1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

thâm tâm 19171950 tên khai sinh là nguy

29 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi cánh hoa xưa màu kỷ niệm Nay còn dư ảnh trái tim đau Anh biết làm sao được hỡi trời Dứt tình sao nổi, nhớ không thôi Thôi, em hãy giữ cành hoa úa Kỷ niệm ngàn năm của cuộc đời..[r]

Trang 1

Thâm Tâm (1917-1950) tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Là con thứ trong một gia đình nhà nho nghèo và đông con, học hết tiểu học, ông phải ở nhà giúp gia đình đóng sách và nấu bánh kẹo Năm 1938, chàng nghệ sĩ lên Hà Nội cùng gia đình, ở một phố thuộc quận Hai Bà Trưng ngày nay (xưa là Ô Cầu Dền) Trong cảnh người khôn của khó, Thâm Tâm phải kiếm sống bằng nghề vẽ tranh Bờ

Hồ, viết báo, làm đồ gốm và bắt đầu làm thơ Từ những năm 1940, ông tham gia viết báo, viết văn và thường được đăng tải trên Bắc Hà, Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ năm, nhà sách Tân Dân và Truyền bá quốc ngữ Ông từng thử sức trên nhiều thể loại thơ, truyện, kịch Vẽ và viết cho loại sách Truyền Bá, nhưng thành công hơn cả vẫn

là thơ Thơ Thâm Tâm có nhiều giọng điệu, khi buồn da diết, khi trầm hùng, bi tráng, khi reo vui

Trang 2

Thâm Tâm bén duyên với những bài thơ làm theo dạng "Hành" - một lối thơ cổ lai của các nhà thơ Trung Quốc gồm: "Can trường hành",

"Vọng nhân hành", và nổi bật là "Tống biệt hành" Ngoài ra có "Tráng ca" và một số thể loại dịch thuật, truyện ngắn Thâm Tâm có tham gia nhưng chưa có bài nào nổi bật

Thời kỳ 37-39 là thời kỳ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá

và đến 1945 toàn bộ báo chí phải trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng Một thời đại trong thi ca mất sân chơi Từ giã "Tiểu thuyết thứ bảy" và

"Truyền bá" (đóng cửa), cũng như bạn bè kẻ vô Nam, người ra Bắc, Thâm Tâm tham gia văn nghệ trong "Hội cứu quốc" và tham gia ban kịch cùng người bạn thân là Trần Huyền Trân Thâm Tâm biên tập cho báo Tiền Phong (cách mạng) với công việc làm bích báo, vẽ áp-phích, viết kịch như: "19.8", "Lối sống", "Ðầu quân vào Nam" (1945), "Người thợ", "Lá cờ máu" (1946)

Năm 1947 ông gia nhập quân đội theo chỉ thị thông tư của Bộ quốc phòng vào tháng 2/1947 Thâm Tâm là người lính cầm bút trong Toà soạn báo Vệ quốc với tư cách một thư ký cho cơ quan ngôn luận của quân đội nhân dân Việt Nam (miền bắc hồi đó) Thời kỳ này Thâm Tâm viết truyện "Ðại đội Kim Sơn" (1948), "Văn thơ bộ đội" (Tiểu luận 1948) Bài thơ mà các nhà nghiên cứu cho là nổi bật về tinh thần những người bộ đội là "Chiều mưa đường số 5" (1946) Năm 1950, chiến dịch biên giới ở căn cứ Việt Bắc với phương án đánh Pháp ở Cao Bằng do Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng được đổi sang Ðông Khê Trên đường hành quân này, Thâm Tâm bệnh nặng rồi mất

Thơ Thâm Tâm mang phảng phất hơi thơ cổ phong cách tự do với chí khí muốn bứt phá của người trai thời loạn và những day dứt về con người trong cuộc sống đầy khó khăn vì chiến tranh, ngày giặc giã quê hương mình mỏi mệt Thơ Thâm Tâm đi lên từ hiện thực và bay bổng theo hình tượng nên có giá trị vĩnh cửu Nói như Vũ Quần Phương:

Trang 3

"Người đọc không thấy được hết sự phong phú của ông trong chặng đường mới Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm" Muộn hay sớm gì cũng chỉ một lần ra đi vỏn

vẹn cho một đời người "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng" Với Thâm Tâm, đó là tiếng tiếc thương vô bờ của người còn ở lại dành cho

anh: "Nửa đời trai nào tiếc cái danh hời Ðem tuyệt bút Tống biệt hành gởi lại" Thi phẩm "Tống biệt hành" đến với đọc giả cũng nhiều nỗi

gian truân, không trọn vẹn là một trong mười thi phẩm hay nhất thế kỷ

Sinh thời ông chưa in thơ thành tập Sáng tác thơ của ông được xuất bản năm 1988 trong sưu tập Thơ Thâm Tâm

Ngoài ra, Thâm Tâm còn có 3 bài thơ Gửi T.T.Kh, Màu máu Tygôn, Dang dở Đây là những bài thơ tình hay nhất của Thâm Tâm

gởi cho thi sĩ bí ẩn T.T.Kh trong năm 1940 Trong các bài thơ, ông tự nhận là người tình cũ của T.T.Kh Một số người còn cho rằng chính ông là T.T.Kh Tuy nhiên, vẫn không ai biết chính xác là như thế nào

Tác phẩm:

Thơ:

- Đâu cảnh cũ, đâu người xưa (1941)

- Tống biệt hành (Thi nhân Việt Nam, 1942)

- Vạn lý Trường thành (thơ in trên các báo trước 1945)

- Chiều mưa đường số 5 (1946)

- Màu máu Ti gôn

Trang 4

- Mơ Thuở Thanh Bình

- Thơ Thâm Tâm NXB Văn Học 1988

- Trả lời của người yêu

- Bán hoa đào (1940)

Kịch:

- Sương tháng Tám (kịch một hồi, Tiểu thuyết thứ bảy, 1939)

- Nga Thiên Hương (kịch ngắn) 1946

- 19-8 (viết chung với Trần Huyền Trân) 1945

- Lối sống (Kịch ngắn) 1945

- Lá cờ máu (1946)

- Đời thợ (1946)

- Đại Đội Kim Sơn (truyện) 1948

- Thuốc Mê (truyện)

- Văn Thơ Bộ Đội (Tiểu luận đăng báo) 1946

- 37 Truyện Ngắn, TTTB NXB Tân Dân

Trang 5

BÁN HOA ĐÀO

Vang bóng thanh bình phố đỏ trưng Mươi lăm thầy khoá viết khom lưng Dăm nàng gái nõn ngon như mứt

Đi sánh hoa đào vẻ má nhung

Có một thân tang mang trắng phơ Ngang đầu màu tóc lẫn màu tơ

Lão buồn đi bán cành hương thắm Hoa đỏ mừng vang, áo bạc mờ!

Ai cũng như ai bận tiếp xuân

Mê man sắc tía ngả đầy tâm

Riêng cô, lão bán muôn hồn đỏ

Rồi lủi về đâu kiếp lệ thầm?

Có những lòng trinh bán một giờ

Vợ người cơ lỡ bán con thơ

Cùng đường, trai bán thân cao trọng

Có vạn linh hồn đã bán mua

Như lão rao hoa có vạn tình

Trĩu trời tang, nặng kiếp thương sinh Tháng ngày âm ỉ nguồn đau chảy Trong mắt u trầm ngọn lửa xanh! Nghiến răng đem bán hết đời xuân

Trang 6

Có kẻ nên tang chẳng một lần

Chảy dưới mắt đời, khi tất cả

Máu đào tranh chảy đã muôn năm

-1940-

Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988

Trang 7

CĂM THÙ

Đêm nay ta gối đầu lên súng

Trằn trọc nằm nghe máu nóng căng đầy Nằm nghe mấy xã dân cày

Xôn xao trỗi dậy, mẹ gầy ghì con

Tiếng mưa lách rách sân trơn

Nghe từng giây phút đang dồn sức ta Lửa âm ỉ bùng ra tê tái

Trong mắt người con gái đắng cay

Đời tươi như bát nước đầy

Vỡ tan một tiếng dưới giầy xâm lăng! Cắn chặt hàm răng

Bậm môi, nghiến lợi, già căng mặt già Vài mươi ông lão giữ nhà

Thùng lùng, dao bảy, đinh ba gối đầu Đêm nay thức giấc thương đau

Vụt nghe "khốc dạ" mấy câu rợn người Cái gì đấy, xóm làng ơi!

Đội quân biệt động xa xôi mới về

Tờ ruộng đất, đang kín bưng

Lầm lỳ chết chóc, bỗng bừng sục sôi Cái gì đấy, xóm làng ơi!

Cái lòng giết giặc đã tôi thép già!

Từ trong rên xiết, toài ra

Có những đàn bà sâu sắc niềm đau

Có những ông cụ bạc đầu

Cặp mắt đỏ ngầu nhục cũ vong nô

Trang 8

Tuổi thơ mấy trẻ u ơ

Gốc cây chuối cháy lại nhô lên mầm

Mũi nhọn vững vàng hàng xã dân quân

Súng ơi! nặng cân giận dữ

Xung trận diệt thù mấy cữ nóng ran Cùng ta vượt hết cơ hàn

Cùng ta đau cái đau toàn dân đau

-1946-

Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988

Trang 9

CHÀO HƯƠNG SƠN

Thôi chào tất cả non Hương!

Thôi chào, ôi, tiếng tầm thường mà đau!

Một phen tri kỷ cùng nhau Khói sương trời đã nhuốm sầu thời gian

Rượu khuây giấc tỉnh canh tàn Sóng sông như dội vô vàn nhớ thương

Thôi chào tất cả non Hương!

Thôi chào, ôi, tiếng tầm thường mà đau

Chia tay còn vẩn bóng sầu Mắt xanh ai giữ được màu thời gian?

Sóng sông róc rách khuya tàn Lạnh nghe thổn thức hơi đàn biệt ly

Ngàn xuân đẹp lắm làm chi Quan san ngơ ngẩn đường về cho ai!

-1942-

Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988

Trang 10

CHẾT

Lâu quá chừng ư? Độ bảy ngày

Mà người bạc mệnh cỏ chưa xây

Lòng thân nhân đã nguôi thương tiếc Thưa cả hương thờ nhung khói bay

Mấy đứa em thơ miệng đã cười

Ngày ngày đi nghịch cánh hoa tươi

Ai đâu nỡ hỏi sao nguồn lệ

Khóc chị hôm nào đã vội thôi

Mả lạnh không hoa, hết cả hương

Hành nhân lạnh nhạt thiếu lòng thương Dăm người tuổi tác qua thăm viếng Một buổi rồi quên mất độ đường

Cơm cúng thưa dâng bữa khuyết đầy Bụi mờ linh vị Đến chiều nay

Bỗng dưng dì ghẻ buồn vô cớ

Thầm tính thời gian bấm đốt tay

Rồi thản nhiên sai hoá bát nhang

Và thiêu bài vị - kẻo màu tang

Càng lâu càng xúi cho gia vận

- Từ đó mồ ai rặt cỏ vàng

-1940-

Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988

Trang 11

CHIỀU MƯA ĐƯỜNG SỐ 5

Chiều mưa đồng rạ trắng

Đất tề sông quạnh vắng

Ngồi kín dưới nhà gianh

Nghe lúa lùa ắng lặng

Chiều mưa đường số 5

Đôi mắt sao đăm đăm

Chứa cả trời mây nặng

Miền Việt Bắc xa xăm?

Ôi núi rừng thương nhớ

Rét mướt đã hai năm!

Chiều mưa ngàn hoa nở

Hoa phới bay mùa xuân

Bếp sàn gây ngọn lửa

Chén trà ngát tình dân

Chiều mưa lùa các cửa

Ngày bộ đội hành quân

Mẹ già không nói nữa

Nước mắt nhìn rân rân

Ôi đâu rồi sơn nhân

Đâu rồi anh du kích

Chiều mưa manh áo rách

Vác súng vượt lên đèo

Giao thông qua mũi địch

Đâu rồi "nhình" với "a"

Tiếng cười reo khúc khích

Đón chiến sĩ quay về

Sau trận đi phục kích

Trang 12

Chiều mưa giã gạo mau

Chầy tập đoàn thình thịch

Ôi núi thẳm rừng sâu

Trung đội cũ về đâu

Biết chăng chiều mưa mau

Nơi đây chăn giá ngắt

Nhớ cái rét ban đầu

Thắm mối tình Việt Bắc

-1946-

Trang 13

Hồn tôi lờ mờ sương khuya,

Hờ rung tôi viết bài thơ trả lời

Vâng, tôi vẫn biết có người Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng,

Để hôm sau khóc trong lòng

Vâng, tôi vẫn biết cánh đồng thời gian,

Hôm qua rụng hết lá vàng,

Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không

Tiếng xe trong vết bụi hồng, Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ

Tiếng xe trong xác pháo xưa, Nàng đi có mấy bài thơ trở về

Tiếng xe mở lối vu quy, Hay là tiếng cắt nàng chia cuộc đời

Miệng chồng Khánh gắn trên môi, Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ

Trang 14

Đàn xưa từ chia đường tơ,

Sao tôi không biết hững hờ nàng đan

Kéo dài một chiếc áo lam,

Tơ càng đứt mối, nàng càng kéo giay

Nàng còn gỡ mãi trên tay,

Thì tơ duyên mới đã thay hẳn mầu

Chung hai thứ tóc đôi đầu,

Bao giờ đan nổi những câu ân tình

Khánh ơi, còn hỏi gì anh?

Lá rơi đã hết màu xanh màu vàng

Chỉ kêu những tiếng thu tàn,

Tình ta đã chết anh càng muốn xa

Chiều tan, chiều tắt, chiều tà,

Ngày mai, ngày mốt vẫn là ngày nay

Em quên mất lối chim bay,

Và em sẽ chán trông mây trông mờ

Đoàn viên từng phút từng giờ,

Sóng yên lặng thế em chờ gì hơn?

Từng năm từng đứa con son,

Mím môi vá kín vết thương lại lành

Khánh đi còn hỏi gì anh,

Ái tình đã vỡ, ái tình lại nguyên

Em về đan nốt tơ duyên,

Vào tà áo mới, đừng tìm mối xưa

Bao nhiêu hạt lệ còn thừa,

Dành ngày sau khóc những giờ vị vong

Bao nhiêu những cánh hoa lòng, Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha

Nhắc làm chi chuyện đôi ta,

Bản năng anh đã phong ba dập vùi

Trang 15

Hãy vui lên các anh ơi!

Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về

Tâm hồn lạnh nhạt đê mê, Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều

Giờ hình như gió thổi nhiều, Những loài hoa máu đã gieo nốt đời

Tâm hồn nghệ sĩ nổi trôi,

Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh

Sái chi những truyện tâm tình, Lòng đau đau chứa trong bình rượu cay

Bài thơ này được tác giả Anh Đào đăng trên một tập san ở Hà Nội năm

1951, ghi là của Thâm Tâm làm để minh chứng cho mối tình giữa Thâm Tâm và T.T.Kh Về nội dung, bài thơ này so với bài "Các anh" của Thâm Tâm trùng 8 câu đầu và 8 câu cuối, với hai điểm khác biệt là "cái tim cuối mùa" được chép thành "cái tin cuối mùa" và "Tâm tình lạnh nhạt đâu nghe" được chép thành "Tâm hồn lạnh nhạt đê mê" Vì vậy,

có lẽ bài thơ này là do tác giả Anh Đào dựa vào bài "Các anh" của Thâm Tâm rồi viết thêm 48 câu vào giữa để chứng minh cho bài báo của mình.

Trang 16

ĐÂY CẢNH CŨ, ĐÂU NGƯỜI

XƯA

Đây cảnh cũ, đâu người xưa Tình cũ năm qua để hững hờ Hoa dẫu mỉm cười nhưng có ý Phảng buồn mặt phấn nét tương tư

Giận thời gian, tiếc ngây thơ Lòng xuân tình cảm bây giờ gửi ai?

Trinh xuân mộng cũ đi rồi Cảnh sinh xa vắng ngậm ngùi ly tao

Gặp Trinh trong bóng xuân đào Đang khi quãng gió dạt dào chim ca

Má hồng, hồng đượm hương hoa Rung rinh đọng giọt phấn nhoà sương rơi

Hoa xuân thắm, nụ xuân tươi Quyện hoa hơn hớn, lòng ơi mộng lòng Trinh tay nâng giấc cánh hồng

Với vần thơ hái mơ mòng tôi yêu

Cảm nhau từ đấy xuân chiều Cành thơ, lá gió dập dìu ngân nga Tìm Trinh trong nắng tôi ra

Lời oanh ríu rít vuốt hoa Trinh cười

Trang 17

Nhưng đây nắng liễu buồn ơi!

Ba xuân nẩy nét chia phôi chim ngừng

(1941)

Trang 18

HOA GẠO

Non tím, vì tan hết nắng tà Đường buồn bởi phố vắng người qua Lòng ai bầm tím, ai buồn tối

Cũng tại rừng đời lạc lối ra

Hoa gạo hôm nay rụng với chiều

Để cành khô xác nứt như kêu Từng cây một rách nào ai vá

Ai vá lành cây đã rách nhiều?

Tôi ngỡ nàng đi lượm cánh hoa Biếu nàng với cả một bài ca Nhưng hồn thi sĩ - hồn tư tưởng Nhuộm máu trong tôi đỏ chói loà!

Ngó giọt hoa kia ngã xuống đường Chao ơi! tôi sợ ở nhà thương

Bao nhiêu miệng thổ bao nhiêu huyết Khi những lòng đau ngã xuống giường

-1940-

Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988

Trang 19

Rượu xuân càng đượm say mùi cũ

Cố nhân càng biết càng phân kỳ Gió lên! Gió lên! Cùng rũ rất Con chim còn đỗ lại làm chi

Đất trời rộng quá tôi không chịu Cắm chặt sông đây một cánh bè Rót rượu ra anh tôi muốn uống Cực kỳ trong sạch cực say mê

Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh

Sẽ thấy se lòng trận gió tê Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa Tôi quyết đi rồi tôi phải đi

-1944-

Nguồn: Thơ Thâm Tâm, NXB Văn học, 1988

Trang 20

MÀU MÁU TI-GÔN

Người ta trả lại cánh hoa tàn

Thôi thế duyên tình đã dở dang Màu máu tigon đà biến sắc

Tim người yêu cũ phủ màu tang

K hỡi, người yêu của tôi ơi

Nào ngờ em giết chết một người Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi Quên làm sao được thuở ban đầu Một cánh tigon dạ khắc sâu

Mỗi cánh hoa xưa màu kỷ niệm Nay còn dư ảnh trái tim đau

Anh biết làm sao được hỡi trời Dứt tình sao nổi, nhớ không thôi Thôi, em hãy giữ cành hoa úa

Kỷ niệm ngàn năm của cuộc đời

Trang 21

Thẹn cùng trời đất mòn xuôi ngược, Chí lớn không đầy một tấc gang

Bài thơ này in lần đầu trong truyện ngắn "Chiều mưa có chàng trai trẻ ngâm bài thơ cũ" trên tuần báo "Tiểu thuyết thứ bảy".

Trang 22

TỐNG BIỆT HÀNH

Đưa người, ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng…

- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt

Một chị, hai chị cùng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay

Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc

Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say…

Trang 23

Mây thu đầu núi, giá lên trăng

Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm

Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc

Tiếng đời xô động, tiếng lòng câm

(1940)

Trang 24

TRÁNG CA

Sinh ta, cha ném bút rồi

Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân

Nuôi ta, mẹ héo từng năm,

Vắt bầu sữa cạn, tê chân máu gầy

Dạy ta, ba bảy ông thầy

Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi

Nhà ta cầm đợ tay người,

Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?

Chông gai đổi dại làm khôn,

Ba vòng, mòng sếu lượn vòng lại bay

Bông hoa chu giáp vần xoay

Cánh vàng non nửa đài gầy tả tơi

Chữ nhân sáng rực sao trời

Đường xe mở rộng chân người bước xa

Nhớ nhau hẹn quả mùa hè gặp nhau

Rầm trời chớp giật mưa mau,

Lửa đèn chấp chới khói tầu mù u

Bốn phương đây bạn đó thù

Hiệu còi xoáy động bản đồ năm châu

Ngày đăng: 11/01/2021, 14:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w