+ Quan sát vật kính 40x, xem và vẽ: một phần phế quản giữa các tiểu thùy, đi từ trong lòng ra ngoài là lớp biểu mô trụ tầng giả có lông chuyển; lớp đệm niêm mạc có nhiều mạch máu; lớ[r]
Trang 11.1 Cấu tạo của kính hiển vi quang học :
Kính hiển vi quang học có nhiều loại khác nhau, nhưng đều có các bộ phận chung sau đây:
+ Hệ thống quang học:
- Nguồn sáng: là ánh sáng đèn hoặc ánh sáng trời Thường dùng gương để thu ánh sáng Gương có hai mặt: mặt phẳng và mặt lõm Mặt lõm để tập trung được nhiều ánh sáng và thu ánh sáng có nguồn chiếu yếu (như ánh sáng trời hoặc có một đèn chiếu vào gương) Có khi đèn được lắp trong kính hiển vi, ánh sáng không cần qua gương
- Nguồn sáng được chiếu qua tụ quang Tụ quang có thể điều chỉnh được cường độ ánh sáng bằng diafram và có thể điều chỉnh để tia sáng hội tụ qua vị trí tiêu bản cần xem
+ Những vật kính được lắp vào một ổ quay Những vật kính là những hệ thống các thấu kính để phóng to các thành phần cấu tạo cần xem Mỗi vật kính có
độ phóng đại khác nhau (4x, 10x, 40x, 100x )
+ Những thị kính được lắp vào ống kính Đó cũng là những hệ thống các thấu kính có độ phóng đại khác nhau (5x, 10x, 15x, 20x ) Có các loại kính hiển vi một mắt (một ống kính và một thị kính) và có loại kính hiển vi hai mắt (hai ống kính và hai thị kính)
Trang 21.2 Sử dụng kính hiển vi:
Khi sử dụng kính hiển vi cần tiến hành qua các bước sau đây:
+ Nếu kính hiển vi có ống kính thẳng đứng, có thể bẻ nghiêng thân kính khoảng 15 - 20 độ cho dễ xem (dùng một tay đè lên chân kính còn tay kia cầm vào thân kính và bẻ nghiêng thân kính về phía sau)
+ Lấy ánh sáng: Nếu là ánh sáng điện do đèn của kính hiển vi chiếu trực tiếp thì điều chỉnh cường độ ánh sáng bằng chiết áp đèn, diafram và tụ quang cho phù hợp Nếu dùng ánh sáng trời thì thường sử dụng mặt gương lõm Mắt nhìn vào mặt trên tụ quang, tay điều chỉnh hướng gương khi thấy ánh sáng chiếu rõ chính giữa tụ quang là được
Dùng vật kính 10x để kiểm tra, thấy độ chiếu sáng rõ và đồng đều trên vi trường
+ Lấy tiêu bản đặt lên bàn kính hiển vi, điều chỉnh cho vị trí tiêu bản đúng nơi có ánh sáng tụ quang chiếu lên Chú ý trước khi đặt tiêu bản lên kính hiển vi
ta nhìn bằng mắt thường xác định vị trí của tiêu bản trên lam kính
+ Xem và vẽ tiêu bản: Cần xem bằng vật kính 10x trước để xem vị trí và cấu tạo chung các chi tiết, sau đó mới chuyển sang dùng các vật kính 40x Đối với những tiêu bản nhỏ thì nhất thiết trước tiên phải xem ở vật kính 10x, di chuyển tiêu bản sao cho các chi tiết cần xem vào đúng giữa vi trường rồi mới chuyển qua vật kính 40x
Chú ý: khi dùng vật kính lớn, dùng ốc vĩ cấp để điều chỉnh tiêu điểm cần hết sức thận trọng, vì dễ làm vỡ tiêu bản
1.3 Bảo quản kính hiển vi:
Sau khi sử dụng ta phải tiến hành bảo quản kính hiển vi:
+ Lau kính hiển vi: ở mỗi kính thường có hai khăn nhỏ: một khăn bông thật sạch để lau các bộ phận quang học; lau lần lượt từ thị kính ở trên đến các vật kính, tụ quang và gương ở phía dưới; khăn thứ hai là khăn vải để lau các bộ phận
cơ học: thân kính, bàn kính, chân kính
+ Để lại tư thế và vị trí của những bộ phận kính hiển vi như ban đầu: đưa trở lại thân kính nếu kính hiển vi có ống kính thẳng đứng Dùng ốc vĩ cấp vặn cho ống kính xuống vị trí thấp nhất Điều chỉnh cho bàn đẩy tiêu bản về giữa bàn kính hiển vi, hạ thấp tụ quang và xoay nghiêng hoặc để ngang mặt gương, gấp gọn các khăn nhỏ đặt vào giữa bàn kính, lấy mũ kính chụp lên kính
Trang 42.1 Lấy vật phẩm (lấy mẫu):
Vật phẩm để làm tiêu bản mô học có thể lấy ở các mô hay cơ quan của người hoặc của động vật Yêu cầu phải lấy tươi, khi các cơ quan chưa thoái hoá, khi cắt phải dùng dao hay kéo sắc để tránh làm nát, làm thay đổi cấu trúc tự nhiên Vật phẩm có kích thước mỗi chiều từ 0,5 đến 2 cm
2.2 Cố định vật phẩm:
Để đảm bảo cấu trúc về hình thái và hoá học của các tế bào, các mô và các cơ quan không thay đổi trong quá trình làm tiêu bản, phải cố định vật phẩm Có thể dùng phương pháp vật lý (như làm đông lạnh) và thông thường là dùng các chất hoá học Có thể dùng cồn, formol hoặc các dung dịch như Bouin, Zenker, Carnoy
Thời gian cố định tùy theo vật phẩm, loại thuốc cố định, có thể từ vài chục phút tới vài ngày
2.3 Chuyển và đúc các vật phẩm:
Muốn cắt vật phẩm ra những tiêu bản thật mỏng để xem trên kính hiển vi cần phải đúc vật phẩm trong những chất dễ cắt mỏng Trước khi đúc phải qua các giai đoạn sau:
+ Rửa vật phẩm: vật phẩm sau khi được cố định bằng các hoá chất thường phải rửa bằng nước hoặc những dung dịch khác, có thể rửa bằng nước máy, thời gian rửa trong khoảng 24 giờ
Trang 5+ Giai đoạn chuyển qua cồn, phải từ cồn có nồng độ thấp đến cồn có nồng
độ cao và cuối cùng là cồn tuyệt đối (100o) Mục đích là để tẩy hết nước khỏi vật phẩm
+ Chuyển vật phẩm qua các dung môi có thể hoà tan được các chất để đúc Những dung môi thường dùng như ete, xylen, chloroform
+ Đúc vật phẩm:
Thông thường dùng parafin (nến) hoặc celloidin để đúc vật phẩm
Thí dụ đúc vật phẩm bằng parafin:
- Sau khi đã ngâm vật phẩm trong dung môi (xylen ) thì chuyển qua parafin
vật phẩm
- Khi đúc vật phẩm, dùng khuôn bằng đồng hay bằng giấy, đổ parafin nóng chảy vào khuôn rồi đặt những vật phẩm vào trong đó và để nguội ở nhiệt độ trong phòng, ở nhiệt độ thấp parafin sẽ đông đặc lại, như vậy chúng ta sẽ có 1 bloc parafin trong đó chứa mẫu vật
2.4 Cắt và nhuộm tiêu bản:
+ Những miếng vật phẩm được đúc trong parafin tạo thành những bloc Khi cắt, những bloc này được gắn vào đế bằng gỗ hoặc đồng và cố định trên máy cắt Máy cắt tiêu bản gọi là máy cắt phiến mỏng (microtom), có thể cắt được những lát mỏng từ 3-10 Những lát tiêu bản này được đặt lên lam kính và được làm phẳng
- Sau khi nhuộm, tiêu bản được tẩy nước bằng cồn rồi xylen để làm trong, dùng bôm Canađa gắn phiến kính mỏng lên trên để bảo quản
Trang 6PHẦN 3
PHÔI THAI HỌC ĐẠI CƯƠNG
Ở chương phôi thai học cơ bản, chúng ta sẽ nghiên cứu những vấn đề sau đây:
+ Sự hình thành và biệt hoá các tế bào sinh dục
+ Sự thụ tinh và sự hình thành cơ thể con người
+ Những tế bào sinh dục: nghiên cứu những khác biệt về quá trình tạo thành
và về những khác biệt giữa trứng với tế bào thân, giữa các tế bào sinh dục nam
vẽ 2-3 tinh trùng, phân biệt các phần đầu, cổ và đuôi của những tinh trùng này
3.2 Tiêu bản tinh hoàn:
+ Tiêu bản tinh hoàn nhuộm HE
+ Trên tiêu bản này xem quá trình biệt hoá và hình thành tinh trùng từ tinh nguyên bào đến tinh trùng trưởng thành
+ Quan sát ở vật kính 4x thấy trên tiêu bản có nhiều diện cắt ngang hoặc cắt chéo của ống sinh tinh Các diện cắt này có hình tròn hoặc bầu dục Chọn một ống có các tế bào nổi rõ ở thành ống rồi chuyển sang xem ở vật kính 40x Vẽ
Trang 7hình ảnh ở ống sinh tinh này Đi từ ngoài vào trong lòng ống ta thấy các lớp tế bào khác nhau:
- Ngoài cùng là màng đáy
- Sát màng đáy là lớp tinh nguyên bào, nhân đậm và xù xì (nhìn kỹ thấy những
tế bào này trong giai đoạn đang phân chia, các thể nhiễm sắc nằm sát nhau) Cùng lớp sát màng đáy còn xen kẽ giữa những tinh nguyên bào là nhân của các tế bào Sertoli Nhân của tế bào này to và sáng hơn
- Tinh bào I: có nhân to, tròn hay hình trứng Chúng nằm thành một lớp sát lớp tinh nguyên bào
- Tinh bào II: có nhân tròn, nhỏ và sáng hơn tinh bào I chúng nằm thành một
số lớn phía trong những tinh bào I
- Tinh tử nằm rải rác: những tế bào này hình cầu nhỏ, nhân đậm đặc lại và kéo dài ra
- Tinh trùng nằm tự do trong lòng ống sinh tinh hoặc vẫn còn dính vào thành ống
Ở trên tiêu bản này, các lớp tế bào từ tinh nguyên bào đến tinh bào II, người
ta rất khó phân biệt ranh giới giữa các tế bào mà chỉ nhận biết được bằng hình thái các nhân của chúng
Chú ý xem ở vùng vỏ, di chuyển tiêu bản ta thấy có những nang trứng trong
đó có tế bào noãn ở trong và xung quanh là tế bào nang
- Ở sát rìa buồng trứng có những nang trứng nguyên thủy, nằm từng đám hoặc rải rác Mỗi nang trứng nguyên thủy có ở giữa một noãn bào I to, tròn Xung quanh là một lớp tế bào nang, tế bào nang ở đây dẹt
Trang 8- Nang trứng nguyên thủy sẽ phát triển thành nang trứng đặc Ở giữa nang trứng đặc là một noãn bào I tròn và to hơn Xung quanh có nhiều lớp tế bào nang,
tế bào nang ở đây hình đa diện hay hình vuông
- Nang trứng có hốc: ở giữa có noãn bào I tròn to Giữa những tế bào nang có một số hốc, trong có chứa dịch nang, bắt màu hồng, tế bào nang có hình đa diện
- Nang trứng chín: nếu là nang trứng chín điển hình thì rất to, có một hốc to chứa dịch nang Noãn bào to, xung quanh có một số lớp tế bào nang Phần noãn bào và những tế bào nang này bám vào thành nang gọi là gò trứng
3.4 Sự thụ tinh và phân chia trứng:
+ Sự thụ tinh và phân chia trứng ở giai đoạn sớm là quá trình phải theo dõi khó khăn và phức tạp Để minh hoạ cho quá trình này ta xem chiếu các bức ảnh chụp từ giai đoạn thụ tinh đến khi trứng phân chia thành 2, 4, 8 phôi bào
+ Xem mô hình và tranh vẽ, ta vẽ các giai đoạn phân chia trứng nói trên
(Xem hình 3.1; hình 3.2; hình 3.3; hình 3.4)
3.5 Ba lá phôi (hình 3.5):
+ Tiêu bản ba lá phôi lấy từ phôi gà 1-2 ngày, nhuộm HE hoặc HF
+ Lát cắt tiêu bản tương đối nhỏ nên trước hết cần xác định vị trí tiêu bản bằng mắt thường Khi xem ở vật kính 4x, ta di chuyển tiêu bản theo chiều trước sau để tìm ống thần kinh và để ở đúng vị trí giữa vi trường
+ Chuyển sang vật kính 40x, xác định và vẽ các thành phần sau: ống thần kinh, dây sống, lá phôi ngoại bì, lá trung bì, lá nội bì phôi Lá trung bì ở hai bên
ống thần kinh, phân biệt lá thành, lá tạng và xoang cơ thể
3.6 Phôi túi (hình 3.6):
Tiêu bản phôi túi lấy từ phôi chuột cống trắng nhuộm HE, quan sát tương tự như tiêu bản phôi dâu ở trên Ở đây phôi đã phát triển hơn Chúng ta thấy trong phôi đã có một hốc lớn Ở một phía của túi phôi có nụ phôi (cúc phôi) bám vào bên thành tử cung Lớp lá nuôi dính vào thành tử cung có thể đã phát triển dày
3.7 Phôi khép mình (hình 3.7):
Tiêu bản phôi khép mình lấy ở phôi gà giai đoạn 2-3 ngày, nhuộm HE hoặc
HF Trên tiêu bản này quan sát và vẽ các thành phần tương tự như tiêu bản ba lá
Trang 9phôi ở trên: lá ngoại bì, ống thần kinh, dây sống, lá trung bì và lá nội bì Trên tiêu bản này các lá phôi không còn phẳng như tiêu bản ba lá phôi mà đang được khép kín lại, đặc biệt là nếp thân hình thành và lõm sâu
3.8 Tiêu bản nhau thai (gai nhau); (hình 3.8):
+ Tiêu bản lấy từ nhau thai người nhuộm HE Trên tiêu bản cắt lấy chiều dày của nhau thai Ở vật kính 10x phân biệt phần nhau thai và phần nhau mẹ Phần thai gồm màng ối và màng đệm, các gai nhau, phần mẹ là màng rụng niêm mạc
tử cung
+ Chuyển sang vật kính 40x, quan sát các phần sau:
- Màng ối có lớp biểu mô lát đơn và lớp mô liên kết giáp với lớp mô liên kết màng ối
- Những gai nhau cắt ngang hoặc cắt dọc, xung quanh là lớp biểu mô vuông hay trụ đơn, giữa là mô liên kết, có các mạch máu thuộc nhánh của mạch máu rốn
- Những hố máu bao quanh các gai nhau, có các tế bào máu (hồng cầu và bạch cầu)
- Lớp đáy của niêm mạc tử cung, có những vách bao quanh các hố máu và những tế bào rụng
3.9 Tiêu bản thai người (hình 3.9):
+ Những tiêu bản thai người đã phát triển tương đối hoàn chỉnh về hình dạng bên ngoài (từ 3 đến 5 - 6 tháng tuổi) được ngâm trong dung dịch thuốc cố định
+ Ở các tiêu bản này ta quan sát mối quan hệ giữa các cơ thể thai với những phần phụ: nhau thai, cuống rốn Hình dung được các tư thế và sự hoạt động của thai nằm trong buồng ối
Trang 10
1 Màng đáy; 2 Tế bào Sertoli; 3
Tinh nguyên bào; 4 Tinh bào I; 5
Tinh bào II; 6 Tinh tử; 7 Tinh trùng.
Hình 3.5: Tiêu bản 3 lá phôi 400
1 Ngoại bì; 2 Trung bì; 3 Ống thần kinh
4 Nội bì; 5 Dây sống
Trang 11Hình 3.3: Tiêu bản buồng trứng 100
1 Nang trứng nguyên thủy; 2 Nang trứng đặc;
3 Nang trứng có hốc; 4 Nang trứng chín.
Hình 3.6: Tiêu bản phôi túi 100
1 Bản phôi; 2 Lá nuôi; 3 Xoang ối;
4 Xoang ngoài phôi; 5 Màng ối;
6 Lá nuôi hợp bào; 7 Niêm mạc tử cung.
Trang 13MÔ HỌC ĐẠI CƯƠNG
4.1 Tế bào:
Tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể
Tế bào có hình dạng và kích thước rất khác nhau Chúng đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau
Tế bào có cấu tạo chung gồm màng tế bào, bào tương và các bào quan, nhân
+ Tiêu bản được nhuộm bằng hematoxylin eosin (HE)
+ Ở tiêu bản này xem hình thể chung của tế bào Quan sát ở vật kính 10x là những tế bào có hình tròn, tương đối to, ranh giới tế bào rõ ràng Chuyển sang vật kính 40x, xem và vẽ các thành phần sau:
- Màng tế bào
- Bào tương, có màu hồng nhạt, tương đối thuần nhất
- Nhân tế bào, có hình tròn hay hình trứng, bắt màu xanh nhạt, có màng nhân tương đối rõ Trong nhân có một hoặc một số hạt nhân xanh đậm, có các hạt chất nhiễm sắc (chromatin) nằm rải rác
+ Tiêu bản lấy từ tủy sống của chó, được tẩm nitrat bạc (AgNO3), ở tiêu bản này chúng ta quan sát một loại tế bào hình sao có nhiều nhánh bào tương
+ Đầu tiên dùng vật kính 10x để phân biệt vùng chất trắng và chất xám Chất xám tủy sống nằm ở phía trong, mỗi nửa của nó có một đầu phình to ở phía trước, gọi là sừng trước, phía sau gọi là sừng sau Trong sừng trước có một số tế bào hình sao Ở vật kính 40x thấy một số tế bào màu nâu xẫm, tế bào hình sao,
có nhiều nhánh bào tương Nhân tế bào sáng hình trứng hoặc hình tròn
+ Tiêu bản tế bào cơ vân xương được lấy từ lưỡi mèo hoặc thỏ, nhuộm
Trang 14+ Quan sát tiêu này bản này thấy những tế bào hình trụ dài (nếu cắt dọc), màu hồng (nhuộm HE) hoặc màu xanh thẫm (nhuộm HF) Tế bào có nhiều nhân nằm
ở dọc sát màng tế bào Để ở vật kính 40x dùng ốc vi cấp điều chỉnh thấy tế bào
có màu càng nhạt thì thấy bộ máy Golgi càng nổi rõ
+ Quan sát ở vật kính 10x thấy những ống thận cắt ngang hoặc xiên Thành ống là một lớp tế bào hình khối vuông hoặc hình tháp Những tế bào này nằm trên một màng đáy Thường khó thấy ranh giới giữa các tế bào Nhân nằm ở giữa
tế bào, không bắt màu
+ Quan sát ở vật kính 40x, xem ở một ống thận cắt ngang, thấy phần ở dưới
tế bào (sát màng đáy) có những hạt lấm chấm xanh đậm Đó là các hạt
Mitochondri
+ Tiêu bản làm ở đầu các rễ hành, nhuộm hematoxylin - eosine (HE) hoặc hematoxylin feric (HF)
Trang 15
Hình 4.1.1: Tế bào hạch gai 400
1 Màng tế bào; 2 Bào tương
3 Nhân tế bào; 4 Hạt nhân
Hình 4.1.4: Bộ máy Golgi 400
1 Nhân tế bào; 2 Bào tương
3 Màng tế bào; 4 Bộ máy Golgi
Hình 4.1.3: Tế bào cơ vân xương 400
1 Màng tế bào; 2 Nhân tế bào
3 Bào tương; 4 Vân sáng tối
Trang 16Hình 4.1.6: Rễ hành 400
1 Kỳ đầu; 2 Kỳ giữa; 3 Kỳ sau; 4 Kỳ cuối
Hình 4.1.7: Phân chia trực phân 400
1 Nhân tế bào đang trực phân
2 Bào tương; 3 Màng tế bào
Trang 17
+ Ở tiêu bản này chủ yếu quan sát các giai đoạn phân bào nguyên nhiễm
- Quan sát tiêu bản này cần chú ý: Do lát cắt của tiêu bản nhỏ vì vậy trước hết
ta nhìn bằng mắt thường để xác định vị trí tiêu bản trên lam kính, sau đó quan sát bằng vật kính 4x Điều chỉnh để lát cắt vào giữa trung tâm vi trường rồi chuyển sang vật kính 10x và vật kính 40x
- Quan sát ở vật kính 40x và vẽ 5 - 6 tế bào, trong đó có tế bào phân chia ở các giai đoạn khác nhau:
+ Tế bào ở giai đoạn không phân chia
+ Tế bào phân chia ở kỳ đầu: các thể nhiễm sắc mới tạo thành, màng nhân có thể vẫn còn hoặc đã mất
+ Tế bào phân chia ở thời kỳ giữa: các thể nhiễm sắc tập trung về mặt phẳng xích đạo
+ Tế bào phân chia ở thời kỳ sau: các thể nhiễm sắc đã phân đôi và đang tiến về hai cực tế bào
+ Tế bào phân chia ở kỳ cuối: hai nhân tế bào mới được hình thành, thường
bắt màu đậm hơn
+ Tiêu bản làm từ tế bào biểu mô bàng quang chó, nhuộm HE
+ Quan sát tiêu bản ở vật kính 40x ta thấy có các tế bào biểu mô hình đa diện, nằm rải rác, trong số đó có những tế bào đang ở các giai đoạn phân chia Nhân tế bào thắt lại, phân đôi, bào tương cũng thắt lại rồi chia đôi, một số tế bào, trong đó
có hai nhân riêng biệt
4.2 Mô biểu mô:
Mô biểu mô bao phủ toàn bộ bề mặt ngoài của cơ thể cũng như tất cả các mặt
tự do của các hốc, các xoang, các cơ quan trong cơ thể Về cấu tạo mô biểu mô
có những đặc điểm sau:
Trang 18+ Các tế bào của biểu mô nằm sát nhau, giữa các tế bào có ít chất gian bào + Khi xem xét, xác định các loại biểu mô, ta chú ý đến hình dạng tế bào và
sự sắp xếp thành lớp của chúng (tế bào dẹt, vuông hay hình trụ, biểu mô đơn hay tầng)
+ Trung biểu mô là loại biểu mô lát đơn, tiêu bản lấy từ màng treo ruột hay màng nối lớn của mèo, thỏ hoặc chuột cống trắng Khi làm tiêu bản này chỉ cần cắt một mảnh màng nói trên rồi căng trên lam kính, cố định và nhuộm, không phải qua quá trình cắt mỏng thông thường
+ Tiêu bản được tẩm nitrat bạc (AgNO3) và nhuộm hematoxylin
+ Quan sát tiêu bản bằng vật kính 40x chúng ta thấy những tế bào có bào tương trải rộng, ranh giới tế bào ngoằn ngoèo, hình răng cưa, màu nâu đậm do nhuộm nitrat bạc Mỗi tế bào có một hoặc hai nhân Quan sát tiêu bản này có một
số nhân tế bào hình như nằm ở giữa ranh giới hai tế bào, một số nhân tế bào khác nhỏ, hơi dài, màu đậm Thực chất do tiêu bản này lấy từ mảnh màng có hai mặt đều có lớp biểu mô lát đơn như nhau Giữa hai lớp biểu mô lại có một lớp mỏng
mô liên kết Những nhân tế bào nói trên là thuộc về lớp biểu mô đối diện hoặc
mô liên kết ở giữa
+ Tiêu bản biểu mô lát tầng ở thực quản thuộc loại không sừng hoá Tiêu bản lấy từ thực quản người hoặc chó nhuộm HE Quan sát tiêu bản này nhận biết lớp biểu mô ở bề mặt và lớp mô liên kết đệm ở phía dưới, lớp biểu mô có màu xanh tím, còn lớp mô liên kết có màu hồng nhạt
+ Quan sát ở vật kính 40x thấy biểu mô có nhiều lớp tế bào Những lớp tế bào này có hình dạng khác nhau Các tế bào ở sát màng đáy có hình trụ, nhân và bào tương bắt màu đậm hơn những lớp trên, đó là lớp đáy hay lớp mầm Ở trên lớp tế bào mầm là những tế bào hình đa diện, nhân và bào tương nhạt màu hơn Những tế bào trên cùng có khuynh hướng dẹt mỏng lại, nhân dài ra Có thể một số tế bào trên bề mặt đang bong ra
Trang 19Những tế bào của biểu mô lát tầng có đặc điểm là đều phát triển từ những tế bào lớp mầm, chúng được biệt hoá và đẩy dần lên lớp bề mặt
+ Tiêu bản ống thận được lấy từ thận chuột cống trắng hoặc thỏ, nhuộm HE + Trên tiêu bản này quan sát loại biểu mô trụ đơn hay vuông đơn Quan sát bằng vật kính 10x thấy hình ảnh những lát cắt ngang qua các ống thận, có chiều hướng khác nhau Những ống thận này được cắt ngang hoặc cắt chéo Giữa các ống là mô liên kết, có mạch máu
+ Chuyển sang vật kính 40x, và vẽ một số ống thận cắt ngang, ở mỗi ống xác định các thành phần sau: ở ngoài cùng là màng đáy mỏng lót ở thành ống có một lớp tế bào hình trụ nằm sát nhau Những tế bào này gọi là biểu mô trụ đơn hoặc
tế bào có hình khối vuông - biểu mô vuông đơn Những tế bào này đều có một mặt tự do hướng về phía lòng ống thận
+ Tiêu bản biểu mô trụ tầng giả, có lông chuyển lấy từ khí quản mèo hoặc thỏ nhuộm HE
+ Trên lát cắt ngang khí quản ta thấy hình một vòng tròn Quan sát ở vật kính 10x, ở bờ trong cùng các thành khí quản thấy một lớp biểu mô, trông như một biểu mô tầng
+ Chuyển sang vật kính 40x quan sát lớp biểu mô thấy có 2 - 3 hàng nhân, thực chất tất cả những tế bào này đều bám vào màng đáy
+ Mặt tự do của tế bào hướng vào trong lòng khí quản, có một lớp lông mịn,
đó là lớp lông chuyển động được khi tế bào còn sống (chú ý khi xem điều chỉnh nhẹ ốc vi cấp sẽ thấy lông chuyển)
+ Tiêu bản bàng quang của chó, nhuộm HE Biểu mô lót mặt trong của thành bàng quang là biểu mô trung gian hay biểu mô chuyển tiếp
+ Ở vật kính 10x, nhận biết lớp biểu mô và lớp mô liên kết đệm, lớp cơ ở phía dưới
+ Chuyển sang vật kính 40x quan sát và vẽ một phần lớp biểu mô Ranh giới
Trang 20Những tế bào biểu mô có các nhân nằm thành 2 - 3 hàng tạo ra hình ảnh như một loại biểu mô tầng Ở lớp tế bào bề mặt, có thể thấy rõ ranh giới tế bào Tế bào hình đa diện, rộng trùm lên những tế bào thấp hơn ở phía dưới Tất cả các tế bào đều nằm trên màng đáy
+ Tiêu bản tuyến bã lấy từ da đầu của người, nhuộm HE Đây là tuyến ngoại tiết kiểu túi, có chia nhánh
+ Quan sát dưới vật kính 4x tìm các túi tuyến, trong đó có các tế bào to, màu sáng, chuyển sang vật kính 10x, quan sát và vẽ 2 - 3 tuyến Mỗi túi tuyến có hai phần: phần phình to là phần chế tiết, phần bài xuất hẹp và ngắn, thường đổ vào nang lông
+ Tiêu bản tuyến kiểu tới quan sát ở gan lợn, được nhuộm bằng HE
+ Quan sát ở vật kính 10x, phân biệt những tiểu thùy gan Mỗi tiểu thùy gan
có tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy Xung quanh có mô liên kết, ống mật và các mạch máu Những tế bào gan nằm thành từng dải, đan chéo nhau Những dải tế bào này có xu hướng đi từ tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và toả ra xung quanh, đan nối với nhau
+ Tiêu bản biểu mô tuyến kiểu nang lấy từ tuyến giáp của chó, nhuộm HE Đây là tuyến nội tiết
+ Quan sát ở vật kính 40x, vẽ một hai nang tuyến Trên tiêu bản thấy có nhiều nang hình tròn, khép kín, không có ống bài xuất Giữa lòng các nang tuyến
có chất dịch, bắt màu hồng Thành nang tuyến là lớp tế bào biểu mô vuông hoặc trụ đơn, nằm trên màng đáy mỏng
Trang 214.2.10 Tiêu bản màng đáy biểu mô (hình 4.2.10):
+ Tiêu bản màng đáy biểu mô lấy từ giác mạc của mắt thỏ, nhuộm theo phương pháp H.E
+ Màng đáy biểu mô mỏng Khi nhuộm ta thấy màng đáy nổi lên thành một dải
bắt màu hồng, nằm ở phía dưới biểu mô trước giác mạc và biểu mô sau giác mạc
Trang 22Hình 4.2.1: Trung biểu mô 400
1 Màng tế bào; 2 Bào tương; 3 Nhân
Hình 4.2.4:
Biểu mô trụ tầng giả có lông chuyển
1 Lông chuyển; 2 Màng đáy
3 Lớp tế bào trụ tầng giả
Hình 4.2.2:
Biểu mô lát tầng không sừng hóa 400
1 Lớp đáy; 2 Lớp đa diện; 3 Lớp tế bào lát
Hình 4.2.5: Biểu mô kiểu tiết niệu 200
1 Nhân tế bào biểu mô giả tầng;
2 Bào tương; 3 Màng đáy
Hình 4.2.3: Tiêu bản ống thận 400
(Biểu mô vuông, trụ đơn)
1 Biểu mô vuông đơn
2 Biểu mô trụ đơn; 3 Màng đáy
Hình 4.2.6: Tiêu bản tuyến ống 100
1 Biểu mô thành ống tuyến
2 Lòng ống tuyến (cắt ngang, cắt dọc)
Trang 23Hình 4.2.7: Tuyến bã da đầu 100
1 Các túi tuyến chế tiết
2 Ống bài xuất; 3 Nang lông
Hình 4.2.9: Tuyến giáp 400
1 Tế bào biểu mô nang tuyến; 2 Dịch nang
3 Màng đáy; 4 Đám tế bào cạnh nang
Hình 4.2.8:
Tuyến nội tiêt kiểu lưới (gan lợn) 100
1 Tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ
2 Mao mạch xoang; 3 Dải tế bào gan;
4 Khoảng cửa
Hình 4.2.10: Màng đáy 200
1 Màng đáy; 2 Biểu mô trước giác mạc
3 Biểu mô sau giác mạc
4.3 Mô liên kết:
Mô liên kết có cấu tạo gồm các tế bào, các loại sợi và chất căn bản
Cấu tạo của nó rất thay đổi dưới những dạng mô liên kết khác nhau để thực hiện các chức năng khác nhau
Khi nghiên cứu từng loại mô liên kết chúng ta cần chú ý tới thành phần cấu tạo, cách cấu trúc và liên hệ với những chức năng của chúng Dưới đây chúng ta
sẽ nghiên cứu các loại mô liên kết có cấu tạo và chức năng khác nhau
Trang 244.3.1 Tiêu bản trung mô (hình 4.3.1):
+ Trung mô được coi là nguồn gốc chung của các dạng mô liên kết Nó là loại mô ít biệt hoá
+ Tiêu bản lấy từ phôi gà, nhuộm HE hoặc HF
+ Quan sát ở vật kính 10x ta xác định vị trí ống thần kinh và lá trung bì ở hai bên ống thần kinh Những đám tế bào thưa, sáng của lá trung bì hai bên ống thần kinh là trung mô
+ Quan sát bằng vật kính 40x thấy những tế bào này có các nhánh bào tương kéo dài và nối với những tế bào bên cạnh Nhân của tế bào tương đối to so với phần bào tương
+ Mô liên kết thưa dưới da thỏ nhuộm hematoxylin feric (HF)
Tế bào nằm riêng lẻ hoặc từng nhóm
Những tế bào sợi, có hình thoi dài, nhân và bào tương đều bắt màu đậm
- Chất căn bản ở mô liên kết thưa có dạng hơi lỏng, khi làm tiêu bản đã bị phá hủy nên chỉ thấy những khoảng sáng, đó là vị trí của chất căn bản giữa các tế
Trang 254.3.4 Mastocyte (tế bào bón); (hình 4.3.4)::
+ Mastocyte cũng là dạng tế bào mô liên kết Tiêu bản lấy từ mạc nối lớn hoặc màng treo ruột thỏ hay chuột Những tế bào này thường nằm dọc theo các mạch máu nhỏ Chúng có hình đa diện, nhân tròn và sáng, bào tương bắt màu tím
+ Quan sát ở vật kính 40x thấy ở bào tương tế bào có nhiều hạt chế tiết nhỏ, lấm tấm màu tím đậm Trong đó có thể chứa histamin, serotonin, v.v
+ Mô võng ở tiêu bản hạch bạch huyết của chó hoặc thỏ nhuộm HE
+ Quan sát bằng vật kính 10x, thấy vùng tủy hạch bạch huyết có những khoảng sáng do các tế bào ở đây nằm thưa; chuyển sang vật kính 40x quan sát ở những khoảng này thấy các tế bào võng có hình sao, có các nhánh bào tương nối với những tế bào bên cạnh; nhân tế bào to
Sợi võng của mô võng không thấy trên tiêu bản này do không tẩm muối
+ Tiêu bản gân cắt dọc (gân bò hoặc chó) nhuộm HE
Trang 26+ Xem ở vật kính 40x quan sát thấy những bó gân độ I và II, xung quanh mỗi
bó gân độ II có mô liên kết thưa bao bọc, ở trong mỗi bó gân độ II có nhiều bó sợi tạo keo màu hồng, nằm song song với nhau (những bó độ I)
Ở trong bó sợi tạo keo độ I có các sợi tạo keo nằm song song với nhau, giữa các bó sợi tạo keo có các tế bào gân hay tế bào sợi Những tế bào này có nhân dẹt
và dài, nằm dọc theo chiều dài các bó sợi tạo keo, tạo thành lớp ranh giới giữa các bó sợi tạo keo độ I
Trên tiêu bản cắt ngang, quan sát vị trí và mối liên quan giữa các bó sợi tạo keo và các tế bào gân, sự tạo thành các bó gân có độ lớn khác nhau
+ Tiêu bản sụn trong lấy từ khí quản của mèo hoặc thỏ, nhuộm HE
Mô sụn ở đây nằm giữa thành khí quản
+ Ở vật kính 10x phân biệt lớp màng sụn, thân sụn
+ Quan sát ở vật kính 40x phân biệt những tế bào sụn, chúng nằm riêng lẻ
hoặc từng nhóm trong các hốc sụn chung, chất gian bào bắt màu thuần nhất
+ Tiêu bản sụn chun lấy từ vành tai lợn, nhuộm orcein Xem tiêu bản này, phân biệt sự giống nhau và khác nhau so với sụn trong Những tế bào sụn cũng nằm riêng lẻ hoặc từng nhóm trong các hốc sụn
+ Khi quan sát bằng vật kính 40x, thấy ở chất gian bào có nhiều sợi chun mảnh, bắt màu nâu thẫm nằm theo mọi hướng
+ Tiêu bản sụn xơ lấy ở đĩa đốt sống của bò hoặc chó, nhuộm HE
+ Quan sát tìm vị trí mảnh xương, tiếp giáp mảnh xương là mô sụn trong, ngoài cùng là mô gân, ở giữa sụn trong và mô gân là sụn xơ
+ Quan sát ở vật kính 40x và vẽ một phần sụn xơ, trong đó có các tế bào sụn
và chất gian bào Những tế bào sụn bắt màu nhạt, hình đa diện Chất gian bào có
những bó sợi tạo keo lớn và thô, đan chéo nhau
+ Tiêu bản xương Have đặc lấy từ các thân xương dài (xương chày, xương đùi ) của người hoặc động vật lớn Tiêu bản được khử canxi và cắt ngang, nhuộm theo phương pháp đặc biệt
+ Quan sát ở vật kính 10x phân biệt và vẽ các thành phần sau:
Trang 27- Màng ngoài xương (thường đã bong ra khỏi xương)
+ Tiêu bản tạo xương ở mô sụn lấy từ xương dài của phôi chuột cống trắng hoặc thỏ, được cắt dọc và nhuộm HE
+ Quan sát tiêu bản bằng vật kính 10x, phân biệt vị trí của các đầu xương, thân xương, màng xương và phần tủy xương
Quan sát kỹ từ đầu xương đến thân xương, màng xương Ở một phần đầu xương có sụn trong, sụn xếp hàng, sụn phì đại, sụn nhiễm canxi và các dải xương mới được hình thành
+ Ở vật kính 40x, quan sát một phần dải xương mới hình thành Trong dải xương có tế bào xương, rìa dải xương có tạo cốt bào và hủy cốt bào Tạo cốt bào tạo thành một lớp bao quanh dải xương Đôi khi thấy hủy cốt bào, đây là những
tế bào hình cầu, tế bào to, bào tương bắt màu đỏ, có nhiều nhân
+ Tiêu bản được lấy từ xương hàm hoặc xương sọ thai người nhuộm HE + Quan sát bằng vật kính 10x, thấy các dải xương màu hồng Các dải xương này nối với nhau, tạo thành một mạng lưới ở giữa các xương là mô trung mô + Ở vật kính 40x quan sát và vẽ một phần mô xương và mô trung mô Trong các dải xương có những tế bào xương, những tạo cốt bào nằm ở rìa các dải xương
và rải rác có những hủy cốt bào nằm ở khe kẽ giữa các dải xương và mô trung mô
Trang 28Hình 4.3.1: Trung mô (A: 100; B: 400)
1 Ngoại bì; 2 Trung bì; 3 Nội bì
4 Ống thần kinh; 5 Tế bào trung mô
Hình 4.3.4: Tế bào Mastocyte 400
1 Nhân tế bào Mastocyte
2 Phần bào tương chứa các hạt chế tiết
Hình 4.3.2: Mô liên kết thưa 400
1 Nguyên bào sợi; 2 Tế bào sợi
3 Sợi chun; 4 Sợi Collagen
3 Tế bào sụn; 4 Hốc sụn; 5 Gian bào sụn
Hình 4.3.13: Tạo xương trên
nền sụn 400
1 Tạo cốt bào; 2 Hủy cốt bào
3 Tế bào sụn; 4 Dải xương
1 Tạo cốt bào; 2 Hủy cốt bào
3 Tế bào trung mô; 4 Dải xương
Hình 4.3.11: Sụn xơ 400
1 Tế bào sụn; 2 Bó sợi tạo keo (gian bào)
Trang 32
4.4 Máu và sự tạo máu:
Máu có chức năng dinh dưỡng và bảo vệ cơ thể Máu là môi trường vận chuyển các chất chuyển hoá, các chất điều hoà nội tiết
Thành phần hữu hình máu ngoại vi gồm có hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu
+ Tiêu bản máu ếch dàn trên lam kính, sau đó nhuộm HE
Máu ếch là loại động vật có xương sống bậc thấp, khác biệt so với máu của động vật có xương sống bậc cao và người
+ Ở vật kính 10x quan sát những hồng cầu ếch (khác với hồng cầu người, chúng to hơn, có hình trứng và một nhân to), các tế bào lympho và tiểu cầu Vẽ các thành phần trên ở vật kính 40x
+ Tiêu bản dàn máu ngoại vi của người, nhuộm Giemsa
Các tế bào máu ngoại vi của người có kích thước nhỏ, do đó quan sát bằng vật kính 40x thấy được hồng cầu và một số bạch cầu, nhưng khó phân biệt các loại bạch cầu khác nhau Cần sử dụng vật kính dầu Những vật kính dầu có độ phóng lớn 90x, 100x hoặc hơn nữa Khi xem cần nhỏ một giọt dầu lên tiêu bản rồi hạ từ từ cho vật kính chạm vào giọt dầu Dùng ốc vi cấp điều chỉnh cho đến khi nhìn rõ các tế bào
+ Tìm và phân biệt các thành phần sau đây:
- Hồng cầu: có hình tròn, dẹt, không nhân, phần rìa của hồng cầu dày hơn phần giữa nên thấy ở giữa hồng cầu có màu nhạt hơn
- Những bạch cầu có hạt: trung tính, axit và base (căn cứ vào các hạt bắt màu khác nhau trong bào tương và số lượng các thùy của nhân tế bào)
- Những tế bào lympho: đó là những tế bào tròn, nhân lớn chiếm gần hết khối tế bào, phần bào tương ít (chú ý có ba loại tế bào lympho: loại to, loại nhỡ và loại nhỏ)
- Monocyt: là loại tế bào tương đối to, nhân hình hạt đậu hoặc hơi dài
- Tiểu cầu: là những hạt nhỏ, nằm thành từng đám lấm tấm hay phân tán, có
màu tím hồng
+ Tiêu bản dàn máu tủy xương của người hay động vật có vú, được nhuộm Giemsa
Trang 33+ Xem bằng vật kính dầu, quan sát các giai đoạn phát triển khác nhau của những dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu ở tủy xương:
- Nguyên bào máu: là giai đọan phát triển đầu của các dòng tế bào máu Tế bào
có nhân hình tròn hay hình hạt đậu và khá to, bắt màu base đậm, bào tương ít so với số lượng của nhân, tạo thành một khối lượng của nhân, bắt màu base nhạt hơn
- Dòng hồng cầu gồm:
Nguyên hồng cầu ưa base (hay tiền nguyên hồng cầu): có đường kính 10-12, nhân tròn bắt màu base và những không bào, bào tương bắt màu base nhạt hơn Nguyên hồng cầu đa sắc: đường kính 8-10, nhân không còn hạt nhân, chất nhiễm sắc rải đều Bào tương bắt màu axit lẫn màu base, vì đã xuất hiện những hạt hemoglobin
Nguyên hồng cầu ưa axit: nhân teo nhỏ lại, bào tương bắt màu axit
Nguyên hồng cầu bình thường: nhân teo đặc hoặc phân từng mảnh nhỏ, bào tương bắt màu axit mạnh
Hồng cầu trưởng thành: có số lượng rất nhiều trên tiêu bản
- Dòng bạch cầu hạt (hay đa nhân) gồm:
Tiền tủy bào: bào tương bắt màu base nhạt, có một ít hạt đặc hiệu nằm rải rác ở vùng ngoại vi Nhân hình trứng hay tròn, bắt màu base nhạt
Tủy bào: nhân tròn hoặc hình trứng, bắt màu base đậm hơn Bào tương có nhiều hạt đặc hiệu hơn (có ba loại: ưa axit, ưa base, và trung tính)
Hậu tủy bào: nhân tế bào dài ra, bào tương có nhiều hạt đặc hiệu
Bạch cầu đũa: nhân tế bào dài và cong lại, có xu hướng phân thùy Bào tương
có nhiều hạt đặc hiệu
Các bạch cầu có hạt trưởng thành (ba loại)
- Mẫu tiểu cầu là những loại tế bào khổng lồ, đường kính tới 40 m, nhân có nhiều thùy, bào tương thường có các nhánh với độ dài khác nhau
+ Tiêu bản đảo máu ở thành túi noãn hoàng của chuột cống trắng nhuộm HE Tiêu bản này ta cần quan sát sự tạo máu đầu tiên ở các cơ thể phôi
Trang 34- Những tế bào trung mô của thành túi noãn hoàng
- Những mạch máu đầu tiên có cấu tạo đơn giản, có một lớp tế bào nội mô lót
+ Tiêu bản tế bào cơ trơn được lấy từ thành ruột mèo, nhuộm HE
+ Quan sát ở vật kính 40x thấy những tế bào riêng biệt, tế bào hình thoi dài; nhân tế bào hình trứng, nằm ở chỗ phình giữa tế bào; bào tương bắt màu axit
+ Tiêu bản mô cơ trơn lấy ở thành ruột mèo hoặc chó, nhuộm HE hay phương pháp Mallory
+ Ở vật kính 10x quan sát vị trí những đám tế bào cơ trơn cắt dọc và tế bào
cơ cắt ngang
+ Chuyển sang vật kính 40x, quan sát hình dạng những tế bào cơ cắt dọc, có hình thoi (chú ý sự sắp xếp các tế bào nằm cạnh nhau, vị trí và số lượng nhân có trong tế bào)
+ Tiêu bản mô cơ vân xương lấy từ lưỡi mèo, nhuộm HE hoặc hematoxylin feric (HF)
+ Ở vật kính 10x thấy có những tế bào cắt dọc, hình trụ dài và nhiều bó tế bào cắt ngang Ở những tế bào cắt dọc thấy có nhiều nhân nằm dọc theo bên rìa tế bào + Chuyển sang vật kính 40x, điều chỉnh ống vi cấp nhẹ nhàng và nâng cao tụ quang cho ánh sáng chiếu tập trung sẽ thấy ở những tế bào cắt dọc có nhiều vân ngang rất nhỏ, giống như những vân ở da ngón tay Vẽ một số tế bào cắt ngang
và dọc ở độ phóng lớn
Trang 354.5.4 Mô cơ tim (hình 4.5.4) :
+ Tiêu bản cơ tim lấy từ tim chuột cống trắng hoặc chim bồ câu, nhuộm HE hoặc HF
+ Các tế bào cơ tim có nhiều hướng khác nhau Ở vật kính 10x, tìm những vùng có các tế bào cơ cắt dọc Quan sát hình dạng tế bào, số lượng và vị trí của nhân nằm trong tế bào
+ Ở vật kính 40x thấy những vân ngang sáng, tối và một số vạch bậc thang,
mô liên kết nằm chen giữa các tế bào cơ
4.6 Mô thần kinh:
Mô thần kinh có cấu tạo rất phức tạp, bao gồm: các neuron và tế bào thần kinh đệm Nó thực hiện chức năng điều khiển mọi hoạt động trong cơ thể và liên
hệ giữa cơ thể với môi trường bên ngoài Đơn vị cấu tạo và chức năng cơ bản của
mô thần kinh là những neuron
+ Tiêu bản ống thần kinh lấy từ phôi gà 1-2 ngày, cắt ngang và nhuộm HE + Ống thần kinh là nguồn gốc tạo ra những thành phần của mô thần kinh, quan sát tiêu bản này ở vật kính 10x, chú ý hình dáng ống thần kinh cắt ngang, các lớp tế bào tạo nên thành ống của nó, vị trí ống thần kinh và mối liên quan của nó với các lá phôi
+ Tiêu bản tủy sống của chó, được tẩm nitrat bạc (AgNO3) xem ở vật kính 10x, phân biệt chất trắng ở xung quanh chất xám ở giữa
+ Ở sừng trước chất xám có nhiều neuron đa cực (hình sao) Để vị trí những neuron này đứng giữa vi trường rồi chuyển sang vật kính 40x, quan sát và vẽ 2-3 neuron Ở giữa mỗi neuron có một nhân hình tròn hay hình trứng, màu vàng nhạt mỗi nhân có 1 - 2 hạt nhân đen đậm
Trong bào tương thấy có những tơ thần kinh rất mỏng, đan chéo nhau, tạo thành một mạng lưới (cần chuyển động ốc vi cấp nhẹ nhàng và tập trung nhìn kỹ mới thấy rõ những tơ thần kinh này)
Trang 364.6.3 Neuron hình tháp (hình 4.6.3) :
+ Tiêu bản lấy từ vỏ đại não của chó, tẩm nitrat bạc
+ Vỏ đại nào có nhiều lớp tế bào với những hình dạng khác nhau Ở vật kính
10x, quan sát lớp chất xám, di động từ bề mặt tự do vỏ đại não và các lớp ở sâu
sẽ thấy một lớp có nhiều neuron hình tháp, chuyển sang vật kính 40x, xem và vẽ 2
- 3 tế bào
Đỉnh mỗi tế bào có một nhánh gai to phía mặt tự do của vỏ não Đáy tế bào
có thể thấy hoặc không thấy sợi trục Thân tế bào có một thân tròn, bào tương
cũng có nhiều tơ thần kinh
+ Tiêu bản thể Nissl ở những thân neuron tủy sống của chó, nhuộm bằng
toluidin bleu
+ Quan sát tiêu bản bằng vật kính 10x, tìm sừng trước chất xám tủy sống thấy
những tế bào có màu xanh lam đậm nối liền lên trên màu xanh nhạt Để nguyên
vị trí những tế bào này giữa vi trường và chuyển sang vật kính 40x Đó là những
neuron đa cực (hình sao) Ở giữa mỗi neuron có một nhân hình tròn hay hình
trứng, không bắt màu Trong nhân có 1 - 2 hạt mhân xanh đậm Ở bào tương
neuron thấy nhiều chấm hoặc những mảnh nhỏ, màu xanh đậm nằm rải rác đó là
thể Nissl
+ Sợi thần kinh không có myelin lấy từ thần kinh phế vị của chó hoặc mèo Những sợi thần kinh này không có bao myelin Mỗi sợi có một trụ trục thần kinh
ở giữa và bao Soan (Schwann) ở xung quanh,
+ Trên tiêu bản quan sát thấy các trụ trục thần kinh màu hồng, nằm song song
với nhau Nằm ở khoảng cách giữa trụ trục có những hàng nhân tế bào Soan và
những mảnh bao Soan Vẽ một phần tiêu bản ở độ phóng lớn
Trang 374.6.6 Sợi thần kinh có myelin (hình 4.6.6) ::
+ Tiêu bản sợi thần kinh có myelin lấy từ thần kinh đùi ếch, được tẩm bằng axit osmic và dùng kim tách riêng sợi
+ Quan sát bằng vật kính 4x hoặc 10x thấy những sợi nhỏ dài, màu đen đậm Chuyển sang vật kính 40x, tìm một số sợi tách riêng Ở mỗi sợi ta phân biệt trụ trục thần kinh nhạt màu, nằm giữa dọc sợi; hai bên rìa có màu đen đậm là bao myelin Trên từng đoạn của của bao myelin có những vòng thắt Ranvier Thỉnh thoảng thấy phía ngoài bao myelin có những nhân màu xám, đó là nhân các tế bào Soan nằm trên bao soan
+ Tiêu bản nghiên cứu tế bào thần kinh đệm hình sao lấy từ đại não hoặc tủy sống của mèo, được tẩm bằng axit osmic hoặc tẩm nitrat bạc
+ Sử dụng vật kính 10x rồi chuyển sang vật kính 40x Nếu tìm ở chất trắng thường thấy tế bào thần kinh đệm hình sao dạng sợi và ở chất xám thấy dạng nguyên sinh
Trên tiêu bản thấy những tế bào thần kinh đệm có nhiều nhánh Những tế bào này có màu đen đậm nằm trên một nền vùng sáng
Thân tế bào cũng như các nhánh khó phân biệt các thành phần cấu tạo, kể cả nhân cũng khó thấy ranh giới Những nhánh của tế bào toả về mọi phía, những nhánh này có thể chia ra những nhánh nhỏ (nếu là loại sợi)
Trang 38
Hình 4.4.1: Máu ếch có nhân 400
1 Hồng cầu; 2 Bạch cầu
Hình 4.4.3.2: Máu tủy - dòng bạch cầu
1 Tiền tủy bào; 2 Tủy bào;
3, 4 Hậu tủy bào
Hình 4.4.2: Máu ngoại vi
1 Hồng cầu; 2 Tế bào lympho; 3
Bạch cầu mono; 4 Bạch cầu hạt trung tính; 5
Bạch cầu hạt ưa acid; 6 Tiểu cầu
Hình 4.4.3.3: Máu tủy
Mẫu tiểu cầu
Hình 4.4.3.1: Máu tủy - dòng hồng cầu
1 Tiền nguyên hồng cầu; 2, 3 Nguyên hồng cầu ưa
bazơ; 4 Nguyên hồng cầu đa sắc;
5 Hồng cầu
Hình 4.4.4: Đảo máu 400
1 Tế bào trung mô
2 Tế bào nội mô thành mạch đầu tiên
3 Tế bào máu đầu tiên
Trang 39Hình 4.5.1: Tế bào cơ trơn 400
1 Tế bào cơ trơn
2 Nhân tế bào; 3 Mô liên kết
Hình 4.5.3: Mô cơ vân xương 100
1 Tế bào cơ cắt ngang
2 Tế bào cơ cắt dọc
Hình 4.5.2: Mô cơ trơn 100
1 Tế bào cơ trơn cắt ngang
2 Tế bào cơ trơn cắt dọc
Hình 4.5.4: Mô cơ tim A: 100; B: 400
1 Cơ tim cắt dọc; 2 Cơ tim cắt ngang
3 Nhân tế bào; 4 Vạch bậc thang
5 Vân sáng tối
Trang 40Hình 4.6.1: Ống thần kinh 400 Hình 4.6.4: Thể Nissl A: 100; B: 400
1 Thể Nissl; 2 Sợi trục; 3 Nhân
Hình 4.6.2: Tế bào thần kinh đa cực
ở tủy sống 400
Hình 4.6.5: Sợi thần kinh không myelin 400
1 Trụ trục; 2 Nhân tế bào Schwann