Có thể dẫn chứng là QGD được ghi nhận trong Nghị định thư đầu tiên của Công ước châu Âu về các quyền và tự do cơ bản của con người; Nghị định thư bổ sung của Công ước châu Mỹ về quyền co
Trang 1VI ỆN HÀN LÂM
Hà N ội - 2020
Trang 2VI ỆN HÀN LÂM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguy ễn Thị Việt Hương
Hà N ội - 2020
Trang 3i
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
k ết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác Các số liệu, thông tin, tài liệu tham khảo trong luận án có xuất xứ rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ
Tôi hoàn toàn ch ịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác gi ả luận án
Tr ịnh Như Quỳnh
Trang 4ii
M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài luận án 8
1.2 Nh ận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và nh ững vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án 19
1.3 Gi ả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 23
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN GIÁO DỤC 26
2.1 Khái ni ệm, đặc điểm, vai trò, nội dung quyền giáo dục 26
2.2 Điều chỉnh pháp luật về quyền giáo dục 45
2.3 Các y ếu tố tác động đến quyền giáo dục 52
Chương 3 THỰC TRẠNG QUYỀN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 63
3.1 Th ực trạng các yếu tố tác động đến quyền giáo dục ở Việt Nam hi ện nay 63
3.2 Th ực trạng điều chỉnh pháp luật về quyền giáo dục ở Việt Nam hi ện nay 70
3.3 K ết quả, hạn chế trong thực hiện trách nhiệm trao quyền giáo dục c ủa các thiết chế 81
3.4 Đánh giá khái quát về thực hiện quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 95
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUYỀN GIÁO D ỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 110
4.1 Quan điểm thực hiện quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 110
4.2 Gi ải pháp thực hiện quyền quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 114
K ẾT LUẬN 147
DANH M ỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG B Ố LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 150
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PH Ụ LỤC: Có văn bản riêng kèm theo
Trang 5iii
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ GD&ĐT: Bộ Giáo dục và Đào tạo
CRC: Công ước quốc tế về quyền trẻ em
GD: Giáo dục
GDĐT: Giáo dục và đào tạo
GDPL: Giáo dục pháp luật
ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa năm 1966
MTTQVN: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
NGOs: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
QCN : Quyền con người
UBND: Ủy ban nhân dân
UBTVQH: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
UNDP: Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc
UNESCO: Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 61
M Ở ĐẤU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Quyền con người (QCN) là những giá trị cao quý, thiêng liêng kết tinh từ các
nền văn hóa, văn minh của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Trong hệ thống các QCN, quyền giáo dục (QGD) có vị trí, vai trò quan trọng thuộc nhóm các quyền văn
hoá, được gọi là “quyền trao quyền”, bởi được hưởng thụ QGD chính là chìa khoá
để con người tiếp cận, hưởng thụ các nhóm quyền khác về dân sự, chính trị, kinh tế,
xã hội và văn hóa, đồng thời là cơ hội cho con người phát huy tài năng, trí tuệ để khám phá, chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, dân tộc và của cả nhân loại
Chính vì lẽ đó, QGD đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền (UDHR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa (ICESCR); Công ước về sự xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ (CEDAW); Công ước về quyền trẻ em (CRC) Công ước về chống phân biệt đối xử trong giáo dục của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO);…được các châu lục trên thế giới ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện Có thể dẫn chứng là QGD được ghi nhận trong Nghị định thư đầu tiên của Công ước châu Âu về các quyền và tự do cơ bản của con người; Nghị định thư bổ sung của Công ước châu Mỹ về quyền con người trên lĩnh vực các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá; Hiến chương châu Phi về các QCN và các dân tộc; Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu;…
Bảo đảm QGD cho mọi người cũng là chủ đề được Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đặc biệt ưu tiên; được quan tâm nghiên
cứu, đề cập trong các hội nghị, hội thảo quốc tế và khu vực với sự tham dự của nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các nhà khoa học nhằm thúc đẩy thực hiện tốt hơn QGD của công dân các quốc gia
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, cha ông ta luôn coi trọng giáo dục (GD) và xác định hiền tài là nguyên khí quốc gia Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" 60, tr.8 Ngay từ khi mới giành được độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở chiến dịch
chống nạn mù chữ, tiêu diệt giặc dốt, coi đó là nhiệm vụ cấp bách thứ hai trong sáu nhiệm vụ cấp bách của chính quyền
Trang 72
Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đảng và Nhà nước ta nhận thức sâu sắc về vai trò của QGD, luôn quan tâm tôn trọng và thực hiện QGD, xác định phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học công nghệ là “quốc sách hàng đầu” để xây dựng và phát triển đất nước Có thể thấy, thực hiện QGD ở Việt Nam mang tính tất yếu, cần thiết, xuất phát từ nhu cầu mang tính toàn cầu, khu vực và các nhu cầu nội tại trong nước Các nhu cầu đó nằm ngay trong GD và từ các yếu tố tác động trực tiếp đến QGD ở nước ta hiện nay Đặc biệt, trong bối cảnh sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam phải chú trọng phát triển con người với nòng cốt và nền tảng là thực hiện QGD cho mọi người nhằm tạo nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, kỹ năng, tầm nhìn để nắm bắt cơ hội thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 bao gồm tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và những sáng chế mới trong nhiều lĩnh vực, chính là then chốt tạo nên những cú hích cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững đất nước
Với tư cách là thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về QCN, trong đó có ICESCR, Việt Nam cam kết là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì QGD Vì vậy, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực thực hiện QGD Minh chứng là QGD đã được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về QGD ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, với nội dung chặt chẽ và thể chế hóa khá toàn diện quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về QGD, từng bước tiệm cận, tiến tới hài hòa với pháp luật quốc tế về QGD Xây dựng, ban hành nhiều chính sách phát triển, đóng vai trò quan trọng và tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện QGD ở Việt Nam Các thiết chế bảo đảm thực hiện QGD ngày càng được củng cố, hoàn thiện và vận hành có hiệu quả, được tổ chức triển khai bởi các cơ quan có thẩm quyền thông qua các chiến lược, chương trình hành động, mục tiêu quốc gia có liên quan đến QGD; công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về QGD, ý thức trách nhiệm thực hiện QGD cho cán bộ, Đảng viên và các tầng lớp nhân dân được quan tâm;…
Tuy nhiên, thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều thách thức và rào cản như: chênh lệch sự phát triển về kinh tế, xã hội giữa các địa phương trong
cả nước dẫn đến có biểu hiện bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận và hưởng thụ QGD
Trang 83
giữa nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; giữa người giàu và người nghèo; rào cản về tư duy bảo thủ, trì trệ trong đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, GDĐT; thiếu sót trong quản lý GD: thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thật sự hiệu quả dẫn đến tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí trong GDĐT; chưa quyết liệt chỉ đạo, giám sát thực hiện tự chủ trong GDĐT nhất là giáo dục đại học; nhận thức hạn chế của chủ thể trao quyền và chủ thể hưởng thụ QGD; bên cạnh đó có sự tác động của yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa đặc biệt là văn hóa nhân quyền, yếu tố xã hội; …đã chi phối đến thực hiện QGD của mọi chủ thể; trong đó, quan trọng là rào cản từ thể chế (hệ thống pháp luật về QGD chưa hoàn thiện), rào cản từ thiết chế bảo đảm thực hiện QGD (sự vận hành của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trao QGD theo luật định) Do đó, đòi hỏi phải nghiên cứu, xác định nguyên nhân của những hạn chế, rào cản để kiến nghị giải pháp thực hiện QGD ở Việt Nam là rất cần thiết
Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về QGD, bảo đảm QGD của một số nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em khuyết tật, người dân tộc thiểu số) Tuy nhiên, do chủ đề nghiên cứu chỉ xác định trong phạm vi hẹp về QGD cho một nhóm, ở một địa phương cụ thể, nên thiếu tính đại diện; chưa giải quyết thấu đáo những vấn đề lý luận về QGD; chưa đánh giá tổng quát thực trạng QGD ở Việt Nam hiện nay; chưa xác định các quan điểm chủ đạo, các giải pháp được kiến nghị chưa đảm bảo tính đồng bộ, tính khả thi để thực hiện QGD cho mọi người ở Việt Nam
Do đó, nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện dưới góc độ Luật học để xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp có tính khả thi để thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay là yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Vì vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Quyền giáo dục ở Việt Nam hiện
nay” để nghiên cứu trong phạm vi luận án tiến sĩ luật học ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 94
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án xác định những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
những nội dung nghiên cứu đã làm rõ, luận án có thể kế thừa, phát triển; những vấn
đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung QGD; điều chỉnh pháp luật về QGD, các yếu tố tác động đến QGD
Thứ ba, nghiên cứu, phân tích đánh giá khái quát thực tiễn thực hiện QGD ở
Việt Nam hiện nay, làm rõ những kết quả, hạn chế trong điều chỉnh pháp luật về
QGD (ghi nhận QGD trong pháp luật và thực hiện QGD trong hoạt động của các
thiết chế); đánh giá khái quát về những thành tựu cơ bản, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của thành tựu, hạn chế trong thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, từ kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn QGD, xác định các quan điểm
và đề xuất các giải pháp thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về QGD ở Việt Nam hiện nay
Quyền giáo dục là vấn đề rộng lớn của thế giới, các khu vực, mỗi quốc gia, dân tộc, là quyền của tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những mức độ nhất định Cụ thể:
tiễn, liên quan đến nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về QGD từ góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
thực tiễn về QGD ở Việt Nam; có đề cập đến một số quốc gia có kinh nghiệm trong thực hiện QGD để so sánh, gợi mở cho Việt Nam
Trang 105
năm 1986 đến nay, trọng tâm là giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2019 (từ khi Nghị
được ban hành và được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu đề tài
Đề tài luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về QCN; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về QCN, trong đó
có QGD, về phát triển GD, đào tạo nhân lực, nhân tài cho phát triển đất nước; đồng
thời dựa trên lý thuyết về quyền pháp lý, lý thuyết về tiếp cận dựa trên quyền, tiếp cận đa ngành, liên ngành, lý thuyết xã hội học pháp luật để làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận, thực tiễn về QGD
Để đạt được mục đích và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận
án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
cả 04 chương của luận án để luận giải thuyết phục về các nội dung liên quan đến chủ
đề luận án; đặc biệt là trong đánh giá, tổng hợp, sử dụng các tài liệu, số liệu trong các công trình nghiên cứu đã công bố, trong các báo cáo tổng kết của các cơ quan
có thẩm quyền có liên quan đến đề tài luận án
- Phương pháp lịch sử: phương pháp này được sử dụng trong chương 1 và
chương 3 để tìm hiểu khái quát quá trình hình thành và phát triển của QGD, đánh giá thực trạng QGD trong bối cảnh cụ thể về điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của Việt Nam
3 của luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thực trạng QGD ở Việt Nam hiện nay
chương 2, 3, 4 nhằm đối chiếu chuẩn mực quốc tế với chuẩn mực quốc gia về QGD;
Trang 116
so sánh để thấy mức độ nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về QGD trong pháp luật Việt Nam; mức độ kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam về QGD qua các thời kỳ, kinh nghiệm về xây dựng hoàn thiện thể chế, thiết chế bảo đảm QGD của các nước để tham khảo trong quá trình hoàn thiện thể chế và thiết chế bảo đảm QGD ở Việt Nam; phương pháp này được sử dụng trong các chương 2, 3, 4 của luận án
toàn bộ luận án để phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung liên quan đến đề tài luận án, cụ thể là thông qua việc trao đổi trực tiếp với các chuyên gia pháp lý, đặc biệt là các nhà khoa học nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về QCN, chuyên gia
về GD; kết hợp với phương pháp quan sát, tham dự quá trình GDĐT; thu thập, đánh giá các tài liệu thứ cấp nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn QGD
- Phương pháp hệ thống: phương pháp này được sử dụng để hệ thống hoá
những vấn đề lý luận và thực tiễn theo một khung phân tích đã được đưa ra theo cấu trúc của luận án
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở trình độ tiến sĩ, kết quả nghiên cứu của luận án đã luận giải tổng thể các vấn đề lý luận về QGD; đánh giá một cách toàn diện về thực trạng QGD ở Việt Nam hiện nay; xác định những quan điểm và đề xuất một số giải pháp có tính khả thi trong thực tiễn để thực hiện ngày càng tốt hơn QGD ở Việt Nam hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của Luận án khác với những công trình nghiên cứu có liên quan đến QGD đã công bố ở chỗ nghiên cứu của luận án đưa ra quan điểm tổng thể về thực hiện QGD ở Việt Nam cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi cấp học theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, tạo cơ hội bình đẳng cho chủ thể quyền được học tập suốt đời theo triết lý giáo dục của thế kỷ XXI là học để có kiến thức, học để làm việc, học để biết chung sống với nhau và học để làm người
- Luận án đã vận dụng thành công cách tiếp cận đa ngành và liên ngành bao gồm: Khoa học pháp lý (chủ đạo là Luật Hiến pháp và Luật Hành chính), khoa học
GD (chủ đạo là GD, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, đào tạo nghề…), khoa học phát triển, xã hội học, văn hoá học và tiếp cận tổng thể dựa trên quyền để luận giải
những nội dung của luận án
Trang 127
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về QGD trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Do đó, luận án góp phần bổ sung phát triển những vấn đề
lý luận về QGD, góp phần hình thành tư duy đầy đủ hơn về QGD, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của các chủ thể trao quyền, chủ thể hưởng thụ QGD ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận án xác lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, thiết chế nhằm thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà lập pháp, các nhà quản lý và các nhà hoạt động xã hội liên quan đến QGD
Luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực khoa học chính trị và khoa học pháp lý; giáo dục quyền con người, quyền công dân ở các cơ sở đào tạo chuyên luật và không chuyên luật
7 C ấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục kèm theo, nội dung luận án được cấu trúc gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền giáo dục
Chương 3: Thực trạng quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quan điểm và giải pháp thực hiện quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Trang 138
Chương 1
T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài luận án
Luận án với đề tài “Quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay” là công trình
nghiên cứu về một quyền cụ thể (QGD) gắn với một quốc gia cụ thể (Việt Nam), được tác giả xác định triển khai theo hướng nghiên cứu đa ngành và liên ngành trong lĩnh vực luật học, trong đó góc tiếp cận là luật học là chủ yếu Vì vậy, luận án
sẽ đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến QGD, chú trọng các bài viết có nội dung đánh giá liên quan đến QCN gắn với QGD, chủ yếu tập trung đánh giá những công trình, bài viết liên quan đến QGD ở Việt Nam hiện nay, để thấy những gì đã được các công trình nghiên cứu làm sáng
tỏ, luận án có thể kế thừa, phát triển; những gì chưa được làm rõ để xác định hướng nghiên cứu của luận án
1.1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền giáo dục
Vấn đề quyền con người trong đó có QGD đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Cương lĩnh năm 1991 của Đảng đã xác định giáo dục, đào tạo cùng
với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12 tháng
7 năm 1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đánh dấu bước phát triển quan trọng tư duy của Đảng về QCN, Đảng ta thừa nhận giá trị phổ quát của QCN:
“Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của
nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” [6] Quan điểm coi về giáo dục, đào tạo cùng với
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu của Đảng được tái khẳng định trong Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VII; trong Cương lĩnh năm 2011, đặc biệt là trong Nghị quyết số 29-NQ/TW
Từ quan điểm định hướng của Đảng, QCN trong đó có QGD thực sự trở thành đề tài được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu
Trang 149
- Nghiên cứu chuyên sâu lý luận về QCN trong đó có QGD, làm rõ khái niệm, nội hàm QCN, các chuẩn mực quốc tế, khu vực, quốc gia về QCN, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (trong đó có QGD), các điều kiện bảo đảm, các yếu tố ảnh hưởng; cơ chế bảo đảm (gồm thể chế và thiết chế) QCN về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của Việt Nam thời trong kỳ đổi mới của Đề tài khoa học cấp nhà
nước “Thành tựu bảo đảm quyền con người trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam - thực
nhóm các nhà khoa học trong và ngoài Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện, đã nghiệm thu năm
2005 [81]
- Những vấn đề lý luận về cơ chế nhân quyền quốc gia, quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật của một số nước ASEAN và Trung Quốc về cơ chế nhân quyền quốc gia, rút ra những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện cơ chế nhân quyền quốc gia của Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm “Tổ chức
và hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia một số nước ASEAN và Trung Quốc - Kinh nghiệm đối với Việt Nam” do chủ nhiệm Nguyễn Đức Thùy và nhóm tác giả thực hiện, nghiệm thu năm 2011 [86]
- Những vấn đề lý luận về quyền văn hóa trong đó có đề cập đến vai trò của
GD, QGD để nâng cao nhận thức về quyền văn hóa trong Đề tài khoa học cấp nhà
nước “Bảo đảm quyền văn hóa trong điều kiện phát huy đa dạng văn hóa ở Việt
Nam hiện nay” do chủ nhiệm Hoàng Văn Nghĩa và nhóm tác giả thực hiện, đã nghiệm thu năm 2015 [66]
chiều khi đánh giá thực trạng cũng như xác định quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện QCN trong đó có QGD, xác định rõ QCN, QGD vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù, QGD có mối liên hệ và phụ thuộc với các quyền khác về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa Tiêu biểu là nghiên cứu về của tác giả Võ Khánh Vinh [107, tr.9-20]; tập hợp các công trình nghiên cứu về cơ chế bảo đảm và
và quốc gia về cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người (trong đó có cơ chế bảo
Trang 1510
vệ và bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa bao gồm cả QGD; những vấn đề đặt
ra với việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ở Việt Nam của Võ Khánh Vinh và các tác giả [106]; nghiên cứu phân tích quá trình hiến định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong đó có QGD), đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 trong sách "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
Báo và Vũ Công Giao là đồng chủ biên [4]; nghiên cứu về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh về GD, tầm quan trọng của quá trình vận dụng những tư tưởng của Người, làm rõ điều kiện chính trị về bảo đảm
QGD ở Việt Nam trong Sách chuyên khảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và
vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay của tác giả Hoàng Anh [2]
- Trong Giáo trình Lý lu ận và pháp luật về quyền con người, của Đại học
Quốc gia Hà Nội, đã nêu rõ các chuẩn mực quốc tế về QGD, trách nhiệm của quốc gia thành viên công ước về ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm QGD trong khả năng cao nhất của quốc gia (vì QGD thuộc nhóm quyền tương đối nghĩa là các quốc gia có thể thực hiện dần dần phụ hợp với điều kiện của quốc gia) [36, tr 216-227]
- Trong Giáo trình Lý lu ận và pháp luật về quyền con người của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nêu rõ những vấn đề lý luận về QCN, quyền công dân trong đó có QGD, đây là cơ sở lý luận quan trọng có thể kế thừa trong nội dung của luận án [51, tr 19-21]
- Bài viết “Vai trò của văn hóa - Giáo dục trong việc tạo lập một tâm quyển
cho sự phát triển bền vững của đất nước trên cơ sở kinh tế tri thức” của tác giả
Phạm Xuân Nam [71]; Quyền được giáo dục theo quy định của Luật quốc tế và cơ
Dương -Vũ Công Giao đã phân tích làm rõ: Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư với giáo dục, quyền được giáo dục và quyền được giáo dục ở Việt Nam [38]; Quyền con người - thước đo quan trọng của tiến bộ xã hội, Luận án tiến sĩ
Triết học của Đoàn Trường Thụ [82]; Jurisprudence of human rights and the
mechanism for protection: A comparative study between Vietnam and the United
quốc Anh), Luận án tiến sĩ Luật học của Hoàng Văn Nghĩa, nghiên cứu so sánh cơ
Trang 1611
chế bảo đảm QCN tại Việt Nam và Vương quốc Anh rút ra những giá trị tham khảo cho việc đề xuất xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm QCN trong đó có QGD ở
Việt Nam [65]; Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ Luật học của Lữ Văn Tuyên [85]
Ngoài ra, những vấn đề lý luận về QCN, QGD còn được đề cập tới trong các bài viết tại các hội thảo trong nước và quốc tế được tổ chức tại Việt Nam như: Hội
thảo “Kết nối nghiên cứu về quyền con người” do Bộ Ngoại giao tổ chức tháng 4/2008; Hội thảo “Tổng kết thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
chức tháng 4/2019; cùng nhiều hội thảo khoa học do Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, các bộ, ban ngành Trung ương tổ chức có liên quan đến chủ đề QCN, QGD
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1945, Liên Hợp quốc thành lập tổ chức UNESCO - Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa (United Nations Educational Scientific and Cultural
tế và hoạt động nhằm liên kết các nước trên thế giới trong thúc đẩy và bảo vệ QGD, trong đó có hoạt động liên kết nghiên cứu về QGD trên thế giới và ở các quốc gia Năm 1960 UNESCO đã thông qua Công ước chống phân biệt đối xử trong giáo d ục, Công ước ghi nhận các chuẩn mực về QGD, nhấn mạnh các nghĩa
v ụ của các quốc gia phải bảo đảm giáo dục miễn phí và bắt buộc, cấm mọi hình th ức phân biệt đối xử và thúc đẩy bình đẳng về cơ hội giáo dục [90]
Chủ đề QCN, QGD luôn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Các công trình khoa học với những góc tiếp cận và cấp độ nghiên cứu khác nhau đều có những đóng góp riêng đối với thúc đẩy QCN, QGD, cụ thể:
tích chỉ ra nguồn gốc lý thuyết triết học của con người với tư cách là phương thức
để bảo đảm sự tôn trọng QCN trên thực tế, đưa ra các quan điểm khác nhau về việc
áp dụng QCN trên thực tế của Alston, Philip [110] Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến QGD như: Ngôn ngữ, dân tộc thiểu số
và nhân quyền (Language, Minorities and Human Rights) của tác giả Fernand de Varennes xuất bản năm 1996; Trẻ em, giáo dục và Sức khỏe (Children, Education and Health) của Neville Harris và Paul Meredith xuất bản năm 2005; …
Trang 17và GD đặc biệt [132]
- Human rights obligations in education worldwide - free or fee 2006 global
giới- miễn phí hay trả phí) của Katarina Tomasevski, nội dung cuốn sách là tập hợp
những bản báo cáo trên toàn thế giới về vấn đề chi phí trong bảo đảm QGD thông qua quá trình phân tích về tình hình bảo đảm QGD của 170 quốc gia Báo cáo khẳng định: Áp dụng giáo dục miễn phí và bắt buộc làm thước đo để đánh giá giá trị của QGD trong thế giới ngày nay với trọng tâm là các nước đang phát triển QGD bị tác động bởi một loạt các vấn đề liên quan đến quá trình liên kết kinh tế quốc tế và các hiệp ước quốc tế Vì vậy, Chính phủ các nước có nghĩa vụ đảm bảo GD miễn phí và bắt buộc, phổ biến, dễ tiếp cận cho tất cả trẻ em và mọi người, xây dựng kế hoạch và bảo đảm hỗ trợ nội bộ để tuân thủ nghĩa vụ này càng nhanh càng tốt [133]
- Tìm hi ểu quyền con người của Wolfgang Benedek (chủ biên) Viện Nghiên
cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức dịch thuật,
in ấn và phát hành Cuốn sách phân tích, luận giải để trả lời cho câu hỏi: Tại sao cần
có QGD? Định nghĩa và mô tả vấn đề - Nội dung của QGD và các nghĩa vụ của nhà nước phải bảo đảm: Tính sẵn có - Tính có thể tiếp cận được - Tính có thể chấp nhận được - Tính có thể thích nghi được; QGD của các nhóm người dễ bị tổn thương; giám sát việc thực hiện QGD; kinh nghiệm tốt của các nước về QGD; các xu hướng -
Thương mại hóa GD - Phát triển hướng tới GD cho mọi người… [143]
- OHCRH,UNESCO, Human Right Education in Primary and Secondary
School Systems: A self-assessment Guide for Governments, New York and Geneva
(Giáo dục QCN trong hệ thống trường trung học: một hướng dẫn dành cho các chính phủ), cung cấp hướng dẫn cho các quốc gia trong thực hiện GD quyền con người [125]
- The right to education Handbook (Sổ tay về quyền giáo dục của UNESCO năm 2018) Sổ tay cung cấp những hiểu biết cơ bản về QGD như: Khái niệm, đặc điểm, vai trò QGD, trách nhiệm bảo đảm QGD, nguồn lực kinh tế cho GD… [139]
Trang 1813
Một số công trình là sản phẩm liên kết nghiên cứu giữa các nhà khoa học Việt Nam và các nhà khoa học quốc tế trong các Dự án được Nhà nước Việt Nam
cho phép liên quan đến QCN trong đó có QGD, như: Nghiên cứu, so sánh QCN ở
Trung Quốc và Việt Nam (truyền thống, lý luận và thực tiễn), rút ra những điểm
tương đồng và khác biệt minh chứng cho tính phổ biến và tính đặc thù của QCN
trong đó có QGD [96]; Quyền con người: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và
ở Việt Nam và Australia [97]; Hiến pháp, pháp luật và quyền con người: Kinh
nghiệm Việt Nam và Thụy Điển, nghiên cứu, so sánh sự ghi nhận, tôn trọng QCN
trong đó có QGD trong Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và Thụy Điển (dưới góc
độ Luật học so sánh) chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt, cùng nguyên nhân để rút bài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện thể chế về QCN trong đó có QGD ở Việt Nam [95]; …
1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến thực trạng giáo dục và quyền giáo dục
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Giáo d ục Việt Nam và Phần Lan, của tác giả Nguyễn Khánh Trung, đề
xuất những kinh nghiệm cải cách GD của Phần Lan có thể áp dụng tại Việt Nam
[87]; - Giáo d ục Việt Nam học gì từ Nhật Bản của tác giả Nguyễn Quốc Vương,
phân tích về vấn đề GD lịch sử tại Việt Nam và Nhật Bản cũng như những kinh nghiệm có thể áp dụng trong bối cảnh GD lịch sử không được chú trọng ở các
trường học tại cả hai nước [108]; Bầy cừu xuất chuồng, tác giả William Deresiewicz
- dịch giả Quế Chi, phê phán cách áp đặt con trẻ đến các trường chuyên lớp chọn, hành vi không chỉ tác động xấu đến tâm lý mà còn xâm hại đến QGD của trẻ em;
khẳng định sự quan trọng của một nền GD tự do đích thực và trách nhiệm của hệ thống quản lý GD trước một thực trạng GD Mỹ đầy mâu thuẫn [142]
Bên cạnh đó, có các nghiên cứu khác phân tích thực trạng QGD tại Việt
thành tựu trong phổ cập GD tại Việt Nam và những tồn tại cần khắc phục nhằm
tăng cường hiệu quả thực hiện phổ cập GD trong tương lai [67]; Đổi mới căn bản,
quyền Việt Nam số 12/2012, xác định cơ sở cho quá trình đổi mới căn bản, toàn
Trang 1914
diện GD Việt Nam từ những thuận lợi và khó khăn của nền GD Việt Nam [75];
Đàm Quang Minh, Phạm Hiệp, cảnh báo các trường đại học nếu không muốn bị
“thua trắng” ngay trên sân nhà thì cần phải tìm cách đổi mới chính mình [58]; Chính
thiệu bức tranh toàn cảnh của chính sách GD dân tộc thiểu số của Trung Quốc, một quốc gia có nhiều điểm tương đồng về chính trị, văn hóa với Việt Nam [40]; Hiệu
nhóm tác giả Lê Quang Cảnh, Nguyễn Văn Thắng, Tôn Thu Hiền chỉ ra những bất cập về tài chính đầu tư cho GD [29]; Quản lý đào tạo thực hiện quyền tự chủ và
lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại học địa phương đáp ứng yêu cầu đổi mới GD [1];
sĩ Luật học của Võ Thành Long, trên cơ sở những lý luận về thực hiện pháp luật, pháp luật về GD và đào tạo, những đặc thù địa phương, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện pháp luật về GD và đào tạo ở tỉnh Bình Định hiện nay [57]
Đáng chú ý là đã có nhiều nghiên cứu tiếp cận đa ngành, từ góc độ triết học, luật học, chính sách công về bảo đảm quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước ta là tạo điều kiện, cơ hội bình đẳng cho các nhóm dễ bị tổn thương tiếp cận QGD, tiêu biểu như:
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học của Phạm Văn Dũng đã nghiên cứu
nguyên tắc bảo đảm công bằng xã hội trong GD tại địa bàn đặc biệt - các vùng dân tộc thiểu số, nơi QGD do ảnh hưởng của điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội
dễ bị xâm phạm [39]; Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước
ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Trọng Tuấn, phân tích khái niệm
“quyền tự chủ trong GD đại học” và thực trạng thực thi quyền tự chủ của các cơ sở
GD đại học công lập [89]; Bảo đảm quyền học tập của trẻ em ở Việt Nam hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Tố Như đã tiếp cận quyền học tập như
Trang 2015
một quyền thiết yếu cần được bảo đảm cho đối tượng trẻ em ở Việt Nam hiện nay,
đề xuất những giải pháp bảo đảm quyền học tập cho trẻ em Việt Nam [70]; Thực thi
chính sách hỗ trợ trong giáo dục phổ thông đối với học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công của Dương
Thị Quý, đã khái quát tình hình thực thi chính sách hỗ trợ trong GD phổ thông đối với học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn một huyện miền núi phía Bắc; đề xuất các giải pháp bảo đảm hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ GD - một công cụ quan trọng
nhằm bảo đảm thực hiện QGD ở Việt Nam [77]; Thực thi chính sách giáo dục và đào
tạo cho đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang, Luận văn Thạc sĩ Chính
sách công của Lê Nguyên Châu, đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp bảo đảm thực thi chính sách GDĐT cho nhóm yếu thế là đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang [28]; Bảo đảm quyền giáo dục cho trẻ em khuyết
tật trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Pháp luật về quyền con người của
Chung Phi Long, đã hệ thống một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm QGD cho trẻ em khuyết tật trên địa bàn một tỉnh (Bình Dương) [54]; Bảo đảm quyền học tập của trẻ em là con của người lao động tạm trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Pháp luật về quyền con người của Nguyễn
Thị Hiền Mai đã nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo đảm QGD của nhóm bị tổn thương kép là trẻ em - con của người lao động tạm trú, đây cũng là thách
thức của bảo đảm QGD trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay [61]; Quản lý
chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với hệ thống giáo dục phổ thông ở thành phố Yên Bái”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế của Nguyễn Trường Giang tiếp cận
từ góc độ quản lý kinh tế để làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp bảo đảm thường xuyên ngân sách nhà nước cho bảo đảm QGD ở bậc phổ thông tại một tỉnh miền núi; dưới góc độ QCN, Nhà nước có trách nhiệm phải quan tâm, ưu tiên đầu
tư để tạo điều kiện kinh tế để bảo đảm QGD ở các tỉnh có điều kiện khó khăn [44]
Thực trạng GD và QGD cũng được đề cập đến trong những Hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế, tổ chức tại Việt Nam: Hội thảo tham vấn về Dự thảo Báo cáo quốc gia theo Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng nhân quyền
Liên hợp quốc do Vụ các tổ chức quốc tế - Bộ Ngoại giao tổ chức (6/8/2013); Hội
thảo khoa học “Vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng và thực thi Hiến
pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trên thế giới và Việt Nam” do Viện Chính
Trang 2116
sách công và pháp luật tổ chức (16/9/2013); Hội thảo quốc gia với chủ đề: “Chính
sách về Giáo dục hòa nhập: Thực tiễn và sự thúc đẩy ở Việt Nam” do Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội và Tổ chức CBM phối hợp tổ chức (15/3/2018) tại Hà Nội;
Hội thảo “Vai trò của trường Đại học với việc học tập suốt đời ở người lớn”, do Bộ
GD&ĐT và Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức (16/10/2018) tại Thái Nguyên Tại Hội thảo, các chuyên gia GD đã chia sẻ những quan điểm về học tập suốt đời và vai trò của trường đại học với việc học tập suốt đời ở nước ta, kiến nghị các nhà quản lý GD phải chú ý đến xu thế phát triển của nền GD hiện đại trên thế giới để xác định những giải pháp xây dựng hệ thống đại học bảo đảm quyền học tập suốt đời của người lớn
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng QGD ở nước ngoài, trong
đó đáng lưu ý là các công trình nghiên cứu của OECD, UNICEF về thực trạng bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong tiếp cận QGD; thực trạng QGD cho các nhóm yếu thế ở các nước có nhiều thành tựu trong bảo đảm QGD; nghiên cứu của UNESCO về thực trạng thực hiện QGD theo tinh thần Công ước chống phân biệt đối xử trong giáo dục năm 1960, cụ thể:
- Phòng chính sách xã hội (Social Policy Division) thuộc tổ chức OECD thực hiện Công trình nghiên cứu chuyên sâu về GD đặc biệt (Special Education Needs -
SEN) [123] cho nhóm chủ thể đặc biệt của QGD - trẻ em khuyết tật: Nghiên cứu khảo sát mức độ đáp ứng chính sách của các quốc gia thuộc OECD trong giai đoạn
2007 - 2010 dưới 03 hình thức: trường học đặc biệt (special schools); lớp học đặc
đặc biệt (inclusive settings); xác định những vấn đề còn tồn tại trong quá trình áp
dụng chính sách về GD đặc biệt ở các nước OECD; Công trình nghiên cứu “Nhật
nguyên nhân tạo nên thành công của GD Nhật Bản [122]; Các chỉ số giáo dục ở
Canada: Quan điểm quốc tế 2019 (Educational indicators in Canada: International
GD và thụ hưởng QGD của các chủ thể [124]; Education Uprooted (Giáo dục cho người di cư) của UNICEF, nghiên cứu phân tích những khía cạnh đặc biệt của QGD
Trang 2217
đối với nhóm người di cư, đưa ra những giải pháp hỗ trợ họ tiếp cận và hưởng thụ
QGD [141]; Báo cáo giáo d ục Hàn Quốc năm 2019 của Bộ GD Hàn Quốc (Korean
đẩy GD đại học và GD suốt đời cho mọi người; liên kết và hợp tác quốc tế trong
GD [119]; Báo cáo GD đặc biệt: Câu trả lời cho COVID-19: Lớp học trực tuyến tại
tuyến ở mọi cấp học trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, đây là một kinh nghiệm quý báu cho tất cả các quốc gia trong bảo đảm QGD giữa những tình huống bất ngờ nhất
[120]; B ảng xếp hạng đại học thế giới Quacquarelli Symonds (QS World University
Rankings) năm 2019, là một nguồn tư liệu tham khảo tin cậy, thể hiện bức tranh toàn cảnh về GD đại học Châu Á [127]; “How Can We Prepare Our Kids For
trang cho các công việc của tương lai?), nghiên cứu chỉ ra những bất cập của hệ thống GD và cảnh báo hậu quả sẽ đến trong tương lai nếu chúng ta không bảo đảm QGD của con cái ngay từ bây giờ [111]; Indigenous peoples’ right to education (Quyền giáo dục của người bản địa) của UNESCO đã nêu các biện pháp hỗ trợ QGD cho người bản địa theo Công ước 1960 và Khuyến nghị chống phân biệt đối
xử trong GD [138]; Enforcing the right to education of refugees: a policy
UNESCO đã phân tích chỉ ra một số rào cản lớn đối với QGD mà người tị nạn phải đối mặt, từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm QGD với nhóm chủ thể đặc biệt này
[137]; UNESCO and the right to education (UNESCO và quyền giáo dục) khẳng định giáo dục là QCN cơ bản, quyền này là ưu tiên tuyệt đối và là cốt lõi của sứ mệnh toàn cầu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận bình đẳng với GD chất lượng cho mọi
người [135]; Ensuring the right to equitable and inclusive quality education (Đảm
bảo quyền được hưởng công bằng và chất lượng trong giáo dục hòa nhập) là các kết
quả của tham vấn thứ chín của các quốc gia thành viên về việc thực hiện Công ước của UNESCO và Tuyên bố chống phân biệt đối xử trong Giáo dục [140]
Có thể nói những nghiên cứu trên đây hết sức phong phú, đa dạng và mức độ
đề cập cũng rất khác nhau, nhìn chung nội dung đều tập trung đánh giá: QGD cho các nhóm yếu thế, QGD trong và ngoài quốc doanh, sự phân biệt đối xử trong các
Trang 23Trong phần tình hình nghiên cứu về lý luận, thực trạng QGD nêu ở mục
luận, thực tiễn có đề xuất các quan điểm, giải pháp thực hiện QGD cho các đối tượng, địa phương, lĩnh vực nghiên cứu đề cập Bên cạnh đó, còn có một số công
trình nghiên cứu như: Chăm lo cho quyền được học tập suốt đời của nhân dân của
tác giả Đức Tùng đã phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự kế thừa của Đảng ta về nêu cao trách nhiệm của Đảng, Nhà nước của cả hệ thống chính trị phải bảo đảm quyền được học tập suốt đời của nhân dân [83]; Định hướng xây dựng
chương trình xóa mù chữ dựa trên Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của
Nguyễn Minh Tuấn đã đóng góp những giải pháp có tính định hướng nhằm xây dựng chương trình xóa mù chữ tại Việt Nam [88]
hợp với văn phòng UNESCO tại Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ và Câu lạc
bộ Phần mềm Tự do nguồn mở Việt Nam tổ chức ngày 29/12/2015, có nhiều tham
luận đề xuất các quan điểm, giải pháp áp dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người tiếp cận và hưởng thụ QGD [41]; Hội thảo "Xây dựng và khai thác tài nguyên giáo dục mở" (OER 2019) được tổ chức tại trường Đại học Thăng Long: Các tham luận đã đề xuất quan điểm, giải pháp tạo điều kiện cho việc khai thác và phổ cập tài nguyên GD mở một cách rộng rãi và tránh việc xây dựng trùng lặp [43]
1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến QGD, đã được các học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu, dịch sang tiếng Việt để có thêm nguồn tài liệu tham khảo kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm thực hiện QGD trong bối cảnh hội nhập và phát triển ngày càng sâu rộng của
Việt Nam Cụ thể: Hiện đại hóa giáo dục của tác giả Vương Bân Thái (Giám đốc
Trang 2419
Sở GD tỉnh Giang Tô), do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2014: Tổng kết những kinh nghiệm trong cải cách GD tại tỉnh Giang Tô - Trung Quốc, đây là Quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam; Cải cách giáo dục Nhật Bản, Ozaki Mugen, do Nxb Từ điển Bách Khoa phát hành năm 2014: Thông qua nghiên cứu chiều dài lịch sử những cuộc cải cách GD tại Nhật Bản, tác giả xác định những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho GD Nhật Bản hiện đại và tương lai; Bài học
giải pháp mang tính cách mạng của Phần Lan: dạy ít hơn, kiểm tra ít hơn, học nhiều
hơn; tăng cường công bằng thông qua thúc đẩy đa dạng; đề cao nghề sư phạm và
vai trò của giáo viên đối với xã hội; sử dụng sức mạnh toàn cầu hóa và phong trào cải cách GD toàn cầu (GERM); ứng dụng những phương pháp cải cách GD sáng tạo
từ nước ngoài vào Phần Lan; Những sáng kiến Phần Lan, tập hợp bài viết của nhiều tác giả do Giáo sư, nhà nghiên cứu GD Ikka Taipale biên soạn, Nxb Trẻ phát hành
năm 2017 phân tích chỉ ra kinh nghiệm bảo đảm QGD của Phần Lan; Quyền giáo
Educational Rights of Students: International Perspectives on Demystifying the Legal Issues) [112] của các tác giả Charles J Russo Ed.D J.D Panzer Chair in Education University of Dayton: cung cấp một sự khảo nghiệm toàn diện về các giải pháp tăng cường QGD của sinh viên trong 13 cộng đồng quốc tế trên thế giới;
Cách tiếp cận dựa trên quyền giáo dục - Giáo dục cho mọi người (A Human
Rights-Based Approach to - Education for all) [134] là công trình nghiên cứu của UNESCO công bố năm 2007: Những khuôn khổ để thực hiện QGD của trẻ em; đề xuất giải pháp tăng cường vai trò các tổ chức nhà nước và trách nhiệm của các chủ thể trong bảo đảm QGD của trẻ em và mọi người trên thế giới;…
1.2 Nh ận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và
nh ững vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến QCN, QGD đã phân tích ở trên có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá khái quát sau đây
1.2.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Thứ nhất, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đa
dạng, phong phú; chủ đề QGD được quan tâm nghiên cứu cả trong nước và nước
Trang 2520
ngoài; được tiếp cận từ nhiều hướng với các mức độ liên quan khác nhau Các nghiên cứu về QGD ở Việt Nam trước đây chủ yếu được tiếp cận từ góc độ GD học
và triết học Những năm gần đây, xu hướng tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học
và tiếp cận dựa trên quyền ngày càng được quan tâm hơn
số vấn đề lý luận về QGD: Chuẩn mực quốc tế, quốc gia về QGD; đã đánh giá thực trạng thực hiện QGD chỉ ra những thành tựu hạn chế; QGD của một số nhóm dễ bị tổn thương: Phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, dân tộc thiểu số; trách nhiệm của quốc gia thành viên các công ước quốc tế về QCN phải thực hiện QGD; nêu một số quan điểm, đề xuất các giải pháp thực hiện QGD ở một số địa phương ở Việt Nam, một
số nước trên thế giới; kinh nghiệm thực hiện QGD của các nước có nền giáo dục tiên tiến có thể gợi mở cho Việt Nam; Đây là nguồn tư liệu quan trọng để luận án
có thể tham khảo, kế thừa và tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu thêm
tiến sĩ ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính trực diện về chủ đề “Quyền
trên, đặt ra nhiệm vụ cần phải đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu để tập trung vào hướng nghiên cứu chính của luận án, kế thừa các công trình nghiên cứu trước
đó và tránh trùng lặp
Thứ nhất, về lý luận: Các nghiên cứu trong nước đã nêu rõ tính chất “quyền
trao quyền” của QGD và vai trò của QGD với hệ thống các QCN khác Thực hiện QGD là yếu tố quyết định thúc đẩy thực hiện các quyền khác, củng cố nền tảng vững chắc cho phát triển về mọi mặt; QGD chỉ có thể được thực hiện khi tuân thủ nguyên tắc bình đẳng thực chất, trái với bình đẳng hình thức - cào bằng vai trò của các quyền cho mọi chủ thể Một số nghiên cứu đã đề cập bước đầu đến cơ chế bảo đảm QGD: Cơ chế bảo đảm chung từ cơ quan nhà nước, cơ chế bảo đảm khác Đồng thời, đã đề cập đến QGD của các chủ thể đặc biệt (dễ bị tổn thương) như: phụ
nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số
Các nghiên cứu ở nước ngoài, ở một mức độ nhất định đã làm rõ thế giới nỗ
lực thiết lập các tiêu chí đánh giá, tiêu chuẩn phổ quát và vẫn đang hướng tới việc
Trang 2621
xây dựng khái niệm QGD và chủ thể QGD Các nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa, tiêu chuẩn để xác định khái niệm GD, QGD, chủ thể của QGD, bởi các nhà khoa học có uy tín và trong nhiều văn kiện pháp lý về nhân quyền quốc tế và khu vực
Đặc biệt, các nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu một số kinh nghiệm về đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển; nâng cao dân trí để nâng cao chất lượng, kỹ năng làm việc của người lao động; Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm QGD cho mọi người; có chính sách ưu tiên cho nhóm dễ bị tổn thương tiếp cận QGD; có cơ chế xã hội hóa giáo dục; phát triển hệ thống các trường tư; đổi mới phương thức GD theo hướng lấy người học làm trung tâm; kiểm tra, đánh giá phòng ngừa bệnh thành tích trong học tập, gây áp lực tâm lý cho người học, đặc biệt là trẻ em; bảo đảm các tiêu
chí tính s ẵn có, tính có thể tiếp cận được, tính có thể chấp nhận được, tính có thể thích nghi được, tạo cơ hội bình đẳng trong thụ hưởng QGD cho mọi người; …
Thứ hai, về thực trạng quyền giáo dục: Các nghiên cứu trong nước đã chỉ ra
bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn nhiều hạn chế trong thực hiện QGD
ở Việt Nam như: i) Tình trạng bất bình đẳng giới, sự kỳ thị, phân biệt đối xử trong môi trường GD còn tồn tại ở một số vùng, dẫn đến sự mất cân bằng trong tiếp cận QGD của các chủ thể; ii) Quy mô GD nhiều ngành nghề còn chưa tương xứng với nhu cầu phát triển xã hội dẫn đến sự lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực; iii) Nội dung và phương pháp GD còn thiếu thiết thực, lạc hậu ảnh hưởng không nhỏ đến việc thụ hưởng QGD của nhiều đối tượng; iv) Chất lượng và hiệu quả GD trong và ngoài hệ thống công lập còn thấp kéo theo đó là tình trạng lãng phí, thiếu kiểm soát, quản lý của các cơ quan Nhà nước về GD còn lỏng lẻo, dẫn đến tiêu cực, lãng phí, tham
nhũng trong lĩnh vực GD&ĐT
Các nghiên cứu ở nước ngoài đã đi sâu vào những khía cạnh cụ thể về QGD
trên thế giới, từ đó chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến QGD ở phạm vi toàn cầu Ngoài việc xác định tiêu chuẩn chung về QGD bằng các cấp độ ghi nhận, bảo vệ, thúc đẩy khác nhau, các nghiên cứu đề cập đến sự tương tác, mối quan hệ giữa các QGD của cá nhân và nhóm, các QGD của con người so với đặc quyền “ban phát” tri thức của nhà nước
một số giải pháp về xây dựng, hoàn thiện và thực thi các chính sách, pháp luật về QGD cho mọi người dưới các góc độ khác nhau như: bảo đảm quyền bình đẳng
Trang 2722
trong GD, chủ động khắc phục sự phân hóa giàu nghèo; các giải pháp chung để bảo đảm thực hiện nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong đó có QGD; các giải pháp bảo đảm QGD của một số nhóm dễ bị tổng thương ở một số địa bàn đặc thù của Việt Nam; các nghiên cứu đã đề cập đến cơ chế bảo vệ QCN trong đó có QGD trên thế giới, ở cấp độ quốc tế, khu vực và cấp quốc gia chỉ ra những khoảng trống và thiếu hụt ở cấp độ quốc tế và khu vực, kiến nghị các quốc gia cần nỗ lực hơn, đề xuất về mô hình bảo vệ QGD hiệu quả ở trong mỗi quốc gia Đồng thời, chỉ ra kinh nghiệm giải quyết các tiêu cực, khủng hoảng và những vấn đề GD của một số quốc gia, nguyên nhân của tình trạng này trong phạm vi quốc gia; khẳng định không thể
có một mô hình chung cho mọi quốc gia và nêu ra những mô hình về cơ chế bảo vệ QCN - QGD đặc thù ở mỗi nước
công trình nghiên cứu, nhưng chưa có sự thống nhất; các nghiên cứu chưa đưa ra được khái niệm cụ thể của “QGD”, đặc điểm, nội dung của QGD, điều chỉnh pháp luật về QGD, các yếu tố tác động đến QGD
đảm QCN, QGD của một số nhóm dễ bị tổn thương (trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số); chưa có nghiên cứu nào đánh giá hệ thống thực trạng QGD ở Việt Nam để chỉ ra được thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu hạn chế trong thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay; các nghiên cứu ở nước ngoài chưa quan tâm đánh giá toàn diện cơ chế bảo đảm QGD của các nước (thiết chế và thể chế); phần lớn chỉ tập trung đánh giá nguyên tắc bình đẳng về cơ hội tiếp cận hưởng thụ QGD;
về giải pháp pháp tăng cường trách nhiệm nhà nước, về xã hội hóa giáo dục
xuất các quan điểm và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện chính sách về GDĐT; một
số đề xuất các quan điểm và giải pháp nhưng chỉ có thể áp dụng cho việc bảo đảm thực hiện QGD trong phạm vi của nhóm; chưa có quan điểm, giải pháp đồng bộ bảo đảm thực hiện QGD cho mọi người; chưa có nhiều kiến nghị về hoàn thiện thể chế, thiết chế, nâng cao trách nhiệm hiệu quả hoạt động của các thiết chế bảo đảm thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
Trang 2823
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp, tổng thể và chuyên sâu về QGD ở Việt Nam hiện nay Do đó, luận án xác định tập trung luận giải những nội dung cơ bản sau đây:
trung phân tích luận giải các vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung QGD, điều chỉnh pháp luật về QGD; các yếu tố tác động đến QGD
QGD ở Việt Nam hiện nay: Làm rõ thực trạng thực hiện QGD; thực trạng các yếu tố tác động đến QGD; những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thành tựu hạn chế trong thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
điểm và đề xuất giải pháp thực hiện QGD trong bối cảnh hội nhập và phát triển của nước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu phải lập luận thuyết phục hơn về các giải pháp có liên quan đã được các công trình nghiên cứu khác đề cập, kiến nghị các giải pháp tổng thể mang tính chiến lược và có tính khả thi cho việc thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
1.3 Gi ả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở nền tảng về những nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, các giả thuyết khoa học được nghiên cứu như sau:
- Cơ sở lý luận về quyền giáo dục đã được quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên các nghiên cứu chưa đi sâu phân tích, luận giải một cách đầy đủ, sâu sắc, toàn diện về đặc điểm, vai trò, nội dung QGD, điều chỉnh pháp luật về QGD, các yếu tác động đến QGD
- Quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay đã được quan tâm tôn trọng, thực hiện,
đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế
do nhiều nguyên nhân, nên cần phải nghiên cứu để khắc phục
- Để thực hiện QGD ở Việt Nam cần phải xác định quan điểm tổng thể và áp
dụng đồng bộ các giải pháp: Nâng cao nhận thức về QGD, hoàn thiện thể chế về QGD, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của các thiết chế thực hiện QGD,
tạo lập các điều kiện thực huện QGD để đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển của Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Trang 2924
Luận án cần phải trả lời một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng sau đây:
- Hiểu như thế nào về QGD và điều chỉnh pháp luật về QGD? Có những yếu
Trang 30thấy, vấn đề quyền con người trong đó có quyền giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học
Khái niệm giáo dục, quyền giáo dục, vị trí và tầm quan trọng của giáo dục với sự phát triển của xã hội, khẳng định quyền giáo dục là “quyền trao quyền”, đề xuất một
số giải pháp bảo đảm quyền giáo dục; gợi mở một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam trong thực hiện quyền giáo dục cho mọi người, chú trọng quyền giáo dục
của các nhóm dễ bị tổn thương
án tiến sĩ luật học, ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính một cách trực diện,
hệ thống về quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay Đây chính là điểm hạn chế, khoảng trống còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu khoa học pháp lý về quyền giáo dục ở
Việt Nam hiện nay
án sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu đã được công bố, tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất quan điểm và giải pháp thực hiện quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Trang 3126
Chương 2
NH ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN GIÁO DỤC
2.1 Khái ni ệm, đặc điểm, vai trò, nội dung quyền giáo dục
2.1.1 Khái niệm quyền giáo dục
Để hiểu được QGD cần phải hiểu một số khái niệm có liên quan như: khái niệm GD, QCN
Phạm trù GD, theo cách hiểu truyền thống là “một quá trình xã hội được tổ
chức một cách có ý thức, có kế hoạch hướng vào việc truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm xã hội vào việc xây dựng và phát triển những nhân cách” [63 tr.13]
Ngày nay, GD được hiểu rộng hơn là một quá trình xã hội, là một hệ thống mở, đáp ứng nhu cầu học hỏi, tự hoàn thiện của mọi người, ở mọi lứa tuổi, được thực hiện trong không gian, thời gian khác nhau; GD còn là một hình thức học tập, trong đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người từ thế hệ này (người truyền đạt) được chuyển giao sang thế hệ kế tiếp (người thụ huấn) thông qua giảng dạy, huấn luyện, nghiên cứu GD thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể tự học Bất kỳ sự trải nghiệm nào mà có tác dụng trên cách suy nghĩ, cảm nhận hay hành vi của một người đều có thể được coi là GD
Trong tiếng Việt, "giáo" có nghĩa là dạy, "dục" có nghĩa là nuôi ; "giáo dục"
là "dạy dỗ, nuôi dưỡng đủ cả trí-dục, đức-dục, thể-dục" [52]
Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn/bậc học như: GD mầm non,
GD tiểu học, GD trung học, và GD đại học, sau đại học; hoặc được chia theo nội dung GD như GD kiến thức phổ thông, GD kiến thức chuyên ngành, GD kiến thức
bổ trợ, …
Cần phân biệt khái niệm “giáo dục” và “học tập”, bởi “học tập” chỉ là giai đoạn đầu tiên của quá trình “giáo dục”, là sự tiếp cận và chọn lọc kiến thức giản đơn và áp dụng ban đầu Hơn nữa nếu đồng nhất hai khái niệm “giáo dục” và “học tập” thì khái niệm “giáo dục” đã bị thu hẹp rất nhiều về phạm vi cũng như về cách thức bảo đảm
2.1.1.2 Khái niệm quyền con người, quyền giáo dục
* Khái niệm quyền con người
Quyền giáo dục là một quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa, cho nên muốn tìm hiểu khái niệm QGD, trước hết phải tìm hiểu khái niệm QCN
Trang 3227
Là một phạm trù đa diện nên QCN (Human rights) có nhiều định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa tiếp cận từ một góc độ nhất định của quốc tế, quốc gia, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các
thuộc tính của QCN
Thứ nhất quan niệm của quốc tế về quyền con người
Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa QCN của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) thường được
nhiều nghiên cứu trích dẫn Theo định nghĩa này QCN là những bảo đảm pháp lý
toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlement) và tự do cơ bản (fundamental
freedoms) của con người [51, tr.11]
Bên cạnh đó, tiếp cận từ học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights), một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn: Quyền con người là những sự
được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chúng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người [36, tr.42]
Thứ hai, quan niệm của Việt Nam về quyền con người
Ở Việt Nam, một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu đưa ra các định nghĩa
về QCN là "những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người
được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [36, tr.42]; “Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế” [51, tr.12]
Bên cạnh đó, còn có quan niệm rộng hơn về QCN, đó là: i) Tiếp cận QCN từ
góc độ khoa học QCN (nhân quyền học) thì QCN: Là hệ thống tri thức khoa học về
QCN bao gồm tri thức về khái niệm, vai trò, mối quan hệ các ngành khoa học khác;
tiếp cận chuyên ngành, đa ngành và liên ngành về QCN;… ii) Tiếp cận QCN từ góc
độ pháp luật về QCN bao gồm tổng thể mục đích, định hướng, nguyên tắc, quy
phạm pháp luật về QCN có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau được phân thành các chế định và được thể hiện trong các VBQPPL về QCN, bao gồm pháp luật quốc tế, pháp luật khu vực, pháp luật quốc gia về QCN có mối quan hệ rất chặt
chẽ với nhau; …iii) Tiếp cận QCN với tư cách là một lĩnh vực thực tiễn, một lĩnh
Trang 3328
vực của đời sống con người, theo đó QCN không chỉ tồn tại như một lĩnh vực khoa
học, một lĩnh vực pháp luật mà còn tồn tại như một lĩnh vực thực tiễn, một lĩnh vực của đời sống con người: là hành vi và lối sống thể hiện trạng thái hiện thực hóa QCN, thể hiện năng lực, khả năng thực tế con người làm thỏa mãn các QCN của
mình, khả năng thụ hưởng và làm chủ các QCN [73, tr 26-28]
Cần lưu ý thuật ngữ Human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là “quyền con người” (theo tiếng Việt) hoặc “nhân quyền” (theo Hán - Việt) Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người”, đây là hai từ đồng nghĩa, có
thể sử dụng như nhau trong các hoạt động nghiên cứu và thực tiễn [105, tr.1239]
Quyền con người được xác định như những chuẩn mực được cộng đồng quốc
tế thừa nhận và tuân thủ, kết tinh những giá trị nhân văn của nhân loại mà nhờ có chúng, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người
Vì vậy, QCN là những giá trị cao cả, phổ quát cần được tôn trọng và bảo vệ trong
mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử
Từ phân tích trên cho thấy, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi
ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Quyền con người không chỉ tồn tại như một lĩnh vực khoa học, một lĩnh vực pháp luật mà còn tồn tại như một lĩnh vực thực tiễn, một lĩnh vực của đời sống con người - là hành vi và lối sống thể hiện trạng thái hiện thực hóa quyền con người, thể hiện năng lực, khả năng thực tế con người làm thỏa mãn các quyền con người của mình, khả năng thụ hưởng và làm chủ các quyền con người
2.1.1.3 Khái niệm quyền giáo dục
Dựa trên khái niệm QCN đã nêu trên, có thể khái quát QGD như sau:
Thứ nhất, tiếp cận dựa trên QCN cho thấy, QGD trước hết phải được ghi nhận
và bảo đảm bằng thể chế: Bao gồm các chuẩn mực chung được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về QCN, trong đó công nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử và mọi người đều có QGD và được nội luật hóa trong pháp luật của quốc gia thành viên các công ước quốc tế về QCN
Thứ hai, pháp luật (thể chế pháp lý) tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể trao
QGD (thiết chế Nhà nước và các thiết chế khác) có trách nhiệm tạo cơ hội bình đẳng, hỗ trợ mọi người tiếp cận kiến thức, kỹ năng dưới nhiều hình thức khác nhau;
Trang 3429
ghi nhận mọi người đều có QGD, bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại hành vi
vi phạm QGD (bao gồm những hành động hoặc sự bỏ mặc (không hành động) làm tổn hại đến quá trình tiếp cận QGD; tạo cơ sở pháp lý cho chủ thể hưởng thụ QGD được tự do cơ bản trong tiếp cận QGD ở mọi cấp, mọi nơi theo điều kiện và khả năng cao nhất của bản thân
Quan niệm về QGD được thể hiện trong các văn kiện của Liên hợp quốc như: Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN năm 1948; Công ước chống phân biệt đối xử trong giáo dục năm 1960 của UNESCO; CRC năm 1989 - QGD của trẻ em; CEDAW năm 1979 - QGD của phụ nữ; Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007 - QGD của người khuyết tật; Công ước về xoá bỏ các hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1981; Công ước về quyền của người lao động di trú và những thành viên trong gia đình họ (CMW) năm 1990; Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 - QGD của người tị nạn; …
Đặc biệt, quan niệm QGD đã được ghi nhận trong Điều 13, 14 của ICESCR năm 1966, theo đó các quốc gia thành viên có trách nhiệm nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về QGD, tuân thủ đúng các nguyên tắc sau đây:
cho mọi người; chú trọng ưu tiên giáo dục hòa nhập, giáo dục đặc biệt cho nhóm những người dễ bị tổn thương (trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc thiểu số, người nhập cư; …)
sở vật chất hoặc những bảo đảm khác liên quan đến các vấn đề như cơ sở vệ sinh cho cả hai giới, nước sạch, giáo viên đã qua đào tạo, tài liệu giảng dạy, các trang thiết bị như thư viện, máy tính và công nghệ thông tin
của xã hội và đa dạng văn hóa Đồng thời, GD cần phải nhằm tạo cho mọi người tham gia hiệu quả vào xã hội tự do, thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung và tình hữu nghị giữa các dân tộc và các nhóm về chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo, cũng như nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động duy trì hoà bình của Liên hợp quốc
được quan tâm phù hợp:
Trang 3530
Đối với QGD ở bậc tiểu học (đối tượng thụ hưởng chủ yếu là trẻ em): Các
quốc gia thành viên ICESCR thực hiện GD tiểu học phổ cập là: “bắt buộc” và
“miễn phí cho tất cả mọi người” Giáo dục cơ bản phải được khuyến khích hoặc tăng cường tới mức cao nhất có thể được cho những người chưa tiếp cận hoặc chưa hoàn thành toàn bộ chương trình GD tiểu học có điều kiện hoàn thành chương trình tiểu học
Đối với QGD ở bậc trung học (đối tượng thụ hưởng chủ yếu là người chưa
dưới 18 tuổi): Bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể, các quốc gia từng bước áp
dụng GD trung học phổ thông với nhiều hình thức khác nhau, miễn phí GD trung học cũng phải đáp ứng các yêu cầu về khả năng sẵn có, có thể tiếp cận, có thể chấp nhận và tính thích ứng GD trung học đòi hỏi chương trình, giáo trình giảng dạy linh
hoạt và các cách thức tổ chức khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng văn hóa [31]
Đối với QGD về kỹ thuật và dạy nghề (đối tượng thụ hưởng là người lớn)
phải bảo đảm tính sẵn có và đến được với mọi người, nội dung này bao hàm cả hai quyền là QGD và quyền có việc làm; GD kỹ thuật và dạy nghề nhìn chung phải được mở rộng (phổ cập) cho mọi người; GD kỹ thuật và hướng nghiệp bao gồm: mọi hình thức và cấp độ, ngoài kiến thức chung, còn gắn với việc nghiên cứu các công nghệ và các ngành khoa học liên quan và việc tiếp thu những kỹ năng thực hành, kinh nghiệm, thái độ và sự hiểu biết liên quan đến nghề nghiệp
Đối với QGD đại học (đối tượng thụ hưởng là người lớn), các quốc gia thành
viên ICESCR bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể là từng bước áp dụng GD miễn phí, mọi người có thể tiếp cận một cách bình đẳng GD đại học, trên cơ sở năng lực của mỗi người; cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ và của những người giám hộ hợp pháp (nếu có) trong việc lựa chọn trường học cho con cái họ, kể
cả những cơ sở giáo dục dân lập mà đáp ứng được các tiêu chuẩn GD tối thiểu do nhà nước quy định Đồng thời, các quốc gia cũng phải bảo đảm quyền tự do cho phụ huynh hoặc người giám hộ được lựa chọn GD về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện riêng của họ Các cá nhân và tổ chức có quyền được tự do thành
lập và điều hành các cơ sở GD Tuy nhiên, các cơ sở GD đó phải luôn tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật quốc tế về QGD và đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn tối thiểu
do nhà nước quy định Đồng thời, từng bước hiện thực hoá QGD theo thời gian, nghĩa
Trang 3631
là các quốc gia thành viên có nghĩa vụ cụ thể và liên tục “phải xúc tiến một cách nhanh chóng và hiệu quả đến mức có thể” hướng tới việc hiện thực hoá triệt để Điều 13 [50, tr.13]
Quyền giáo dục của mọi người cũng được ghi nhận tại Điều 56 Hiến chương Liên hợp quốc, Điều 2 và 23 ICESCR, Điều 10 Tuyên bố thế giới về GD cho tất cả mọi người, Phần I, đoạn 34 Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, đều khẳng định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc trợ giúp và hợp tác quốc tế để hiện thực hoá đầy đủ QGD cho mọi người
Đặc biệt, các thiết chế tài chính quốc tế, mà tiêu biểu là WB và IMF, đều yêu
cầu cần quan tâm hơn nữa tới việc bảo vệ, thực hiện QGD trong các chính sách cho vay của họ, các hiệp định tín dụng, các chương trình và biện pháp điều chỉnh cơ cấu
và những biện pháp đối phó với khủng hoảng nợ quốc gia [51, tr.90-93]
Từ phân tích trên cho thấy quan niệm của quốc tế về QGD là: Quyền giáo
dục là nhu cầu vốn có và khách quan của con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và quốc gia, được Nhà nước bảo đảm thực hiện, giúp con người tiếp cận kiến thức, kỹ năng dưới nhiều hình thức, ở các cấp độ giáo dục khác nhau, bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động làm tổn hại đến cơ hội tiếp cận giáo dục của con người
Thứ nhất, cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một khái niệm chính thống về
QGD, các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước đều thừa nhận mọi công dân Việt Nam có quyền được học tập, được tiếp cận và hưởng thụ nền giáo dục ở các cấp học, phù hợp với lứa tuổi, nhu cầu và điều kiện của của mỗi người để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân
Từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến QGD đã được đề cập ở chương 1 của luận án, có thể thấy quan niệm của Việt Nam về QGD dựa trên quan niệm về GD Cụ thể:
Giáo dục có thể hiểu theo các nghĩa: kiến thức, môn học hoặc một quá trình, theo cách chung nhất đó là quá trình giảng dạy hoặc học tập, đặc biệt là giáo dục ở bậc học phổ thông và các bậc học cao hơn, là một quá trình xã hội được tổ chức một cách có ý thức, có kế hoạch hướng vào việc truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm xã hội nhằm xây dựng và phát triển những nhân cách của người học
Trang 3732
Giáo dục là một quá trình có chủ ý, có ý thức hoặc vô thức, một quá trình tâm lý, xã hội, khoa học và triết học, nhằm mang lại sự phát triển của mỗi cá nhân ở mức độ đầy đủ nhất Đồng thời, GD là sự phát triển của cá nhân theo nhu cầu của bản thân cũng như nhu cầu của xã hội, bảo đảm sự hòa nhập, thấu hiểu và chia sẻ giữa các cá nhân, các nhóm người trong cộng đồng, trong mỗi quốc gia và rộng hơn nữa là giữa các quốc gia trong cộng đồng nhân loại Giáo dục vừa đòi hỏi phải là một quá trình liên tục theo suốt cuộc đời của mỗi người (học tập suốt đời) vừa đòi hỏi phải có sự quan tâm tạo điều kiện, định hướng và quản lý bằng pháp luật của nhà nước
Từ phân tích trên có thể nhận thấy, quan niệm của Việt Nam về QGD dựa trên quan niệm GD đó là: Những bảo đảm pháp lý được tổ chức và thực hiện một
đồng, dân tộc và giữa các quốc gia trong cộng đồng nhân loại
Thứ hai, trong các công trình nghiên cứu, các văn kiện của Đảng cũng như
pháp luật của Việt Nam đã đề cập đến nhiều thuật ngữ khác nhau về quyền giáo dục, quyền được giáo dục, quyền được học tập
Cho nên, cần phải lưu ý về sự khác biệt giữa khái niệm “quyền giáo dục” và
“quyền được giáo dục”, “quyền được học tập”: Tuy đều mang nội dung cốt lõi là quyền được tiếp cận và hưởng thụ GD của mọi người, nhưng Quyền được giáo dục,
quyền được học tập được sử dụng với ý nghĩa thụ động (quyền được GD, quyền
được học tập của công dân; nghĩa vụ học tập của công dân), phản ánh quá trình tiếp thu kiến thức qua trường lớp một cách thụ động mang tính chất thực hiện nghĩa vụ -
quyền Còn khái niệm “quyền giáo dục” có phạm vi rộng hơn, không chỉ được sử
dụng cho những chủ thể tiếp nhận, hưởng thụ quyền (công dân - người học) mà còn bao gồm cả trách nhiệm của các chủ thể trao quyền (nhà nước, cơ sở GD quốc dân
và tư nhân, các tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân…), tức là xét về phạm vi, khái
niệm “quyền giáo dục” rộng hơn “quyền được giáo dục”, “quyền được học tập”
Đồng thời, do khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền (các địa phương tại Việt Nam) vẫn còn khá xa, xuất phát từ sự chênh lệch trong mức độ thụ
Trang 3833
hưởng QGD do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; việc thụ hưởng QGD của một số chủ thể đặc biệt dễ bị tổn thương (trẻ em gái, phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người có HIV; …) còn hạn chế bởi ảnh hưởng từ những quan niệm truyền thống lạc hậu, sự phân biệt đối xử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Nếu cùng một hệ thống pháp luật ghi nhận, bảo vệ QGD nói chung thì những nhóm chủ thể đặc biệt dễ bị tổn thương khó có cơ hội để tiếp cận và hưởng thụ đầy
đủ QGD, do đó cần phải có những chính sách pháp luật đặc thù nhằm hỗ trợ cho họ
có đủ điều kiện và cơ hội tiếp cận một cách toàn diện QGD theo nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử
Trên cơ sở những quan niệm về QGD của quốc tế và Việt Nam đã phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm QGD như sau:
Quyền giáo dục là nhu cầu khách quan của con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và quốc gia, được Nhà nước và các chủ thể có trách nhiệm trao quyền bảo đảm cơ hội bình đẳng tiếp cận và hưởng thụ tiêu chuẩn, chất lượng giáo dục, nâng cao kiến thức, kỹ năng ở mọi cấp học, dưới nhiều hình thức, hướng tới xây dựng, phát triển nhân cách của mỗi người, thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung giữa các cá nhân, cộng đồng, dân tộc và giữa các quốc gia trong cộng đồng nhân loại
2.1.2 Đặc điểm quyền giáo dục
Là một QCN thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nên QGD mang những đặc trưng cơ bản của QCN, đồng thời xuất phát từ vị trí quan trọng trong hệ thống các QCN nên QGD có những đặc thù riêng
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: i) QCN mang tính phổ biến và phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo (tính phổ biến và tính đặc thù); ii) tính không thể chuyển nhượng; iii) tính không thể phân chia; iv) tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [51, tr.19-21]
Tính phổ biến của QCN thể hiện ở chỗ QCN là những gì bẩm sinh, vốn có
của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại Theo đó, tính phổ biến của QGD được thể hiện ở chỗ cơ hội tiếp cận GD
và thụ hưởng QGD là bình đẳng cho tất cả công dân mà không có sự phân biệt đối
Trang 3934
xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về dân tộc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, xuất thân Tính phổ biến của QCN thể hiện ở chỗ bản chất của sự bình đẳng
về QCN không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng
về tư cách chủ thể của QCN, mọi thành viên của nhân loại đều được công nhận có các QCN, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực của cá nhân, cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của quốc gia mà người
đó đang sống.Theo đó QGD mang tính đặc thù của từng quốc gia, mức độ phát triển
về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia sẽ ảnh hưởng lớn đến mức độ thụ hưởng QGD của mỗi công dân Khả năng tiếp cận và hưởng thụ QGD phụ thuộc vào năng lực của cá nhân của mỗi người Chẳng hạn, mọi người đều có cơ hội tiếp cận QGD ở bậc đại học, sau đại học, tuy nhiên người đó chỉ có thể theo học được ở
cấp bậc ở bậc đại học, sau đại học khi có đủ điều kiện về sức khỏe, năng lực nhận thức, điều kiện kinh tế, khả năng trúng tuyển và theo học hay không
Tính không thể tước bỏ của QCN thể hiện ở chỗ các QCN không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước Ở đây, khía cạnh “tuỳ tiện” nói đến giới hạn của vấn đề, nó cho thấy không phải lúc nào QCN cũng “không thể bị tước bỏ” Trong một số trường hợp đặc biệt, QCN có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế, chẳng hạn như khi một người phạm tội hình sự nghiêm trọng thì có thể bị tước tự do theo pháp luật (tạm giam, thi hành hình phạt tù…), thậm chí bị tước quyền sống (hình phạt tử hình) Theo đó, mọi người đều có QGD, kể cả những người bị hạn chế một số QCN theo luật định (người bị tạm giam, thi hành án phạt tù) vẫn có quyền được tiếp cận và hưởng thụ QGD: GD để nâng cao trình
độ văn hóa (học chữ với người chưa biết đọc, biết viết), GD về đạo đức, lối sống, nhân cách, ý thức pháp luật, đào tạo nghề;…
Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ QCN nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người Vì vậy, tính không thể phân chia của QCN bắt nguồn từ nhận thức rằng các QCN đều có tầm quan trọng như nhau, nên
về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào… Tuy nhiên, trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất
Trang 4035
định, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của các quyền đó Ví dụ, trong bối cảnh chiến tranh, dịch bệnh quyền được ưu tiên phải là quyền về an toàn tính mạng, sức khỏe của dân thường (hạn chế quyền đi lại của công dân để chống dịch COVID
19 ở Việt Nam) Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôn trọng quyền của
tất cả các nhóm khác Đối với QGD thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có
mối quan hệ biện chứng với các quyền dân sự, chính trị; việc phân chia theo các nhóm quyền này chỉ là tương đối Ví dụ, Việt Nam coi phát triển GD là quốc sách hàng đầu, nhưng để phát triển GD cần phải có sự quan tâm của Đảng lãnh đạo (liên quan quyền chính trị), trên cơ sở nền kinh tế phát triển (liên quan quyền kinh tế), chịu tác động của yếu tố xã hội và văn hóa (liên quan quyền văn hóa, xã hội) Như vậy, Việt Nam ưu tiên phát triển GD vì là quốc sách hàng đầu, không có nghĩa coi nhẹ các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, dân sự khác
Điều này khẳng định các quyền được ưu tiên thực hiện không có nghĩa là quyền đó có giá trị cao hơn các quyền khác, mà bởi các quyền đó trong thực tế đang gặp nhiều trở ngại để thực thi hơn so với các quyền khác nên chủ thể trao quyền phải quan tâm tạo cơ hội mà thôi
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của QCN thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các QCN, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm hay thực hiện một quyền chắc chắn sẽ tác động tích cực hay tiêu cực đến việc thực hiện các quyền khác Ví dụ, để bảo đảm các quyền được tiếp cận thông tin, cần và đồng thời phải bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên quan như QGD, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội,
biểu tình, quyền có mức sống thích đáng vì nếu không, quyền được tiếp cận thông tin rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ Ngược lại, hiệu quả quản lý nhà nước thể hiện qua sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội chính là kết quả của quá trình bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong đó có QGD, từ
đó nâng cao chất lượng đời sống của mọi người dân Vì vậy, QGD có tính liên hệ và phụ thuộc chặt chẽ với các QCN khác