Thông qua môn học giúp SV giải quyết các bài tập tình huống theo nhiệm vụ hoc tập; vận dụng kiến thức tâm lý cơ bản vào việc rèn luyện và phát triển nhân cách; hình t[r]
Trang 1ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC Ở KHOA SƯ PHẠM
KỸ THUẬT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
Lê Thị Quỳnh Trang *
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Môn Tâm lí học trong chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm kỹ thuật là một trong những môn học thuộc khối kiến thức nghiệp vụ sư phạm Trong quá trình dạy học Tâm lí học, có nhiều con đường để nâng cao chất lượng dạy học môn học như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới nội dung dạy học, đa dạng hình thức tổ chức dạy học, hình thức và phương pháp đánh giá… Trong đó đổi mới phương pháp dạy học được coi là một trong các khâu then chốt của quá trình dạy học nói trên Bài viết dưới đây sẽ đề xuất một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn Tâm lí học
ở khoa Sư phạm kỹ thuật, trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp
Từ khóa: Phương pháp, phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp dạy học
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) thực
chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ
bằng các PPDH mới Về mặt bản chất, đổi
mới PPDH là đổi mới hình thức triển khai
phương pháp (PP) trên cơ sở khai thác triệt để
ưu điểm của các PP cũ và vận dụng linh hoạt
một số PP mới nhằm phát huy tối đa tính tích
cực, chủ động và sáng tạo của người học
Như vậy, mục đích cuối cùng của đổi mới
PPDH là làm thế nào để người học phải thực
sự tích cực, chủ động, tự giác, tìm tòi, suy
nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri
thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri
thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân
cách của mình Bên cạnh đó sự phát triển của
khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng
và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng
phương tiện công nghệ thông tin vào quá
trình dạy học Việc sử dụng có tính sư phạm
những thành quả của khoa học công nghệ sẽ
làm thay đổi hiệu quả của quá trình dạy học,
hiệu quả của việc sử dụng các PPDH
Hoạt động đổi mới PPDH luôn thu hút sự
quan tâm của các giảng viên (GV), cán bộ
quản lí trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp
(ĐH KTCN) nói chung và GV giảng dạy môn
Tâm lí học nói riêng Tại ĐH KTCN, môn
Tâm lí học được giảng dạy cho sinh viên (SV)
*
Tel: 0982 310379, Email: quynhtrang@tnut.edu.vn
ngành Sư phạm kỹ thuật Đây là một trong những môn học thuộc khối kiến thức nghiệp
vụ sư phạm trong chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm kỹ thuật Môn học cung cấp cho SV kiến thức nền tảng cốt lõi về tâm lý học đại cương và tâm lí học sư phạm nghề nghiệp; kỹ năng thu thập, phân tích các tư liệu
lý luận và thực tiễn về các hiện tượng tâm lý Thông qua môn học giúp SV giải quyết các bài tập tình huống theo nhiệm vụ hoc tập; vận dụng kiến thức tâm lý cơ bản vào việc rèn luyện và phát triển nhân cách; hình thành tình cảm và đạo đức nghề nghiệp và hợp tác làm việc nhóm trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập Đồng thời giúp SV vận dụng kiến thức và
kỹ năng đã học để phân tích và đánh giá được đặc điểm tâm lý của học sinh để giải quyết các tình huống sư phạm một cách hợp lý, góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và nghệ thuật sư phạm Do đó, đổi mới PPDH môn Tâm
lí học là một trong những yếu tố thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ hiện nay
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Phương pháp
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng
Hi Lạp “Metodos”, có nghĩa là con đường, cách thức vận động của một sự vật, hiện tượng Theo G Heghen, PP là hình thức vận động của nội dung sự vật [1] Mỗi sự vật đều có
Trang 2bản chất của nó và được thể hiện qua hình
thức nhất định Hình thức không bao giờ tồn
tại riêng, tách rời nội dung Đồng thời nội
dung cũng không tồn tại tách rời hình thức
vận động của nó Mỗi sự vật đều có PP vận
động của riêng mình
Phương pháp dạy học
PPDH là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng Có
nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về
PPDH Trong bài viết này, PPDH được hiểu là
cách thức, là con đường hoạt động chung giữa
GV và SV, trong những điều kiện dạy học xác
định, nhằm đạt tới mục đích dạy học [4]
KHÁI QUÁT NỘI DUNG MÔN TÂM LÍ
HỌC [2]
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về
tâm trí và hành vi, về mọi mặt của ý thức, vô
thức và tư duy bao gồm các quá trình, trạng
thái, thuộc tính tâm lý với những đặc điểm,
quy luật và cơ chế của nó
Trong chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm
kỹ thuật tại trường ĐH KTCN, môn Tâm lí
học được thiết kế với thời lượng giảng dạy là
45 tiết chuẩn tương ứng với 03 tín chỉ Môn
học được xây dựng tích hợp gồm hai phần
nhằm đảm bảo tính hệ thống của kiến thức:
Phần thứ nhất: Tâm lí học đại cương, gồm các
nội dung:
‐ Các kỹ năng giúp người học tìm hiểu và
đánh giá con người thông qua các PP nghiên
cứu (quan sát, thực nghiệm, điều tra, nghiên
cứu tiểu sử, sản phẩm của hoạt động, trắc
nghiệm tâm lí…)
‐ Các lĩnh vực cơ bản trong đời sống tâm lí
cần chú ý (nhận thức, tình cảm, ý chí) khi
đánh giá bản chất (nhân cách) con người
‐ Các quy luật tâm lí ảnh hưởng (làm sai lệch)
đến việc đánh giá con người: quy luật tác động
qua lại giữa các cảm giác, quy luật về tính lựa
chọn trong tri giác, quy luật ảo ảnh, quy luật di
chuyển và thích ứng xúc cảm…
Phần thứ hai: Tâm lí học sư phạm nghề
nghiệp, bao gồm:
- Các kiến thức cơ bản về tâm lí học sư phạm
nghề nghiệp; các hiện tượng và quy luật tâm
lí theo lứa tuổi, qua đó nêu lên nguyên nhân, động lực phát triển tâm lí cùng những đặc trưng tâm lí qua các giai đoạn phát triển; những điều kiện và đặc điểm phát triển tâm lí của lứa tuổi học sinh học nghề
- Các thuyết về tâm lí học vận dụng trong dạy học; một số vấn đề tâm lý dạy học kỹ thuật nghề nghiệp, đặc điểm lao động sư phạm và năng lực lao động sư phạm kỹ thuật nghề nghiệp
Bằng sự tích hợp hệ thống lí luận của khoa học tâm lí và những kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học trong và ngoài nước, học phần giúp người học có những hiểu biết khá sâu sắc về tâm lí lứa tuổi cũng như những cơ
sở tâm lí của dạy học và giáo dục, từ đó có thể rút ra các kết luận sư phạm cần thiết cho công tác giảng dạy trong tương lai của SV THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TÂM LÍ HỌC Ở ĐH KTCN
Thực trạng chung về dạy học môn Tâm lí học
Qua thu thập ý kiến khảo sát của SV từ năm học 2014 – 2015 đến năm học 2017 – 2018,
với 150 SV nhận được kết quả như sau:
Đánh giá của SV Sư phạm kỹ thuật (gọi tắt
là SV) về thực trạng dạy học môn Tâm lí học nói chung
Bảng 1
Ý kiến đánh giá chung việc giảng dạy môn Tâm lí học
Tỉ lệ SV (%)
GV nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm
85
Nội dung dạy học nặng về lý thuyết, ít thực hành
70
Trong quá trình giảng dạy cần liên hệ lí thuyết với thực tiễn
70
PPDH phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và húng thú học tập của sinh viên
35
Cần cải tiến PPDH nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và húng thú học tập của sinh viên
65
Cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu dạy học 65 Trước tiên, GV giảng dạy môn Tâm lí học ở trường ĐH KTCN được đánh giá là có trách nhiệm cao với nghề nghiệp Có đến 85% số
Trang 3SV được hỏi đánh giá GV dạy Tâm lí học của
họ rất yêu nghề và nhiệt tình trong giảng dạy
Trong quá trình giảng dạy, các GV tuy đã cố
gắng tạo điều kiện để SV hiểu bài và học tập
tốt, nhưng trên thực tế vẫn có đến 70% SV
được hỏi cho rằng nội dung dạy học nặng về
lí thuyết mà ít thực hành vận dụng lí thuyết đã
học vào giải quyết cá tình huống thực tiễn
Một trong các nguyên nhân chính của vấn đề
đó là do thời lượng qui định của môn học eo
hẹp mà nội dung nhiều, nên việc bố trí thời
gian cho sinh viên thực hành môn học không
thực hiện được Vì vậy, trong quá trình giảng
dạy mặc dù GV có cố gắng đưa những tình
huống thực tiễn vào bài giảng làm sáng tỏ lý
thuyết thì cũng được thực hiện rất hạn chế
Do đó, quá trình dạy học chưa phát huy được
hết tính tích cực chủ động sáng tạo và húng
thú học tập của sinh viên Điều này được
khẳng định bởi 65% SV được hỏi Song song
với việc khảo sát sinh viên về tình hình dạy
học môn học, tác giả đã thực hiện dự giờ,
quan sát quá trình giảng dạy, thấy rằng với
vốn kinh nghiệm của bản thân GV trong khi
giảng dạy cũng đã cố gắng liên hệ lí thuyết
với thực tiễn dạy học cũng như thực tiễn giáo
dục nhưng cũng mới dừng ở mức độ truyền
thụ tri thức lí thuyết, “bám sát” giáo trình Về
cơ sở vật chất phục vụ dạy học, 60 % SV
được hỏi cho rằng cơ bản đáp ứng được yêu
cầu dạy học
Thực trạng sử dụng PPDH trong dạy học
môn Tâm lí học ở ĐH KTCN
Bảng 2
Các PPDH cụ thể
Mức độ vận dụng Thường
xuyên (%)
Thỉnh thoảng (%)
Không bao giờ (%)
1 PP thuyết trình 100
5 PP hợp tác làm
việc theo nhóm
Kết quả ở bảng trên cho thấy: 100% SV được hỏi cho rằng thuyết trình được sử dụng trong hầu hết các nội dung dạy học của môn học thì
ở PP vấn đáp tỉ lệ này là 42% Đối với các PPDH khác như PPDH theo tình huống, phân vai, hợp tác làm việc theo nhóm thì ý kiến đánh giá của SV cũng tương tự như vậy Nếu với một số nước tiên tiến hoặc một số trường trong nước, mỗi bàn chỉ có một SV việc thực hiện các PPDH dạy học nói trên trong giờ dạy rất thuận tiện, thì với bố trí lớp học hiện nay tại ĐH KTCN - bàn ghế cố định - việc thực hiện các PPDH đó cũng gặp một số khó khăn trong quá trình di chuyển
Cách thức ôn tập củng cố tri thức nói chung còn phụ thuộc vào cách thức ra đề và tổ chức kiểm tra, đánh giá Cách kiểm tra đánh giá vẫn chủ yếu theo cách truyền thống, dựa trên
cơ sở kiểm tra, đánh giá khả năng tái hiện lại những kiến thức đã được GV trình bày trên lớp Bởi thế, PP ôn tập củng cố tri thức mới dừng lại ở mức hướng dẫn tổng hợp, khái quát hóa các nội dung tri thức đã truyền thụ, trên cơ sở đó giúp SV khắc họa lại các tri thức
đã được học Các phương thức ôn tập, củng cố dựa trên cơ sở vận dụng tri thức vào giải quyết các tình huống được áp dụng chưa thường xuyên
Ngoài ra, kết quả điều tra ở bảng 1 cho thấy
SV đã ý thức được vai trò của các yếu tố như nội dung giảng dạy (mang tính thực tiễn), PP giảng dạy, trang thiết bị cơ sở vật chất, … đối với việc nâng cao chất lượng quá trình dạy học Có đến 65% SV được hỏi cho rằng cần thiết phải cải tiến PPDH nhằm phát huy tính tích cực học tập của SV và 70% SV đề nghị phải gắn nội dung dạy học Tâm lí học với thực tiễn giảng dạy
TÍNH TẤT YẾU ĐỔI MỚI PPDH TRONG GIẢNG DẠY MÔN TÂM LÍ HỌC
Quá trình dạy học nói chung và dạy học Tâm
lí học nói riêng, PPDH được sử dụng nhiều hiện nay vẫn là PP thuyết trình Việc sử dụng
PP thuyết trình kết hợp với công nghệ dạy học được gắn với quan điểm dạy học: “Lấy người dạy làm trung tâm” không còn phù hợp
Trang 4với quá trình dạy học ngày nay Hệ lụy của
PP này là:
- SV thụ động tiếp thu kiến thức một chiều
GV đứng lớp truyền đạt kiến thức cho SV
trong khuôn khổ giáo trình, bài giảng đã được
quy định sẵn, họ nghe giảng và ghi chép, đôi
khi trong quá trình giảng bài cũng đặt ra
những câu hỏi, những vấn đề, những tình
huống yêu cầu SV suy nghĩ trả lời, bình luận
Tính thụ động tiếp thu kiến thức một chiều
bộc lộ ở chỗ mọi vấn đề trao đổi, các câu hỏi,
các tình huống mà GV nêu ra đều diễn ra theo
kịch bản được người dạy chuẩn bị trước, mọi
kiến thức, cách thức trả lời đều qua GV rồi
mới đến SV Tính thụ động tiếp thu kiến thức
làm triệt tiêu sự tư duy sáng tạo của SV, biến
SV thành máy nghe, máy chép SV tiếp thu
một chiều, làm bài theo quy định chung, theo
quy định của GV dẫn tới khuynh hướng tư
duy đóng, thiếu tính sáng tạo
- Dạy học theo kiểu nhồi nhét kiến thức “cái
gì cũng biết mà cái gì cũng không biết” Vì
thời lượng giảng dạy môn học ít, khối lượng
kiến thức của môn học thì lớn, nên làm cho
SV học đối phó, học chỉ để thi cho qua và
cuối cùng thì “cái gì cũng biết” nhưng không
hiểu bản chất, nội dung sâu sắc của kiến thức
và càng khó có thể vận dụng kiến thức để
hình thành kỹ năng nghề nghiệp, để sử dụng
trong việc làm sau này, vì thế “cái gì cũng
không biết”
- Học nhiều nhưng thực hành ít Học ở trên
lớp vẫn là hình thức học chủ đạo của SV Với
môn Tâm lí học chủ yếu là học lý thuyết, thực
hành nếu có cũng chỉ là thực hiện các bài tập
tình huống GV đưa thêm vào trong quá trình
dạy lí thuyết
Nói tóm lại, PPDH “lấy người dạy làm trung
tâm” dựa trên quá trình tích lũy kiến thức từ
giáo trình và bài giảng của người GV được áp
dụng phổ biến Với cách dạy đó, SV học từng
phần kiến thức, học hết phần này rồi chuyển
sang học phần khác SV càng ghi nhớ được
nhiều kiến thức càng tốt, vì bài kiểm tra, bài
thi chủ yếu đánh giá khả năng “ghi nhớ” và
“tái hiện” kiến thức còn đánh giá khả năng
“vận dụng kiến thức vào thực tế” còn hạn chế Cách dạy và học này được dùng trong suốt một thời gian dài Thực tiễn cho thấy đây không phải là PP dạy học thích hợp và hiệu quả ngày nay
Vì vậy để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học cần phải đổi mới PPDH
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PPDH MÔN TÂM LÍ HỌC GIẢNG DẠY CHO SV
SƯ PHẠM KỸ THUẬT TẠI ĐH KTCN
Kết hợp đa dạng các PPDH [6]
Việc phối hợp đa dạng các PP và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng
Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng PP thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm
Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hóa “bên ngoài” của SV
Muốn đảm bảo việc tích cực hóa “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của PPDH, GV cần vận dụng dạy học nêu vấn đề Theo đó học được đặt trong một tình huống có vấn đề,
đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp
SV lĩnh hội tri thức, kỹ năng và PP nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản
để phát huy tính tích cực nhận thức của SV, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của SV
Chẳng hạn, khi dạy bài “Nhân cách – sự phát triển nhân cách (NC)” (gồm các nội dung: Khái quát về NC, Cấu trúc của NC, Phân loại
về NC, Quá trình hình thành NC) tác giả đề xuất thực hiện như sau:
Trang 5+ Ở nội dung “Khái quát về NC” GV sử dụng
PPDH nêu vấn đề để định hướng quá trình
nhận thức của SV bằng câu hỏi “Trong văn
học chúng ta thường bắt gặp từ “NC”, “NC”
trong văn học có gì khác “NC” trong Tâm lí
học? Bằng PP thuyết trình GV đưa ra định
nghĩa “NC” trong Tâm lý học và định hướng
để SV trả lời câu hỏi định hướng nêu trên,
đồng thời thông qua định nghĩa “NC” trên
GV hướng dẫn SV phân tích để rút ra “Đặc
điểm của NC” và “NC và nghề dạy học”
+ Ở nội dung “Cấu trúc của NC” và “Phân
loại về NC” GV sử dụng PP thuyết trình
+ Ở nội dung “Quá trình hình thành NC” GV
sử dụng PP thảo luận nhóm, bằng cách chia
lớp thành các nhóm từ 7 – 10 SV/ nhóm, với
yêu cầu chung cho các nhóm “sưu tầm các
câu ca dao, tục ngữ nói lên vai trò của giáo
dục và tập thể đối với sự hình thành NC” GV
nhận xét kết quả thảo luận của các nhóm và
SV tự rút tri thức về quá trình hình thành NC
Vận dụng dạy học theo tình huống [6]
Nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề
nhận thức trong khoa học chuyên môn thì SV
vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải
quyết các tình huống thực tiễn Vì vậy bên
cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy
học còn xây dựng quan điểm dạy học theo
tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm
dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức
theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình
huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp
Quá trình học tập được tổ chức trong một môi
trường học tập tạo điều kiện cho SV kiến tạo
tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác
xã hội của việc học tập
Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn
với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn
việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn
đời sống, góp phần khắc phục tình trạng giáo
dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà
trường phổ thông
Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết thì SV cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa
có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Khi dạy bài “Ý chí” bằng PPDH tình huống,
GV có thể đưa ra tình huống sau [3]:
“Nguyễn Văn Kí một nhà giáo được nhiều người biết đến với lòng khâm phục và kính trọng Từ nhỏ anh đã bị tật nguyền, teo cả hai tay, nhưng với lòng quyết tâm cao độ, anh đã tập viết, tập làm, và có khả năng tự phục vụ mình chỉ bằng đôi chân Dù khó khăn, vất vả anh vẫn cố gắng học tập vươn lên và anh trở thành giáo viên dạy toán ở một trường Trung học cơ cở, anh được đồng nghiệp tin yêu và học sinh quý trọng
Nhiều người hỏi bí quyết nào đã giúp anh thành công, anh nhỏ nhẹ nói: Tất cả không có
bí quyết nào ngoài lòng quyết tâm
Ý kiến của anh, chị về hiện tượng này như thế nào?”
Thông qua phân tích tình huống trên, GV giúp SV đưa ra kết luận: “Ý chí – Khái niệm TLH, thuộc tính tâm lí của NC, mặt năng động của ý thức, điều khiển những hành động
có mục đích, có kế hoạch, có nỗ lực khắc phục khó khăn thường xuyên để đạt tới mục đích hành động Giá trị của ý chí thể hiện ở mục đích, nội dung và cường độ của ý chí” Đồng thời, SV sẽ biết được vai trò của ý chí
và đưa ra kết luận sư phạm về việc rèn luyện
ý chí của GV trong hoạt động sư phạm Qua nội dung bài học, SV sẽ vận dụng các kiến thức: hành động ý chí – kỹ năng, kỹ xảo, thói quen vào quá trình học tập mình
Bồi dưỡng PP học tập tích cực cho SV [5]
Ở trường đại học, học tập của SV là một quá trình nhận thức đặc biệt trong đó sinh viên đóng vai trò chủ thể của hoạt động này Tính tích cực học tập có vai trò quyết định hiệu quả học tập của SV SV chỉ có thể hiểu sâu sắc tài liệu học tập và biến nó thành giá trị riêng nếu
Trang 6họ kiên trì và nỗ lực hoạt động trí tuệ trong
học tập để tự “khám phá” phát hiện ra tri
thức Lòng khao khát hiểu biết, tính tích cực
cao trong hoạt động nhận thức và khả năng tự
rèn luyện bản thân là những đức tính cần
được phát triển và giáo dục cho sinh viên
ngay trên ghế nhà trường Giải quyết thành
công nhiệm vụ này trước hết sẽ tạo tiền đề
chắc chắn cho việc nắm vững sâu sắc tài liệu
học tập Đồng thời nó đảm bảo những điều
kiện để SV tiếp tục rèn luyện bản thân một
cách có hệ thống và không ngừng học tập
Tính tích cực học tập là một phẩm chất nhân
cách, một thuộc tính của quá trình nhận thức
giúp cho quá trình nhận thức luôn luôn đạt kết
quả cao, giúp cho con người có khả năng học
tập không ngừng
Vì vậy trong quá trình dạy học Tâm lí học,
bằng nhiều hình thức khác nhau, GV cần
luyện tập cho SV PP học tập tích cực nhằm
tích cực hóa, phát huy tính sáng tạo của SV
Có những PP chung như PP thu thập, xử lý,
đánh giá thông tin, PP tổ chức làm việc, PP
làm việc nhóm, có những PP học tập chuyên
biệt của bộ môn như nêu và giải quyết vấn đề,
PP tình huống, PP phân vai
Chẳng hạn, trước khi học bài “Tư duy” GV
yêu cầu SV sưu tầm các câu ca dao, tục ngữ
có chứa các từ “nghĩ, lo, suy nghĩ, nghĩ suy,
đắn đo, tính toán, cân, cân nhắc” Hay trước
khi học bài “Các quy luật hình thành và biến
đổi tình cảm” GV yêu cầu SV sưu tầm các
câu ca dao, tục ngữ có chứa các từ “yêu, ghét,
giận, thương, vui, buồn”… Hoặc trước khi
học bài “Trí nhớ”, GV đưa yêu cầu “Anh
(chị) rèn luyện trí nhớ như thế nào?” để SV
thực hiện Việc thực hiện các nhiệm về nhà
của sinh viên có thể thực hiện cá nhân hoặc
thực hiện theo nhóm Qua đó rèn cho SV tính tích cực, chủ động tìm kiếm tài liệu, đọc và ghi chép và tập trình bày kiến thức một cách
hệ thống Đặc biệt thông qua việc tìm những
ví dụ, bài tập có ứng dụng thực tiễn, đã giúp cho SV hiểu sâu sắc hơn về mục đích và ý nghĩa của bài học, môn học, họ cảm thấy có hứng thú hơn trong học tập
KẾT LUẬN Đổi mới PPDH là việc làm thiết thực, thường xuyên, trọng tâm của mỗi GV Bài viết đã đề xuất một số biện pháp đổi mới PPDH môn Tâm lí học Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động giảng dạy môn học cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới PPDH với đổi mới nội dung dạy học,
đa dạng hình thức tổ chức dạy học, PP và hình thức đánh giá; đồng thời đổi mới cách dạy của thầy đi đôi với cách học của trò Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự hỗ của trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp – Đại học Thái Nguyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 C.Mác và Ph Ăng ghen Toàn tập Tập 23 Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993
2 Bộ môn Tâm lí – Giáo dục (2015), Bài giảng Tâm lí học, Trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp
3 Bộ môn Tâm lí – Giáo dục (2015), Bài tập Tâm
lí học, Trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp
4 Phạn Trọng Ngọ (2013), Dạy học và Phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm
5 Đỗ Thị Coỏng (2004), Nghiên cứu tính tích cực học tập môn Tâm lý học của sinh viên Đại học Sư phạm Hải Phòng, LATS Tâm lí học,
Đại học sư phạm Hà Nội
6 http://tinmoi24.com/mot-so-bien-phap-doi-moi-
phuong-phap-day-hoc/news-50-4-28f2f1f5fb79aed9a8a26a38c3f62679
Trang 7ABSTRACT
INNOVATIVE TEACHING METHOD AT FACULTY OF TECHNICAL
EDUCATION, THAI NGUYEN UNIVERSITY OF TECHNOLOGY
Le Thi Quynh Trang *
University of Technology - TNU
Psychology subject in the Bachelor of Science curriculum in Technical Education is one of the subjects of pedagogical knowledge In the process of Psychology subject teaching, there are many forms to improve the quality of teaching subjects such as, innovative teaching methods, change of content teaching, diversity of teaching forms, renewing of evaluation form The innovative teaching methods is considered one of the key stages of the renovation teaching process The following article will propose some solutions of innovative teaching method at faculty of technical education, Thai Nguyen University of Technology
Keywords: Method, teaching method, innovative teaching method
Ngày nhận bài: 01/11/2017; Ngày phản biện: 27/11/2017; Ngày duyệt đăng: 05/01/2018
*
Tel: 0982 310379, Email: quynhtrang@tnut.edu.vn