1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môt số nội dung cơ bản trong học thuyết chính trị xã hội của platon

25 653 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 182,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khi nghiên cứu triết học Mác-Lênin, giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử triết học, chúng ta không thể không quan tâm nghiên cứu xem triết học các thời đại trước đã phá

Trang 1

A Mở đầu

I Lý do chọn đề tài:

Triết học là một hình thái ý thức xã hội Cùng với sự phát triển xã hội,nó cũng có lịch sử phát sinh và phát triển của nó Vì vậy, khi nghiên cứu triết học Mác-Lênin, giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử triết học, chúng ta không thể không quan tâm nghiên cứu xem triết học các thời đại trước đã phát triển như thế nào, triết học Mác-Lênin đã tiếp thu một cách có phê phán những yếu tố nào trong triết học của những thời đại đi trước?

Triết học Hy Lạp cổ đại là tài sản tinh thần quý báu của nền văn minh nhân loại Cho đến nay, các nhà nghiên cứu lịch sử triết học vẫn tìm thấy trong triết học Hy Lạp cổ đại nhiều tài liệu có giá trị về mặt tư tưởng

Một trong những triết gia vĩ đại nhất thời cổ đại là Platon Tư tưởng của

ông đã ảnh hưởng rất nhiều tới các triết gia không chỉ của thời đại lúc bấy giờ

mà cả các giai đoạn lịch sử về sau nữa Hệ thống triết học của Platon đã đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó nổi bật là học thuyết ý niệm và linh hồn, học thuyết “nhà nước lý tưởng” và đạo đức học Tất cả các học thuyết nói trên

đều xuất phát từ lập trường duy tâm khách quan, đại biểu cho tầng lớp chủ nô quý tộc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động Platon phản đối chế độ dân chủ và luận chứng cho sự bất bình đẳng trong xã hội

Học thuyết chính trị- xã hội của Platon là sự thể hiện cách giải quyết duy tâm chủ nghĩa các vấn đề xã hội Dựa trên cơ sở và nền tảng là học thuyết

ý niệm và linh hồn, ông đã xây dựng nên mô hình “nhà nước lý tưởng” với nhiều kiến giải mang tính duy tâm thần bí Tuy nhiên, tư tưởng về việc xây dựng một mô hình nhà nước trong lý tưởng đã mở đầu cho việc triết học tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội và là một đóng góp to lớn của Platon trong lĩnh vực tư tưởng

Nhằm hệ thống hoá các quan điểm chính trị- xã hội của Platon, qua đó

có thể rút ra được những giá trị cũng như hạn chế của nó, tôi chọn đề tài:"Một

Trang 2

số nội dung cơ bản trong học thuyết chính trị-xã hội của Platon" với mong muốn đóng góp thêm một ý kiến trong cách nhìn nhận tư tưởng của Platon

Do khả năng có hạn nên tôi cũng chỉ dừng lại ở mức khái quát một số nét cơ bản chứ chưa có tham vọng đi sâu nghiên cứu tất cả mọi khía cạnh của học thuyết chính trị - xã hội của Platon

II Tình hình nghiên cứu của đề tài

Có thể nói, trong lịch sử tư tưởng nhân loại, Platon là tác gia được quan tâm rất nhiều bởi các nhà văn, nhà thơ, nhà sử học và đặc biệt là các nhà triết học Điều này là dễ hiểu bởi địa vị cao của Platon trong nền triết học cổ đại

Hy Lạp Bởi vậy, công trình nghiên cứu về Platon vô cùng phong phú và đa dạng, ở mọi quốc gia và châu lục Riêng ở Việt Nam, nguồn tài liệu tuy không thể nói là ít, nhưng cũng không thể nói là nhiều, hơn nữa lại tản mạn; vả lại, công việc dịch thuật dường như ít được quan tâm Bởi vậy, tác giả gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu đề tài

Thông qua các công trình nghiên cứu như: “Triết học Hy Lạp cổ đại" của tác giả Thái Ninh,giáo trình "Lịch sử triết học "do giáo sư tiến sĩ Nguyễn Hữu Vui chủ biên,"Lịch sử triết học Tây Phương" của Lê Tôn Nghiêm,"Mười nhà tư tưởng lớn thế giới" của Vương Đức Phong và Ngô Hiểu Minh hệ thống triết học của Platôn đã được trình bày tương đối rõ ràng, thế nhưng học thuyết chính trị-xã hội của Platôn cũng chỉ được đề cập tới trong một phạm vi rất giới hạn Tác giả Lê Tôn Nghiêm trình bày rất công phu và đầy đủ, nhưng

do hạn chế về mặt phương pháp luận( tác giả là một trí thức của chế độ cũ ở Miền Nam Việt Nam, cuốn "Lịch sử triết học Tây Phương của ông xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975), nên ông không chỉ ra những giá trị cũng như hạn chế của tư tưởng triết học Platon theo tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng Vương Đức Phong và Ngô Hiểu Minh có những nhận xét khá sắc sảo nhưng do dịch giả Phong Đảo có một số hạn chế về ngôn ngữ nên văn phong rất khó hiểu

Trang 3

Tuy nhiên, thông qua quá trình sưu tầm và chỉnh lý tài liệu, đặc biệt là qua các công trình nghiên cứu về sử học và các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, tôi đã có thể phần nào tái hiện được diện mạo tư tưởng của Platon và có sự so sánh với một số học phái khác nhằm rút ra những kết luận cần thiết

III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1 Mục đích:

Tìm hiểu một cách có hệ thống học thuyết chính trị- xã hội của Platon, trên cơ sở đó có thể rút ra được những giá trị cũng như hạn chế của học thuyết

2 Nhiệm vụ

Triển khai nghiên cứu bốn vấn đề :

- Điều kiện kinh tế-xã hội và những tiền đề tư tưởng của triết học Platon

- Tổng quan về học thuyết ý niệm và linh hồn- cơ sở và nền tảng các quan điểm chính trị-xã hội của Platon

- Quan niệm của Platon về nhà nước

- Học thuyết "Nhà nước lý tưởng" của Platon

IV Cơ sở lý luận và phương pháp luận

1 Cơ sở lý luận:

Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin

2 Phương pháp luận:

Chủ yếu là phương pháp biện chứng mácxít Ngoài ra các tác giả còn

sử dụng phương pháp thống nhất logic và lịch sử, thống nhất giữa phân tích

và tổng hợp, thống nhất giữa diễn dịch và quy nạp

Trang 4

V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu;

Học thuyết chính trị - xã hội của Platon thể hiện trong học thuyết “nhà nước lý tưởng”

2 Phạm vi nghiên cứu

Những điều kiện kinh tế - xã hội và tư tưởng có ảnh hưởng đến việc ra

đời học thuyết chính trị- xã hội của Platon;nội dung của học thuyết đó trong mối liên quan với các học thuyết ý niệm và linh hồn; so sánh với tư tưởng chính trị của một số học phái khác

VI ý nghĩa của đề tài

Đóng góp thêm một ý kiến trong cách nhìn nhận triết học Platon nói chung, học thuyết chính trị-xã hội của Platon nói riêng thông qua việc hệ thống hoá những quan điểm chính trị-xã hội của Platon và đánh giá những giá trị cũng như hạn chế của nó theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

VII Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khoá luận bao gồm hai chương

Trang 5

VII KÕt cÊu cña kho¸ luËn

Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn vµ tµi liÖu tham kh¶o, néi dung chÝnh cña kho¸ luËn bao gåm hai ch−¬ng

Trang 6

b nội dung Chương 1 khái quát chung về hoàn cảnh ra đời và

hệ thống triết học của Platon 1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội của Hy Lạp thời đại Platon và những tiền đề tư tưởng của hệ thống triết học Platon

1.1.1 Điều kiện kinh tế xã hội của Hy Lạp thời kỳ chiếm hữu nô lệ

Nhà nước của người Hy Lạp ra đời vào khoảng thế kỷ VIII-VII trCN Việc sử dụng các công cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, sản xuất hàng hoá phát triển đã kích thích thương nghiệp và mậu dịch hàng hải phát triển; các khoa học tự nhiên như thiên văn, khí tượng, vật lý, toán học cũng do vậy mà phát sinh và phát triển

Sự phát triển về mặt kinh tế xã hội đã làm cho sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc, đấu tranh giai cấp ngày càng trở nên gay gắt hơn Các cuộc đấu tranh của quần chúng đòi quyền dân chủ ở Aten đã dẫn tới một loạt cải cách chính trị Trước tiên là việc soạn thảo bộ luật Đrancon nhằm hạn chế sự chuyên quyền của tầng lớp quý tộc đối với dân tự do, đặc biệt là nông dân Vào đầu thế kỷ VI trCN, các cải cách của Sôlông đã thủ tiêu việc biến người thành nô lệ vì nợ, hoàn trả lại ruộng đất cho nông dân, chia những công dân Aten làm bốn loại phù hợp với mức thu nhập của họ

Vào năm 508 trCN, Clixten đã phân chia tất cả những người Aten theo những khu vực hành chính, căn cứ theo địa vực cư trú của họ Chế độ dân chủ

ở Aten được thực hiện một cách triệt để vào thời kỳ chấp chính của Periclet.Phương pháp bốc thăm để chọn người vào bộ máy nhà nước đã cho phép mọi công dân không phân biệt thuộc tầng lớp nào đều có thể đảm nhiệm công việc nhà nước

Trang 7

Dưới con mắt của người Hy Lạp thời cổ, nô lệ không phải là người mà chỉ là “công cụ biết nói”; họ không bao giờ được hưởng một chút quyền lợi chính trị gì, kể cả quyền làm người Chế độ cộng hoà dân chủ chỉ là dành cho dân tự do thuộc giai cấp chủ nô, còn về phía đông đảo nô lệ và kiều dân thì đó chỉ là nền chuyên chính tàn bạo của giai cấp chủ nô mà thôi Bởi vậy xã hội chiếm hữu nô lệ ngày càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô

lệ, giữa người giàu và người nghèo ngày càng gay gắt

Ăngghen viết :” Chúng ta không bao giờ được quên rằng tiền đề của toàn bộ sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái trong đó chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giống như nó được tất cả mọi người thừa nhận Theo nghĩa đó chúng ta có quyền nói rằng: Không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại”[8, 254]

1.1.2 Những tiền đề tư tưởng của hệ thống triết học Platon

Nền kinh tế chiếm hữu nô lệ đã sinh ra một đội ngũ trí thức đông đảo chuyên nghiên cứu triết học, khoa học Triết học Hy Lạp đã tiếp thu khoa học

đến từ Phương Đông và đã phát triển những tư tưởng đó trong các hệ thống triết học của mình

Triết học ngay từ thời cổ đại đã phản ánh cuộc đấu tranh giữa tri thức khoa học và tín ngưỡng, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm tôn giáo Chủ nghĩa duy tâm là công cụ tư tưởng của tầng lớp chủ nô quý tộc, còn chủ nghĩa duy vật là vũ khí tư tưởng của tầng lớp chủ nô dân chủ

Triết học của Platon đã ra đời trong cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và triết học duy tâm Ban đầu Platon là học trò của Cratyle là người theo thuyết tương đối, chống lại phép biện chứng của Heraclit và truyền bá thuyết nguỵ biện Sau đó ông trở thành học trò của Socrát, người đã hướng tư duy triết học từ những vấn đề triết học tự nhiên trở về với bản thân con người Chính những khủng hoảng trong đời sống chính trị xã hội do cuộc chiến tranh Pêlêpône gây ra đã quy định sự chuyển hướng về mặt tư tưởng triết học Đối với Socrát, tri thức làm cho con người nhận thức được cái phổ biến (cái

Trang 8

chung) mà trong đó cái thiện phổ biến là cơ sở của đạo đức, là cơ sở để đánh giá cái thiện riêng lẻ

Một trường phái triết học nữa mà Platon quan tâm nghiên cứu là triết học của Pitago, ngoài ra là quan niệm trong thế giới cảm giác không có bất cứ thứ gì là vĩnh cửu của Hêraclit và quan niệm về tồn tại duy nhất, bất động của Pacmenit Từ những quan niệm này, ông đã đặt ra hàng loạt sự phân biệt quan trọng về bản chất: sự phân biệt giữa thế giới chân lý với thế giới kinh nghiệm,

sự phân biệt giữa đời sống lý trí và đời sống cảm tính và đi tới kết luận : tri thức không phải có được từ cảm quan mà chỉ có được thông qua lý trí Trong thế giới ý niệm của Platon, ý niệm thiện là ý niệm tuyệt đối, chỉ có nhà triết học mới nhận thức được ý niệm và đạt được tới cõi thiện, sánh ngang thần thánh Con người chỉ có thể hoàn thiện nhân cách trong một nhà nước được tổ chức một cách hợp lý Mục đích của triết học là xây dựng một nhà nước hoàn toàn lý tưởng và hoàn thiện

Tóm lại, sự hình thành tư tưởng triết học của Platon gắn liền với những biến chuyển xã hội dữ dội thời kỳ khủng hoảng của các thành bang Lập trường triết học duy tâm của ông là kết quả của những thất vọng đối với thực

tế xã hội phức tạp lúc bấy giờ, đồng thời là sự tiếp nối tư tưởng của Socrát, bởi vậy nó chứa đầy mâu thuẫn Theo ý kiến của Heghen, Platon là người có

ảnh hưởng to lớn đến tiến trình phát triển tư tưởng và văn hoá tinh thần của nhân loại là nhà tư tưởng kiệt xuất của thời cổ đại

1.2 Tổng quan về học thuyết ý niệm và linh hồn- cơ sở và nền tảng các quan điểm chính trị - xã hội của Platon

1.2.1 Học thuyết ý niệm

Platon đã đối lập thế giới các bản chất tinh thần bất biến và bất động với thế giới các vật thể cảm tính biến đổi Thế giới bất biến, bất động là “tồn tại chân thực”; là thế giới của những bản chất tinh thần; đó là ý niệm Thế giới các vật thể cảm tính là thế giới luôn luôn biến đổi, nó mang tính phái sinh lệ thuộc Với tư cách vật thể cảm tính, mọi vật đều sinh ra, biến đổi và bị

Trang 9

diệt vong; còn với tư cách là ý niệm, tức là cái chung tuyệt đối của các sự vật

đơn lẻ, nó là vĩnh hằng và bất biến

Chủ nghĩa duy lý của phái Êlê đóng một vai trò quan trọng trong học thuyết về nhận thức siêu cảm tính của Platon Ông đã đối lập một cách siêu hình tư duy lý luận với cảm tính và đã bác bỏ mối liên hệ biện chứng giữa cảm xúc và tư duy trong nhận thức đã được Đemocrit chỉ ra Platon khẳng

định rằng trong bất kỳ trường hợp nào và với bất kỳ điều kiện nào thì cảm tính, cảm xúc cũng không thể là nguồn gốc của nhận thức chân lý

Platon coi tồn tại là vĩnh viễn, bất biến, luôn luôn đồng nhất với chính bản thân mình, đồng thời tách biệt khỏi các sự vật cảm tính Khác với Pacmenit, Platon không coi tồn tại là một cái gì đó thuần nhất, mà là tổng thể của các ý niệm khác nhau Cái không tồn tại không hoàn toàn đối lập với tồn tại, mà là một khía cạnh của tồn tại Chẳng hạn như vật chất (hylê) là cái không tồn tại vì trên thực tế vật chất không tồn tại dưới dạng thuần tuý, nhưng khái niệm vật chất vẫn tồn tại Nói cách khác, ý niệm và vật chất là hai cơ sở tạo nên mọi sự vật trong thế giới, trong đó ý niệm là bản chất chung của mọi sự vật, đem lại sinh khí cho chúng, đồng thời là cơ sở thống nhất của toàn

vũ trụ; còn vật chất là căn nguyên tạo ra hình thù, chất liệu của mỗi sự vật, tạo nên sự đa dạng và sự biến đổi không ngừng của chúng Do vậy, các sự vật là dạng trung gian giữa ý niệm và vật chất Trong mối quan hệ giữa thế giới ý niệm và thế giới các sự vật thì sự vật cảm tính chỉ là dấu ấn của ý niệm, được sinh ra từ cái nguyên mẫu tinh thần bằng cách bắt chước các ý niệm, sự hỗn hợp này đem lại những dấu vết của ý niệm in lên vật chất Như vậy, sự vật cảm tính là không chân thực, do đó không phải là đối tượng của tư duy

Socrát cho rằng tri thức chứa đựng trong linh hồn, người ta chỉ việc rút

ra tri thức từ đó mà không cần đến một sự trợ giúp nào từ bên ngoài Nhưng Platon lại thêm rằng sở dĩ tri thức có thể hiện diện tiềm ẩn được trong linh hồn như thế là vì linh hồn bất tử, nó đã tồn tại từ trước khi con người ra đời và

ở thời tiền kiếp đó linh hồn đã biết được tất cả các yếu tính của vạn vật

Trang 10

Platon đã xoá bỏ tất cả tri thức đến từ kinh nghiệm, không chấp nhận một phương thức khoa học là dựa vào quan sát và thực nghiệm để có được tri thức Nhận thức luận của Platon hoàn toàn mang tính duy tâm, thần bí, đối lập với chủ nghĩa duy vật và khoa học Tuy nhiên đứng trên quan điểm lịch sử để nhận xét về Platon thì chúng ta phải thừa nhận rằng nhận thức luận của Platon

đã đề cao tính độc lập của hoạt động tư duy, biến tư duy trở thành một đối tượng nghiên cứu độc lập

1.2.2 Học thuyết về linh hồn

Linh hồn vũ trụ

Theo Platon, vũ trụ đã được cấu tạo theo một nguyên mẫu do thần tạo hoá Nguyên mẫu đó là thế giới ý niệm chỉ biết tồn tại vĩnh viễn mà không bao giờ biết đến biến dịch Vũ trụ là bản sao của nguyên mẫu đó thì luôn luôn biến dịch và không phải là tồn tại chân thực Theo đó, cơ cấu của linh hồn con người cũng tương tự cơ cấu của linh hồn vũ trụ, gồm có hai vòng tròn : một là

“ vòng tròn của cái đồng tính” ( le cercle du Même); hai là “ vòng tròn của cái khác biệt” (le cercle de l’Autre) Nếu vòng tròn của cái đồng tính không

bị xáo trộn bởi vòng tròn của cái khác biệt thì linh hồn sẽ có được “ trí khôn

và tri thức”

Thần tạo hoá đã chế tạo ra bốn loại sự sống, một là loại sống thần linh như thần thánh, loại này vì được cấu tạo bằng lửa nên chúng có bộ mặt tròn xoay và hành động theo quy luật của cái đồng tính, bên cạnh đó là các vị thần

có hình dạng người, thú hay các hình tượng thiên nhiên; hai là các loài bay trên không; ba là các loài sống dưới nước; bốn là các loài sống trên mặt đất Trong các loài sống trên mặt đất có loài người Linh hồn của họ là một thành phần của linh hồn vũ trụ Thể xác chứa đựng linh hồn lại là hỗn hợp của đất, nước, lửa và không khí

Linh hồn là trung gian giữa thế giới ý niệm và thế giới các vật thể cảm tính Vì tương tự với ý niệm nên linh hồn ở trong thân xác và bất tử, vì tương

tự với thế giới các vật thể cảm tính nên linh hồn mới chiếm một vị trí không

Trang 11

gian Platon nghĩ rằng cần phải có một linh hồn trong vũ trụ để đảm bảo cho mọi sự vật điều hoà một cách hợp lý và để giải thích được sự chuyển dịch Linh hồn vũ trụ là nguyên nhân của mọi vận động trong thế giới, còn linh hồn con người làm cho họ có thể vận động

Theo Platon, sự vận động, sự phát triển, sự biến đổi của các sự vật cảm tính được thực hiện là do sự tác động qua lại giữa tồn tại (ý niệm) và không tồn tại (vật chất) Đối lập với thế giới ý niệm chính là vật chất, được coi là một cái hỗn loạn, không có hình thức, trong đó các ý niệm được phản ánh Nhờ sự phản ánh này, “không tồn tại” mới trở thành thế giới vật thể cảm tính Trong tư tưởng của Platon, tri thức khoa học và thần bí liên hệ với nhau mật thiết, bởi thế khả năng nhận thức của con người hoàn toàn tách rời khỏi con người như sự tách rời giữa linh hồn và thể xác, từ đây đi tới kết luận duy tâm

về tính có trước của linh hồn so với thể xác

Lý thuyết linh hồn con người

Theo Platon linh hồn con người được phân thành hai phần Phần cao quý nhất là lý trí, tức là những thành phần của linh hồn có khả năng nhận thức được thế giới ý niệm Thành phần tiếp theo của linh hồn thì không bất tử

và được chia làm hai phần nhỏ, một là phần thượng đẳng, hai là phần hạ đẳng; thượng đẳng là phần của những đức tính can đảm và những cảm xúc cao thượng; hạ đẳng là phần của những ước muốn dục vọng Phần hạ đẳng của linh hồn là nơi sinh ra những ước muốn hạ đẳng như đói, khát, tình dục; cơ quan của những ước muốn này ở phần bụng dưới và nguyên tắc của nó là điên

rồ, phi lý và cuồng vọng ; đạo đức tương ứng với nó là tiết độ Phần thứ hai là trái tim , nơi nảy sinh những đam mê, cơ quan của nó là hoành cách mạc, nguyên tắc của nó là sự giận dỗi và đạo đức tương ứng là can đảm Phần thứ

ba là tinh thần, phần duy nhất có tính cách bất tử Cơ quan của nó là đầu óc, nguyên tắc của nó là lý trí và đạo đức tương ứng là khôn ngoan Phẩm chất

đạo đức chung cho cả ba thành phần của linh hồn là sự công bằng và được phân bố cho mỗi thành phần của linh hồn

Trang 12

Về sau này Arixtot đã phản đối quan điểm của Socrat và Platon, đồng thời cả của học phái Pitago và cho rằng linh hồn và thể xác không phải là hai bản thể tách biệt nhau mà là hai thành tố không thể ly gián của cùng một bản thể, trong đó linh hồn là nguyên nhân và nguyên lý làm cho thể xác sống

động Theo Arixtot, quan hệ giữa linh hồn và thể xác cũng giống như quan hệ giữa hình dạng và vật chất, mọi tác động đến thể xác đều tác động đến linh hồn và ngược lại Platon đã đưa ra ba lý do để chứng minh sự bất tử của linh hồn con người Lý do thứ nhất, linh hồn của ta tự nó đã có sự hoạt động của riêng nó và đã có một tư tưởng Niềm tin tôn giáo về sự tuần hoàn của các thế

hệ đưa đến ý niệm cho rằng linh hồn của con người tồn tại nơi địa ngục và nếu sự sống phát sinh ra cái chết thì ngược lại, cái chết phải là sự bắt đầu của một cuộc sống mới Theo ông, nếu ở đâu có những trạng thái tương phản nhau thì cho dù chúng trái ngược nhau, cái này vẫn có thể chuyển thành cái kia, và như thế sau khi “chết đi” thì phải có sự “sống lại”.Vì hiểu biết cũng là

do học tập đem lại nên học tập là sự nhớ lại, và dĩ nhiên những điều mà ta nhớ lại hiện nay phải do sự học tập trước kia mà ra, như thế là linh hồn chúng ta trước khi thành hình người, vốn đã có ở một nơi nào đó và linh hồn ấy bất tử,

đây là lý do thứ hai Lý do thứ ba về sự bất tử của linh hồn là sự phân biệt giữa các sự vật phức hợp và các sự vật không phức hợp, các sự vật phức hợp luôn luôn giữ nguyên bản chất của chúng, trong khi các sự vật không phức hợp thì luôn luôn thay đổi cả bản chất cùng với các mối liên hệ Linh hồn thuộc về thế giới vô hình bất tử, còn thể xác thuộc về thế giới hữu hình khả tử

Chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platon đã được thể hiện như sau: ban đầu, ông phân biệt các sự vật cảm tính và các khái niệm về chúng, sau đó

ông tuyệt đối hoá các khái niệm đó rồi biến chúng thành các bản thể độc lập tức là các ý niệm bất biến và bất động với tư cách là thế giới của “tồn tại chân thực”, ông đã đi tới kết luận về sự tồn tại của linh hồn bất tử, linh hồn hồi tưởng về các ý niệm

Ngày đăng: 22/01/2016, 18:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w