Chứng thủy thũng, tiểu tiện bất lợi, tiết tả, lâm trọc thường dùng với trư linh, phục linh, ý dĩ nhân. Điều trị thủy thấp đàm ẩm gây nên hoa mắt chóng mặt thường dùng với bạch truật nh[r]
Trang 11 Lịch sử Y học cổ truyền Việt Nam
1.1 Việt Nam có địa sinh học riêng:
+ Theo nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: mặt trời đã có khoảng 5 tỷ năm
+ Thời đại Cổ sinh cách đây 600 triệu năm
- Thời nguyên đại Trung sinh cách đây 200 triệu năm, dải đất nước ta lúc đầu như mầm xương sống hình chữ S đó là dãy núi Trường Sơn
+ Thời đại Tân sinh cách đây 50 triệu năm là thời kỳ tạo đất bồi đắp hợp thành lục địa Á châu với kết cấu địa chất địa tầng có sông, núi…
+ Cuối thời kỳ Đệ Tam cách đây 10 - 20 triệu năm đã có vượn cao cấp Nhiều nhà khảo cổ học Việt Nam đã chứng minh con người Việt Nam xuất hiện từ thời kỳ Canh Tân, cái nôi của loài người và cũng là cái nôi của các thuốc thảo mộc
Do thời kỳ băng hà kéo dài Thuỷ Canh Tân đến Canh Tân Nhưng ở nước ta nói riêng và ở Đông Nam Á nói chung chỉ có mưa lớn Sau băng hà nước biển trào lên kết hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển
và là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật trong đó có con người Vượn ăn cỏ cây động vật để sống, đồng thời cũng chọn lọc tự nhiên những động vật và cây cỏ để ăn
để chữa bệnh Vì vậy thuốc chữa bệnh được lưu truyền từ thời này sang thời khác, đời này sang đời khác và tồn tại đến nay Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Y học cổ truyền Việt Nam đã đúc kết được nhiều phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh bằng thuốc và không dùng thuốc (châm cứu, day, bấm huyệt…) có hiệu quả Đã phát hiện nhiều vị thuốc quí: quả giun, gừng gió, ý dĩ, xương bồ, kỳ nam, sa nhân, đậu khấu, hương phụ… được lưu truyền đến ngày nay
1.2 Việt Nam có lịch sử xã hội lâu đời:
+ Việt Nam có nhà nước Văn Lang từ đời Hồng Bàng năm 2879 trước Công Nguyên; thời đại các Vua Hùng, tổ tiên ta sớm sử dụng thuốc có nguồn gốc thực vật,
Trang 2động vật và khoáng vật để làm thuốc Ngoài ra còn biết sử dụng cả thuốc độc tẩm vào tên, giáo mác để chống giặc ngoại xâm… Hiện nay có tượng và miếu thờ An Kỳ Sinh - Nhà châm cứu Việt Nam đầu tiên tại Trúc sơn, Yên Tử, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tượng và miếu thờ Bảo Cô - Nhà nữ châm cứu (thế kỷ thứ III trước Công Nguyên) Tài liệu do Giáo sư, thầy thuốc nhân dân Nguyễn Tài Thu - Viện trưởng Viện châm cứu Việt Nam sưu tầm
+ Hơn một thiên niên kỷ dân tộc Việt Nam dưới ách xâm lược nô dịch và đồng hoá của phong kiến Trung Quốc Các dược liệu quí hiếm đều bị cướp bóc mang về chính quốc Thời kỳ độc lập dưới các triều đại phong kiến (938 - 1884) sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền từ 938 nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập
- Đời lý (1010 - 1224) có tổ chức thái y viện ở Kinh đô cũng như ở các địa phương
- Đời Trần (1225 - 1399), phát triển nghề nuôi trồng dược liệu khắp nơi, nhiều danh y nổi tiếng trong thời kỳ này, đặc biệt là Nguyễn Bá Tĩnh hiệu là Tuệ Tĩnh, quê Nghĩa Phú, Cẩm Vũ, Cẩm Giàng, Hải Dương, đỗ Tiến sĩ nhưng đi tu Tác phẩm y học nổi tiếng của ông là “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển, chọn lọc 580
vị thuốc phân loại theo nguồn gốc (23 loại): cỏ hoang, dây leo, mọc ở nước, có cánh (chim), cầm thú… Chọn lọc dược liệu có trong nước tổ chức thành 8 - 873 bài thuốc điều trị 182 chứng bệnh của 10 khoa
Tác phẩm “Hồng nghĩa giác tư y thư” tóm tắt tác dụng 630 vị thuốc theo biện chứng luận trị, Ông được tôn là thánh thuốc nam Năm 1335, Tuệ Tĩnh được mời sang Trung Quốc chữa bệnh cho Vua nhà Minh và bị giữ lại cho đến khi chết
- Đời Hồ (1400 - 1406), phát triển châm cứu có Nguyễn Đại Năng soạn cuốn sách “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca”…
- Thời kỳ đô hộ của giặc Minh Trung Quốc (1047 - 1472), trong 20 năm dưới ách đô hộ của Triều Minh y học dân tộc bị tổn thất nghiêm trọng
- Hậu Lê (1428 - 1788) có bộ luật Hồng Đức đời Lê Thánh Tông (1460 - 1479) ban hành qui chế làm thuốc Năm 1665, Lê Huyền Tông 2 lần ra lệnh cấm hút thuốc lào; ở Triều đình có Thái y viện, các tỉnh có tế sinh đường, ở quân đội có sở lương y Hoàng Đôn Hoà và Trịnh Đôn Phát là lương y phục vụ trong quân đội nhà
Lê Tác phẩm nổi tiếng của Ông là sách “Hoạt nhân toát yếu”; Ông được Vua Lê Thánh Tông sắc phong sáu chữ vàng “Lương Y Quốc - Thọ Tư Dân” Hiện nay, nhân dân lập đền thờ Hoàng Đôn Hoà tại quê Ông, Đa Sĩ, Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Tây
Đặc biệt, trong thời kỳ này có Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1720 – 1791), quê Văn Xá, Yên Mỹ, Hải Hưng Ông đã tóm được y lý Y học cổ truyền phương Đông, tổng kết những thành tựu Y học cổ truyền Việt Nam từ trước đến thế kỷ XVIII và đã vận dụng sáng tạo những tinh hoa Y học cổ truyền vào điều kiện thời tiết khí hậu liên quan đến đặc điểm phát bệnh ở nước ta Tác phẩm “Hải Thượng Lãn Ông y tâm lĩnh” là bộ sách đồ sộ gồm 28 tập, 66 quyển, đến nay vẫn
Trang 3được coi là bộ sách bách khoa về Y học cổ truyền Ông đã tổng kết sáng tác hoàn chỉnh hệ thống hoá nền Y học truyền thống Việt Nam trên các lĩnh vực: nội khoa, ngoại khoa, sản phụ và nhi khoa, ngũ quan khoa trên phương diện chẩn trị dự phòng
từ lý pháp đến phương dược, từ y đức đến y sử, y thuật đến các lĩnh vực thiên văn y học và thực trị học Về dược học Lãn Ông đã sưu tầm thêm 300 vị thuốc tổng hợp thành 2854 bài thuốc kinh nghiệm Nét độc đáo trong biện chứng luận trị Y học cổ truyền của Lãn Ông đến nay và mãi mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động chẩn trị theo y lý cổ truyền của các thế hệ thầy thuốc y học dân tộc Việt Nam
1.3 Thời kỳ bị thực dân Pháp đô hộ (1884 - 1945):
Thực dân Pháp đưa y học phương Tây vào nước ta, giải tán các tổ chức y tế Triều Nguyễn (Y học phương Đông và Y học dân tộc) Thực hiện chính sách ngu dân chia để trị, coi thường y học truyền thống dân tộc, hiện nay vẫn còn tản dư ở một số tri thức coi thường y học dân tộc cần phải khắc phục để xây dựng nền y học
Y tế: “… y học cũng phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng… Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc
ta thuốc bắc, để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu phối hợp thuốc Đông y với Tây y…”
Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 đã ghi rõ phương hướng kết hợp 2 nền y học “phối hợp chặt chẽ Đông y với Tây y trong công tác y tế trên các mặt phòng bệnh, chữa bệnh, sản xuất thuốc nam, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học”
Chỉ thị 101/TTg của thủ tướng chính phủ cũng ghi cụ thể: “Trên cơ sở khoa học, thừa kế, phát huy những kinh nghiệm tốt của Đông y với Tây y nhằm tăng cường khả năng phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân tiến lên xây dựng một nền y học Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Chỉ thị 21/CP ngày 19/2/1967 của thủ tướng chính phủ Chỉ thị 210 TTG/VP ngày 6/12/1966 về công tác dược liệu Triển khai nghị quyết Đại hội Đảng IV, V nghị quyết 200 - CP ngày 21/8/1978 và NQ 266 - CP ngày 19/10/1978 Ngày nay, việc kết hợp 2 nền y học đã được ghi trong hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành một pháp lệnh của Nhà nước Nghị quyết Đại hội Đảng
Trang 4VII (1991) “kết hợp Y học hiện đại với Y học cổ truyền từng bước hiện đại hoá y học cổ truyền, giữ gìn bản sắc Y học cổ truyền Hiện nay Hội nghị Trung ương 4 khoá 7 có riêng nghị quyết về YHCT: “Triển khai mạnh mẽ việc nghiên cứu, ứng dụng và hiện đại hoá YHCT dân tộc kết hợp với YHHĐ, phát triển nuôi trồng cây con làm thuốc, trang bị thêm phương tiện cho việc khám chữa bệnh và sản xuất thuốc YHCT dân tộc Khẩn trương đào tạo đội ngũ cán bộ và cán bộ đầu đàn y học dân tộc Tăng thêm đầu tư và nâng cấp các cơ sở YHCT”, kết hợp hai nền y học đã trở thành phương châm của ngành Y tế Về tổ chức của Bộ y tế có Vụ YHCT, có viện y học dân tộc, có 2 viện nghiên cứu dược học dân tộc ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ở tỉnh có viện y học dân tộc tỉnh, trong các bệnh viện đa khoa tỉnh có khoa y học dân tộc, trong các bệnh viện huyện, trạm y tế xã cũng đều có bộ phận YHCT
Trong Quân đội có Viện y học dân tộc Quân đội, Học viện Quân y có Bộ môn Y học dân tộc, cục Quân y có phòng y học dân tộc, các bệnh viện loại A đa khoa, loại B, các quân khu, quân đoàn, quân chủng đều có bộ phận y học dân tộc
Về tổ chức quần chúng có Hội YHCT, Việt Nam có Hội châm cứu Trung ương được thành lập ở hầu khắp trên 64 tỉnh và thành phố thị xã, hiện đã trở thành
tổ chức chuyên môn rộng khắp từ Trung ương đến các cơ sở
3 Phương hướng kết hợp hiện nay
+ Theo tinh thần của báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV là: “Để không ngừng nâng cao khả năng chất lượng phòng và chữa bệnh phải kết hợp chặt chẽ giữa YHHĐ với YHCT dân tộc, vận dụng phát triển những thành tựu tiên tiến của y học thế giới, đồng thời coi trọng đúng mức việc phát triển y học dân tộc, tích cực thừa kế áp dụng nâng cao những thành tựu và kinh nghiệm của y học dân tộc, từng bước xây dựng nền y học Việt Nam; mở rộng một cách có kế hoạch nguồn dược liệu thiên nhiên phong phú trong nước, xây dựng nền y dược học Việt Nam, nhanh chóng phát triển công nghiệp dược phẩm và đẩy mạnh sản xuất thiết bị
y tế” Nghị quyết 46 của Bộ chính trị ngày 23-2-2005 cũng nhấn mạnh: " Đẩy mạnh việc nghiên cứu thừa kế bảo tồn và phát triển y dược học cổ truyền thành một chuyên ngành khoa học "
+ Tại các tuyến Trung ương kết hợp chặt chẽ trong chẩn đoán: chẩn đoán bệnh dựa trên thành tựu YHHĐ kết hợp với y lý cổ truyền Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh, tiêu chuẩn đánh giá dựa trên YHHĐ kết hợp với chẩn trị YHCT Về điều trị tùy theo tình trạng của bệnh nhân và khả năng đảm bảo thuốc theo từng tuyến có thể
áp dụng cổ phương, nghiệm phương hay đối pháp lập phương, có thể dùng thuốc, dùng châm, xoa, bấm, hoặc thuốc, châm, xoa, bấm kết hợp Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các nước phương Tây Hoà nhập với Tổ chức Y tế thế giới (OMS), tổ chức đã và đang kêu gọi các nước phát triển y học cổ truyền góp phần đưa y học cổ truyền dân tộc vào chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu của cộng đồng, đóng góp tích cực trong dự phòng và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Trang 5+ Các bước tiến hành ở các tuyến
- Trên cơ sở khoa học hiện đại kết hợp với y học phương Đông mà thừa kế chỉnh lý nâng cao phát huy và phát triển hệ thống lý luận y học cổ truyền dân tộc Việt Nam
- Kết hợp YHHĐ với YHCT trên các mặt: phòng bệnh, chữa bệnh và sản xuất thuốc đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học
- Tiến tới xây dựng một nền y học Việt Nam xã hội chủ nghĩa có đầy đủ tính chất: khoa học, dân tộc và đại chúng
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ ỨNG DỤNG
TRONG Y HỌC
Âm dương ngũ hành là học thuyết cơ bản của YHCT Học thuyết này thể hiện quan điểm duy vật biện chứng tự phát được ứng dụng từ hơn 2000 năm trước Công Nguyên, qua tổng kết thực tiễn ngày nay đã trở thành hệ thống lý luận cơ bản của YHCT dân tộc Nội dung học thuyết đã chỉ rõ chức năng của cơ thể, đã khái quát quy luật phát sinh, phát triển và thoái lui của nguyên nhân bệnh lý và chỉ đạo mọi nội dung chẩn đoán, điều trị và dự phòng trong lâm sàng
1 Học thuyết âm dương
Khái niệm cơ bản: học thuyết âm dương là học thuyết phác thảo quan điểm mâu thuẫn, giới thiệu các hiện tượng sinh lý, bệnh lý trong cơ thể, từ đó đề ra nguyên tắc điều trị và dụng dược (hay lý luận sử dụng dược vật)
Người xưa cho rằng: các bộ phận cấu tạo nên cơ thể đều do hai khái niệm vật chất
và công năng (hai mặt đối lập thống nhất) tức là âm dương cấu tạo thành Sự phát sinh và phát triển của bệnh tật đều do mất thăng bằng về âm dương
Quy luật thuộc tính âm dương ứng dụng trong cấu tạo và công năng
1.1 Âm dương đối lập:
Trang 6- Phát triển - Thoái hoá
- Hướng ra ngoài - Hướng vào trong Thuộc tính âm dương của sự vật không phải là tuyệt đối mà là tương đối, vì vậy trong điều kiện nhất định, thuộc tính sẽ thay đổi
VD: quan hệ giữa lưng và bụng thì bụng thuộc âm mà lưng thuộc dương; nhưng khi xét tương quan giữa ngực và bụng thì tất nhiên ngực ở trên thuộc dương, bụng ở dưới thuộc âm
1.2 Âm dương hỗ căn
Người xưa cho rằng: “dương sinh ở âm, âm sinh ở dương”, “cô âm bất sinh, độc dương bất trưởng” nghĩa là âm dương cùng song song tồn tại, dựa vào nhau mà phát triển (không có dương tức là không có âm, trái lại không có âm tức là không có dương) Âm dương là hai phạm trù căn bản để duy trì sự sống “sinh vi bản, bản thuộc âm dương": Sinh mệnh từ mở đầu đến kết thúc là một quá trình đấu tranh tương hỗ, quá trình tương quan chặt chẽ tới âm dương, nếu như mất đi mối quan hệ
âm dương cũng có nghĩa là không còn sự sống; vì thế quan điểm của y học dân tộc là: “âm dương hỗ căn”
Về sinh lý thì công năng của toàn cơ thể thuộc dương, cơ sở vật chất của toàn
cơ thể thuộc âm Công năng hoạt động chủ yếu dựa vào vật chất là cơ sở mà quá trình bồi bổ vận động của vật chất lại phải dựa vào hoạt động công năng (bao gồm một loạt hoạt động ăn uống, tiêu hoá, hấp thu, tuần hoàn máu và dịch thể…)
Ví dụ về bệnh lý: tâm dương bất túc (không đầy đủ) tất nhiên dẫn đến tâm âm bất túc và ngược lại
1.3 Âm dương tiêu trưởng:
“Âm dương tiêu trưởng, dương tiêu âm trưởng” Tiêu và trưởng là hai quá trình song song tồn tại và biến động thường xuyên, bởi vì tổ chức của các cơ quan trong cơ thể không ngừng hoạt động, vật chất không ngừng bị tiêu hao và lại thường xuyên được bổ sung Trong phạm vi nhất định, tiêu trưởng biến đổi bình thường duy trì chức năng hoạt động của cơ thể sống Nếu như nhấn mạnh một mặt nào hoặc là tiêu thái quá hoặc là trưởng thái qúa đều phát sinh bệnh lý
Ví dụ: sở dĩ có âm hư (tức là tiêu thái quá) sẽ dẫn đến dương vượng, dương
hư sẽ dẫn đến âm thịnh Ngược lại quá trình âm thịnh (trưởng thái qúa sẽ dẫn đến dương hư, dương vượng sẽ dẫn đến âm hư)
Trong bệnh cao huyết áp: có những triệu chứng đau đầu, chóng mặt hay mất ngủ, hay mê, hay cáu gắt, giận dữ, lưỡi hồng, khô, mạch huyền tế sác, đó chính là
âm hư dương vượng
Trong bệnh cấp tính có sốt thường sốt rất cao là “dương quá thịnh” làm thương tổn phần âm huyết, âm dịch bị tiêu hao tức là dương thịnh dẫn đến âm hư
Tất cả những ví dụ trên đều làm sáng tỏ phạm trù âm dương tiêu trưởng hỗ căn
Trang 71.4 Âm dương chuyển hoá:
Quan điểm YHCT “trọng âm tất dương, trọng dương tất âm” nghĩa là trong điều kiện bình thường hai mặt âm và dương luôn luôn chuyển hoá tương hỗ, âm có thể chuyển thành dương, dương có thể chuyển thành âm Nguyên nhân gây bệnh thường gặp trên lâm sàng khi mới mắc thường là biểu (dương chứng) khi chuyển vào lý (âm chứng), từ thực (dương) chuyển hư (âm) và từ nhiệt (dương) hoá thành hàn (âm)
Phong hàn biểu chứng, không ra được mồ hôi, có thể hoá nhiệt nhập lý, tà thịnh thực chứng, nếu như không được điều trị đúng có thể chuyển thành hư chứng bởi vì khi dương thịnh nhiệt chứng dùng quá nhiều thuốc hàn lương sẽ thành chứng hàn và trái lại khi âm thịnh, dùng quá nhiều thuốc ôn nhiệt sẽ thành chứng nhiệt
Cũng tương tự các nguyên nhân bệnh lý có thể biến hoá từ lý đến biểu, hư chuyển thành thực, hàn biến thành nhiệt…
Ví dụ: khi trẻ bị sởi (ma chấn) độc tố sởi tích lũy trong các tạng phủ gây các biến chứng nguy hiểm, do quá trình điều trị đưa các độc tố ra ngoài (nghĩa là tự lý ra biểu)
Chứng khí hư cũng có nguyên nhân khí bất hành huyết, huyết uất lại mà thành huyết ứ (thực chứng)
Chứng lý hàn trong quá trình điều trị nhiều thuốc ôn táo làm tổn thương âm dịch sẽ chuyển thành chứng “âm hư nội nhiệt” Tất cả những ví dụ trên đều nói lên âm dương chuyển hoá lẫn nhau, nương tựa, tương hỗ lẫn nhau và cùng tồn tại
Kết luận:
Âm dương hai mặt đối lập trong một thể thống nhất luôn luôn vận động và chuyển hóa lẫn nhau Trong sự vận động chuyển hoá, tiêu trưởng là hai quá trình song song tương hỗ Mặt này tiêu mặt kia trưởng và ngược lại
Trong y học xưa, dựa vào quan hệ tương hỗ của ngũ hành để giải thích mối quan hệ giữa hoàn cảnh tự nhiên bên ngoài với bên trong cơ thể và giữa các cơ quan trong cơ thể với nhau
Ví dụ: đem ngũ khí, mùa thời tiết… của tự nhiên liên hệ với ngũ tạng ở trong
cơ thể, dựa vào các đặc điểm khác của nó mà quy loại ngũ hành
Trang 8Hiện nay, sự quy loại ngũ hành của YHCT được sắp đặt theo bảng dưới đây:
2.2 Quy loại ngũ hành:
Ngũ chí Nộ (giận) Vui (mừng) Tư (lo) Bi (buồn) Sự
2.3 Quy luật ngũ tạng tương sinh là tác dụng thúc đẩy:
Can sinh tâm, tâm sinh tỳ, tỳ sinh phế, phế sinh thận, thận sinh can (tức là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc)
Trong quan hệ tương sinh: mỗi hành đều sinh ra hành kia và được hành khác sinh ra mình và quan hệ với hành sinh ra mình là “mẹ”, hành được sinh ra là “con”
Lấy thổ làm ví dụ thì hỏa sinh thổ, hỏa là mẹ của thổ, thổ sinh kim “kim vi thổ chi tử”
2.4 Quy luật ngũ tạng tương khắc là tác dụng ức chế:
Can đối với tỳ, tâm đối với phế, tỳ đối với thận, phế đối với can và thận đối với tâm (tức là mộc khắc thổ, hỏa khắc kim, thổ khắc thủy, kim khắc mộc, thủy khắc hỏa)
Trong quan hệ tương khắc: mỗi tạng đều bị một tạng khắc mình và quan hệ với tạng khác… (thắng và không thắng)
Lấy mộc làm ví dụ: mộc khắc thổ tức là “thổ vi mộc chi sở thắng” Kim khắc mộc tức là “kim vi mộc chi sở bất thắng”, ngoài ra còn có phản khắc
Ví dụ: tỳ thổ khắc thận thủy, nhưng trong trường hợp bệnh lý thận thủy phần lớn phản khắc tỳ xuất hiện đại tiện lỏng nát Như vậy, một tạng xúc tiến đẩy một
Trang 9tạng khác và tạng này ức chế tạng kia và thúc đẩy một tạng khác, thúc đẩy và ức chế, hay tương sinh và tương khắc phải luôn luôn kết hợp và cân bằng, để bảo vệ quan hệ bình thường giữa các tạng, duy trì hoạt động bình thường của cơ thể
2.5 Ứng dụng trên lâm sàng:
Ngũ hành có quan hệ chặt chẽ với chẩn đoán và điều trị trên lâm sàng
Ví dụ: trong vọng chẩn thường lấy việc quan sát sự nhuận sáng tươi hồng của sắc mặt:
Sắc mặt xanh thuộc về can phong
Sắc mặt đỏ phần nhiều thuộc về tâm hỏa
Sắc mặt vàng thuộc về tỳ thấp
Sắc mặt trắng thuộc về phế hàn
Sắc mặt đen thuộc về thận hư
Trong điều trị bệnh tạng phủ phần nhiều dựa vào sự liên quan ngũ vị đối với ngũ tạng mà chọn thuốc Nói chung vị chua vào can, thuốc có vị mặn vào thận, có vị ngọt vào tỳ, vị đắng vào tâm, vị cay vào phế… như vậy là ngũ sắc, ngũ vị trong ngũ hành được ứng dụng cụ thể trong chẩn đoán và điều trị
Về ngũ hành sinh khắc được ứng dụng trên lâm sàng để tìm vị trí phát sinh ra bệnh tật và cách điều trị khác nhau Tương sinh là quá trình thúc đẩy bình thường, là
có lợi cho điều trị bệnh lý Ví dụ: bồi bổ tỳ, vị để nâng đỡ cơ thể trong bệnh lao phổi Như thế gọi là bồi thổ sinh kim; trong điều trị can dương thượng nghịch phải căn cứ vào thủy sinh mộc, phải dùng phương pháp tư dưỡng thận âm gọi là tư thủy dưỡng mộc
Về mặt tương khắc, tuy nhiên tạng này trong điều kiện bình thường tác dụng
ức chế tạng khác, đó là ức chế có lợi, do tác dụng cân bằng hiệp đồng Ví dụ: quan
hệ tương khắc của thận thủy với tâm hỏa bình thường là tương tế “thủy hỏa tương
tế, hay thủy hỏa tương giao” Nhưng khi thủy quá mạnh gọi là tương thừa (tức là tạng bị khắc phát sinh ra bệnh lý), khi đó quan hệ hiệp đồng giữa tâm thận bị phá
vỡ, thủy hỏa không giao nhau, xuất hiện tâm phiền tâm quý, mất ngủ, hay quên, lưng gối đau mỏi và phù gọi là “tâm thận bất giao”, “thủy hỏa bất tương tế”
Khi điều trị phải dùng phương pháp giao thông tâm thận (dùng bài; tần giao thang gia giảm) Hoặc can mộc quá mạnh dẫn đến tỳ thổ thất điều, xuất hiện phúc thống tiết tả gọi là “mộc khắc thổ” “can mộc thừa tỳ”, trong điều trị phải thư can kiện tỳ
Khi dùng thuốc phải dựa vào tính vị của thuốc và trong bào chế phải làm thay đổi tính chất vị thuốc theo yêu cầu đi vào các tạng phủ và cơ quan cần thiết
Kết luận:
Học thuyết âm dương ngũ hành là học thuyết phác thảo quan điểm duy vật biện chứng tự phát, thừa nhận thế giới là do vật chất cấu tạo thành, mọi sự
Trang 10vật đều có quan hệ tương hỗ Trong một sự vật luôn có hai quá trình âm và dương luôn đối lập, hỗ căn hoặc dựa vào nhau, đấu tranh thúc đẩy nhau mà tồn tại YHCT luôn coi đó là phương châm chỉ đạo trong điều trị và dự phòng.
Trang 113 Ứng dụng học thuyết ngũ hành trong lâm sàng
3.1 Vận dụng trong nguyên nhân sinh bệnh:
YHCT cho rằng: “Âm bình dương bí, tinh thần nại trị” nghĩa là nói hai mặt
âm và dương chỉ có thể ở trạng thái tương đối cân bằng, song song tồn tại thì mới duy trì được hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể
Nếu như sự cân bằng âm dương bị phá vỡ sẽ phát sinh bệnh lý Ví dụ: dương thiên thắng hoặc thiên suy, âm thiên thắng hoặc thiên suy Dựa vào lý lẽ âm dương tiêu trưởng mà trên lâm sàng thường thấy: nếu âm thịnh dẫn đến dương suy và sẽ thấy các triệu chứng dương khí bất túc: sợ lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt trắng bủng,
tự hãn, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt, mạch hư
Ví dụ: phế âm hư, trong phế kết hạch khái thấu (ho lao phổi) dẫn đến dương vượng, xuất hiện triệu chứng trằn trọc, mất ngủ, miệng khô, muốn uống nước liên tục, lưỡi hồng, mạch sác
Dựa vào lý lẽ âm dương hỗ căn; nếu như một trong hai mặt âm dương thiên thắng hoặc là thiên duy đều dẫn đến âm hoặc dương bất túc (không đầy đủ) “dương tổn cập âm,
âm tổn cập dương” (nội kinh) Ví dụ: trong một số bệnh nhân mãn tính thường giai đoạn cuối đều phát triển theo chiều hướng âm dương lưỡng hư
3.2 Vận dụng trong chẩn đoán:
Đông y đề xuất “phàm trấn bệnh phương trị tật tu trí thẳm âm dương” tức là khi phân tích tình hình bệnh lý thường phải dùng phép quy nạp về âm dương, tập hợp các triệu chứng khái quát thành hai loại âm chứng hay dương chứng
Ví dụ: thực chứng phân thành âm thịnh hay dương vượng, hư chứng thì âm
hư hay dương hư, trên cơ sở đó đề ra nguyên tắc phương trị
3.3 Vận dụng trong điều trị:
Y học xưa cho rằng: “cẩn sắt âm dương sở tại nhi điều chi dĩ bình vi kỳ” nghĩa là nói nguyên tắc điều trị của Đông y, thông qua điều trị làm biến đổi tình trạng âm dương thiên thắng hoặc thiên suy trong cơ thể, điều chỉnh quan hệ giữa âm
và dương nhằm mục đích khôi phục trạng thái tương đối cân bằng của âm dương, tiêu trừ bệnh tật Sở dĩ dương thịnh dùng âm dược, âm thịnh dùng dương dược, mục đích tả phần hữu dư của âm dương, dương hư dùng dương dược, âm hư dùng âm dược mục đích bổ thêm phần bất túc của âm dương
Về tính vị công năng của các vị thuốc cũng phải phân chia theo âm dương
Ví dụ: thuốc có tính năng ấm nóng thuộc dương dược, thuốc có tính mát lạnh thuộc âm dược, thuốc có vị cay, ngọt, đạm thuộc dương dược, vị chua, mặn, đắng thuộc âm dược, thuốc có tính thăng phù phát tán thuộc dương dược, tác dụng trầm giáng thông tiết thuộc âm dược
Tóm lại, phải vận dụng linh hoạt các vị thuốc đúng với thuộc tính âm dương của dược vật mới đạt được hiệu quả tốt
Trang 12Âm dược Dương dược
- Hư chung hiệp thực, thượng thực hạ hư
- Chân hàn giả nhiệt, chân nhiệt giả hàn
- Âm hư dương vượng, dương hư âm thịnh
- Âm dương lưỡng hư, âm trung chi dương, dương trung chi âm… Phải luôn luôn nắm vững thuộc tính âm dương tương hỗ, tiêu trưởng, bình hành, đối lập nhưng thống nhất, luôn luôn chuyển hoá lẫn nhau, phân biệt chính xác,
sử dụng linh hoạt các loại thuốc theo đúng thuộc tính âm dương sẽ đạt kết quả cao trong chẩn đoán và phương trị
Sắc mặt trắng bủng, tứ chi vô lực, rối loạn ngôn ngữ (loạn ngôn), nói nhỏ đó
là dương bất túc hay là âm bất túc ?
DỊCH, Y DỊCH, THỜI GIAN KHÍ THỊNH THEO ĐỊA CHI
VÀ THEO NGŨ HÀNH
1 Khái niệm về dịch, y dịch:
+ Dịch là tác phẩm triết học cổ đại của Trung Quốc và các nước phương Đông, tư tưởng triết học được trình bày trong dịch là duy vật Dịch học đã giải thích thế giới bằng chính thế giới; thừa nhận thế giới là do sự vận động phát triển không ngừng của khối vật chất đối lập tạo nên, đả phá các quan điểm triết học mơ hồ trong chính kinh “Thánh nhân lập tượng dĩ tận ý”, nghĩa là thánh nhân mượn hình tượng - dịch để nói tiếp cái ý của mình Thực tế là một số học thuyết của YHCT như: học thuyết âm dương ngũ hành của Trần Diễn, thuyết “đạo”- phép biện chứng của Lão
Tử và thuyết khí hoá của các học giả nước Tề chưa giải thích rõ về biện chứng luận trị Do tổng hợp các thành tựu triết học thời Chiến Quốc (403 - 221 trước Công Nguyên) nên nội dung của dịch rất rộng, ảnh hưởng của dịch với các ngành khoa học Xã hội và Y học rất lớn YHCT coi Dịch là môn học nhập môn của nhiều thế hệ
“tiên học dịch hậu học y”, “chưa biết kinh dịch thì chưa nên làm thuốc” (Hải
Trang 13Thượng Lãn Ông) Người làm thuốc theo quan niệm xưa là phải am hiểu về thiên văn, về địa lý và con người “thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự”
2 Nội dung chính của Dịch
+ Chính kinh là các quẻ (quái) của Phục Hy, các hào của Chu Công Đán và các truyện của Khổng Tử, phần hai là dịch truyền của các tác giả cuối thời Chiến Quốc:
- Hệ từ thượng truyện, hệ từ hạ truyện
- Thuyết quái truyện, từ quái truyện thượng
- Từ quái truyện hạ, tạp quái truyện
+ Sự vận động không ngừng của vật chất hỗn độn, cổ nhân dùng các ký hiệu thay cho chữ viết để giải thích các hiện tượng biến đổi của vật chất, của thiên nhiên, của vạn vật trong trong thái cực (vũ trụ ngày nay) từ vô danh, vô sắc (Đạo là không) đến có danh, có sắc (sắc) Lão Tử cho rằng: đạo thường vô danh “vô danh vạn vật chi khí” nghĩa là cái đạo thường không đặt tên được và vô danh là sự bắt đầu của vạn vật (tức là con người chưa nhận thức được vật chất) “Thiên địa vạn vật sinh ra
từ hữu (có), hữu sinh ra từ vô (không)”, sự vận động phát triển không ngừng của vật chất là đi từ vô danh đến hữu danh Từ ký hiệu nhất dương (⎯), nhất âm (– – ), đến lưỡng nghi, đến tứ tượng, bát quái, thập nhị quái và cuối cùng là lục thập tứ quái (64 quẻ) Những học thuyết: bát quái tiên thiên, bát quái hậu thiên, hà đồ, lạc thư, ngũ vận, lục khí… đều là những thành tựu rất lớn của triết học thời Chiến Quốc, tuy chưa hẳn
là Dịch nhưng có liên quan chặt chẽ với Dịch, bởi vì cùng thời với Dịch là tài liệu Hoàng
Đế - Nội Kinh, một bộ sách đặt cơ sở cho biện chứng luận trị của nền Y học phương Đông Trong tài liệu này (phần phụ lục), chúng tôi sắp xếp mối liên quan giữa ngũ vận, lục khí với
Trang 14tạng phủ và thập nhị quái với hy vọng dần dần tìm hiểu, thống kê, nghiên cứu suy đoán, tiên lượng và dự phòng bệnh lý theo quy luật vận khí tương lâm
2.1 Nội dung của thập nhị quái hậu thiên:
+ Quẻ phục là nhất dương sinh ở cung tý, tiết đông chí tháng 11
+ Quẻ khảm là nhị dương sinh thành ở cung sửu, tiết đại hàn tháng 12
+ Quẻ đại tráng tứ dương sinh ở cung mão, tiết xuân phân tháng 2
+ Quẻ quái ngũ dương sinh ở cung thìn, tiết cốc vũ tháng 3
- Quẻ kiền thuần dương sinh ở cung tỵ, tiết hạ chí tháng 4
Khi dương đã qua hai giai đoạn thành, thịnh thì dương cực sinh âm
+ Quẻ cầu một hào âm bắt đầu sinh ra ở cung ngọ, tiết hạ chí tháng 5
+ Quẻ đôn nhị âm sinh ở cung mùi, tiết đại thử tháng 6
+ Quẻ bĩ tam âm sinh ở cung thân, tiết sử thử tháng 7
+ Quẻ quán tứ âm sinh ở cung dậu, tiết thu phân tháng 8
+ Quẻ bác ngũ âm sinh ở cung tuất, tiết xương giáng tháng 9
+ Quẻ khôn lục âm sinh ở cung hợi, tiết lập đông tháng 10
Quẻ khôn là quẻ thuần âm, các hào âm chiếm toàn quái, khi âm cực lại sinh dương, thịnh suy, sức khoẻ liên quan đến các quẻ và ngày của các tiết quý
Thời gian khí thịnh theo địa chi (time of maximum energy) - huyệt theo ngũ hành (points of the five elements)
2.2 Khai huyệt thời gian khí thịnh theo địa chi:
Theo tài liệu của Thanh Triều Liêm (Nam Kinh - Trung Quốc, 1959) và của Anton Jayasurijya (Indian, 1993); ngay từ thế kỷ thứ nhất năm 45 trước Công Nguyên Các nhà thiên văn học, toán học và triết học phương Đông đã thiết lập những công thức về sự liên quan giữa các tổ chức cơ quan trong cơ thể con người với lực tương tác của các hành tinh trong vũ trụ; khái niệm “nhân thân chi tiểu thiên địa” con người là vũ trụ nhỏ, trên vũ trụ bao la có bao nhiêu tinh tú thì trong cơ thể con người có bấy nhiêu vi tinh tú Học thuyết vận khí (lục thập niên vận khí tương hợp) từ thời Tần Việt Nhân (hiệu là Biển Thước) đã nêu lên các qui luật biến hoá của thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí với ngũ hành, qui luật tương hợp của địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi với lục khí “khắc khắc bất định” Lực điện trường trong vũ trụ tác động đến mọi hoạt động sống của các tổ chức cơ quan trong cơ thể thay đổi từng giờ, hàng ngày, hàng tháng theo âm lịch, những nhịp bẩm sinh theo mùa và hàng năm Các nhà YHCT Trung Quốc cũng đã chứng minh các hoạt động của hormon, các men (enzyme), hoạt động của hệ thống miễn dịch, các trung tâm hạch lympho, lách, tuyến ức, tủy xương cũng song song theo kiểu nhịp sinh học
Trang 15Ví dụ: hàm lượng chất corticosterone và ACTH huyết tương cao nhất vào buổi trưa, rồi tụt xuống vào buổi chiều và xuống tối thiểu vào nửa đêm
Năm 1030 sau Công Nguyên, những nghiên cứu về nhịp mặt trăng được Yensu Hai và Chao Tu Lun đã tổng kết: mặt trăng là thực thể của âm; nước cũng thuộc âm; mặt trời là thực thể của dương, nhờ một lực hấp dẫn tương tác theo nhịp,
y học xưa đã giải thích tại sao nước thủy triều ở mức cao nhất lúc mới có trăng và lúc trăng tròn, nước thủy triều ở mức thấp dần khi trăng khuyết dần hoặc tròn dần và thấp nhất ở đầu và cuối quí, từ đó giải thích thủy triều có nước lớn và có nước nhỏ Giải thích sự thay đổi của mặt trăng với chu kỳ của kinh nguyệt, với sự có thai và một số bệnh tật
Nhịp cơ thể hàng ngày được biết rõ như một chu kỳ ngày một lần (đồng hồ sinh học của cơ thể) Nhịp thịnh suy của các dòng năng lượng âm và dương; dòng năng lượng dương là hoạt động nhất vào buổi sáng và đạt mức tối đa vào buổi trưa, sau
đó chuyển chậm sang âm và đạt mức tối đa vào nửa đêm rồi lại đảo ngược dần về dương và buổi sáng Chu kỳ 24 giờ của năng lượng (YHCT gọi là khí - vital energy) với đỉnh năng lượng ở tạng phế (giữa 3 - 5 giờ sáng gọi là giờ dần) và được tiến dần qua 12 chính kinh (Meridian) theo thứ tự đều đặn như thế và được lặp lại ở chu kỳ sau
+ Bảng khai huyệt thời gian khí thịnh theo địa chi
+ Bảng chọn huyệt theo ngũ hành
Chương II
NGŨ VẬN LỤC KHÍ VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC
ĐẠI CƯƠNG HỌC THUYẾT VẬN KHÍ VÀ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC
1 Khái niệm học thuyết vận khí
+ Ngũ lục vận khí được gọi tắt là vận khí, đây là một trong những học thuyết quan trọng của YHCT phương Đông Học thuyết vận khí, giải thích sự biến hóa khí hậu thiên thời của giới tự nhiên Người xưa cho rằng: mọi sự biến hóa của khí hậu thiên thời đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến vạn vật trong vũ trụ, đặc biệt là con người Trên quan điểm chỉnh thể của YHCT, học thuyết vận khí lấy học thuyết âm dương ngũ hành làm trung tâm “thiên nhân tương ứng”; "nhân thân chi tiểu thiên địa” Con người là vũ trụ thu nhỏ… mọi sự biến đổi phức tạp của vũ trụ đều có thể xảy ra những biến đổi trong cơ thể con người
- Ngũ vận là thủy, kim, thổ, mộc, hoả (ngũ hành) phối hợp với thiên can trong quá trình vận động để suy đoán tuế vận của mỗi năm
Trang 16- Lục khí là phong, nhiệt, hoả, thấp, táo, hàn phối hợp với địa chi để suy đoán tuế khí của mỗi năm (tính chất của khí hậu từng năm phụ thuộc vào khí của năm đó)
- Vận khí là kết hợp cả hai “ngũ vận” và “lục khí” Học thuyết vận khí được vận dụng làm sáng tỏ mọi sự liên quan, ảnh hưởng qua lại trong giới tự nhiên cũng như trong cơ thể con người
- Học thuyết vận khí được vận dụng vào y học: người xưa cho rằng: con người luôn có sự quan hệ rất mật thiết với giới tự nhiên, mọi sự sinh hoạt của con người nhất thiết phải thích ứng với mọi biến hóa của giới tự nhiên, vì vậy các nhà y học xưa thường lấy con người so sánh đối chiếu với giới tự nhiên để suy đoán
- Nội dung học thuyết vận khí: gồm ba vấn đề lớn luôn chuyển dịch và biến đổi: thiên (trời), địa (đất), nhân (con người)
- Mục đích: nghiên cứu học thuyết vận khí (trên phương diện y học) là nắm chắc quy luật biến hóa của thời khí (khí hậu thiên thời) để suy đoán, dự đoán nguyên nhân sinh bệnh của ngoại cảm (tà khí lục dâm) Vì vậy, lấy biến hóa khí hậu của các tiết quý trong mỗi năm để suy đoán việc phát sinh bệnh tật trong năm đó, để tham khảo trong chẩn đoán và điều trị các bệnh trên lâm sàng
+ Khi nghiên cứu học thuyết vận khí cần phải nắm vững hai vấn đề:
- Nắm chắc học thuyết âm dương ngũ hành, nó là trung tâm mà chủ yếu là quan hệ ngũ hành sinh khắc
- Nắm vững tên gọi ngũ hành can chi để vận dụng
Can chi là gọi tắt của thiên can và địa chi Thiên can có 10 (gọi là thập can) là: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí Địa chi có 12 (gọi là thập nhị chi) là: tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi Can chi trong ngũ vận lục khí đều sử dụng tên đại diện để suy đoán
+ Thuộc tính âm dương của thiên can: thiên can và địa chi đều có thuộc tính
âm dương khác nhau Giữa can và chi thì can thuộc trời (thuộc dương), chi thuộc đất (thuộc âm), chi dương khác nhau Theo tuần tự số lẻ là dương, số chẵn là âm (dương
là thái quá, âm là bất cập), ta có:
- Dương can: (1) Giáp (3) Bính (5) Mậu (7) Canh (9) Nhâm
- Âm can: (2) Ất (4) Đinh (6) Kỷ (8) Tân (10) Quý
- Dương chi: (1) Tý (3) Dần (5) Thìn (7) Ngọ (9) Tân (11) Tuất
- Âm chi: (2) Sửu (4) Mão (6) Tỵ (8) Mùi (10) Dậu (12) Hợi
2 Nội dung học thuyết vận khí
Ngũ vận - lục khí - can chi - ngũ hành
+ Thiên can phối hợp với ngũ vận
Đại vận: 1- Giáp 2 - Ất 3 - Bính 4 - Đinh 5 - Mậu
6 - Kỷ 7 - Canh 8 - Tân 9 - Nhâm 10 - Quý
Trang 17Thổ Kim Thủy Mộc Hỏa
Trang 182.1 Địa chi phối hợp với ngũ hành:
Tuế hội:
3 - Dần 6 - Tỵ 9 - Thân 12 - Hợi 5 - Thìn 2 - Sửu
4 - Mão 7 - Ngọ 10 - Dậu 1 - Tý 11 - Tuất 8 - Mùi
Mộc Hỏa Kim Thủy Thổ Thổ
2.2 Địa chi phối hợp với tam âm, tam dương và lục khí, khách khí:
1 - Tý 2 - Sửu 3 - Dần 4 - Mão 5 - Thìn 6 - Tỵ
7 - Ngọ 8 - Mùi 9 - Thân 10 - Dậu 11 - Tuất 12 – Hợi
Thiếu Thái Thiếu Dương Thái Quyết
Âm Âm Dương Minh Dương Âm
Quân Thấp Tương Táo Hàn Phong Hỏa Thổ Hỏa Kim Thủy Mộc
3 ứng dụng ba phương thức trên
+ Ứng dụng khi suy đoán đại vận, đại vận chủ soái của một năm dùng để giải thích
sự biến đổi khí hậu của cả năm và là cơ sở để suy đoán khách vận
- Ứng dụng để suy đoán tuế hội (trong 60 năm có 8 tuế hội)
- Ứng dụng khi suy đoán khách khí
- Phương pháp suy đoán được ứng dụng cụ thể: theo y văn YHCT Trung Quốc (Mã Thiệu Nhi, 1959) phương pháp ghi năm dựa theo can chi kết hợp có vào khoảng thế kỷ thứ 2 - 3 sau Công Nguyên, trước Đông Hán chỉ được dùng để ghi ngày còn sau thời Vua Quang Vũ mới được dùng để ghi ngày, tháng, năm Phương pháp này hiện nay trong âm lịch vẫn còn dùng
(1) Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý (2) Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu
Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi
(1): thiên can (2): địa chi Tên mỗi năm đều có cấu tạo một thiên can, một địa chi kết hợp
Ví dụ: giáp tý (giáp là thiên can, tý là địa chi)
Trang 19Ất sửu: (ất là thiên can, sửu là địa chi)
Ngoài ra phương pháp này còn được áp dụng cho ngày, tháng, giờ
+ Chuyển dịch của ngũ vận: di chuyển, vận động không ngừng (không dừng lại), ngũ vận được chia ra thành: đại vận, chủ vận, khách vận
- Đại vận: chủ về biến hóa khí hậu của cả năm Theo thiên can chúng ta có:
• Giáp, kỷ đại vận là thổ vận
• Ất, canh đại vận là kim vận
• Bính, tân đại vận là thủy vận
• Đinh, nhâm đại vận là mộc vận
• Mậu, quý đại vận là hỏa vận
Mỗi vận chủ suốt cả năm, chu kỳ của nó là 5 năm Theo ngũ hành tương sinh thì trong 30 năm mỗi kỷ, mỗi vận chủ 6 năm, trong 60 năm mỗi vận chủ 12 năm (theo ngũ hành, cứ mỗi hành trong một vòng giáp tý (60) năm có 12 năm chủ về biến hóa khí hậu của cả năm) Đại vận của cả năm có thái quá và có bất cập
Quy luật chung: năm dương thái quá khí của năm ấy lưu hành Năm âm bất cập thì khí tương khắc, khí của năm ấy lưu hành
- Chủ vận là chỉ sự biến đổi bình thường của các vận quý (một năm có 5 giai đoạn) trong một năm Suy đoán chủ vận bắt đầu từ ngày đại hàn, mỗi vận quý chiếm khoảng 73 ngày lẻ 5 khắc
Theo ngũ hành tương sinh: Mộc thuộc sơ vận
Hỏa thuộc nhị vận
Thổ thuộc tam vận
Kim thuộc tứ vận
Thủy thuộc cuối vận
Khí hậu bình thường của chủ vận lấy thuộc tính ngũ hành của lục khí
Sơ vận: mộc khí chủ phong, nhị vận hỏa, khí chủ thử nhiệt, tam vận hỏa, khí chủ thấp, tứ vận kim, khí chủ táo, cuối vận thủy, khí chủ hàn (khí hậu ở các giai đoạn của mỗi năm là giống nhau)
- Khách vận: chỉ sự biến đổi khí hậu khác thường trong 5 vận quý của mỗi năm Suy đoán khách vận dựa theo năm thiên can đại vận là sơ vận, khách vận kết hợp với 5 tiết qúy và 5 bước suy đoán
Trang 20Sơ vận Nhị vận Tam vận Tứ vận Cuối vận
- Chủ khí là khí chủ thời dùng để chỉ rõ quy luật khí hậu bình thường trong mỗi năm, có ý nghĩa giống như vận chủ tứ thời Lục khí chủ thời cố định hay biến đổi được gọi là chủ khí
Phương pháp suy đoán chủ khí: chủ khí chủ thời được chia làm sáu giai đoạn Sáu giai đoạn này lại được chia làm 24 tiết tự Bắt đầu từ ngày đại hàn thuộc sơ vận (quyết âm phong mộc) qua bốn tiết khí chuyển dịch một bước Thứ tự của nó từ sơ khí đến cuối khí Liên quan 6 giai đoạn, 6 khí và 24 tiết khí:
Thiếu Dương Tướng - Hỏa
Thái - Âm Thấp - Thổ
Dương minh Táo - Kim
Thái - Dương Hàn - Thủy Tiết
tự Đại - Hàn Lập - Xuân
Vũ - Thủy
Kinh - Trập
Xuân - Phân Cốc - Vũ Thanh Minh Lập - Hạ
Tiểu - Mãn
Hạ - Chí Mạng Chửng Tiểu - Thử
Đại - Thử
Sử - Thử Lập - Thu Bạch - Lộ
Thu - Phân Sương Giáng Hàn - Lộ Lập - Đông
Tiểu - Tuyết Đông - Chí Đại - Tuyết Tiểu - Hãn
Chủ khí nói rõ biến hóa khí hậu bình thường trong một năm, mỗi khí chủ 60 ngày và 78 khắc rưỡi, tuy nhiên cũng như ý nghĩa chủ vận tứ thời, nhưng trong thời gian chủ khí có khác nhau
Trang 21Ví dụ: khí hậu bốn mùa nói chung: xuân ôn (phong), hạ nhiệt (hỏa), thu lương (táo), đông hàn và hạ trưởng chủ thấp (bảng trên là lục khí: phong, thử, thấp, hỏa, táo, hàn chia ra 6 bước là chuyển dịch cụ thể)
+ Khách khí: khách khí để giải thích khí hậu biến hóa khác thường hàng năm
có thay đổi, khác với chủ khí cố định “Khách ở lại là không bình thường” vì (khách
là đi qua) nên gọi là khách khí
Phương pháp suy đoán khách khí: khách khí chuyển dịch là do khí âm dương nhiều hay ít và thứ tự chuyển dịch là: quyết âm (âm), thiếu âm (âm), thái âm (âm), thiếu dương (dương), dương minh (dương), thái dương (dương)
Mỗi năm có một khí chủ lĩnh, từng năm chuyển dịch tuần hoàn không ngừng
đó là khách khí chủ quán một năm
Những năm khách khí chủ lĩnh suy đoán thế nào ?
Khí tự thiên theo địa chi làm cơ sở Năm Tý Ngọ trên thấy thiếu âm, năm Sửu Mùi trên thấy thái âm, năm Dần Thân thấy thiếu dương, năm Mão Dậu thấy dương minh, năm Thìn Tuất thấy thái dương, năm Tý Hợi thấy quyết âm Địa chi mỗi năm phàm là trùng Tý Ngọ không chuyển đến thiên can Tý và Ngọ khách khí đều thuộc thiếu âm tư thiên Sửu và Mùi khách khí đều thuộc thái âm tư thiên…
Mỗi tuần hoàn 6 năm 6 khí, mỗi tuần hoàn của địa chi là 12 năm (6 âm chi và
6 dương chi) Trong 60 năm chuyển dịch 5 vòng, lục khí tuần hoàn 10 vòng
Quy luật năm chi với tư thiên tại uyển
Tý ngọ Thiếu âm - Quân hỏa Dương minh - Táo kim
Sửu mùi Thái âm - Thấp thổ Thái dương - Hàn thủy
Dần thân Thiếu dương - Tướng hỏa Quyết âm - Phong mộc
Mão dậu Dương minh - Táo kim Thiếu âm - Quân hỏa
Thìn tuất Thái dương - Hàn thủy Thái âm - Thấp thổ
Tỵ hợi Quyết âm - Phong mộc Thiếu dương - Tướng hỏa
Vị trí của 6 giai đoạn khách khí
4 Thiên văn can chi và tạng phủ (heavanly stems, terrestrial pranches and
zangfu)
4.1 Ngũ vận lục khí phối hợp:
Từng năm có khí hỏa, ngũ chủ vận, ngũ khách vận lại thêm tư thiên tại tuyền lục khí chủ khí, lục khí khách khí, bảy loại hội tụ cùng một thời gian Trong đó khách khí khắc trở thành tà khí (nếu như khách khí là mộc tức tỳ cũng sinh bệnh) Tạng bị khắc sẽ bị bệnh, ngoài ra đều suy đoán như trên
Trang 22+ Tuế (năm) vận có tư thiên tương hợp là thiên phù Ví dụ: tuế vận mộc lại gặp quyết âm phong mộc, tư thiên tuế vận hỏa lại gặp thiếu dương tướng hỏa tư thiên đều là thiên phù Vì vậy, trong khi bệnh lý diễn biến nguy hiểm và nhanh Tuế vận có năm khí tương hợp là tuế hội nếu như Mộc vận trùng với năm chỉ Dần Mão Hoả vận trùng với năm Tỵ, Ngọ, bình khí vận chủ cả năm Vì vậy trong diễn biến của nó cũng từ từ và lâu dài Tuế vận gặp tư thiên và năm chi “tam hội” hợp, nếu như tuế hỏa vận gặp thiếu âm quân hỏa tư thiên lại gặp phải năm chi là ngọ, tức là năm mậu ngọ, tuế thổ vận gặp thái âm thấp thổ, tư thiên lại gặp năm chi là sửu mùi cũng là năm kỷ sửu, kỷ mùi nếu như năm kim gặp vận dương minh táo kim tư thiên lại gặp năm chi là dậu cũng tức là năm ất dậu vẫn là thiên phù tuế hội mà còn là thái
ất thiên phù còn là quý thân thiên thắng, chi đắc
+ Trong khi bệnh tà thiên thắng, bệnh rầm rộ có nguy cơ tử vong còn phải chiếu theo ngày cụ thể mà xét tà khí của năm đó
4.2 Thiên văn - can - chi và tạng phủ:
+ Tại sao giáp kỷ hoá thổ ?
Thiên văn ngày nay cho rằng: giáp kỷ hóa thổ là do lực tương hỗ (lực điện trường trong vũ trụ), khi mặt trời (định tinh trên thiên không) chiếu vào sao thổ, ánh sáng khúc xạ lên nền trời xuất hiện quang phổ màu kiềm, cố nhân gọi là “kiềm thiên kiến vận”
Năm mậu quý hóa hỏa khi mặt trời chiếu vào sao hỏa, khúc xạ có quang phổ
mà đỏ, cổ nhân gọi là “đan thiên kiến vận” mậu quý hóa hỏa
+ Khi mặt trời chiếu vào sao thủy thì cổ nhân gọi là: "huyền thiên kiến vận Bính tân hóa thủy”
+ Khi mặt trời chiếu vào sao mộc, quang phổ mầu xanh cổ nhân gọi: “thanh thiên kiến vận Đinh nhâm hóa mộc”
- Khi mặt trời chiếu vào sao kim, cổ nhân gọi: “bạch thiên kiến vận, ất canh hóa kim”
Trong đó có âm can và dương can (dương can thuộc số lẻ thường thái quá,
âm can thuộc số chẵn thường bất cập)
4.3 Địa chi từng năm liên quan đến tạng phủ kinh lạc:
Như đã nói trên (mục địa chi phối hợp lục khí) ta có:
Tý ngọ → thuộc thiếu âm quân hỏa
Sửu Mùi Thìn Tuất → thuộc thái âm thấp thổ
Dần Thân → thuộc thuộc thiếu dương tướng hỏa
Mão Dậu → thuộc dương minh táo kim
Tỵ Hợi → thuộc quyết âm phong mộc
Chủ khí là đại biểu ngũ tạng
Khách khí là đại biểu lục kinh (tam âm tam dương)
Trang 23Khách khí khi thì hoạt động trên vũ trụ (thuộc tứ thiên), khi thì vận động trong khí quyển và sâu trong lòng đất gọi là tại tuyền (tuyến đài)
+ Những năm đó, khắc khách khí thường gia lâm vào chủ khí tác động chủ vận và chủ khí
+ Vận khí khác hành khác loại ít bệnh tật Vận khí cùng hành cùng loại tai hại vô cùng
+ Năm vận hỏa khí tư thiên hỏa gọi là thiên phù Hỏa cộng hỏa thời tiết nóng gấp đôi trạng thái thiên thắng và nhiệt, rêu lưỡi hình lưỡi chất biểu hiện nhiệt
+ Năm vận hỏa năm chi cùng là hỏa (Tý Ngọ) gọi là tuế hội thời tiết nắng nóng bệnh tật cứ nâng cao, hình thể lưỡi ráng đỏ rêu vàng, trạng thái thiên nhiệt, thực nhiệt
+ Năm vận hỏa tư thiên hỏa, năm chi hỏa gọi là thái ất thiên phù Tử vong rất cao, hình lưỡi cực nhiệt
+ Năm vận hỏa tư địa (tại tuyền) hỏa gọi là đồng thiên phù Năm vận hỏa năm chi của khí tư thiên là hoả đồng tuế
4.4 Thiên văn được vận dụng trong y học:
+ Một đêm ngày: quả đất tự quay quanh trục của mình một vòng
+ Một tháng: mặt trăng quay quanh quả đất một vòng theo hình số 8 (bát quái)
+ Một năm: quả đất quay xung quanh mặt trời một vòng 10 thiên can (gốc trời), 12 địa chi (cành đất)
- Thiên can liên quan đến tạng phủ:
Giáp (1) Dương mộc → Đởm Kỷ (6) Âm thổ → Tỳ
Ất (2) Âm mộc → Can Canh (7) Dương kim → Đại trường
Bính (3) Dương hỏa → Tiểu trường Tân (8) Âm kim → Phế
Đinh (4) Âm hỏa → Tâm Nhâm (9) Dương thủy→ Bàng quang Mậu (5) Dương thổ → Vị Quý (10) Âm thủy → Thận
- Địa chi liên quan đến ngũ hành (đã giải thích rõ ở phần trên):
Địa chỉ:
Tý Hợi (Â - D) Thủy Thìn Tuất (D) Thổ
Dần Mão (D - Â) Mộc Sửu Mùi (A) Thổ
Tý Ngọ (Â - D) Hỏa Thân Dậu (D – A) Kim
5 Cơ chế sinh bệnh theo ngũ vận lục khí liên quan đến trạng thái thiên thắng
+ Chủ yếu là khí hậu khắc cơ quan và tạng phủ
+ Tùy theo bản tạng thiên thắng mà phát ra bệnh khác nhau liên quan đến kinh mạch lạc mạch
Trang 24+ Do thuộc tính khác nhau của nguyên nhân gây bệnh, vì yếu tố thể chất khác nhau của mỗi người mà có sự khác nhau về chứng trạng và cơ quan phát bệnh Việc phát bệnh phụ thuộc vào biến hóa khí hậu “ngũ vận lục khí” Ngũ vận thái quá hay bất cập Lục khí tư thiên hay tại tuyền mà dẫn đến bệnh tật khác nhau
Ví dụ: năm Đinh Nhâm tức thuộc vận mộc, Đinh là vận mộc bất cập thì nhâm
là vận mộc thái quá, mộc bất cập tức là táo khí lưu hành Mộc thái quá tức là phong khí lưu hành
Khi táo khí lưu hành: phát sinh kỳ bệnh, da xanh, đau sườn, đau bụng dưới,
dễ đi lỏng, bệnh hàn nhiệt khái thấu Trong đó xuất hiện triệu chứng của ba tạng: tỳ, can, phế tất nhiên trong trạng thái thiên thắng sẽ có biểu hiện ở lưỡi về rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể ở vùng giữa lưỡi, hai bên rìa lưỡi và 1/3 trước lưỡi, các chỉ tiêu lượng hóa pH, nhiệt độ lưỡi, soi mao mạch lưỡi (thiệt chẩn) sẽ bị chi phối nhất là trên cơ thể bình thường mà có trạng thái thiên thắng trùng với sự biến đổi của khí hậu và ngũ vận lục khí
Nếu như năm mộc thái quá phong khí lưu hành kỳ bệnh, ăn uống kém, không ngon miệng, gầy gò, mệt mỏi, thường đau ngực sườn, hay giận dữ, bụng trướng đầy, các triệu chứng tập trung vào tỳ, vị, can trạng thái thiên thắng sẽ biểu hiện bằng biến đổi rêu lưỡi, chất lưỡi và hình thể lưỡi theo sự phân vùng của tạng phủ trên lưỡi, cụ thể là giữa lưỡi và hai bên rìa lưỡi
Năm Tý Ngọ (địa chi) tại tuyền là thiếu âm quân hoả Tư thiên dương minh táo kim tại tuyền khí tư thiên chủ nửa năm đầu, khí tại tuyền chủ nửa năm sau, việc phát bệnh trong năm cũng khác nhau
Thiếu âm quân hỏa tư thiên nhiệt (dâm) thiên thắng lại gặp trạng thái thiên thắng về nhiệt lại càng nhiệt thái quá Kỳ bệnh: trong ngực tức nóng, họng khô, hồi hộp, sườn phải đầy đau, hàn nhiệt, khái nhiệt khái thấu, nôn máu, ỉa máu, đái máu Bệnh biểu hiện chủ yếu tâm, phế, can, các hình thể lưỡi ở trạng thái thiên thắng biểu hiện biến đổi nhiều ở đầu lưỡi và hai bên rìa lưỡi Nếu dương minh tại tuyền táo (dâm) thiên thắng, kỳ bệnh hay nôn, miệng đắng, tâm, sườn, ngực đau, bệnh biểu hiện phế và can, biểu hiện hình thể lưỡi và các chỉ tiêu lượng hóa trong các trạng thái thiên thắng sẽ thay đổi
6 Vận dụng trong dự phòng và điều trị
+ Biện pháp không dùng thuốc:
- Châm cứu theo cấu trúc thời gian (Tý Ngọ lưu trữ và lĩnh quy bát pháp hay linh quy phi đăng)
- Bấm huyệt, chích nhể theo cấu trúc thời gian
- Khí công xoa bóp trong dưỡng sinh phòng bệnh
+ Dùng thuốc:
- Thu hái thuốc uống thuốc theo cấu trúc thời gian (thời dược học)
- Dựa vào liên quan chặt chẽ giữa biến đổi khí hậu (học thuyết vận khí) với việc phát sinh phát triển và các trạng thái thiên thắng ở người khỏe, có lợi cho biện chứng dự phòng và điều trị lâm sàng Cụ thể là việc lập ra các phương thuốc chính xác
Trang 25Ví dụ: khí phong thiên thắng thì dùng thuốc tân lương để phát tán trừ phong, khi hỏa nhiệt thiên thắng thì dùng thuốc tả hỏa, khi thấp thiên thắng thì dùng thuốc thông hạ nhuận táo Hàn thiên thắng dùng thuốc ôn nhiệt táo hàn Vì vậy cần phải dựa vào yếu tố bản tạng trạng thái thiên thắng ở người khoẻ bình thường cũng như mắc bệnh để có hướng dự phòng và điều trị bằng cách sử dụng phương dược để thay đổi bản tạng của người bệnh
+ Nguyên nhân của sự thiên thắng:
Chúng tôi cho rằng: nguyên do của sự thiên thắng không phải chỉ là “tiên thiên bất túc” Nếu người ta sinh ra bẩm thụ đã không đầy đủ, đã có dị tật bẩm sinh hoặc ăn uống không đầy đủ, ngũ tạng thiếu nguồn ngũ cốc, công năng để hóa sinh thì cơ thể không phát triển bình thường được Vì vậy trạng thái thiên thắng ở người khoẻ mạnh bình thường trước hết là do hậu thiên: quá trình lao động đấu tranh với thiên tai hoả hoạn, động đất, sóng thần, lũ lụt… căng thẳng, lại ăn uống không điều hoà, nhất là việc kết hợp luyện tập với nghỉ ngơi không điều độ, làm rối loạn trạng thái cân bằng giữa khí huyết âm - dương
Trong “sinh khí thông thiên luận sách Tố Vân” viết “ âm bình dương bế, tinh thần nại trị” tránh thái qúa, bất cập Trong hoàn cảnh hiện nay và trong đấu tranh với bệnh tật, trạng thái thiên thắng là thực tế nhưng chúng ta có thể tiên đoán, điều chỉnh
Trong lao động sản xuất, con người thường cảm phải tà khí lục dâm của bốn mùa, nhưng tà khí lúc đầu còn yếu chưa đủ để gây bệnh mà tiềm phục ở trong cơ thể, qua một thời gian nhất định khi xuất hiện trạng thái thiên thắng (chính khí - sức
đề kháng của cơ thể suy giảm) mới phát bệnh, đó cũng là nguyên nhân có trạng thái thiên thắng ở người bình thường, điểm này cũng phải bàn thêm, trạng thái thiên thắng hay phục tà (phục khí) không phải là thời kỳ nung bệnh của các bệnh truyền nhiễm (theo quan điểm của YHHĐ); vì trong các bệnh truyền nhiễm của YHHĐ, y học dân tộc đã mô tả đầy đủ trong “ôn bệnh”, “lệ dịch”, “thương hàn luận” Các y gia tiền bối của YHCT không xếp vào mục này
- Trạng thái thiên thắng hậu thiên phụ thuộc vào yếu tố nội nhân
Nguyên nhân bên trong theo YHCT là “thất tình” những tâm lý tình cảm cá thể: vui mừng, giận dữ, buồn phiền, sợ hãi, yêu ghét, ham muốn (hỷ, nộ, bi, ưu ái, ố dục) luôn bị chi phối bởi quá trình vận động chuyển hóa không ngừng của vận khí,
tứ thời, bão gió, sóng thần, động đất, sấm chớp, hạn hán, lũ lụt Ngoài ra còn liên chặt chẽ đến yếu tố căng thẳng: hoàn cảnh kinh tế, chế độ chính trị xã hội tác động
Trang 26trực tiếp đến tình khí (thất tình) làm rối loạn công năng của tạng phủ Công năng của tạng phủ không được điều hoà ảnh hưởng đến vận hóa, chuyển hóa chính khí (sức
đề kháng của cơ thể giảm sút) Đó cũng là lý do làm tăng thêm tính phổ biến của trạng thái thiên thắng ở người khoẻ mạnh bình thường (trung y khái luận Nam kinh 1959), trang 320 - 351) Hải Thượng Lãn Ông y gia quan niệm, trang 1 - 50) Học thuyết tâm thuận trong YHCT (Hoàng Tuấn, 1993)
- Trạng thái thiên thắng biến đổi tùy thuộc vào thời tiết bốn mùa
Như trên đã nói quy luật phát sinh, phát triển của con người tuân theo quy luật của tứ thời: sinh - trưởng - hóa - thu - tàng
- Trong một ngày buổi sáng (tảo thần) công năng cơ thể bắt đầu thịnh vượng giống như sinh khí mùa xuân Trạng thái thiên thắng trong người khoẻ bình thường cũng như bệnh lý đều giảm, người ốm sẽ thấy khoẻ hơn
- Khi giữa trưa (chính Ngọ) công năng cơ thể thịnh vượng nhất giống như sinh khí của mùa hè, tà khí bị ức chế không có cơ may để gây bệnh
- Khi chiều tà (hoàng hôn) công năng cơ thể giống như thiện khí mùa thu, thời hậu đến lúc thu dâm khí bệnh bắt đầu hoạt động, dễ cảm ngoại tà, bệnh tích lại nặng lên
Đến nửa đêm (giờ Tý), công năng cơ thể ở trong trạng thái nghỉ ngơi, giống như khí mùa đông chủ bế tàng chỉ có tà khí hoành hành trong cơ thể, bệnh tật hay nặng lên và biến chứng
Tất cả các giai đoạn trên đều ảnh hưởng đến trạng thái thiên thắng trong thiệt chẩn
Trạng thái thiên thắng chẩn ở người khoẻ mạnh bình thường chưa mắc bệnh cũng liên quan đến quy luật và đặc điểm của tứ thời Vì vậy, khi khám lưỡi phải khám vào giờ thống nhất trong ngày và trong mùa với tất cả các đối tượng nghiên cứu
(Trung y học khái luận Nam Kinh, 1958, tân biên trong y học khái luận Bắc kinh 1974, bài giảng Đông y tập I)
7 Biểu hiện bệnh lý lâm sàng của trạng thái thiên thắng và ý nghĩa 7.1 Biểu hiện bệnh lý lâm sàng:
+ Trạng thái thiên về hàn: khi gặp phong hàn hay đau bụng, nôn ra nước trong, tay chân giá lạnh, ỉa chảy, huyết áp thường xuyên thấp, hay đau khớp, đau dây thần kinh khi bị lạnh
+ Trạng thái thiên về thấp: hay rối loạn tiêu hoá, rối loạn chức năng dạ dày, đại tràng do tỳ vị bị ảnh hưởng (tỳ không ưa thấp) đặc biệt hay mắc bệnh ngoài da (thấp chẩn) eczema, tổ đỉa, vảy nến…
+ Trạng thái thiên về thấp: “nhiệt uất lâu ngày hóa hỏa, hỏa động sinh phong”, (phong hành thủy phiếm, thủy phiếm vi đàm “Hải Thượng Lãn Ông”) tức là hay mắc bệnh nhiệt độc, dị ứng, mụn nhọt, dễ nhiễm trùng, nhiễm độc, dễ mắc bệnh tiêu khát (đái tháo đường), thoát cốt thư, viêm tắc động mạch chi, thấp khớp cấp, thấp tim, viêm cầu thận cấp, trúng phong (tai biến mạch máu não) do cao huyết áp, rối loạn nội tiết, ý bệnh (tâm thần)
Trang 27+ Trạng thái thiên thắng về thấp nhiệt: hay mắc các bệnh lâm chứng; viêm sỏi đường tiết niệu, viêm phần phụ (tử cung, buồng trứng), viêm niệu đạo bàng quang, viêm gan siêu vi trùng, sỏi đường mật và viêm đường mật, rối loạn chức năng đại tràng, lỵ, ngược tật (sốt rét), rối loạn chức năng thần kinh tim
+ Trạng thái về thiên hàn thấp: hay có hiện tượng sợ lạnh, rối loạn chức năng thần kinh tim, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn vận động đường mật, rối loạn chức năng các thể
Trang 287.2 Ý nghĩa của trạng thái thiên thắng ở người khoẻ bình thường:
+ Phát hiện khả năng dễ mắc bệnh (yếu tố bản tạng) ở người khoẻ bình thường thông qua khám và chẩn đoán lưỡi, rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể lưỡi và một
số chỉ tiêu vi sinh học như pH niêm dịch mặt lưỡi và nhiệt độ dưới lưỡi
+ Góp phần cho quân - dân y các tuyến cơ sở: áp dụng thiệt chẩn cùng với những phát hiện khác, trong dịp kiểm tra sức khoẻ định kỳ hàng năm, nắm chắc quân số của đơn vị Chú trọng các đối tượng có trạng thái thiên thắng chủ yếu là hàn
và thấp nhiệt để có hướng dự phòng cho các cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị
+ Dựa trên các tiêu chuẩn về hình thể lưỡi và các chỉ tiêu sinh học sẽ chẩn đoán hàn, nhiệt để quyết định sử dụng thuốc tránh sai lầm trong nguyên tắc: “hàn gặp hàn tắc tử”, “nhiệt gặp nhiệt tắc cuồng” làm cho bệnh nặng thêm
+ Với các tuyến trung ương có những căn cứ để tham khảo trong việc chẩn đoán tính chất bệnh, quan trọng là hàn hay nhiệt Trong khi vận dụng các phương thức, phương huyệt thông thường để điều trị còn phải chú trọng dùng thuốc làm thay trạng thái thiên thắng, yếu tố bản tạng của người bệnh Đặc biệt là phát huy cao nhất khả năng của các thuốc có tác động đến thể chất (cơ địa) người bệnh :
- Thuốc dưỡng âm sinh tân kết hợp thẩm thấp lợi niệu
- Thuốc thu liễm cố sáp với thuốc nhuận táo hoạt trưởng
- Thuốc bổ âm, dưỡng âm thu liễm cộng thuốc tả hạ lợi niệu thông lâm
- Thuốc sáp trường chỉ tả, dưỡng âm kết hợp với phát tán, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong điều trị
- Thuốc thanh trừ nhiệt độc thấp nhiệt, huyết nhiệt với thuốc bổ âm tiếp dương, dẫn hỏa quy nguyên
CHỨC NĂNG TẠNG PHỦ (HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG)
1 Mở đầu
Học thuyết tạng phủ là bộ phận chủ yếu tạo thành lý luận cơ bản của YHCT Đây là lý một học thuyết xuất phát từ quan điểm chỉnh thể, mọi hoạt động sinh lý, bệnh lý của cơ thể đều do lục phủ ngũ tạng thông qua hệ thống kinh lạc chi phối; mọi tổ chức cơ quan liên kết thành một thể thống nhất, chỉnh thể và có quan hệ hữu
cơ với nhau không thể tách rời
+ Về mặt sinh lý giữa tạng phủ song song tồn tại và hỗ tương chế ước lẫn nhau Khi bệnh lý tức là quan hệ hỗ tương, chế ước đã bị thay đổi
- Tạng là chỉ ngũ tạng: tâm - can - tỳ - phế - thận
- Phủ là chỉ lục phủ: đởm - vị - đại trường - tiểu trường - bàng quang - tam tiêu + Quan niệm về chức năng ngũ tạng, lục phủ của YHCT có mặt cơ bản gần giống Tây y Có tạng khác nhau rất lớn, có những phủ đến nay trong YHHĐ chưa có
cơ quan tương ứng (tam tiêu) Vì vậy, ta không thể đơn giản gán ghép các cơ quan của YHHĐ vào các tạng phủ của y học xưa Học thuyết tạng phủ là lý luận về chức
Trang 29năng hệ thống tạng phủ ngày càng được phát triển và nâng cao trên cơ sở lâu dài của thực tiễn lâm sàng Nó có ý nghĩa chỉ đạo rất quan trọng trong việc chẩn trị của YHCT, tuy nhiên trong đó có một số vấn đề thuộc bản chất đang còn chưa rõ, cần được chỉnh lý và nâng cao thêm
2 Sinh lý và bệnh lý chủ yếu của tạng phủ
Con người là một chỉnh thể, giữa ngũ tạng và lục phủ luôn tồn tại trong mối quan hệ phức tạp, có sự phân công nhưng lại có sự tương hỗ phối hợp
Tóm lại, tạng và phủ có đặc điểm khác nhau là:
+ Ngũ tạng có chức năng tàng trữ tinh khí
+ Lục phủ có chức năng truyền đạt tinh thô, phân biệt thanh trọc, nhào chế thủy cốc Ngoài ra còn có não, tủy, xương, mạch, đởm, tử cung, chức năng của nó
có sự giống, có mặt khác tạng phủ nên được gọi là phủ kỳ hàng
2.1 Tâm và tiểu trường:
+ Chủ thần chí:
Tâm chủ hoạt động tư duy, ý thức, tinh thần tương đương với hoạt động thần kinh cao cấp Nếu như chủ thần chí bình thường con người thường tinh thông nhanh nhẹn, thậm chí thông minh sáng suốt Khi bệnh lý thường có triệu chứng tâm lý: kinh hoảng, hay quên, mất ngủ, nói cười quá mức hoặc nặng thì phát phiền, loạn ngôn, hôn mê
+ Chủ huyết mạch:
Tâm gắn liền với mạch, sở dĩ máu tuần hoàn được trong mạch máu là nhờ có
sự hoạt động của tâm Khi tâm khí hư nhược thì mạch tế nhược vô lực, khí đến không đều, mạch không đầy đủ (có hình mạch, súc, kết đại) Tâm chủ về sắc mặt nhuận trạch sáng tươi và khai khiếu ra lưỡi, sự phân bố huyết mạch ở lưỡi và mặt đều phong phú Khi bình thường, sắc mặt nhuận trạch hồng, nhuận sáng tươi, sắc lưỡi hồng nhạt Nếu tâm khí bất túc, tuần hoàn không đầy đủ, sắc mặt trắng bạch hoặc xanh tía không tươi nhuận, sắc lưỡi tím xám; còn tâm hỏa quá vượng, đầu lưỡi hồng đỏ, miệng lưỡi sinh mụn nhọt hoặc lở loét
Khi đàm mê tâm khiếu, thấy lưỡi cứng không nói được, người xưa cho rằng
“thiệt vi tâm chi miêu” lưỡi là nơi khai khiếu của tâm
+ Tâm quan hệ với mồ hôi:
Tâm và mồ hôi có quan hệ mật thiết, cổ nhân cho rằng “hãn vi tân dịch” người bệnh dùng thuốc phát hãn quá độ hoặc do nguyên nhân khác dẫn đến ra mồ hôi quá nhiều làm tổn hại tâm dương, thậm chí xuất hiện chứng nguy kịch “đại hãn vong dương”
+ Phụ:
Tâm bào còn gọi là tâm bào lạc, là ngoại vệ của tâm Do tâm là tạng quan trọng, tâm chủ chi quan Nếu “tâm suy thập nhị quân đều nguy” nên còn có một cơ quan ngoại vệ để bảo vệ nó Nếu như ngoại tà phạm tâm trước tiên vào tâm bào Trong bệnh ôn nhiệt, sốt cao mê sảng (loạn ngôn) là biểu hiện nhiệt nhập tâm bào, tâm bào ở đây chủ yếu chỉ hoạt động thần kinh cao cấp
Trang 30+ Bệnh lý, sinh lý của tiểu trường:
Chức năng sinh lý của tiểu trường là tiếp thu thức ăn từ vị chuyển xuống để tiếp tục quá trình tiêu hoá phân biệt thanh trọc Thanh là chỉ tinh hoa của thức ăn
“thủy cốc chi tinh” từ tiểu trường sau khi hấp thu vận chuyển lên phế Trọc chỉ chất thô của vật chất từ tiểu trường đưa xuống đại trường hoặc vận chuyển qua bàng quang
- Khi tiểu trường có bệnh, không những ảnh hưởng đến chức năng tiêu hoá hấp thu mà còn xuất hiện tiểu tiện thất thường
- Tâm liên hệ với tiểu trường thông qua kinh lạc tạo thành liên hệ biểu và lý Nếu như tâm hỏa quá vượng có thể thấy đầu lưỡi đau, hồng, miệng rộp loét, tiểu tiện ngắn đỏ, thậm chí đái ra máu Bệnh lý như vậy gọi là “tâm đa nhiệt vu tiểu trường” Tâm trong Đông y, trên cơ bản gồm: tạng tâm của YHHĐ và một bộ phận thần kinh trung khu hệ thống thần kinh thực vật… cả về chức năng sinh lý bình thường và khi phát bệnh
Can khí không thăng phát - sinh huyễn vựng, mất ngủ dễ giật mình, tinh thần hoảng hốt
- Chủ tàng huyết:
Can có chức năng tàng huyết và điều tiết lượng huyết, khi hoạt động huyết dịch trữ tàng ở can cung cấp cho các cơ quan tổ chức, khi nghỉ ngơi hoặc ngủ huyết lại dồn về can, tàng huyết còn có nghĩa là có khả năng dự phòng chảy máu Nếu chức năng tàng huyết kém sẽ sinh ra chảy máu: thổ huyết, nục huyết…
- Khai khiếu ở mắt:
Can và mắt có liên quan mật thiết với nhau, can có bệnh thường ảnh hưởng đến sự tinh tường của mắt Can hư tất thị lực giảm (quáng gà), can hỏa vượng hay
có mắt đỏ
- Can chủ cân, vinh nhuận móng tay, chân:
Can chủ quản hoạt động của cân, chi phối khớp xương và hoạt động cơ nhục của toàn cơ thể Can nhờ vào sự nuôi dưỡng của can huyết Nếu như can huyết bất túc không dưỡng được cân sẽ phát sinh đau cân, tê mỏi, co duỗi khó khăn hoặc có
Trang 31những chứng cấp tính, nhiệt cực dẫn đến can phong nội động cũng có thể phát sinh
co giật
Móng tay, chân là phần dư của cân Móng tay, chân và can có quan hệ mật thiết, can huyết xung túc thì móng ngón tay hồng nhuận Can huyết bất túc, móng tay khô sác, bạc trắng, y học xưa cho rằng: “ký hoa tại quá”
+ Sinh lý bệnh của đởm:
- Đởm là một trong sáu phủ nhưng chức năng của nó khác các phủ khác nên gọi là phủ kỳ hàng Tác dụng chủ yếu của đởm là trữ tàng dịch mật Dịch mật là dịch thể màu xanh
Người xưa gọi mật (đởm) là “trung thanh chi phủ” Bệnh đởm biểu hiện chủ yếu là đau sườn, vàng da, đắng miệng, nôn mửa ra nước đắng
- Can đởm quan hệ với nhau thông qua kinh lạc tạo thành quan hệ biểu lý, can đởm tương liên, khi phát bệnh thường ảnh hưởng tương hỗ, khi điều trị thường can đởm đồng trị
Do những lý luận trên người xưa coi chức năng can đởm như là chức năng gan mật của Tây y (về mặt cơ bản) ngoài ra còn bao gồm cả một bộ phận hệ thống thần kinh cao cấp, hệ thống huyết dịch và cơ quan thị giác
2.3 Tỳ và vị (sinh lý và bệnh lý của tỳ và vị):
+ Sinh lý và bệnh lý của can:
- Chủ về vận hoá và chuyển hóa:
Tỳ chủ quản tiêu hóa hấp thu và vận chuyển thức ăn Thức ăn vào vị, sau khi tiêu hóa bước đầu, tới tỳ tiếp tục tiêu hóa thêm một bước những vật chất tinh vi (dinh dưỡng) được hấp thu phân bố khắp toàn thân, cung cấp dinh dưỡng cho tất cả các cơ quan tổ chức của cơ thể Ngoài sự vận hóa thức ăn tinh vi, tỳ còn có chức năng vận hóa thủy cấp cùng với phế và thận duy trì sự cân bằng thủy dịch trong cơ thể Khi chức năng vận hóa của tỳ được bình thường thì tiêu hóa hấp thu chuyển hóa tốt, khí huyết vượng thịnh, tinh lực khỏe mạnh Nếu tỳ hư vận hóa thất thường, tiêu hóa hấp thu không tốt dẫn đến bụng trướng, đại tiện lỏng nát có thể là nguyên nhân vận hóa thủy dịch trở ngại dẫn đến thủy cấp đình trệ phát sinh thủ thũng (phù) hoặc đàm ẩm
- Chức năng thống huyết:
Tỳ có chức năng thống nhiếp huyết dịch của toàn cơ thể Nếu như tỳ hư chức năng thống nhiếp ảnh hưởng làm cho “hiếp bất tuần kinh” sinh các triệu chứng chảy máu, nôn máu, chảy máu cam, băng lậu, đại tiện ra máu… Ngoài ra, tỳ quan hệ với việc sinh huyết cũng rất chặt chẽ Tỳ hư chức năng sinh hóa huyết dịch giảm sút dẫn đến thiếu máu
- Tỳ chủ cơ nhục tứ chi và khai khiếu ở môi miệng:
Bình thường tỳ vận hóa thủy cốc tinh vi dinh dưỡng toàn thân, ăn uống đầy
đủ, cơ nhục to khoẻ, cơ thể cường tráng, tứ chi có lực, môi miệng hồng nhuận Tỳ khí hư nhược, vận hóa thất thường, ăn uống kém, cơ nhục yếu mềm, tứ chi vô lực, sắc môi trắng nhợt hoặc vàng tối
Trang 32+ Sinh lý và bệnh lý của vị:
Chức năng chủ yếu của vị là thu nạp thủy cốc và cũng có tham gia nhào trộn thủy cốc Người xưa cho rằng “vị thủy cốc chi hải” Khi vị bị bệnh có các triệu chứng: bụng đau, đầu nặng, ăn uống giảm sút, buồn nôn, nôn khan Tỳ và vị quan hệ biểu lý thông qua kinh lạc Tỳ chủ vận hóa, vị chủ thu nạp cùng hoàn thành nhiệm
vụ tiêu hóa hấp thu vận chuyển dinh dưỡng, tác dụng của tỳ vị đối với cơ thể vô cùng quan trọng Người xưa cho rằng: “Hữu vị khí tắc sinh, vô vị khí tắc tử”
- Vị vi hậu thiên chi bản, tỳ và vị có đặc điểm khác nhau Tỳ khí chủ thăng,
sợ thấp, thích táo
- Vị khí chủ giáng, thích nhuận, sợ táo, hai mặt tương phản, tương thành Vị khí giáng thủy cốc mới có thể đi xuống đường tiêu hóa, đi toàn thân và đến các tạng phủ khác Nếu vị khí không giáng trái lại nghịch lên sẽ buồn nôn, nôn khan, ợ hơi, ợ chua, ách nghịch, vị thống Tỳ khí bất thăng lại hạ hãm (gọi là trung khí hạ hãm) sẽ dẫn đến các triệu chứng loạn ngôn, thiếu khí, tiết tả, thoát giang, sa các tạng Tỳ thuộc âm; tỳ hư dễ sinh thấp (tỳ không kiện vận được thủy thấp) thường dễ bị thấp
tà xâm phạm, nếu tỳ bị thấp tà từ ngoài xâm phạm sẽ phát sốt, nặng đầu, đau mình, thân thể nặng nề, thượng vị đầy tức, mạch nhu hoãn, rêu lưỡi trắng dày Điều trị phải dùng “ôn tỳ táo thấp”
- Vị thuộc dương: bệnh ở vị đa phần thuộc nhiệt, vị hỏa, miệng khô, thích uống, không muốn ăn hoặc đau răng, chảy máu chân răng, thổ huyết, chảy máu cam, điều trị phải “thanh nhiệt giáng hỏa” Liên hệ Đông y và Tây y, vị và dạ dày tương ứng với nhau Còn tỳ của Đông y bao gồm chức năng bệnh tật của quá trình tiêu hóa hấp thu vật chất, cân bằng chuyển hóa dịch thể và một phần sự tuần hoàn huyết dịch
So với Tây y, tỳ của Đông y có chức năng rất khác biệt
2.4 Phế và đại trường (sinh lý và bệnh lý của phế và đại trường)
+ Sinh lý và bệnh lý của phế:
- Phế chủ khí:
Chỉ chức năng hô hấp, trao đổi khí để duy trì chức năng hoạt động sinh mệnh trong cơ thể Mặt khác còn chỉ phế triều bách mạch, tham gia tuần hoàn huyết dịch, đem thủy cốc tinh vi chuyển tới các tổ chức toàn thân (phế chủ nhất thân chi khí) Khí của tạng phủ, kinh lạc thịnh, suy đều có liên quan chặt chẽ với phế Chức năng phế chủ khí trở ngại chủ yếu biểu hiện bệnh lý của hệ thống hô hấp, khái thấu, khí suyễn, nói nhỏ, đoản khí, loạn ngôn
- Phế chủ túc giáng thông điều thủy đạo:
Phế khí là để thanh túc hạ giáng, nếu phế khí nghịch lên sẽ phát sinh khí suyễn, khái thấu Việc vận hóa bài tiết thủy dịch của cơ thể không những chỉ dựa vào sự vận hóa và chuyển hóa của tỳ mà còn phải dựa vào sự túc giáng của phế khí mới có thể thông điều thủy đạo xuống bàng quang Nếu như phế mất khả năng túc giáng sẽ ảnh hưởng đến chuyển hóa thủy dịch dẫn đến thủy thấp đình trệ, xuất hiện tiểu tiện không thông, thủy thũng hoặc tiện huyết Người xưa cho rằng: “ phế vị thủy chi thượng nguyên”, phế khí bất năng túc giáng, có khi liên quan đến “phế khí bế trở” Vì vậy một số chứng ho hen và thủy thũng thường phối hợp với thuốc “khai phế khí” Ví dụ: ma hoàng, tế tân, hạnh nhân…
Trang 33- Phế chủ bì mao:
Phế có quan hệ mật thiết với bì phu cơ biểu, phế vệ mà vững chắc thì cơ biểu kín đáo kiên cố, da lông nhuận trạch (tươi sáng, óng mượt), sức đề kháng của cơ thể mạnh, nếu không dễ bị ngoại tà xâm phạm Khí của phế vệ không kiên cố, lỗ chân lông sơ hở dễ bị ngoại tà xâm phạm, nặng hơn là tà phạm phế Ngoài ra nếu cơ biểu không kiên cố, tân dịch tiết ra ngoài có htể phát sinh tự hãn, đại hãn
- Phế khai khiếu ở mũi:
Mũi là cửa của hô hấp tương thông với phế, khí phế có bệnh thường biểu hiện mũi tắc, mũi chảy, hô hấp khó khăn, cánh mũi phập phồng
- Phế có liên quan đến tiếng nói:
Thanh âm có liên quan với tác dụng của phế khí, phế khí đầy đủ thì thanh âm
to rõ, phế khí hư thanh âm nhỏ yếu; phong hàn phạm phế, phế khí tụ tắc, nói không
rõ (do bệnh tà gây hại) hoặc do phế khí hao tổn quá mức dẫn đến mất tiếng nói (thất âm)
+ Sinh lý và bệnh lý của đại trường:
Chức năng chủ yếu của đại trường là chuyển đạt tinh thô, bài tiết đại tiện (nếu đại tiện táo kết, tiểu tiện bế hoặc đau bụng ỉa lỏng hoặc ỉa máu đều thuộc đại trường) Phế quan hệ với đại trường thông qua kinh lạc tạo thành quan hệ biểu lý Phế khí túc giáng tốt thì chức năng đại trường bình thường, đại tiện thông suốt Nếu đại trường tích trệ, không thông cũng có thể gây tác dụng trái ngược làm cho sự túc giáng của phế khí ảnh hưởng Trên lâm sàng thường phế, đại trường đồng trị Bệnh phế thường chữa phế kèm theo có chữa đại trường và ngược lại, bệnh đại trường chữa đại trường kèm theo chữa phế Ví dụ: đại tiện bế, ngoài việc dùng thuốc thông điều còn dùng thêm thuốc nhuận phế hoặc giáng phế khí thường có kết quả tốt hơn Trái lại, một số chứng phế thực nhiệt, ngoài việc dùng thuốc thanh phế nhiệt còn dùng các thuốc thông đại tiện thường đạt hiệu quả tốt hơn nhiều Dựa vào chức năng sinh lý, bệnh lý trên, về căn bản phế và đại trường của YHCT và YHHĐ là gần tương ứng Nhưng chức năng phế theo YHCT thì ngoài chức năng hô hấp còn một phần tuần hoàn máu, chuyển hóa nước và chức năng điều tiết độ ẩm của cơ thể (điều hòa thân nhiệt)
2.5 Thận và bàng quang (sinh lý, bệnh lý của thận và bàng quang):
+ Sinh lý và bệnh lý của thận:
- Thận chủ tàng tinh:
Chức năng thận tàng tinh phân ra 2 loại:
Tính sinh dục: chủ về sinh dục phát triển nòi giống
Tinh hoa của ngũ tạng lục phủ: tức là chủ quản về sinh trưởng, phát dục và các hoạt động sinh mệnh trọng yếu khác của cơ thể Bệnh nhân trên lâm sàng phần nhiều là hư chứng, thường gặp trong các bệnh thuộc hệ thống sinh dục và một số bệnh trong hệ nội tiết Điều trị chủ yếu là bổ thận
- Thận chủ thủy:
Trang 34Thận là cơ quan chủ yếu điều tiết chuyển hóa nước ở bên trong cơ thể (người xưa cho rằng thận là tạng có nước) Khi thận bệnh dẫn đến chuyển đạt nước thất thường, tiểu tiện bất lợi, thủy dịch lưu trệ, toàn thân phù thũng (phù) hoặc tiểu tiện són, ăn nhiều, đái nhiều (di niệu), đái đêm
- Thận chủ cốt:
Cốt sinh tủy, tủy thông với não (phủ nguyên thần), thận tàng tinh, tinh sinh tủy, thận còn quan hệ với não Thận tàng tinh (sung túc) đầy đủ thì xương, tủy não sung thực, cường tráng (khoẻ mạnh), tứ chi khoẻ mạnh, hoạt động linh hoạt, tinh lực dồi dào, tai tinh, mắt sáng
Khi thận tinh bất túc thường xuất hiện các triệu chứng: động tác chậm chạp, xương cốt vô lực, thiếu máu hoặc chóng mặt hay quên, trẻ con chậm chạp phát dục và tài lực Ngoài ra răng là phần dư của cốt: “xỉ vỉ cốt chi dư”, răng có liên quan với cốt Khi thận khí
hư suy, răng lung lay và rụng
- Thận chủ mệnh môn hỏa:
Thận là tạng thuộc thủy nhưng lại tàng hỏa của mệnh môn (thận dương là duy trì năng lượng chủ yếu của sinh mệnh, gọi là hỏa mệnh của mệnh môn) Nó cùng với thận thủy (thận tinh), một âm, một dương hợp đồng tương hỗ duy trì mọi chức năng sinh thực (sinh trưởng và phát dục) và chức năng tạng phủ của cơ thể được bình thường Khi mệnh môn hỏa suy có thể dẫn đến liệt dương, xuất tinh sớm, mất khả năng hoàn tỳ nên hay ỉa lỏng vào sáng sớm (ngũ canh tả), ỉa chảy mãn tính Mệnh môn hỏa vượng hay gặp: thất tiết, di tinh
- Thận chủ nạp khí:
Việc hô hấp do phế là chủ nhưng điều hành, điều độ lại quan trọng ở chức năng của thận Thận có tác dụng giúp đỡ phế và hô hấp và giáng khí, gọi là nạp khí Nếu như thận không nạp khí sẽ phát sinh háo suyễn đoản khí, đặc điểm là thở ra nhiều, thở vào ngắn Trên lâm sàng điều trị phải bổ thận (bổ thận nhập tức, bổ thận nạp khí)
Liên hệ với YHHĐ: thận có vai trò điều hòa kiềm, toan, sự tăng giảm độ kiềm, toan có liên quan đến thông khí ở phổi (nhịp hô hấp)
- Thận bên trên khai khiếu ở tai, bên dưới khai khiếu ở nhị âm:
Tai có liên quan với thận “nhĩ vị thận chi thượng khai khiếu” thận khí đầy đủ thì thính giác bình thường, thận khí hư thì ù tai, tai điếc Nhị âm là chỉ niệu đạo và hậu môn là hạ khiếu của thận “nhị tiện vi thận chi hạ khiếu” Bài tiết đại tiểu tiện có liên quan với thận Thận khí hư dẫn đến bí đái hoặc đái dầm dề, thận âm bất túc, đại tiện bế tắc, mệnh môn hỏa suy có thể dẫn đến ỉa lỏng sáng sớm (ngũ canh tả)
Trang 35Chức năng của bàng quang chủ yếu là chứa đựng và bài tiết nước tiểu Khi bàng quang có bệnh xuất hiện đái dắt, đái bí hoặc đái đau Thận liên hệ với bàng quang thông qua kinh lạc, tạo thành mối quan hệ biểu lý, chức năng bài tiết của bàng quang thất thường
có khi liên quan với bệnh tật của thận Khi thận hư bất năng cố nhiếp sẽ xuất hiện tiện bế hoặc di niệu
Từ sinh lý và bệnh lý trên, Đông y coi thận về cơ bản bao gồm những chức năng và bệnh tật của hệ thống sinh dục, tiết niệu của Tây y và một bộ phận tạo máu,
hệ thống nội phân tiết và hệ thống thần kinh của Tây y Bàng quang của Đông y gần như bàng quang của Tây y
CHỨC NĂNG SINH LÝ, BIỂU HIỆN BỆNH LÝ CỦA
KHÍ, HUYẾT, TINH, TÂN, DỊCH
1.1 Khí:
Khí là chỉ công năng sinh lý hoặc động lực, chỉ tác dụng dinh dưỡng của vật chất tinh vi Khí có tác dụng hóa sinh huy động cố nhiếp huyết dịch, ôn dưỡng tổ chức toàn thân, nâng cao sức đề kháng cơ thể chống lại ngoại tà, duy trì hoạt động của tổ chức tạng phủ
+ Dựa vào tác dụng sinh lý khác nhau, chia khí ra các loại sau:
- Nguyên khí, còn gọi là chính khí hay chân khí: là khi biểu hiện tập trung năng lực hoạt động sinh mệnh của cơ thể Nói chung nguyên khí đầy đủ, người khoẻ mạnh không dễ mắc bệnh, hoặc khi mắc bệnh chỉ cần điều trị đúng mức cũng có thể nhanh chóng chiến thắng bệnh tà mà khỏi bệnh Vì vậy, nguyên khí quyết định sức khoẻ của con người, khí của tạng phủ huy động hoạt động của cơ thể Ví dụ: tâm khí,can khí, thận khí, phế khí…
- Trung khí: thực chất là khí của tỳ vị, tác dụng xúc tiến chức năng tiêu hóa hấp thu và duy trì vị trí bình thường của nội tạng ở trong khoang bệnh, khi trung khí bất túc chức năng trên giảm sút
- Tôn khí: là khí của tâm phế, tác dụng huy động công năng tuần hoàn hô hấp Tôn khí bất túc thì hô hấp và nhịp tim giảm
- Vệ khí và doanh khí: vệ khí là phần khí đi phần ngoài mạch nhưng thông với mạch tỏa ra ở sườn, ngực, bụng và hai bên Chức năng ôn dưỡng tạng phủ, tuần hành giữa bì phu và cơ nhục ôn dưỡng da cơ có tác dụng cố biểu chống lại mọi sự
Trang 36xâm phạm của ngoại tà Doanh khí (dinh khí) có tác dụng dinh dưỡng toàn thân, sinh hóa huyết dịch phân bố tuần hành ở trong mạch Vệ khí và doanh khí phối hợp dinh dưỡng có thể chống lại ngoại tà
+ Lâm sàng bệnh của khí có 3 loại:
- Khí hư:
Triệu chứng khí hư nói chung là chỉ khí của ngũ tạng bất túc Lâm sàng phần nhiều thấy khí của tỳ phế lưỡng hư; biểu hiện chính là: loạn ngôn, thiếu khí, âm thanh nhỏ nhẹ, chóng mặt, mệt mỏi, tự hãn, ăn không ngon, có thể sa nội tạng, mạch hư nhược, lưỡi nhợt bệu, rêu mỏng; điều trị dùng phép bổ khí là chủ yếu
- Khí trệ (khí uất):
Khí cơ của tạng phủ không lưu thông, sự vận hành bị trở ngại, là xuất hiện triệu chứng của khí trệ, thường gặp phế khí trệ, tỳ vị khí trệ và can khí uất trệ Khí trệ mức độ nhẹ thường thấy triệu chứng chung là: ngực, sườn, bụng, chướng đầy, đau; vì khí phế trệ nên đau ngực, đầy ngực, khí đoản, đàm nhiều Tỳ vị khí trệ nên bụng chướng đầy, đau, kinh nguyệt không đều hoặc thống kinh, khí trệ ở kinh mạch nên cơ nhục tứ chi và các khớp đều đau mỏi, khi điều trị phải dùng pháp lý khí
- Khí nghịch:
Thường theo chiều thuận từ phế khí và tỳ khí đều hạ hành (đi xuống dưới), ngược lại khí của phế vị không giáng xuống mà nghịch lên sẽ xuất hiện triệu chứng khí nghịch, ngoài ra can khí sơ tiết thăng phát thái quá cũng dẫn đến can khí nghịch lên:
Phế khí nghịch tất sinh suyễn khái
Vị khí nghịch tất sinh ách nghịch, nôn thổ
Can khí nghịch tất sinh huyễn vựng, thốt đảo hoặc thổ huyết
Điều trị phải dùng pháp “giảng phế vị khí nghịch”, điều trị can khí nghịch lên phải dùng pháp “chấn tiềm” Tóm lại: khí là một thành phần có vai trò rất to lớn trong hoạt động chức năng thần kinh và các loại năng lượng của hoạt động bên trong
cơ thể Nói cách khác, khí thực chất là cơ sở vật chất, khi khí hóa (chuyển hóa) cho
ra năng lượng thúc đẩy, duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể
1.2 Huyết:
+ Huyết: là vật chất ăn uống thông qua quá trình hóa sinh của tỳ vị mà thành Chức năng của huyết là tuần hoàn không ngừng để dinh dưỡng toàn thân, để duy trì mọi hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể Sở dĩ mắt có khả năng nhìn, chân có khả năng bước, tay có khả năng co duỗi… là do có sự hoạt động của các cơ quan tổ chức của toàn cơ thể (tạng phủ, cân cốt, da lông…); nếu không có sự tư dưỡng của huyết dịch thì không để duy trì chức năng sinh lý bình thường Nếu như huyết dịch vận hành trở ngại, cơ phu không đủ huyết dịch làm cho tê mỏi, huyết dịch đến tứ chi không đủ, tay chân không nóng ấm, thậm chí liệt bại, không bước được
Huyết và khí có quan hệ rất mật thiết với nhau, thông thường khí huyết đầy
đủ, khí huyết như một âm, một dương hỗ tương tồn tại “khí vi huyết chi soái, huyết
vi khí chi mẫu”, nghĩa là sự vận hành của huyết phải dựa vào sức huy động của khí, khí hành tắc huyết hành, khí trệ tắc huyết ứ Mặt khác, công năng hoạt động của một
Trang 37cơ quan, tổ chức lại phải nhờ vào sự tư dưỡng của huyết dịch đưa lại (huyết vi khí chi mẫu) hay huyết là cơ sở vật chất Chứng bệnh của huyết chủ yếu biểu hiện: xuất huyết, huyết hư và huyết ứ
+ Xuất huyết: là hỏa nhiệt tà thực bức huyết vong hành hoặc khí hư bất năng nhiếp huyết hoặc can bất tàng huyết, tỳ bất thống huyết hoặc thận âm hao tổn, hư hỏa nội sinh thương phạm mạch lạc hoặc tinh thần kích thích, tình chí uất hoá hỏa đều có thể dẫn đến xuất huyết Vì vậy, điều trị chứng xuất huyết không chỉ đơn thuần sử dụng thuốc chỉ huyết mà phải phân tích từng nguyên nhân cụ thể để kết hợp điều trị
- Nếu do vị hỏa mà thổ huyết phải thanh nhiệt, giáng hỏa
- Nếu do tỳ hư mà kinh nguyệt quá nhiều hoặc rong kinh phải dùng phương pháp bổ trung ích khí
+ Huyết hư: do mất máu quá nhiều hoặc quá trình sinh huyết kém đều có thể dẫn đến huyết hư Lâm sàng thường biểu hiện: sắc mặt vàng nhợt, môi, lưỡi, móng tay chân không hồng nhuận, nhợt nhạt, đầu choáng, mắt hoa, tâm quý, gầy gò, mệt mỏi, vô lực, tay chân hay tê, mạch tế nhược Điều trị phải dùng pháp bổ huyết nhưng dựa trên lý luận “khí vi huyết chi soái”, vì vậy khi dùng pháp bổ huyết thường phải kết hợp với phương pháp bổ khí
+ Huyết ứ: do nhiều nguyên nhân, có thể do ngoại nhân (chấn thương) huyết tích tụ ở tổ chức cơ quan, có thể do khí trệ huyết đính, có thể do hàn ở mạch huyết ngưng thành ứ và có thể do nhiệt thịnh bức huyết vong hành “huyết dịch ly khai mạch đạo”, tích thành ứ, cũng có thể do nhiệt cực thương âm, thương huyết làm cho huyết uất thành ứ Tùy thuộc vào vị trí của huyết ứ mà có triệu chứng khác nhau Nếu huyết ứ ở tâm gây tâm quý, tâm thống, huyết ứ ở phế có thể khái lạc đàm huyết, đau tức ngực, huyết ở bào cung thì xung nhâm không điều hòa làm cho kinh nguyệt không điều hòa, huyết ứ ở chi thể thấy chi thể mỏi, tê bại hoặc vận động không linh hoạt…
Điều trị chứng huyết ứ phải dùng pháp khử ứ hoặc phương pháp bổ khí hoạt huyết
1.3 Tinh:
+ Tinh là chỉ sinh tinh thực nam, nữ, là nguồn gốc của sinh mệnh
+ Hai là chỉ chất dinh dưỡng do ăn uống chuyển hóa sinh tinh Nghĩa là, tinh chỉ cơ sở vật chất của sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể Bình thường tinh của lục phủ ngũ tạng được tàng trữ ở thận, trong đó có một bộ phận được chuyển hóa thành tinh sinh thực
Tóm lại: tinh là cơ sở của sinh mệnh, là vật chất cơ bản cấu tạo nên cơ thể và duy trì các loại hoạt động sinh mệnh của cơ thể Tinh có quan hệ trực tiếp đến quá trình sinh trưởng, phát dục, lão hóa và tử vong của con người Nếu như tinh khí đầy đủ thì cơ thể cường tráng, khoẻ mạnh, tinh lực đầy đủ, sức đề kháng cơ thể cao; còn tinh khí hư tổn, cơ thể suy nhược, tinh lực không đủ, phát dục chậm, già trước tuổi, sức đề kháng cơ thể giảm yếu
1.4 Tân dịch:
Trang 38Tân dịch là chỉ toàn bộ phần dịch thể và nước bình thường trong cơ thể, là một trong những vật chất chủ yếu duy trì hoạt động cơ thể sống Nguồn gốc của tân dịch là do
ăn uống dinh dưỡng thông qua sự vận hóa của tỳ, vị, sự điều tiết của phế, thận, bàng quang, tam tiêu… mà phân bố toàn thân và bài xuất ra ngoài cơ thể
+ Người ta hay gọi tân và dịch hoặc gọi chung là tân dịch, nhưng mỗi loại đều có khu vực riêng khác nhau:
- Tân thường phân bố ở giữa da, cơ và tổ chức cơ quan có tác dụng nhuận trạch dinh dưỡng các cơ quan và tổ chức
- Dịch thường phân bố ở khớp xương, não tủy, ngũ quan, có tác dụng lưu thông và nhuận trạch
- Ngoài ra; mồ hôi, dịch, tụy, nước mắt, mũi, dịch vị, các tuyến nội tiết đều gọi là tân dịch
- Tân dịch và khí huyết có quan hệ mật thiết với nhau, có thuyết cho rằng
“tân huyết đồng nguyên” tân dịch hao tổn thường dẫn đến khí huyết hư nhược, nếu nôn nhiều, ỉa chảy, đại hãn (ra mồ hôi nhiều) sau đó tân dịch bị tiêu hao thường xuất hiện thở nhanh, nhịp tim nhanh, mạch vi tế, tứ chi lạnh là triệu chứng của khí huyết hao tổn
- Sau mất máu nhiều thường thấy miệng khát, tiểu ít, đại tiện táo là triệu chứng tân dịch không đầy đủ Trên lâm sàng, mất máu, mất tân dịch thường đi đôi với nhau Từ lâu (thương hàn luận) đã sớm đề ra những bệnh nhân chảy máu thì không thể phát hãn mà phải dưỡng huyết để sinh tân, bảo vệ tân tức là bảo vệ huyết
Tất cả đều chỉ tân dịch và khí huyết luôn có quan hệ mật thiết
+ Bệnh lý của tân dịch thường do hai yếu tố: chủ yếu là hỏa nhiệt thương tân, thứ yếu là tân dịch hao tổn
- Hỏa nhiệt thương tân phần nhiều do cảm phải lục dâm tà khí và tà khí hóa hỏa dẫn đến thương tân
Triệu chứng chung: sốt cao, tâm phiền, nói sảng, loạn ngôn, đại khát, đại hãn, đại tiện bí kết, môi khô, lưỡi khô mất gai, mạch hồng sác hoặc trầm sác Điều trị phải dùng thanh nhiệt tả hỏa hoặc pháp tả hạ để bảo tồn tân dịch trong bệnh ôn nhiệt Bảo tồn tân dịch là nguyên tắc trọng yếu
Tổn thương tân dịch cũng có thể do nhiệt ở tạng phủ quá thịnh có thể phát sốt, đại tiện táo, mắt đỏ, miệng khô mà khát, rêu lưỡi vàng khô Lâm sàng cần phân biệt giữa hỏa nhiệt tổn thương tân dịch ở tạng phủ và trong bệnh ôn nhiệt để điều trị
- Tân dịch hao tổn thuộc trạng thái hư gồm: phế âm hư, vị âm hư, thận âm hư làm tổn thương tân dịch
- Hỏa nhiệt thương tân thuộc thực chứng
Triệu chứng tân dịch hao tổn gồm: sốt cao triều nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt, ăn uống kém, miệng khô, muốn ăn nóng hoặc nặng về nửa đêm, mệt mỏi, gầy gò, lưỡi
đỏ ít tân, rêu lưỡi mỏng hoặc không rêu, mạch tế sác
Phương pháp điều trị: phải dùng “dưỡng âm nhuận táo”
1.5 Đàm (ẩm)
Trang 39Đàm là sản vật chuyển hóa bệnh lý, cũng có thể là nguyên nhân của nhiều loại chứng bệnh Khái niệm về đàm tương đối rộng, không đơn thuần là dịch đàm của đường ho (khái lạc)
Cổ nhân cho rằng: “tỳ vi sinh đàm chi nguyên, phế vi trữ đàm chi quan” Thận dương bất túc, thủy khí bất hóa nên tụ thành đàm Bệnh lý về đảm ẩm thường
ở phế nhưng cũng có ở tâm, ở cơ biểu và ở kinh lạc
YHCT cho rằng: “tích thủy thành ẩm, ẩm ngưng thành đàm”, thủy dịch đình lưu tích tụ có thể do ảnh hưởng của bệnh tà, cũng có thể do phế khí hư, khí không thông, không giáng được mà lưu tụ lại thành đàm, thành ẩm, ngoài ra tỳ không kiện vận được hoặc do ăn uống quá nhiều, thủy dịch không vận hóa bình thường, thủy thông lưu trệ ở phế
- Đàm ở phế; khái thấu, khí suyễn, không nằm yên, ngực đầy, đau, điều trị ngoài thuốc trừ đàm còn phải tìm thuốc chữa nguyên nhân
- Đàm ở tâm; tâm quý, tân sổ không đều, ngoài ra có thể thấy điên đảo, hôn quyết, trúng phong… bệnh thần kinh tinh thần có thể do đàm mê tâm khiếu mà dẫn đến Điều trị phải tuyên khiếu trừ đàm
- Đàm ở cơ biểu kinh lạc: loa lịch (lâm ba kết hạch), hạch thư (thũng lưu), giáp trạng tuyến sưng to, đàm thấp lưu trú (cốt kết hạch, kết hạch tính), điều trị phải
“trừ đàm thông lạc”
1.6 Tam tiêu:
“Tam tiêu thuộc lục phủ chi nhất”, bao gồm thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu + Về chức năng và hình thái của tam tiêu, đại đa số các tác giả cho rằng: thượng tiêu chỉ tâm, phế, tương đương các chức năng của vùng ngực Trung tiêu chỉ
tỳ, vị, tương đương các chức năng của cơ quan vùng bụng trên Hạ tiêu chỉ can, thận, bàng quang, đại trường, tiểu trường tương đương các chức năng của cơ quan vùng bụng dưới Chức năng của tam tiêu:
- Thượng tiêu như “vụ”, chỉ tác dụng (quản lý xuất nhập, phân bố chuyên chở) các vật chất dinh dưỡng của tâm và phế (vụ còn có ý nghĩa như xương mù)
- Trung tiêu như âu (bọt nước, trắng như sữa), chỉ tác dụng vận hóa của tỳ, vị
- Hạ tiêu như độc (rãnh, nước), chỉ tác dụng bài tiết của bàng quang và thận + Trong học thuyết “ôn bệnh” phần biện chứng tam tiêu là lấy tam tiêu làm cương lĩnh cho biện chứng luận trị và phân loại chứng hậu
- Thượng tiêu bệnh (thời kỳ đầu của bệnh truyền nhiễm)
- Trung tiêu bệnh (thời kỳ toàn phát, khí phận chứng hậu, triệu chứng của khí phận)
- Hạ tiêu bệnh (xuất hiện triệu chứng, huyết phận chứng hậu, tác nhân gây bệnh là tà khí vào huyết phận)
Tóm lại: chức năng của tam tiêu là chỉ tổng hợp chức năng sinh lý của nhóm tạng phủ nào đó trong khoang ngực, bụng Bệnh tật của tam tiêu có liên quan đến sự chuyển vận các chất dinh dưỡng ở tạng phủ (chú ý hệ bạch mạch, hệ thống dưỡng chấp chi phối cho các tạng phủ và cơ quan)
Trang 401.7 Tử cung:
Gọi là bào cung, bao gồm tử cung và phần phụ của nó, tác dụng chủ về kinh nguyệt và sinh sản, có liên quan mật thiết với thận và đặc biệt là hai mạch xung, nhâm Ba bộ phận (bảo đảm cho thai sản, kinh nguyệt và sinh dục được bình thường) Thận tinh đầy đủ, mạch xung nhâm thịnh, kinh nguyệt, sinh dục bình thường Thận tinh hư tổn, mạch xung nhâm hư, kinh nguyệt không điều hòa, thậm chí không có thai
2 Sự liên quan ngũ tạng
Sự liên quan ngũ tạng: giữa tạng với tạng và giữa phủ với tạng có liên quan chặt chẽ với nhau Trên lâm sàng thường biểu hiện chủ yếu là mối quan hệ giữa tạng với tạng
2.1 Tâm:
+ Liên quan giữa tâm và phế: tâm chủ huyết, phế chủ khí, “tâm phế tương hữu” cả hai đều làm nhiệm vụ tuần hoàn huyết dịch trong cơ thể “tâm huyết túc, tắc phế khí xung bái”, phế khí thịnh vượng thì tuần hoàn bình thường, trái lại phế khí bất túc ảnh hưởng đến tuần hoàn huyết dịch, chức năng của tâm không tốt sẽ ảnh hưởng đến hô hấp
+ Liên quan giữa tâm và thận: “Tâm cư thượng tiêu thuộc hỏa Thận cự hạ tiêu thuộc thủy” Trong điều kiện bình thường hai tạng liên hệ hỗ căn, duy trì mối quan hệ hiệp đồng “Tâm thận tương giao, thủy hỏa tương tế” Nếu như quan hệ đó
bị phá vỡ sẽ phát bệnh lý, tâm phiền thất miên, đầu choáng tai ù, tai điếc, lưng gối đau mỏi, đó là hội chứng tâm thận bất giao”
+ Liên quan giữa tâm và can: tâm chủ huyết mạch toàn thân, can có chức năng trữ tàng điều tiết huyết dịch, hai tạng liên quan mật thiết, nếu như tâm huyết bất túc thì huyết hao can hư, huyết bất dưỡng, cân, đau cân cốt, co quắp, co giật…
+ Liên quan giữa tâm và tỳ: sự vận hoá của tỳ nhờ vào sức huy động của tâm dương và tư dưỡng của tâm huyết, còn chức năng của tâm cũng nhờ vào sự chuyển vận, vận hóa thủy cốc tinh vi của tỳ để tư dưỡng
+ Tâm chủ tuần hoàn (vận hành) huyết dị Tỳ có chức năng thống nhiếp huyết dịch
Vậy nên tâm tỳ có quan hệ mật thiết, trên lâm sàng thường thấy:” hội chứng tâm tỳ lưỡng hư, hoặc tâm tỳ suy tổn”
Các triệu chứng: mất ngủ, hay quên, hồi hộp, sắc mặt vàng tối, ăn kém, đại tiện nát