong giảng dạy tại các trường học còn khá ngắn, nhưng những lợi ích của điều đó đã được thể hiện rõ nét Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực Học sinh được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc – chép truyền thống Việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ
là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của CNTT, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức Chẳng hạn, những nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết số 29 – NG/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu rõ
“Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập,…Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại…Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học ” Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết trên, trong năm học 2016 - 2017 Phòng Giáo dục và đào tạo thành phố … cũng đã ra Hướng dẫn số 883/HD – PGDĐT về việc thực hiện
Trang 2nhiệm vụ Giáo dục Trung học trong đó đã chỉ đạo: “tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phù
hợp với nội dung bài học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ” để đổi mới phương pháp dạy học
và “Đa dạng hóa hình thức học tập…; sử dụng các hình thức dạy học trên cơ sở ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông…” trong đổi mới hình thức tổ chức dạy học.
Môn Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, trong quá trình dạy và học cần phải làm thí nghiệm, phải quan sát rõ hiện tượng hóa học xảy ra, phải biết được cách điều chế, cách sản xuất hóa chất… Tuy nhiên có những thí nghiệm độc hại, nguy hiểm hoặc vì điều kiện khách quan giáo viên không thể thực hiện cho học sinh xem hoặc không thể nào đến tận nơi các nhà máy sản xuất hóa chất để tìm hiểu thì biện pháp hữu hiệu nhất là ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy để nâng cao chất lượng giảng dạy
Vì những lí do đó và với mong muốn cống hiến một phần nhỏ vào công cuộc đổi mới giáo dục trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học trong bộ môn mình phụ
trách, tôi đã nghiên cứu vấn đề : “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC 9 ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY”, xin được
báo cáo với mọi người để cùng trao đổi, đóng góp
3 Nội dung sáng kiến:
3.1 Khái niệm công nghệ thông tin:
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị
quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp
khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".
3 2 Tác động tích cực của ứng dụng CNTT trong dạy học:
- Mở rộng khả năng tìm kiếm và khai thác thông tin cho người dạy và người học: Thông qua việc tra cứu, tìm kiếm thông tin trong các phần mềm và trên các trang web, giáo viên có thể khai thác thông tin hoặc khai thác tranh ảnh, âm thanh, video clip để bổ sung cho bài dạy; học sinh có thể chủ động tìm kiếm thông tin mở rộng hoặc các bài tập, bài thực hành cho các kiến thức đã được truyền thụ trên lớp học
- Nâng cao hiệu quả truyền đạt và lĩnh hội tri thức: giáo viên có thể ứng dụng CNTT để soạn giáo án điện tử, trình chiếu trên lớp học trong các giờ lên lớp, kiến thức có thể biểu diễn dưới dạng kênh chữ, kênh hình qua đó tạo hứng thú cho người học, kích thích người học chủ động, tích cực trong việc lĩnh hội tri thức
- Tăng cường việc giao lưu, trao đổi thông tin giữa người dạy và người học
- Nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá
3.3 Hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học môn Hóa học:
Khi ứng dụng CNTT vào hoạt động giảng dạy môn Hóa học, có thể nhận thấy hiệu quả trợ giúp của CNTT đối với quá trình dạy học, như:
- Khả năng biểu diễn thông tin: máy tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng văn bản, đồ thị, hình ảnh, âm thanh…
- Khả năng mô hình hóa các đối tượng: đây là ưu thế mạnh của CNTT so với các phương tiện, thiết bị dạy học khác Máy vi tính có thể mô hình hóa các đối tượng, các quá trình diễn biến của sự vật, hiện tượng mà các mô hình thông thường không thể truyền tải được, ví dụ như dùng mô hình để biểu diễn cấu tạo của các chất, diễn biến xảy ra trong các phản ứng hóa học…
- Khả năng khai thác thông tin: Internet là một kho thông tin khổng lồ giúp cho chúng ta có thể lưu trữ, chia sẻ và khai thác thông tin phục vụ cho hoạt động giảng dạy
Trang 3Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin trình bày một phần nhỏ hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy, đó là khai thác thông tin từ mạng Internet để phục vụ cho một số bài dạy môn Hóa học 9 nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
3.4 Sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong dạy học môn Hóa học 9:
- Dùng các video clip, thí nghiệm mô phỏng để thay thế cho các thí nghiệm khó thực hiện, xảy ra chậm hoặc thí nghiệm độc hại, nguy hiểm…
- Sử dụng thí nghiệm mô phỏng hoặc đoạn clip để giới thiệu về nguyên tắc hoạt động của một vài nhà máy sản xuất hóa chất như sản xuất vôi sống, sản xuất axit sunfuric, sản xuất gang thép…mà không cần phải đến tận nơi để quan sát, tìm hiểu
- Cung cấp các tranh hình phong phú, thực tế phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy
- Dùng các mô hình động về cấu tạo phân tử của chất khi dạy về cấu tạo các chất hữu cơ
để học sinh hiểu rõ hơn về cấu tạo của một vài chất hữu cơ được giới thiệu trong chương trình hóa học 9
- Liên hệ thực tiễn: vận dụng kiến thức hóa học để giải thích, góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn
3.5 Tiến trình thực hiện:
1 Dùng các video clip, thí nghiệm mô phỏng để thay thế cho các thí nghiệm khó thực hiện, xảy ra chậm hoặc thí nghiệm độc hại, nguy hiểm…
Ví dụ:
- Bài 2 Một số oxit quan trọng (B Lưu huỳnh đioxit) (Trang 10 SGK Hóa học 9).
Lưu huỳnh đioxit là một chất khí độc (gây ho, gây viêm đường hô hấp…) Khi dạy về tính chất hóa học của nó thì không thể làm thí nghiệm để cho học sinh quan sát Trong sách giáo khoa chỉ giới thiệu hình vẽ mà nếu như vậy thì học sinh rất khó nhớ và khó tiếp thu bài, giáo viên cũng mất thời gian để giảng giải mà không mang lại hiệu quả cao, lại không thể phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập Giáo viên nên cho học sinh xem clip thí nghiệm hoặc clip mô phỏng thí nghiệm “Điều chế và thử tính chất của lưu huỳnh đioxit” sau đây:
- Bài 4 Một số axit quan trọng (B Axit sunfuric) (Trang 15 SGK Hóa học 9).
Khi dạy phần tính chất hóa học của axit sunfuric đặc, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ
sự khác nhau về tính chất hóa học của axit sunfuric loãng và axit sunfuric đặc, trong đó axit sunfuric loãng không tác dụng với các kim loại yếu như đồng (Cu) nhưng axit sunfuric đặc, nóng lại có thể phản ứng được và không giải phóng khí hiđro (giải phóng khí lưu huỳnh đioxit) Như trên đã trình bày khí lưu huỳnh đioxit là khí độc, đồng thời thao tác với axit sunfuric đặc phải rất cẩn thận vì vậy thí nghiệm này giáo viên không nên cho học sinh thực hiện mà giáo viên phải biểu diễn thí nghiệm cho học sinh xem hoặc dùng clip thay thế để đảm bảo sức khỏe cho học sinh như clip sau đây:
Trang 4- Bài 16 Tính chất hóa học của kim loại (Trang 49 SGK Hoá học 9)
Thí nghiệm: kim loại kali (không được trang bị trong phòng thí nghiệm) cháy Cho học
sinh xem clip này khi dạy về phản ứng của kim loại với oxi để tăng thêm hứng thú của học sinh
vì phản ứng xảy ra rất đẹp
Thí nghiệm: cho kim loại natri phản ứng
với khí clo (phản ứng của kim loại với phi kim
khác):
Clo là khí độc, do đó ta có thể cho học
sinh
quan sát hiện tượng của phản ứng qua
clip sau:
- Bài 18 Nhôm (Trang 56 SGK Hóa học 9)
Thí nghiệm: bột nhôm phản ứng với lưu huỳnh Giáo viên cho học sinh xem clip này khi
dạy về tính chất hóa học của nhôm (phản ứng của nhôm với phi kim khác).
Trang 5Thí nghiệm: nhôm phản ứng với dung dịch
CuCl2 (phản ứng của nhôm với dung dịch
muối): dung dịch CuCl2 không được trang bị trong
phòng thí nghiệm nên giáo viên có thể cho học sinh
xem clip:
- Bài 19 Sắt (Trang 59 SGK Hóa học 9)
Thí nghiệm: Sắt cháy trong khí clo (phản ứng của sắt với phi kim khác) Thí nghiệm này
rất nguy hiểm với học sinh Giáo viên cho học sinh xem clip để thay thế thí nghiệm biểu diễn
- Bài 26 Clo (Trang 78, 79 SGK Hóa học 9)
Clo là khí độc Khi dạy về tính chất hóa học của clo với thí nghiệm clo tác dụng với nước và tác dụng với dung dịch NaOH giáo viên có thể dùng clip sau đây để cho học sinh quan sát:
Clip điều chế clo trong phòng thí nghiệm:
Trang 62 Sử dụng thí nghiệm mô phỏng hoặc đoạn clip để giới thiệu về nguyên tắc hoạt động của việc sản xuất hóa chất như sản xuất vôi sống, sản xuất axit sunfuric, sản xuất gang thép…
mà không cần phải đến tận nơi để quan sát, tìm hiểu.
- Bài 2 Một số oxit quan trọng (A Canxi oxit) (Trang 8 SGK Hóa học 9)
+ Sản xuất canxi oxit từ lò nung vôi thủ công và những nguy cơ:
+ Sản xuất canxi oxit từ lò nung vôi công nghiệp:
Trang 7- Bài 4 Một số axit quan trọng (Trang 18 SGK Hóa học 9)
Sản xuất axit sunfuric: Cho học sinh xem thí nghiệm mô phỏng sau để học sinh biết
nguyên liệu và các quy trình sản xuất axit sunfuric, như vậy sẽ có hiệu quả hơn nhiều thay vì dùng lời để giảng giải
3.
Cung cấp các tranh hình phong phú, thực tế phục vụ thiết thực cho việc dạy học:
- Bài 29 Axit cacbonic và muối cacbonat
(Trang 91 SGK Hóa học 9)
Sự tạo thành thạch nhũ trong các hang động
(như ở động Phong Nha) là do kết quả
lâu dài của sự chuyển hóa lẫn nhau
giữa hai muối Ca(HCO3)2 và CaCO3
- Bài 10 Muối Natri clorua (Trang 34 SGK
Hóa học 9)
Khai thác muối ăn từ nước biển (ruộng muối) hoặc từ mỏ muối
Trang 8- Bài 2 Một số oxit quan trọng (A Canxi oxit) (Trang 8 SGK Hóa học 9)
Ứng dụng của Canxi oxit trong đời sống: xử lí nước thải, khử chua đất trồng…
- Bài 21 Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại không bị ăn mòn (Trang 64 SGK Hóa học 9)
- Ứng dụng của chất:
+ Ứng dụng của axit sunfuric:
Trang 9+ Ứng dụng của etilen:
+ Ứng dụng của rượu etylic:
Trang 104 Dùng các mô hình động về cấu tạo phân tử của chất khi dạy về cấu tạo các chất hữu
cơ để học sinh hiểu rõ hơn về cấu tạo của một vài chất hữu cơ được giới thiệu trong chương trình hóa học 9.
- Giáo viên cho học sinh xem các mô hình động khi dạy về cấu tạo phân tử của các chất hữu cơ như metan (CH4), etilen (C2H4), axetilen (C2H2), benzen (C6H6)…Học sinh sẽ thấy được chúng chuyển động trong không gian, thấy rõ số liên kết giữa C với H và liên kết giữa C với C, học sinh có thể tự lắp ráp được và tự viết được công thức cấu tạo của chúng Từ đó các em sẽ khắc sâu được kiến thức
- Khi dạy về tính chất hóa học của các chất vô cơ: Cho học sinh xem sơ đồ động giữa các nguyên tử trước, trong và sau phản ứng, từ đó học sinh sẽ hiểu sâu hơn về bản chất của các phản ứng hóa học
Trang 115 Liên hệ thực tiễn: vận dụng kiến thức hóa học để giải thích, góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn:
- Sản xuất vôi sống từ lò nung vôi thủ công gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân Qua các tranh ảnh thực tế học sinh cần phải hiểu được sự cần thiết phải thay thế các lò nung vôi thủ công bằng lò nung vôi công nghiệp để bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người đồng thời còn nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
- Các khí thải độc hại từ các nhà máy, từ các hoạt động của con người làm ô nhiễm không khí, gây ra hiệu ứng nhà kính, gây ra mưa axit… và con người đang phải đối mặt với những hậu quả đó Học sinh biết được điều đó từ đó có ý thức trong việc bảo vệ môi trường, xây dựng thái độ và hành động đúng đắn để góp phần bảo vệ môi trường
Trang 12Xây dựng ý thức và hình thành thói quen bảo vệ môi trường cho học sinh.
- Khi dạy bài 28 Các oxit của cacbon (Trang 85 SGK Hóa học 9), giáo viên cung cấp thông tin về các vụ ngộ độc khí than và cách phòng tránh
Trang 133.6 Thời gian thực hiện:
Sáng kiến áp dụng ở năm học 2015 - 2016 và thực hiện khảo sát trong các tuần đầu ở học kì I năm học 2015 – 2016
V HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Kết quả khảo sát đầu năm học 2015 – 2016 về thái độ học tập của HS khối 9:
Biểu hiện
Lớp/ Sĩ số
Hứng thú học tập
Bình thường
Thiếu tập trung
9A3/23 (Lớp thực
nghiệm)
9A4/27 (Lớp thực
9A5/25 (Lớp thực
Kết quả đạt được về chất lượng giảng dạy đã được nâng cao hơn so với năm học 2014 –
2015, cụ thể như sau:
Năm học 2014 - 2015:
K
G iỏi ỉ lệ T há K ỉ lệ T B T ỉ lệ T ếu Y ỉ lệ T ém K lệ Tỉ 9
(166) 2 2 3.3 1 4 2 4.5 1 08 1 5.1 6 2 1 2 7
Năm học 2015 – 2016:
K
hối
Chất lượng học tập
G iỏi ỉ lệ T há K ỉ lệ T B T ỉ lệ T ếu Y ỉ lệ T ém K ỉ lệ T 9
* Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy hóa học trong những năm qua ở trường THCS … bước đầu đạt được một số kết quả khả quan như sau:
1 Đối với bản thân giáo viên:
- Thông qua quá trình tìm kiếm thông tin để phục vụ bài giảng, bản thân tôi ngày càng
có thêm nhiều kiến thức về tin học và kĩ năng sử dụng máy vi tính, đồng thời cũng tiếp cận nhiều hơn những tri thức mới của nhân loại cũng như đào sâu hơn kiến thức chuyên môn