Các đặc điểm tâm lý sinh viên 1. Thể chất Sự phát triển về thể chất của thanh niên sinh viên trong thời kỳ này đã hoàn thành và ổn định sau những biến động sâu sắc của tuổi dậy thì. Đến tuổi 25 thì sự phát triển về thể chất của con người đã đạt đến mức hoàn thiện. Điều này được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:Về mặt hình thể, các em lứa tuổi này đã đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và sự phối hợp giữa các chức năng của cơ thể. Cụ thể như sau: Sinh viên đạt được 910 chiều cao và 23 trọng lượng cơ thể của người trưởng thành. Là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương và cơ bắp. Điều này góp phần tạo nên nét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên sinh viên. Các tố chất về thể lực như sức nhanh, sức bền bỉ, độ dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmôn nam và nữ. Giai đoạn này có sự hoàn chỉnh về mặt giới tính do hoocmôn sinh trưởng của nam và nữ tăng lên 1015 lần và sự tăng này sẽ giúp cho hoocmôn sinh trưởng của nam áp đảo tác dụng một phần hoocmôn sinh trưởng nữ còn sót lại trong cơ thể và hoocmôn sinh trưởng của nữ sẽ áp đảo lại tác dụng một phần hoocmôn sinh trưởng nam còn sót lại trong cơ thể. Vì vậy, giới tính ở lứa tuổi này đã được phân biệt rõ và phát triển đầy đủ ở mỗi giới, cả về biểu hiện ngoại hình lẫn biểu hiện nội tiết tố. Hoạt động thần kinh cấp cao đã đạt đến mức trưởng thành. Trọng lượng não đạt mức tối đa (trung bình não có trọng lượng là 1400gram), số lượng nơron thần kinh đạt mức cao nhất với chất lượng hoàn hảo nhờ quá trình myêlin hoá cao độ. Ở thời kỳ này, các tế bào thần kinh không có khả năng sản sinh thêm mà chỉ mất dần đi mà thôi. Số lượng xi náp của các tế bào thần kinh đảm bảo cho một sự liên lạc rộng khắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa vô số các kênh làm cho hoạt động của não bộ trở nên nhanh, nhạy, chính xác đặc biệt so với các lứa tuổi khác. Nhà sinh lý học thần kinh Sơlâyben đã nghiên cứu và tính toán được rằng nhiều tế bào thần kinh ở lứa tuổi sinh viên có thể nhân tin từ 1200 nơron trước và gửi đi từ 1200 nơron sau. Với sự phát triển hoàn hảo của hệ thần kinh ở sinh viên như trên thì theo GS. Lê Quang Long ước tính có tời 23 kiến thích của cuộc đời được tích luỹ trong thời gian 67 năm học đại học
Trang 1Đặc điểm tâm lý sinh viên
1 Thể chất
Sự phát triển về thể chất của thanh niên sinh viên trong thời kỳ này đã hoàn thành và
ổn định sau những biến động sâu sắc của tuổi dậy thì Đến tuổi 25 thì sự phát triển về thể chất của con người đã đạt đến mức hoàn thiện Điều này được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:Về mặt hình thể, các em lứa tuổi này đã đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và sự phối hợp giữa các chức năng của cơ thể Cụ thể như sau:
- Sinh viên đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng cơ thể của người trưởng thành
- Là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương và cơ bắp Điều này góp phần tạo nên nét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên sinh viên
- Các tố chất về thể lực như sức nhanh, sức bền bỉ, độ dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmôn nam
và nữ
- Giai đoạn này có sự hoàn chỉnh về mặt giới tính do hoocmôn sinh trưởng của nam và
nữ tăng lên 10-15 lần và sự tăng này sẽ giúp cho hoocmôn sinh trưởng của nam áp đảo tác dụng một phần hoocmôn sinh trưởng nữ còn sót lại trong cơ thể và hoocmôn sinh trưởng của
nữ sẽ áp đảo lại tác dụng một phần hoocmôn sinh trưởng nam còn sót lại trong cơ thể Vì vậy, giới tính ở lứa tuổi này đã được phân biệt rõ và phát triển đầy đủ ở mỗi giới, cả về biểu hiện ngoại hình lẫn biểu hiện nội tiết tố
Hoạt động thần kinh cấp cao đã đạt đến mức trưởng thành
- Trọng lượng não đạt mức tối đa (trung bình não có trọng lượng là 1400gram), số lượng nơron thần kinh đạt mức cao nhất với chất lượng hoàn hảo nhờ quá trình myêlin hoá cao độ Ở thời kỳ này, các tế bào thần kinh không có khả năng sản sinh thêm mà chỉ mất dần
đi mà thôi
- Số lượng xi náp của các tế bào thần kinh đảm bảo cho một sự liên lạc rộng khắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa vô số các kênh làm cho hoạt động của não bộ trở nên nhanh, nhạy, chính xác đặc biệt so với các lứa tuổi khác Nhà sinh lý học thần kinh Sơ-lây-ben đã nghiên cứu và tính toán được rằng nhiều tế bào thần kinh ở lứa tuổi sinh viên có thể nhân tin
từ 1200 nơ-ron trước và gửi đi từ 1200 nơ-ron sau Với sự phát triển hoàn hảo của hệ thần kinh ở sinh viên như trên thì theo GS Lê Quang Long ước tính có tời 2/3 kiến thích của cuộc đời được tích luỹ trong thời gian 6-7 năm học đại học
2 Hoạt động học
Đối tượng của hoạt động học ở đại học là tri thức khoa học và các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà người sinh viên cần có Ngoài việc lĩnh hội các tri thức khoa học, sinh viên
có thể sáng tạo hoặc góp phần sáng tạo các tri thức mới dưới sự hướng dẫn của giảng viên
Trang 2- Mục đích của hoạt động học ở sinh viên không chỉ hướng vào việc lĩnh hội tri thức mà còn hướng vào làm thay đổi chính bản thân sinh viên Hoạt động học của sinh viên gắn liền với hoạt động nghiên cứu khoa học và không tách rời hoạt động nghề nghiệp
- Hoạt động học của sinh viên diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên và nằm trong khuôn khổ của chương trình đào tạo thuộc một chuyên ngành nhất định
- Hoạt động học của sinh viên chủ yếu hướng vào tiếp thu những tri thức của chính bản thân hoạt động học – đó là phương pháp học Vấn đề cơ bản ở đại học là học phương pháp
- Nét đặc trưng trong hoạt động học tập của sinh viên là quá trình nhận thức ở cường độ cao mà trọng tâm là quá trình tư duy tìm tòi, khám phá Hoạt động học của sinh viên đòi hỏi
sự sáng tạo cao, bởi lẽ những tri thức sinh viên cần lĩnh hội vượt ra ngoài giáo trình, bài giảng mà giảng viên cung cấp
- Sinh viên phải hoàn toàn tự quyết định kế hoạch học tập của mình sao cho trong một thời gian nhất định họ phải đáp ứng các yêu cầu của quá trình đào tạo
Hoạt động học của sinh viên diễn ra phức tạp theo nhiều phương thức khác nhau Mỗi phương thức tạo ra một kiểu học tập tương đối riêng biệt Các kiểu học của sinh viên được thể hiện ở 5 kiểu tổng quát như sau:
Kiểu 1: Việc học tập có tính chất thụ động, bắt chước, sao chép, ít tính chủ định Cách học này khuyến khích việc sử dụng cách dạy theo khuôn mẫu, áp đặt, buộc sinh viên phải chấp nhận các tri thức mà giảng viên cung cấp
Kiểu 2: Học theo nguyên tắc phát hiện – tìm tòi Đây là kiểu học tập được thực hiện bằng các hành động cảm tính rồi tiến đến các hành động lý tính, tức là hành động trí tuệ Sinh viên tự mình phát hiện, khai thác, tích lũy và xử lý các thông tin thu nhận được từ đó hình thành các khái niệm khoa học Tương thích với kiểu học này là phương pháp dạy học có chức năng tổ chức, định hướng, tạo môi trường, điều kiện để sinh viên làm việc (phương pháp kiến tạo – tìm tòi)
Kiểu 3: Học tập bằng cảm xúc, rung cảm Đó là cách học bằng rung cảm, có sự đồng cảm giữa con người với nhau Nội dung chủ yếu của quá trình học tập chính là những trải nghiệm thực tế của sinh viên Cá nhân và nhóm sinh viên tham gia vào các quan hệ, tình huống nhất định, từ đó hợp tác, chia sẻ với nhau những kiến thức, kinh nghiệm, đánh giá và trao đổi ý tưởng Phù hợp với kiểu học này là cách dạy động viên – tham gia, khuyến khích – tham gia Giảng viên có thể sử dụng các phương pháp dạy học phổ biến như phương pháp động não, nêu vấn đề, thảo luận nhóm …
Kiểu 4: Học dựa vào kinh nghiệm nhận thức và hoạt động trí tuệ của mỗi cá nhân sinh viên Ở kiểu học này, những vấn đề trong nội dung học tập trở thành nhân tố cơ bản của các tình huống dạy học Những tình huống đó trở thành môi trường học tập trực tiếp của sinh viên Tương ứng với kiểu học này là cách dạy học nêu vấn đề Giảng viên sử dụng các phương pháp dạy học như phương pháp động não, nêu vấn đề, thảo luận nhóm …
Trang 3 Kiểu 5: Kiểu học hỗn hợp Với kiểu học này sinh viên phải sử dụng đa dạng các phương pháp học tập Điều đó đòi hỏi giảng viên phải sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học, có phương án kết hợp các kiểu phương pháp sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý của sinh viên,
3 Hoạt động khác
1 Hoạt động nghiên cứu khoa học
Đây là hoạt động rất đặc trưng của lứa tuổi sinh viên Hoạt động này làm phát triển tối ưu
tư duy sáng tạo và khả năng làm việc nhóm, hình thành tính độc lập nghề nghiệp và khả năng giải 38 quyết một cách sáng tạo những nhiệm vụ thực tiễn khi bắt đầu lao động Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên tự thể hiện và khẳng định được bản thân mình qua đó rèn luyện được những phẩm chất nghề nghiệp tương lai
2 Hoạt động chính trị - xã hội
Sinh viên là một tổ chức xã hội quan trọng của đất nước Họ là những người có trí tuệ nhạy bén, mẫn cảm với tình hình kinh tế chính trị của đất nước và quốc tế Họ có chính kiến đối với chủ trương, đường lối, chính sách của đảng chính trị và tổ chức cầm quyền Do vậy, hoạt động chính trị - xã hội là nhu cầu và nguyện vọng của thanh niên sinh viên Việc tham gia vào các tổ chức chính trị và đoàn thể xã hội như Hội sinh viên, Đoàn thanh niên … có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhân cách lứa tuổi này
3 Hoạt động xã hội và giao lưu bạn bè
Hoạt động xã hội và giao lưu bạn bè là một phần không thể thiếu được trong đời sống của sinh viên Chính thông qua các hoạt động này, sinh viên học hỏi được từ bạn bè những kinh nghiệm trong học tập, giao tiếp và làm việc cùng nhau để thích ứng với cuộc sống mới đang
mở rộng trước các em Đồng thời các hoạt động trên còn làm thoả mãn nhu cầu giao tiếp bạn
bè của lứa tuổi này Như vậy, sự phát triển hoàn chỉnh về thể chất và vai trò xã hội được tăng cường có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này
4 Giao tiếp :
- Ở giai đoạn lứa tuổi này, sinh viên giữ vai trò, vị trí xã hội rõ rệt, là nhóm người có vị
trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và trình độ tương đối cao của xã hội
- Cũng như ngành khác, sinh viên sư phạm luôn phải biết tự rèn luyện bản thân và kỹ
năng giao tiếp sư phạm, bởi sự đòi hỏi của nghề thầy giáo đối với khả năng này là rất cao Vì vậy trong giao tiếp, họ luôn có xu hướng mang dấu ấn đặc trưng của nghề nghiệp, phong cách giao tiếp này luôn nhận được sự tôn trọng của xã hội
- Trong quá trình giao tiếp, SV thường trao đổi với nhau về nội dung và phương pháp
học tập, bởi hoạt động chủ yếu của SV là học tập và rèn luyện
Trang 4- Bên cạnh đó, SV theo học đại học sẽ khác với cách học ở cấp dưới, SV phải chủ động
hơn, phải tự tìm tòi tài liệu, trao đổi thông tin với bạn bè giúp bản thân họ tiếp thu được nhiều tri thức
- Hoạt động giao tiếp diễn ra trên tất cả các mặt của SV thông qua những hoạt động
khác nhau Những hoạt động mang tính phức tạp giữa các cá nhân sinh viên với bạn bè cùng lứa, cùng giới, các tổ chức, các nhóm xã hội Các hoạt động này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển nhân cách sinh viên
5 Đặc điểm quá trình nhận thức :
Sự thích nghi của sinh viên với cuộc sống và hoạt động mới
Bước chân vào trường đại học, một cuộc sống học tập và xã hội mới ngày càng mở rộng
ra trước mắt sinh viên Trong môi trường mới này, để hoạt động học tập có kết quả đòi hỏi các em phải có sự thích nghi với các hoạt động diễn ra trong trường đại học Quá trình thích nghi này chủ yếu tập trung ở các mặt:
- Nội dung học tập mang tính chuyên ngành
- Phương pháp học tập mới mang tính nghiên cứu khoa học
- Môi trường sinh hoạt mở rộng
- Nội dung và cách thức giao tiếp phong phú và đa dạng
- …
Có những sinh viên dễ dàng và nhanh chóng hoà nhập với môi trường xã hội mới, nhưng lại gặp khó khăn trong việc thích ứng với phương pháp và cách thức học mới Có người cảm thấy ít khó khăn trong việc tiếp thu tri thức, dễ vượt qua cách học chuyên sâu ở đại học nhưng lại lúng túng, thiếu tự tin trong việc hoà nhập với bạn bè và các nhóm hoạt động trong lớp, trong trường Một số sinh viên hoà đồng, cỏi mở còn một số khác lại thận trọng, khép kín
Bản thân người sinh viên gặp phải một loạt các mâu thuẫn cần giải quyết như:
- Mâu thuẫn giữa ước mơ, mong muốn của sinh sinh với khả năng thực hiện ước mơ đó
- Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mà mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định
- Mâu thuẫn giữa lượng thông tin nhiều trong xã hội với khả năng và thời gian có hạn Việc giải quyết các mâu thuẫn trên một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thanh niên sinh viên
Sự phát triển của hoạt động nhận thức
- Hoạt động nhận thức trong học tập của sinh viên diễn ra ở cường độ cao Các quá trình nhận thức như: tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng … đều được huy động tối đa để đáp ứng yêu cầu học tập theo phương thức tự nghiên cứu
- Đối tượng học của sinh viên không phải chỉ là những tri thức khoa học hấp dẫn mà còn bao gồm rất nhiều tri thức khoa học vừa khó, vừa khô khan, nhưng sinh viên đều phải tập
Trang 5trung lĩnh hội và tham gia vào bài giảng nên tri giác có chủ định, chú ý có chủ định được huy động là chủ yếu
- Hầu hết các tri thức khoa học ở đại học đều đòi hỏi phải ghi nhớ ý nghĩa, vì thế sinh viên phải biết tổ chức ghi nhớ để có trí nhớ dài hạn
- Sinh viên có những phẩm chất tư duy tốt như: óc phân tích, tổng hợp, khả năng phê phán, tính độc lập, khả năng khái quát vấn đề; đồng thời có sự sáng tạo trong vận dụng tri thức sao cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
- Khả năng tưởng tượng của sinh viên được phát triển ở mức độ cao; sinh viên có khả năng xây dựng những hình ảnh mới, độc đáo mà học sinh phổ thông chưa có được, nhờ đó họ
có thể lĩnh hội tốt các tri thức có tính chất trừu tượng ở đại học
Sự phát triển tự ý thức
Các mặt biểu hiện của tự ý thức:
Thông thường tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau:
- Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ dáng vẻ bề ngoài, vị trí, các mối quan hệ xã hội đến phẩm chất và năng lực cá nhân
- Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, tự đánh giá (hài lòng hoặc không hài lòng, tự cao hoặc tự ti …)
- Xác định mục đích phấn đấu, tự điều khiển và điều chỉnh hành vi theo mục đích tự giác
- Đặc điểm tự ý thức của sinh viên:
- Do sự trưởng thành về lứa tuổi, do sự thay đổi vị thế xã hội, sinh viên có khả năng đánh giá khách quan về bản thân; có khả năng tự điều chỉnh các hoạt động tâm lý như nhận thức, thái độ và hành vi để thích ứng được với các hoạt động học tập, rèn luyện, hoạt động tập thể ở trường đại học
- Sinh viên tự thu thập và xử lý các thông tin về bản thân để tự điều chỉnh mình Sinh viên tự nhìn nhận lại bản thân, so sánh với những nhận xét của chính mình về bản thân, từ đó nảy sinh nhu cầu tự hoàn thiện
- Sự phát triển tự ý thức của sinh viên là biểu hiện của sự phát triển nhân cách người lao động trong tương lai Sự đánh giá khách quan về bản thân giúp sinh viên nhận thức rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình để xác định mức độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp
Sự phát triển tự ý thức của sinh viên:
Tự đánh giá ở tuổi sinh viên là một dạng hoạt động nhận thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu thập, xử lý thông tin về chính mình, chỉ ra được mức độ nhân cách tồn tại ở bản thân, từ đó có thái độ, hành vi, hoạt động phù hợp nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục để hoàn thiện và phát triển Đặc điểm tự đánh giá ở sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc Biểu hiện cụ thể của nó là sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân mình có tính chất bên ngoài, hình thức mà còn đi sâu vào cá phẩm chất,
Trang 6các giá trị nhân cách Tự đánh giá của sinh viên không chỉ trả lời câu hỏi Tôi là ai? mà còn Tôi là người như thế nào? Tôi có những phẩm chất gì? Lứa tuổi này còn có khả năng lý giải câu hỏi Tại sao tôi là người như thế? Những cấp độ đánh giá ở tên mang yếu tố phê phán, phản tỉnh rõ rệt Vì vậy, tự đánh giá ở sinh viên còn mang ý nghĩa tự ý thức, tự giáo dục Tự ý thức là một trình độ phát triển cao của ý thức, nó giúp sinh viên có hiểu biết về thái độ, hành
vi, cử chỉ của mình để chủ động hướng hoạt động của mình theo những yêu cầu đòi hỏi của tập thể, của cộng đồng xã hội
6 Đặc điểm tình cảm, xúc cảm
Đời sống tình cảm
- Sinh viên đã trưởng thành về tâm, sinh lý nên đời sống tình cảm rất phong phú, sâu sắc và bền vững Tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ của sinh viên phát triển đến mức độ tích cực nhất
- Tình cảm trí tuệ của sinh viên biểu hiện rõ qua thái độ tích cực đối với việc chiếm lĩnh tri thức khoa học Nhiều sinh viên chủ động tìm tòi, khám phá các phương pháp học tập phù hợp với điều kiện và yêu cầu môn học nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập
- Tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ của sinh viên phát triển có chiều sâu Sinh viên có thể lý giải, phân tích một cách có cơ sở những gì mà họ yêu thích
- Tình bạn của sinh viên phát triển mạnh và có chiều sâu Tình bạn góp phần làm cho nhân cách của sinh viên phát triển mạnh Tình yêu nam nữ của sinh viên cũng rất phát triển Tình yêu sinh viên thường là những mối tình đẹp, nhưng vẫn còn tồn tại một số lệch lạc trong quan hệ tình bạn khác giới và tình yêu
- Trí tuệ cảm xúc của sinh viên đã phát triển Sinh viên có những kinh nghiệm nhất định
về các lĩnh vực tình cảm; có khả năng kiềm chế bản thân trước những ham muốn tiêu cực, biết phân tích và đánh giá các hiện tượng trong đời sống xã hội và của bản thân
7. Nhân cách
a Các kiểu nhân cách của sinh viên
Dựa vào thái độ của sinh viên đối với hoạt động học tập và các hoạt động chính trị xã hội, người ta phân chia 6 kiểu nhân cách sinh viên như sau:
- Kiểu 1: Là những sinh viên học tốt tất cả các môn cơ sở, cơ bản và chuyên ngành; xác định mục đích học tập rõ ràng; tích cực tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học; tích cực trong các hoạt động chính trị xã hội Đây là những sinh viên toàn năng, thường được bầu vào các vị trí lãnh đạo tập thể sinh viên
- Kiểu 2: Là những sinh viên học khá; học tốt một số môn, thường là những môn chuyên ngành; tích cực tham gia các hoạt động chính trị xã hội; gắn bó với tập thể lớp bằng các hoạt động học tập và rèn luyện nghề nghiệp
Trang 7- Kiểu 3: Là những sinh viên đạt kết quả xuất sắc trong học tập; hiểu biết rộng về nhiều lĩnh vực; say mê học tập và nghiên cứu khoa học; có thể có một năng khiếu nào đó, nhưng không hứng thú tham gia các hoạt động chính trị xã hội
- Kiểu 4: Là những sinh viên có kết quả học tập trung bình, có thể là khá; không hẳn là thiếu chăm chỉ nhưng vì quan tâm và dành nhiều thời gian cho các hoạt động chính trị xã hội nên ảnh hưởng đến kết quả học tập; gắn bó với tập thể bằng các hoạt động xã hội hơn là hoạt động học tập
- Kiểu 5: Là những sinh viên học trung bình hoặc yếu hơn một chút; không tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn như nghiên cứu khoa học, ít tranh luận xêmina; không tích cực tham gia các hoạt động chính trị xã hội; không gắn bó chặt chẽ với tập thể
- Kiểu 6: Là những sinh viên có học lực yếu; không tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn như nghiên cứu khoa học; không tích cực trong các hoạt động chính trị xã hội; ham chơi, thích tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí hơn là học
Về những định hướng giá trị đối với nhân cách đa số sinh viên chọn và nhấn mạnh các phẩm chất sau ngoài những giá trị chung khác:
- Có tư duy kinh tế, biết tính toán hiệu quả
- Năng động, thích nghi nhanh với hoàn cảnh
- Sử dụng thành thạo ngoại ngữ
- Dám nghĩ, dám làm, chấp nhận mạo hiểm
Những định hướng giá trị nghề nghiệp được sinh viên lựa chọn là:
- Biết xây dựng cuộc sống gia đình hoà thuận
- Nghề có thu nhập cao
- Nghề phù hợp với sức khoẻ và trình độ
- Nghề phù hợp với sở thích, hứng thú
- Nghề có điều kiện chăm lo gia đình
- Nghề có điều kiện phát triển năng lực
- Nghề được xã hội coi trọng
- Nghề đảm bảo yên tâm suốt đời
- Nghề làm việc bằng trí óc
- Nghề có thể giúp ích cho nhiều người
- Nghề có điều kiện tiếp tục học lên cao
b Xu hướng phát triển nhân cách sinh viên
- Sinh viên là người đang học nghề nên xu hướng phát triển nhân cách của sinh viên là xung hướng phát triển nhân cách nghề nghiệp Mô hình nhân cách mà sinh viên hướng tới là nhân cách của người lao động có trình độ cao trong lĩnh vực chuyên môn mà sinh viên đã chọn
Trang 8- Sinh viên tiếp tục nhận thức rõ hơn, hiểu kỹ hơn về nghề nghiệp và các yêu cầu của nghề nghiệp đã chọn, đồng thời dần dần hình thành tình cảm nghề nghiệp
- Xu hướng nghề nghiệp dần được ổn định và từng bước hình thành phẩm chất, năng lực cần thiết của nghề
- Tình cảm đạo đức, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng phát triển mạnh; tình cảm bạn
bè, tình yêu nam nữ phát triển và có tính chất bền vững
- Do nhận thức về nghề nghiệp đầy đủ hơn nên sinh viên đã đặt kỳ vọng về nghề nghiệp tương lai Sinh viên tự đối chiếu bản thân với yêu cầu của xã hội để hoàn thiện mình nhằm đáp ứng các yêu cầu đó
- Sự phát triển nhân cách sinh viên diễn ra theo hướng tăng dần khả năng đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất và năng lực của nghề đã chọn từ năm đầu đến năm cuối
8 Khó khăn trong tâm lý của sinh viên
Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên
- Trong hoạt động học tập ban đầu của sinh viên, họ mang theo cả cách học, thói quen học ở trường phổ thông áp dụng vào hoạt động học tập ở cao đẳng, đại học nên họ đã gặp rất nhiều KKTL khi tham gia vào hoạt động học tập Ở trường phổ thông, học sinh lĩnh hội tri thức đã được biên soạn sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, nghĩa là chúng đã được
sư phạm hóa cao, còn ở đại học, cao đẳng, sinh viên phải tiếp thu những kiến thức cơ bản, hệ thống và có tính khoa học cao của một khoa học nhất định Do đó, việc chuyển từ học tập ở phổ thông sang trường đại học, cao đẳng đã gây ra những biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện thực hiện hoạt động
- Có rất nhiều nguyên nhân gây nên KKTL trong hoạt động học tập của sinh viên Chúng ta có thể khái quát những nguyên nhân đó như sau:
Nhóm nguyên nhân khách quan:
- Do phương pháp giảng dạy của thầy chưa phù hợp
- Do ít được hướng dẫn về phương pháp học tập
- Do ảnh hưởng của cách dạy cũ ở phổ thông
- Do thiếu sách, giáo trình, tài liệu tham khảo
- Lượng tri thức phải tiếp thu ở trường đại học, cao đẳng là quá lớn
- Do tính chất học tập ở trường cao đẳng
Nhóm nguyên nhân chủ quan:
- Do lực học của bản thân
- Do sinh viên chưa quen với môi trường học tập mới và phương pháp dạy học mới
- Do rụt rè, nhút nhát không chịu học hỏi
- Do sinh viên chưa có ý thức học tập
- Do động cơ chọn nghề của sinh viên
- Do bản thân chưa có phương pháp học tập hợp lý
Trang 9- Do thiếu kinh nghiệm sống, hoạt động học tập một cách độc lập.