1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích sự phát triển về vai trò của thị trường, chính phủ và các nhân tố tác động tới tăng trưởng qua các lý thuyết của K.Marx và các lý thuyết tăng trưởng hiện đại

15 978 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 102 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của chính phủ: Một trong những tiến bộ to lớn của học thuyết tăng trưởng của Marx so với các học thuyết cổ điển là đã nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong việc giúp các nhà tư

Trang 1

Phân tích sự phát triển về vai trò của thị trường, chính phủ và các nhân tố tác động tới tăng trưởng qua các lý thuyết của K.Marx, Tân cổ điển, Keynes, Harrod Domar

và các lý thuyết tăng trưởng hiện đại.

A Lý thuyết của K Marx

I Quan điểm về nhân tố tăng trưởng

Marx cho rằng các yếu tố liên quan đến quá trình sản xuất là đất đai, lao động, vốn và công nghệ Trong đó, ông nhấn mạnh vai trò của lao động vì nó tạo ra của cải thặng dư

Đối với nhà tư bản, lao động chính là một thứ hàng hoá đặc biệt Do vậy, lao động cũng được mua trên thị trường và tiêu thụ trong quá trình sản xuất Nhưng trong quá trình tiêu thụ này, lao động có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó (đặc điểm mà các loại hàng hoá khác không có) Giá trị này chính bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư

Marx cũng cho rằng, trong xã hội TBCN, tiền lương của công nhân luôn ở mức tối thiểu

và chỉ đủ sống

Tỷ lệ m/V phản ánh sự phân phối thời gian lao động của công nhân, trong đó (V) là làm việc cho bản thân, (m) là sáng tạo ra của cải cho nhà tư bản và địa chủ

Mặt khác, Marx cho rằng, mục đích của nhà tư bản chính là giá trị thặng dư Để đạt được điều này, họ tìm cách tăng thời gian làm việc của công nhân, giảm tiền lương công nhân hoặc cải tiến kĩ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động Trong đó cải tiến kĩ thuật là phương án khả thi nhất vì 2 cách kia đều có giới hạn Tiến bộ kĩ thuật sẽ làm tăng số lượng máy móc và dụng cụ cho người lao động, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản C/V

có xu hướng tăng Chính vì lẽ đó, các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất lao động của công nhân

Trang 2

Nhưng để có vốn dùng cho cải tiến kĩ thuật, các nhà tư bản không được tiêu dùng hết giá trị thặng dư Giá trị thặng dư phải được chia làm 2 phần, 1 phần để tiêu dùng cho nhà tư bản, 1 phần để tích luỹ phát triển sản xuất Đây cũng là nguyên lý tích luỹ của CNTB

Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị tăng trưởng: K.marx đã đưa ra khái niệm tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập quốc dân để đánh giá kết quả hoạt động của nền kinh tế

Trong đó tổng sản phẩm xã hội là toàn bộ sản phẩm được sản xuất ra trong một thời gian nhất định, còn thu nhập quốc dân là phần còn lại của tổng sản phẩm xã hội sau khi đã trừ

đi chi phí sản xuất

Đối sánh với các học thuyết khác: Lý thuyết của Karl Marx có vai trò vô cùng đặc biệt trong lịch sử về lý thuyết tăng trưởng và rất khác biệt so với lý thuyết cổ điển

Đối với các nhà kinh tế cổ điển, tư bản chỉ là một quỹ tiền lương, Marx thấy được

tư bản cố định bao hàm trong nó “khoa học và công nghệ” Dự báo của Marx về sự tăng trưởng trì trệ trong dài hạn (do tích luỹ tư bản ngừng lại) cũng dựa trên những lập luận phân phối, đặc biệt là sự suy giảm của tỷ suất lợi tức trên vốn

Điểm giống nhau cơ bản giữa mô hình của Marx và mô hình của Ricardo là ở chỗ: cung lao động trong khu công nghiệp hiện đại hoàn toàn co dãn tại mức lương được xác định tối thiểu, đây cũng là cơ sở cho việc tích luỹ tư bản nhanh chóng Tuy nhiên, Marx không thừa nhận quy luật dân số của Malthus trong khi Ricardo coi đó là cơ chế tạo ra đường cung lao động hoàn toàn co dãn Thay vào đó, Marx giải thích dựa trên sự tồn tại của lực lượng lao động “thặng dư” bên cạnh số lao động đã được thuê trong khu vực sản xuất công nghiệp Marx gọi lực lượng thặng dư này là “đội quân hậu bị công nghiệp”, bao gồm những người vô sản thấp kém- những người kiếm ăn bằng nhiều nghề khác nhau trong đó có một công việc chính thức trong khu vực công nghiệp Theo đó, họ sẵn sàng chấp nhận mức lương tối thiểu mà các chủ tư bản đưa ra Nếu đội quân hậu bị này còn tồn tại thì mức lương tối thiểu trong khu công nghiệp vẫn luôn duy trì ở mức đủ sống

Trang 3

Theo quan điểm của Marx, tư bản bao gồm “tư bản khả biến” (là quỹ tiền lương trả cho người lao động) và “tư bản bất biến” (quỹ tiền mua hàng hoá tư bản và các sản phẩm trung gian), việc sử dụng tư bản bất biến không tạo ra “giá trị thặng dư” của nhà tư bản bởi nhà tư bản mua máy móc, nguyên vật liệu với giá bằng giá trị mà tư bản bất biến đó

sẽ tạo ra Mặt khác, nhà tư bản có thể áp đặt mức tiền lương thấp hơn giá trị mà người lao động làm ra Do đó, chỉ có tư bản khả biến mới đem lại giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa hay lao động tạo ra giá trị Marx cho rằng quy luật phát triển của tư bản chủ nghĩa là tỷ lệ tư bản bất biến trên tư bản khả biến tăng lên, do đó, tỷ lệ giá trị thặng dư (lợi nhuận) trên tổng giá trị tư bản sẽ giảm xuống Tỷ suất lợi nhuận giảm dần làm giảm tích luỹ vốn và cuối cùng dẫn đến trạng thái ngừng tăng trưởng kinh tế nên

sẽ khuyến khích các nhà tư bản tiếp tục giảm tiền lương công nhân và do đó đẩy cuộc sống người lao động lâm vào cảnh khốn khó hơn

Quá trình phát triển tư bản theo Marx nhất thiết phải đi đôi với bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Những người công nhân luôn chịu sự đe doạ bị sa thải bởi sự thay thế của đội quân hậu bị Thậm chí, thu nhập của người lao động ngày càng giảm so với nhà tư bản do hiệu ứng tiết kiệm lao động của công nghệ hiện đại

II Vai trò của thị trường và chính phủ

Nhìn nhận về thị trường, Marx bác bỏ quan niệm trọng cung và coi đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến giới hạn tăng trưởng Marx và tân cổ điển đều không phân biệt rành mạch tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế:

Trên cơ sở giá cả linh hoạt và nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động:

 Cho rằng 1 nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, nó sẽ mau chóng trở

về trạng thái cân bằng(nềnkinhtếluônđạtđượcsựcânbằng ở mứcsảnlượngtiềmnăng)

Cụ thể hơn, theo Marx, nguyên tắc cơ bản của sự vận động tiền và hàng trên thị trường là phải đảm bảo sự thống nhất giữa giá trị và hiện vật Lưu thông hàng hoá phải đảm bảo sự

Trang 4

phù hợp giữa khối lượng hàng hoá mua và bán Nếu có sự chênh lệch quá nhiều giữa khối lượng hàng hoá mua và bán sẽ dẫn đến khủng hoảng Khủng hoảng chủ yếu trong CNTB

là khủng hoàng thừa khi số cầu tiêu thụ thiếu hụt Ông cho rằng khủng hoảng là một giải pháp khôi phục thăng bằng cho nền kinh tế và các nhà tư bản buộc phải đổi mới trên quy

mô lớn

Vai trò của chính phủ:

Một trong những tiến bộ to lớn của học thuyết tăng trưởng của Marx so với các học thuyết cổ điển là đã nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong việc giúp các nhà tư bản ổn định, thoát ra khỏi khủng hoảng Các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith và David Ricardo phủ nhận sự can thiệp của Chính phủ, cho rằng các chính sách kinh tế không tác động tới hoạt động của nền kinh tế, đôi khi còn làm hạn chế tăng trưởng, thì K.Marx cho rằng: Chính sách của nhà nước có vai trò quan trọng, đặc biệt là chính sách kích cầu, ổn định kinh tế…

B Mô hình Tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế:

Thời kỳ của trường phái tân cổ điển đánh dấu sự biến chuyển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, lý thuyết tăng trưởng của trường phái kinh tế “Tân cổ điển” có những điểm thống nhất với trường phái “Cổ điển”, đồng thời có những điểm mới, tiến bộ hơn so với các học thuyết trước đó

I Quan điểm về các yếu tố tác động tới tăng trưởng

- Nền kinh tế có hai đường tổng cung: AS-LR phản ánh sản lượng tiềm năng, còn đường AS-SR phản ánh khả năng thực tế Tuy nhiên cũng như trường phái cổ điển thì các nhà kinh tế tân cổ điển vẫn cho rằng nền kinh tế luôn luôn đạt được sự cân bằng ở mức sản lượng tiềm năng

- Trường phái tân cổ điển bác bỏ quan điểm của trường phái cổ điển cho rằng trong một tình trạng nhất định, tỉ lệ kết hợp của các yếu tố sản xuất la không thay đổi

Lý thuyết tăng trưởng của trường phái tân cổ điển cho rằng vốn có thể thay thế

Trang 5

được nhân công và có nhiều cách kết hợp các yếu tố sản xuất  Đây là một trong những tiến bộ về quan niệm nổi bật của trường phái tân cổ điển

- Đưa ra quan điểm “Phát triển kinh tế theo chiều sâu” bằng cách gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, cò sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động được gọi là “phát triển kinh tế theo chiều rộng”

- Các nhà kinh tế của trường phái tân cổ điển cho rằng tiến bộ Khoa học kĩ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nhận định này đã phát triển hơn rất nhiều so với yếu tố cơ bản của tăng trưởng trong lý thuyết tăng trưởng cổ điển (lao động, đất đai là quan trọng nhất) và của K.Marx (lao động là yếu tố cơ bản của tăng trưởng)

II Vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh tế

- Về việc đánh giá vai trò của chính phủ thì các nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng: Chính sách kinh tế của Chính phủ không thể tác động vào sản lượng,nó chỉ ảnh hưởng đến mức giá cả,do vậy vai trò của Chính phủ là mờ nhạt trong nền kinh tế

C Mô hình tăng trưởng kinh tế của Keynes

John Maynard Keynes (1883-1946) là nhà kinh tế học Anh, được coi là nhà kinh tế học

có ảnh hưởng lớn nhất đối với kinh tế học phương Tây hiện đại và chính sách kinh tế của các chính phủ nhằm duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Vào những năm 30 của thế kỷ 20 ,khủng hoảng kinh tế 1929-1933 cho thấy học thuyết

“tự điều tiết” của thị trường và “bàn tay vô hình” của trường phái tân cổ điển đã không còn sức thuyết phục

Năm 1936, trong tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm,lãi suất và tiền tệ” của J.Keynes đánh giá sự ra đời của một học thuyết mới

I.Sự cân bằng của nền kinh tế:-J.Keynes cho rằng:

Trang 6

-Nền kinh tế có xu hướng tự điều chỉnh đi đến cân bằng ở một mức sản lượng nào đó dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho tất cả mọi người,tại nơi mà những khoản chi tiêu mới cho đầu tư được hình thành từ tiết kiệm bắt đầu được đưa vào hệ thống kinh tế

Khi mô tả nền kinh tế, cũng giống như mô hình cổ điển, ông cho rằng có hai đường tổng cung: AS - LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, và AS - SR phản ánh khả năng thực tế Nhưng khác so với quan điểm của các nhà kinh tế tân cổ điển, cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường sản lượng thực đạt được ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nơi mà dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người

II.Vai trò của tổng cầu trong việc xác định sản lượng

Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc kéo theo sản lượng thực tế:

Khi thu nhập tăng lên thì xu hướng tiết kiệm trung bình cũng tăng lên và xu hướng tiêu dung trung bình sẽ giảm xuống => kết quả là giảm cầu tiêu dùng.Đây là nguyên nhân của trì trệ trong kinh tế

Mặt khác, ông cho rằng đầu tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm và theo đó là tăng trưởng kinh tế Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung công nhân, cầu về tư liệu sản xuất Do vậy, làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công nhân Tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên Ông viết:”sự thúc đẩy tăng sản lượng phụ thuộc vào hiệu suất cận biên của một khối lượng tiền vốn nhất định tăng lên so với lãi suất”

Ông đã đề xuất nhiều hình thức hoạt động để kích thích và tăng tổng cầu và việc làm, do đó đây còn được gọi là lý thuyết trọng cầu

So sánh với lý thuyết tăng trưởng kinh tế của mô hình tân cổ điển thì lại là lý thuyết trọng cung,đề cao vai trò sản xuất của giới chủ, đề cao cơ chế điều tiết của thị trường tự do.Các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy

sự phát triển kinh tế

Trang 7

III.Vai trò của chính sách kinh tế với tăng trưởng

Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp, khủng hoảng và

duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập Theo ông, chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ; các hình thức khuyến khích tiêu dùng

Ông đề nghị :

-Chính phủ sử dụng ngân sách để kích thích đầu tư (thông qua đơn đặt hàng của chính phủ ,trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp)

-Áp dụng nhiều biện pháp để tăng lợi nhuận,giảm lãi suất

-Tăng khối lượng tiền trong lưu thong,lạm phát có mức độ

-Coi trọng hệ thống thuế,áp dụng thuế thu nhập lũy tiến để làm cho phân phối công bằng hơn

-Coi trọng đầu tư của Chính phủ vào khu vực công,trợ cấp thất nghiệp,… như là một loại bơm trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút

=> So sánh với mô hình tân cổ điển ,các nhà kinh tế học tân cổ điển cho rằng chính sách kinh tế của chính phủ không thể tác động vào sản lượng,nó chỉ có thể làm ảnh hưởng đến mức giá của nền kinh tế,do đó vai trò của Chính phủ là mờ nhạt trong phát triển kinh tế.Họ cho rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh,khi nền kinh tế có biến động thì sự linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động

Trang 8

D Mô hình Harrod Domar

Trong mô hình nghiên cứu, Harrod - Domar đã cố định yếu tố công nghệ kỹ thuật trong phân tích tác dộng của các nhân tố đến tăng trưởng Điều đó đồng nhất với việc chỉ

có 3 yếu tố: vốn (K), lao động (L) và tài nguyên (R) cấu thành hàm sản xuất của Harrod -Domar Y = F(K, L, R) Trong đó, L và R được xem là các yếu tố nguồn lực, sẽ được huy dộng vào hoạt dộng trên cơ sở khả năng tạo ra vốn sản xuất gia tăng (K) của nền kinh tế Yếu tố công nghệ không được đưa vào hàm sản xuất trong mô hình Harrod - Domar, điều

đó không có nghĩa là các ông phủ nhận vai trò của yếu tố này trong tăng trưởng mà được giả thiết gia tăng với một tốc độ cố định

Vai trò của yếu tố vốn:

Mô hình Harrod - Domar coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó Vai trò của vốn đối với sự tăng trưởng kin tế thể hiện qua các chỉ tiêu:

(1) Hệ số gia tăng vốn - sản lượng (Hệ số ICOR - Incremental Capital Output Ratio)

Việc phân tích hệ số ICOR đã giúp Harrod - Domar tìm ra được cụ thể mối quan hệ giữa mức tăng trưởng GDP (ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICORY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICOR của một thời kỳ (t+1) phản ánh mức vốn gia tăng cần có để tạo ra một đơn vị thu nhập gia tăng của kỳ đó:

kt+1 =ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICOR kt+1/ ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICORYt+1 Vốn sản xuất gia tăng của năm (t+1) được hình thành trên cơ sở vốn đầu tư của giai đoạn trước (It), vì vậy có thể viết:

kt+1 =It / ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICORYt+1 Như vậy hệ số gia tăng vốn - sản lượng là mức vốn đầu tư cần thiết của giai đoạn trước

để có thêm 1 đơn vị thu nhập của giai đoạn sau (GDP) Hệ số này nói lên vốn được tạo nên bằng đầu tư là yếu tố cơ bản tạo nên mức tăng trưởng Hệ số ICOR phản ánh trình độ

Trang 9

kỹ thuật của sản xuất, năng lực của vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Hệ số ICOR chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố:

(i) Trình độ công nghệ, kỹ thuật của sản xuất: Nếu trình độ kỹ thuật của sản xuất thô sơ,

sử dụng công nghệ thủ công, đòi hỏi nhiều lao động (tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng) thì chỉ số ICOR nhỏ Chỉ số ICOR càng lớn chứng tỏ trình độ kỹ thuật của sản xuất ngày càng hiện đại hơn (nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu)

(ii) Mức độ khan hiếm nguồn lực: Nếu nguồn lực càng khan hiếm thì chi phí cho đầu tư càng cao, làm hệ số ICOR ngày càng lớn hơn

(iii) Hiệu quả sử dụng của vốn đầu tư: Nếu vốn đầu tư được phân bổ vào những lĩnh vực sản xuất kinh doanh tạo thu nhập cao, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cao hơn, tránh được thất thoát, lãng phí thì hệ số ICOR sẽ thấp hơn ICOR càng cao thể hiện đầu tư càng không có hiệu quả

Theo đó, ICOR vận động theo hai khuynh hướng:

ngày càng tăng lên trong quá trình phát triển kinh tế, nó thể hiện trình

độ phát triển ngày càng cao hơn Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh công nghiệp thường có hệ số ICOR cao nhất;

quá trình nâng cao hiệu quả của quản lý và sử dụng vốn đầu tư xã hội

và lựa chọn lĩnh vực đầu tư hiệu quả.

(2) Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tiết kiệm và đầu tư

Gọi thu nhập của nền kinh tế là (Y), tốc độ tăng trưởng kinh tế là g thì:

gt+1 = ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICORYt+1/Yt

Sử dụng công thức tính ICOR ở trên, thay vào công thức này, ta có:

Trang 10

gt+1 = ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICOR kt+1/k x Yt Theo giả định trong nghiên cứu của Harrod - Domar: ΔY) của thời kỳ sau với mức đầu tư (I) của kỳ trước Hệ số ICOR kt+1 = It = St; mức vốn sản xuất gia tăng của thời kỳ sau bằng mức đầu tư của thời kỳ trước và tổng đầu tư bằng tổng tiết kiệm Ta có:

gt+1 = It/k x Yt = St/k x Yt Nếu gọi s là tỷ lệ tích lũy trong GDP và mức tích lũy là S:

s = S/Y

Do đó chúng ta có:

gt+1 = st/kt+1 Như vậy bằng việc mô tả dưới dạng công thức, phương trình Harrod - Domar đã xây dựng mối liến kết chắc chắn giữa tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế với hai biến số cơ bản: khả năng tiết kiệm của nền kinh tế và hệ số gia tăng vốn - sản lượng Bằng cách đẩy mạnh tỷ lệ tiết kiệm thì có thể đẩy nhanh tỷ lệ tăng trưởng Tương tự như vậy, bằng cách

hạ thấp hệ số gia tăng vốn - sản lượng thì tăng trưởng cũng sẽ được đẩy nhanh

Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng với tiết kiệm và hệ số gia tăng vốn - sản lượng, Harrod - Domar đã đưa ra ba khái niệm về tốc độ tăng trưởng có ý nghĩa quan trọng trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân:

Tốc độ tăng trưởng bảo đảm gw: là thương số giữa tỷ lệ tiết kiệm theo dự kiến và hệ số gia tăng vốn - sản lượng dự kiến

Tốc độ tăng trưởng thực tế gr: được hình thành bởi tỷ lệ tiết kiệm dự kiến và hệ số gia tăng vốn - sản lượng thực tế

Tốc độ tăng trưởng tự nhiên gf: là tốc độ tăng trưởng đạt được trong điều kiện toàn dụng công nhân (đạt được mức tiềm năng)

Ngày đăng: 26/11/2015, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w