so sánh để thấy mức độ nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về QGD trong pháp luậtViệt Nam; mức độ kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp, pháp luật ViệtNam về QGD qua các thời k
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH NHƯ QUỲNH
QUYỀN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH NHƯ QUỲNH
QUYỀN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 9.38.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác Các số liệu, thông tin, tài liệu tham khảo trong luận án có xuất xứ rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Tác giả luận án
Trịnh Như Quỳnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 8
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án 19
1.3 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 23
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN GIÁO DỤC 26
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung quyền giáo dục 26
2.2 Điều chỉnh pháp luật về quyền giáo dục 45
2.3 Các yếu tố tác động đến quyền giáo dục 52
Chương 3 THỰC TRẠNG QUYỀN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 63
3.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 63
3.2 Thực trạng điều chỉnh pháp luật về quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 70
3.3 Kết quả, hạn chế trong thực hiện trách nhiệm trao quyền giáo dục của các thiết chế 81
3.4. Đánh giá khái quát về thực hiện quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 95
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUYỀN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 110
4.1 Quan điểm thực hiện quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 110
4.2 Giải pháp thực hiện quyền quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay 114
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC: Có văn bản riêng kèm theo
Trang 5Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Bộ Giáo dục và Đào tạoCông ước quốc tế về quyền trẻ emGiáo dục
Giáo dục và đào tạoGiáo dục pháp luậtCông ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa năm 1966Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tổ chức phi chính phủ nước ngoài
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tếQuyền con người
Quyền giáo dục
Tổ chức Chính trị - xã hộiTrung học cơ sở
Thực hiện pháp luậtTrung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
Uỷ ban Thường vụ Quốc hộiChương trình phát triển của Liên Hợp quốc
Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốcVăn bản quy phạm pháp luật
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẤU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người (QCN) là những giá trị cao quý, thiêng liêng kết tinh từ cácnền văn hóa, văn minh của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Trong hệ thống cácQCN, quyền giáo dục (QGD) có vị trí, vai trò quan trọng thuộc nhóm các quyền văn
hoá, được gọi là “quyền trao quyền”, bởi được hưởng thụ QGD chính là chìa khoá
để con người tiếp cận, hưởng thụ các nhóm quyền khác về dân sự, chính trị, kinh tế,
xã hội và văn hóa, đồng thời là cơ hội cho con người phát huy tài năng, trí tuệ đểkhám phá, chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội, thúc đẩy sự phát triển của quốcgia, dân tộc và của cả nhân loại
Chính vì lẽ đó, QGD đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế: Tuyênngôn Quốc tế nhân quyền (UDHR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa (ICESCR); Công ước về sự xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử vớiphụ nữ (CEDAW); Công ước về quyền trẻ em (CRC) Công ước về chống phân biệtđối xử trong giáo dục của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc(UNESCO);…được các châu lục trên thế giới ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thựchiện Có thể dẫn chứng là QGD được ghi nhận trong Nghị định thư đầu tiên củaCông ước châu Âu về các quyền và tự do cơ bản của con người; Nghị định thư bổsung của Công ước châu Mỹ về quyền con người trên lĩnh vực các quyền kinh tế, xãhội và văn hoá; Hiến chương châu Phi về các QCN và các dân tộc; Hiến chương vềcác quyền cơ bản của Liên minh châu Âu;…
Bảo đảm QGD cho mọi người cũng là chủ đề được Tổ chức Văn hóa, Khoahọc và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đặc biệt ưu tiên; được quan tâm nghiêncứu, đề cập trong các hội nghị, hội thảo quốc tế và khu vực với sự tham dự củanhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các nhà khoa học nhằmthúc đẩy thực hiện tốt hơn QGD của công dân các quốc gia
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, cha ông ta luôn coi trọnggiáo dục (GD) và xác định hiền tài là nguyên khí quốc gia Sinh thời, Chủ tịch HồChí Minh đã dạy “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" 60, tr.8 Ngay từ khi mớigiành được độc lập (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở chiến dịchchống nạn mù chữ, tiêu diệt giặc dốt, coi đó là nhiệm vụ cấp bách thứ hai trong sáunhiệm vụ cấp bách của chính quyền
Trang 7Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa (XHCN) Đảng và Nhà nước ta nhận thức sâu sắc về vai trò của QGD,luôn quan tâm tôn trọng và thực hiện QGD, xác định phát triển giáo dục, đào tạocùng với khoa học công nghệ là “quốc sách hàng đầu” để xây dựng và phát triển đấtnước Có thể thấy, thực hiện QGD ở Việt Nam mang tính tất yếu, cần thiết, xuấtphát từ nhu cầu mang tính toàn cầu, khu vực và các nhu cầu nội tại trong nước Cácnhu cầu đó nằm ngay trong GD và từ các yếu tố tác động trực tiếp đến QGD ở nước
ta hiện nay Đặc biệt, trong bối cảnh sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ tư (4.0), đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam phải chútrọng phát triển con người với nòng cốt và nền tảng là thực hiện QGD cho mọingười nhằm tạo nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, kỹ năng, tầm nhìn để nắm bắt
cơ hội thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 bao gồm tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI)
và những sáng chế mới trong nhiều lĩnh vực, chính là then chốt tạo nên những cúhích cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững đất nước
Với tư cách là thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về QCN, trong đó cóICESCR, Việt Nam cam kết là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vìQGD Vì vậy, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực thực hiệnQGD Minh chứng là QGD đã được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp của ViệtNam Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), văn bản hướng dẫn thi hànhpháp luật về QGD ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, với nội dung chặt chẽ và thể chếhóa khá toàn diện quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về QGD, từng bước tiệmcận, tiến tới hài hòa với pháp luật quốc tế về QGD Xây dựng, ban hành nhiều chínhsách phát triển, đóng vai trò quan trọng và tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiệnQGD ở Việt Nam Các thiết chế bảo đảm thực hiện QGD ngày càng được củng cố,hoàn thiện và vận hành có hiệu quả, được tổ chức triển khai bởi các cơ quan có thẩmquyền thông qua các chiến lược, chương trình hành động, mục tiêu quốc gia có liênquan đến QGD; công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về QGD, ý thức trách nhiệmthực hiện QGD cho cán bộ, Đảng viên và các tầng lớp nhân dân được quan tâm;…
Tuy nhiên, thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều thách thức vàrào cản như: chênh lệch sự phát triển về kinh tế, xã hội giữa các địa phương trong cảnước dẫn đến có biểu hiện bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận và hưởng thụ QGD
Trang 8giữa nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; giữa người giàu và người nghèo; ràocản về tư duy bảo thủ, trì trệ trong đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp,GDĐT; thiếu sót trong quản lý GD: thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thật sự hiệuquả dẫn đến tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí trong GDĐT; chưa quyết liệt chỉ đạo,giám sát thực hiện tự chủ trong GDĐT nhất là giáo dục đại học; nhận thức hạn chếcủa chủ thể trao quyền và chủ thể hưởng thụ QGD; bên cạnh đó có sự tác động củayếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa đặc biệt là văn hóa nhân quyền, yếu tố xã hội; …đãchi phối đến thực hiện QGD của mọi chủ thể; trong đó, quan trọng là rào cản từ thểchế (hệ thống pháp luật về QGD chưa hoàn thiện), rào cản từ thiết chế bảo đảm thựchiện QGD (sự vận hành của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trao QGD theo luậtđịnh) Do đó, đòi hỏi phải nghiên cứu, xác định nguyên nhân của những hạn chế,rào cản để kiến nghị giải pháp thực hiện QGD ở Việt Nam là rất cần thiết.
Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về QGD, bảođảm QGD của một số nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em khuyết tật, người dântộc thiểu số) Tuy nhiên, do chủ đề nghiên cứu chỉ xác định trong phạm vi hẹp vềQGD cho một nhóm, ở một địa phương cụ thể, nên thiếu tính đại diện; chưa giảiquyết thấu đáo những vấn đề lý luận về QGD; chưa đánh giá tổng quát thực trạngQGD ở Việt Nam hiện nay; chưa xác định các quan điểm chủ đạo, các giải phápđược kiến nghị chưa đảm bảo tính đồng bộ, tính khả thi để thực hiện QGD cho mọingười ở Việt Nam
Do đó, nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện dưới góc độ Luật học để xác địnhcác quan điểm và đề xuất các giải pháp có tính khả thi để thực hiện QGD ở ViệtNam hiện nay là yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Vì vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Quyền giáo dục ở Việt Nam hiện
nay” để nghiên cứu trong phạm vi luận án tiến sĩ luật học ngành Luật Hiến pháp và
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án xác định những nhiệm vụnghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chỉ
ra những nội dung nghiên cứu đã làm rõ, luận án có thể kế thừa, phát triển; những
vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ hai, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về QGD,
bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung QGD; điều chỉnh pháp luật về
QGD, các yếu tố tác động đến QGD
Thứ ba, nghiên cứu, phân tích đánh giá khái quát thực tiễn thực hiện QGD ở
Việt Nam hiện nay, làm rõ những kết quả, hạn chế trong điều chỉnh pháp luật vềQGD (ghi nhận QGD trong pháp luật và thực hiện QGD trong hoạt động của cácthiết chế); đánh giá khái quát về những thành tựu cơ bản, những hạn chế, bất cập vànguyên nhân của thành tựu, hạn chế trong thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, từ kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn QGD, xác định các quan
điểm và đề xuất các giải pháp thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về QGD ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Quyền giáo dục là vấn đề rộng lớn của thế giới, các khu vực, mỗi quốc gia,dân tộc, là quyền của tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại Luận án chỉgiới hạn phạm vi nghiên cứu ở những mức độ nhất định Cụ thể:
- Phạm vi nội dung: Quyền giáo dục bao quát nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn, liên quan đến nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ, tácgiả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về QGD từ góc độchuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
- Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về QGD ở Việt Nam; có đề cập đến một số quốc gia có kinh nghiệm trongthực hiện QGD để so sánh, gợi mở cho Việt Nam
Trang 10- Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu quyền giáo dục ở Việt Nam
từ năm 1986 đến nay, trọng tâm là giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2019 (từ khi Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
được ban hành và được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013).
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề
tài 4.1 Phương pháp luận nghiên cứu đề tài
Đề tài luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước và pháp luật, về QCN; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về QCN, trong đó
có QGD, về phát triển GD, đào tạo nhân lực, nhân tài cho phát triển đất nước; đồngthời dựa trên lý thuyết về quyền pháp lý, lý thuyết về tiếp cận dựa trên quyền, tiếpcận đa ngành, liên ngành, lý thuyết xã hội học pháp luật để làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận, thực tiễn về QGD
4.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận
án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng trong tất cả
04 chương của luận án để luận giải thuyết phục về các nội dung liên quan đến chủ
đề luận án; đặc biệt là trong đánh giá, tổng hợp, sử dụng các tài liệu, số liệu trongcác công trình nghiên cứu đã công bố, trong các báo cáo tổng kết của các cơ quan
có thẩm quyền có liên quan đến đề tài luận án
- Phương pháp lịch sử: phương pháp này được sử dụng trong chương 1 và
chương 3 để tìm hiểu khái quát quá trình hình thành và phát triển của QGD, đánhgiá thực trạng QGD trong bối cảnh cụ thể về điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xãhội của Việt Nam
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được sử dụng trong chương 1 và
3 của luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài vàthực trạng QGD ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp so sánh luật học: phương pháp này được sử dụng trong các
chương 2, 3, 4 nhằm đối chiếu chuẩn mực quốc tế với chuẩn mực quốc gia về QGD;
Trang 11so sánh để thấy mức độ nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về QGD trong pháp luậtViệt Nam; mức độ kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp, pháp luật ViệtNam về QGD qua các thời kỳ, kinh nghiệm về xây dựng hoàn thiện thể chế, thiếtchế bảo đảm QGD của các nước để tham khảo trong quá trình hoàn thiện thể chế vàthiết chế bảo đảm QGD ở Việt Nam; phương pháp này được sử dụng trong cácchương 2, 3, 4 của luận án.
- Phương pháp xã hội học pháp luật: phương pháp này được sử dụng trong
toàn bộ luận án để phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung liên quan đến đềtài luận án, cụ thể là thông qua việc trao đổi trực tiếp với các chuyên gia pháp lý,đặc biệt là các nhà khoa học nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về QCN, chuyên gia
về GD; kết hợp với phương pháp quan sát, tham dự quá trình GDĐT; thu thập, đánhgiá các tài liệu thứ cấp nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn QGD
- Phương pháp hệ thống: phương pháp này được sử dụng để hệ thống hoá
những vấn đề lý luận và thực tiễn theo một khung phân tích đã được đưa ra theo cấutrúc của luận án
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở trình độ tiến sĩ, kết quảnghiên cứu của luận án đã luận giải tổng thể các vấn đề lý luận về QGD; đánh giámột cách toàn diện về thực trạng QGD ở Việt Nam hiện nay; xác định những quanđiểm và đề xuất một số giải pháp có tính khả thi trong thực tiễn để thực hiện ngàycàng tốt hơn QGD ở Việt Nam hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của Luận án khác với những công trình nghiên cứu cóliên quan đến QGD đã công bố ở chỗ nghiên cứu của luận án đưa ra quan điểm tổngthể về thực hiện QGD ở Việt Nam cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi cấp học theonguyên tắc không phân biệt đối xử, tạo cơ hội bình đẳng cho chủ thể quyền đượchọc tập suốt đời theo triết lý giáo dục của thế kỷ XXI là học để có kiến thức, học đểlàm việc, học để biết chung sống với nhau và học để làm người
- Luận án đã vận dụng thành công cách tiếp cận đa ngành và liên ngành baogồm: Khoa học pháp lý (chủ đạo là Luật Hiến pháp và Luật Hành chính), khoa học
GD (chủ đạo là GD, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, đào tạo nghề…), khoa học pháttriển, xã hội học, văn hoá học và tiếp cận tổng thể dựa trên quyền để luận giảinhững nội dung của luận án
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về QGD trên cả phươngdiện lý luận và thực tiễn Do đó, luận án góp phần bổ sung phát triển những vấn đề
lý luận về QGD, góp phần hình thành tư duy đầy đủ hơn về QGD, nâng cao nhậnthức về trách nhiệm của các chủ thể trao quyền, chủ thể hưởng thụ QGD ở ViệtNam hiện nay Đồng thời, luận án xác lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoànthiện thể chế, thiết chế nhằm thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với các nhà hoạchđịnh chính sách, các nhà lập pháp, các nhà quản lý và các nhà hoạt động xã hội liênquan đến QGD
Luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo trong hoạt động nghiên cứu và đàotạo trong lĩnh vực khoa học chính trị và khoa học pháp lý; giáo dục quyền conngười, quyền công dân ở các cơ sở đào tạo chuyên luật và không chuyên luật
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục kèm theo,nội dung luận án được cấu trúc gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền giáo dục
Chương 3: Thực trạng quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quan điểm và giải pháp thực hiện quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Luận án với đề tài “Quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay” là công trình
nghiên cứu về một quyền cụ thể (QGD) gắn với một quốc gia cụ thể (Việt Nam),được tác giả xác định triển khai theo hướng nghiên cứu đa ngành và liên ngànhtrong lĩnh vực luật học, trong đó góc tiếp cận là luật học là chủ yếu Vì vậy, luận án
sẽ đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đếnQGD, chú trọng các bài viết có nội dung đánh giá liên quan đến QCN gắn với QGD,chủ yếu tập trung đánh giá những công trình, bài viết liên quan đến QGD ở ViệtNam hiện nay, để thấy những gì đã được các công trình nghiên cứu làm sáng tỏ,luận án có thể kế thừa, phát triển; những gì chưa được làm rõ để xác định hướngnghiên cứu của luận án
1.1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền giáo dục
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề quyền con người trong đó có QGD đã được Đảng và Nhà nước ta đặcbiệt quan tâm Cương lĩnh năm 1991 của Đảng đã xác định giáo dục, đào tạo cùngvới khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12 tháng
7 năm 1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đánh dấu bước phát triển quantrọng tư duy của Đảng về QCN, Đảng ta thừa nhận giá trị phổ quát của QCN:
“Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của
nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” [6] Quan điểm coi về giáo dục, đào tạo cùng với
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu của Đảng được tái khẳng định trongNghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VII; trong Cương lĩnh năm 2011, đặc biệt là trong Nghị quyết số 29-NQ/TW
ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Từ quan điểm định hướng của Đảng, QCN trong đó có QGD thực sự trởthành đề tài được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu
Trang 14Tình hình nghiên cứu lý luận về quyền con người, quyền giáo dục
- Nghiên cứu chuyên sâu lý luận về QCN trong đó có QGD, làm rõ kháiniệm, nội hàm QCN, các chuẩn mực quốc tế, khu vực, quốc gia về QCN, quyềnkinh tế, xã hội và văn hóa (trong đó có QGD), các điều kiện bảo đảm, các yếu tốảnh hưởng; cơ chế bảo đảm (gồm thể chế và thiết chế) QCN về chính trị, kinh tế, xãhội và văn hóa của Việt Nam thời trong kỳ đổi mới của Đề tài khoa học cấp nhà
nước “Thành tựu bảo đảm quyền con người trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam - thực
trạng, vấn đề và phương hướng giải quyết” do chủ nhiệm đề tài - Cao Đức Thái và
nhóm các nhà khoa học trong và ngoài Viện Nghiên cứu Quyền con người, Họcviện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện, đã nghiệm thu năm
2005 [81]
- Những vấn đề lý luận về cơ chế nhân quyền quốc gia, quy định của phápluật quốc tế, pháp luật của một số nước ASEAN và Trung Quốc về cơ chế nhânquyền quốc gia, rút ra những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoànthiện cơ chế nhân quyền quốc gia của Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm “Tổ chức
và hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia một số nước ASEAN và Trung Quốc
- Kinh nghiệm đối với Việt Nam” do chủ nhiệm Nguyễn Đức Thùy và nhóm tác giảthực hiện, nghiệm thu năm 2011 [86]
- Những vấn đề lý luận về quyền văn hóa trong đó có đề cập đến vai trò của
GD, QGD để nâng cao nhận thức về quyền văn hóa trong Đề tài khoa học cấp nhà
nước “Bảo đảm quyền văn hóa trong điều kiện phát huy đa dạng văn hóa ở Việt
Nam hiện nay” do chủ nhiệm Hoàng Văn Nghĩa và nhóm tác giả thực hiện, đãnghiệm thu năm 2015 [66]
- Đã có một số nghiên cứu về cách tiếp cận QCN theo hướng liên ngành, đa ngành, trong đó chủ đạo là cách tiếp cận dưới góc độ luật học để có cách nhìn đa
chiều khi đánh giá thực trạng cũng như xác định quan điểm, giải pháp bảo đảm thựchiện QCN trong đó có QGD, xác định rõ QCN, QGD vừa mang tính phổ biến vừamang tính đặc thù, QGD có mối liên hệ và phụ thuộc với các quyền khác về chínhtrị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa Tiêu biểu là nghiên cứu về của tác giả VõKhánh Vinh [107, tr.9-20]; tập hợp các công trình nghiên cứu về cơ chế bảo đảm và
bảo vệ quyền con người, đã phân tích làm rõ khái niệm, chuẩn mực quốc tế, khu vực
và quốc gia về cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người (trong đó có cơ chế bảo
Trang 15vệ và bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa bao gồm cả QGD; những vấn đề đặt
ra với việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ởViệt Nam của Võ Khánh Vinh và các tác giả [106]; nghiên cứu phân tích quá trìnhhiến định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong đó có QGD), đặc biệt là
Hiến pháp năm 2013 trong sách "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân trong Hiến pháp Việt Nam" của các tác giả Phạm Văn Ba, Nguyễn Thị
Báo và Vũ Công Giao là đồng chủ biên [4]; nghiên cứu về nguồn gốc, quá trìnhhình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh về GD, tầm quan trọng của quátrình vận dụng những tư tưởng của Người, làm rõ điều kiện chính trị về bảo đảm
QGD ở Việt Nam trong Sách chuyên khảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và
vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay của tác giả Hoàng Anh [2].
- Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, của Đại học
Quốc gia Hà Nội, đã nêu rõ các chuẩn mực quốc tế về QGD, trách nhiệm của quốcgia thành viên công ước về ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm QGD trong khảnăng cao nhất của quốc gia (vì QGD thuộc nhóm quyền tương đối nghĩa là các quốcgia có thể thực hiện dần dần phụ hợp với điều kiện của quốc gia) [36, tr 216-227]
- Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nêu rõ những vấn đề lý luận về QCN, quyền côngdân trong đó có QGD, đây là cơ sở lý luận quan trọng có thể kế thừa trong nội dungcủa luận án [51, tr 19-21]
- Bài viết “Vai trò của văn hóa - Giáo dục trong việc tạo lập một tâm quyển
cho sự phát triển bền vững của đất nước trên cơ sở kinh tế tri thức” của tác giả
Phạm Xuân Nam [71]; Quyền được giáo dục theo quy định của Luật quốc tế và cơ chế bảo đảm thực hiện của tác giả Lê Thị Anh Đào [33]; Giáo dục và quyền được
giáo dục trong cách mạng công nghiệp lần thứ bốn của nhóm tác giả Nguyễn Thuỳ
Dương -Vũ Công Giao đã phân tích làm rõ: Tác động của cách mạng công nghiệplần thứ tư với giáo dục, quyền được giáo dục và quyền được giáo dục ở Việt Nam
[38]; Quyền con người - thước đo quan trọng của tiến bộ xã hội, Luận án tiến sĩ
Triết học của Đoàn Trường Thụ [82]; Jurisprudence of human rights and the mechanism for protection: A comparative study between Vietnam and the United Kingdom, (Luật học về QCN và cơ chế bảo đảm: Kinh nghiệm Việt Nam và Vương quốc Anh), Luận án tiến sĩ Luật học của Hoàng Văn Nghĩa, nghiên cứu so sánh cơ
Trang 16chế bảo đảm QCN tại Việt Nam và Vương quốc Anh rút ra những giá trị tham khảocho việc đề xuất xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm QCN trong đó có QGD ởViệt Nam [65]; Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ Luật học của Lữ Văn Tuyên [85]
Ngoài ra, những vấn đề lý luận về QCN, QGD còn được đề cập tới trong cácbài viết tại các hội thảo trong nước và quốc tế được tổ chức tại Việt Nam như: Hội
thảo “Kết nối nghiên cứu về quyền con người” do Bộ Ngoại giao tổ chức tháng 4/2008; Hội thảo “Tổng kết thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013 (2013-2019)” do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ
chức tháng 4/2019; cùng nhiều hội thảo khoa học do Khoa luật Đại học quốc gia HàNội, các bộ, ban ngành Trung ương tổ chức có liên quan đến chủ đề QCN, QGD
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1945, Liên Hợp quốc thành lập tổ chức UNESCO - Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa (United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization) UNESCO là tổ chức dầu tiên về GD được công nhận ở cấp độ quốc
tế và hoạt động nhằm liên kết các nước trên thế giới trong thúc đẩy và bảo vệ QGD,trong đó có hoạt động liên kết nghiên cứu về QGD trên thế giới và ở các quốc gia.Năm 1960 UNESCO đã thông qua Công ước chống phân biệt đối xử trong giáo dục, Công ước ghi nhận các chuẩn mực về QGD, nhấn mạnh các nghĩa
vụ của các quốc gia phải bảo đảm giáo dục miễn phí và bắt buộc, cấm mọi hình thức phân biệt đối xử và thúc đẩy bình đẳng về cơ hội giáo dục [90].
Chủ đề QCN, QGD luôn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thếgiới Các công trình khoa học với những góc tiếp cận và cấp độ nghiên cứu khácnhau đều có những đóng góp riêng đối với thúc đẩy QCN, QGD, cụ thể:
- Human Rights Law (Luật về quyền con người) của Alston, Philip đã phân
tích chỉ ra nguồn gốc lý thuyết triết học của con người với tư cách là phương thức
để bảo đảm sự tôn trọng QCN trên thực tế, đưa ra các quan điểm khác nhau về việc
áp dụng QCN trên thực tế của Alston, Philip [110] Bên cạnh đó, có một số côngtrình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến QGD như: Ngôn ngữ, dân tộc thiểu số
và nhân quyền (Language, Minorities and Human Rights) của tác giả Fernand deVarennes xuất bản năm 1996; Trẻ em, giáo dục và Sức khỏe (Children, Educationand Health) của Neville Harris và Paul Meredith xuất bản năm 2005; …
Trang 17- Human rights obligations in education worldwide (Nghĩa vụ nhân quyền trong giáo dục trên toàn thế giới) của Katarina Tomasevski đã đánh giá khái quát
lịch sử của QGD, ý nghĩa của QGD; phân tích, đánh giá chính sách và những thểchế phát triển kinh tế chi phối QGD trên thế giới, chi phí đào tạo, chính sách củangân hàng thế giới, chiến lược GD toàn cầu, GD đại học, bình đẳng giới trong GD
và GD đặc biệt [132]
- Human rights obligations in education worldwide - free or fee 2006 global report (Báo cáo toàn cầu 2006: Nghĩa vụ nhân quyền trong giáo dục trên toàn thế giới- miễn phí hay trả phí) của Katarina Tomasevski, nội dung cuốn sách là tập hợp
những bản báo cáo trên toàn thế giới về vấn đề chi phí trong bảo đảm QGD thôngqua quá trình phân tích về tình hình bảo đảm QGD của 170 quốc gia Báo cáo khẳngđịnh: Áp dụng giáo dục miễn phí và bắt buộc làm thước đo để đánh giá giá trị củaQGD trong thế giới ngày nay với trọng tâm là các nước đang phát triển QGD bị tácđộng bởi một loạt các vấn đề liên quan đến quá trình liên kết kinh tế quốc tế và cáchiệp ước quốc tế Vì vậy, Chính phủ các nước có nghĩa vụ đảm bảo GD miễn phí vàbắt buộc, phổ biến, dễ tiếp cận cho tất cả trẻ em và mọi người, xây dựng kế hoạch
và bảo đảm hỗ trợ nội bộ để tuân thủ nghĩa vụ này càng nhanh càng tốt [133]
- Tìm hiểu quyền con người của Wolfgang Benedek (chủ biên) Viện Nghiên
cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức dịch thuật,
in ấn và phát hành Cuốn sách phân tích, luận giải để trả lời cho câu hỏi: Tại sao cần
có QGD? Định nghĩa và mô tả vấn đề - Nội dung của QGD và các nghĩa vụ của nhànước phải bảo đảm: Tính sẵn có - Tính có thể tiếp cận được - Tính có thể chấp nhậnđược - Tính có thể thích nghi được; QGD của các nhóm người dễ bị tổn thương;giám sát việc thực hiện QGD; kinh nghiệm tốt của các nước về QGD; các xu hướng
- Thương mại hóa GD - Phát triển hướng tới GD cho mọi người… [143]
- OHCRH,UNESCO, Human Right Education in Primary and Secondary School Systems: A self-assessment Guide for Governments, New York and Geneva
(Giáo dục QCN trong hệ thống trường trung học: một hướng dẫn dành cho các chínhphủ), cung cấp hướng dẫn cho các quốc gia trong thực hiện GD quyền con người [125]
- The right to education Handbook (Sổ tay về quyền giáo dục của UNESCO
năm 2018) Sổ tay cung cấp những hiểu biết cơ bản về QGD như: Khái niệm, đặcđiểm, vai trò QGD, trách nhiệm bảo đảm QGD, nguồn lực kinh tế cho GD… [139]
Trang 18Một số công trình là sản phẩm liên kết nghiên cứu giữa các nhà khoa họcViệt Nam và các nhà khoa học quốc tế trong các Dự án được Nhà nước Việt Nam
cho phép liên quan đến QCN trong đó có QGD, như: Nghiên cứu, so sánh QCN ở
Trung Quốc và Việt Nam (truyền thống, lý luận và thực tiễn), rút ra những điểm
tương đồng và khác biệt minh chứng cho tính phổ biến và tính đặc thù của QCNtrong đó có QGD [96]; Quyền con người: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và Australia, nghiên cứu so sánh rút ra những điểm tương đồng và khác biệt của QCN
ở Việt Nam và Australia [97]; Hiến pháp, pháp luật và quyền con người: Kinh nghiệm Việt Nam và Thụy Điển, nghiên cứu, so sánh sự ghi nhận, tôn trọng QCN
trong đó có QGD trong Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và Thụy Điển (dưới góc
độ Luật học so sánh) chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt, cùng nguyên nhân để rútbài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện thể chế về QCN trong đó cóQGD ở Việt Nam [95]; …
1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến thực trạng giáo dục và quyền giáo dục
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Giáo dục Việt Nam và Phần Lan, của tác giả Nguyễn Khánh Trung, đề
xuất những kinh nghiệm cải cách GD của Phần Lan có thể áp dụng tại Việt Nam
[87]; - Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản của tác giả Nguyễn Quốc Vương,
phân tích về vấn đề GD lịch sử tại Việt Nam và Nhật Bản cũng như những kinhnghiệm có thể áp dụng trong bối cảnh GD lịch sử không được chú trọng ở cáctrường học tại cả hai nước [108]; Bầy cừu xuất chuồng, tác giả William Deresiewicz
- dịch giả Quế Chi, phê phán cách áp đặt con trẻ đến các trường chuyên lớp chọn,hành vi không chỉ tác động xấu đến tâm lý mà còn xâm hại đến QGD của trẻ em;khẳng định sự quan trọng của một nền GD tự do đích thực và trách nhiệm của hệthống quản lý GD trước một thực trạng GD Mỹ đầy mâu thuẫn [142]
Bên cạnh đó, có các nghiên cứu khác phân tích thực trạng QGD tại Việt Nam: Phổ cập giáo dục - những bước đi khởi sắc của Hồng Nhung, đánh giá những
thành tựu trong phổ cập GD tại Việt Nam và những tồn tại cần khắc phục nhằm tăngcường hiệu quả thực hiện phổ cập GD trong tương lai [67]; Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - bắt đầu từ đâu? của Thu Phương đăng trên Tạp chí Nhân quyền Việt
Nam số 12/2012, xác định cơ sở cho quá trình đổi mới căn bản, toàn
Trang 19diện GD Việt Nam từ những thuận lợi và khó khăn của nền GD Việt Nam [75]; Cách mạng công nghiệp 4.0 và nguy cơ “thua trắng" của đại học truyền thống, của Đàm
Quang Minh, Phạm Hiệp, cảnh báo các trường đại học nếu không muốn bị “thua trắng”ngay trên sân nhà thì cần phải tìm cách đổi mới chính mình [58]; Chính sách giáo dục dân tộc thiểu số của Trung Quốc hiện nay, của Trần Minh Đức giới thiệu bức tranh toàn
cảnh của chính sách GD dân tộc thiểu số của Trung Quốc, một quốc gia có nhiều điểmtương đồng về chính trị, văn hóa với Việt Nam [40]; Hiệu quả chi giáo dục phổ thông ở Việt Nam: nghiên cứu từ các địa phương cấp tỉnh của nhóm tác giả Lê Quang Cảnh,
Nguyễn Văn Thắng, Tôn Thu Hiền chỉ ra những bất cập về tài chính đầu tư cho GD
[29]; Quản lý đào tạo thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại học địa phương trong bối cảnh đổi mới giáo dục, Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Ngọc Anh đã làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao
hiệu quả thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại học địa
phương đáp ứng yêu cầu đổi mới GD [1]; Thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bình Định hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học của Võ Thành Long, trên cơ sở
những lý luận về thực hiện pháp luật, pháp luật về GD và đào tạo, những đặc thù địaphương, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện pháp luật về GD và đào tạo ởtỉnh Bình Định hiện nay [57]
Đáng chú ý là đã có nhiều nghiên cứu tiếp cận đa ngành, từ góc độ triết học, luật học, chính sách công về bảo đảm quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước ta là tạo điều kiện, cơ hội bình đẳng cho các nhóm dễ bịtổn thương tiếp cận QGD, tiêu biểu như:
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học của Phạm Văn Dũng đã nghiên cứu
nguyên tắc bảo đảm công bằng xã hội trong GD tại địa bàn đặc biệt - các vùng dântộc thiểu số, nơi QGD do ảnh hưởng của điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội
dễ bị xâm phạm [39]; Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước
ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Trọng Tuấn, phân tích khái niệm
“quyền tự chủ trong GD đại học” và thực trạng thực thi quyền tự chủ của các cơ sở
GD đại học công lập [89]; Bảo đảm quyền học tập của trẻ em ở Việt Nam hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Tố Như đã tiếp cận quyền học tập như
Trang 20một quyền thiết yếu cần được bảo đảm cho đối tượng trẻ em ở Việt Nam hiện nay, đềxuất những giải pháp bảo đảm quyền học tập cho trẻ em Việt Nam [70]; Thực thi chính sách hỗ trợ trong giáo dục phổ thông đối với học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công của Dương Thị Quý,
đã khái quát tình hình thực thi chính sách hỗ trợ trong GD phổ thông đối với học sinhdân tộc thiểu số trên địa bàn một huyện miền núi phía Bắc; đề xuất các giải pháp bảođảm hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ GD - một công cụ quan trọng nhằm bảo đảmthực hiện QGD ở Việt Nam [77]; Thực thi chính sách giáo dục và đào tạo cho đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công của
Lê Nguyên Châu, đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp bảo đảm thựcthi chính sách GDĐT cho nhóm yếu thế là đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh
An Giang [28]; Bảo đảm quyền giáo dục cho trẻ em khuyết tật trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Pháp luật về quyền con người của Chung Phi Long, đã hệ
thống một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm QGDcho trẻ em khuyết tật trên địa bàn một tỉnh (Bình Dương) [54]; Bảo đảm quyền học tập của trẻ em là con của người lao động tạm trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Pháp luật về quyền con người của Nguyễn Thị Hiền Mai đã nghiên cứu làm rõ
cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo đảm QGD của nhóm bị tổn thương kép là trẻ em - concủa người lao động tạm trú, đây cũng là thách thức của bảo đảm QGD trong bối cảnhhội nhập và phát triển hiện nay [61]; Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với hệ thống giáo dục phổ thông ở thành phố Yên Bái”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh
tế của Nguyễn Trường Giang tiếp cận từ góc độ quản lý kinh tế để làm rõ cơ sở lý luận,
thực tiễn và giải pháp bảo đảm thường xuyên ngân sách nhà nước cho bảo đảm QGD ởbậc phổ thông tại một tỉnh miền núi; dưới góc độ QCN, Nhà nước có trách nhiệm phảiquan tâm, ưu tiên đầu tư để tạo điều kiện kinh tế để bảo đảm QGD ở các tỉnh có điềukiện khó khăn [44]
Thực trạng GD và QGD cũng được đề cập đến trong những Hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế, tổ chức tại Việt Nam: Hội thảo tham vấn về Dự thảo Báo cáo quốc gia theo Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng nhân quyền
Liên hợp quốc do Vụ các tổ chức quốc tế - Bộ Ngoại giao tổ chức (6/8/2013); Hội
thảo khoa học “Vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng và thực thi Hiến
pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trên thế giới và Việt Nam” do Viện Chính
Trang 21sách công và pháp luật tổ chức (16/9/2013); Hội thảo quốc gia với chủ đề: “Chính
sách về Giáo dục hòa nhập: Thực tiễn và sự thúc đẩy ở Việt Nam” do Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội và Tổ chức CBM phối hợp tổ chức (15/3/2018) tại Hà Nội;
Hội thảo “Vai trò của trường Đại học với việc học tập suốt đời ở người lớn”, do Bộ
GD&ĐT và Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức (16/10/2018) tại TháiNguyên Tại Hội thảo, các chuyên gia GD đã chia sẻ những quan điểm về học tậpsuốt đời và vai trò của trường đại học với việc học tập suốt đời ở nước ta, kiến nghịcác nhà quản lý GD phải chú ý đến xu thế phát triển của nền GD hiện đại trên thếgiới để xác định những giải pháp xây dựng hệ thống đại học bảo đảm quyền học tậpsuốt đời của người lớn
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng QGD ở nước ngoài, trong
đó đáng lưu ý là các công trình nghiên cứu của OECD, UNICEF về thực trạng bảođảm nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong tiếp cận QGD; thực trạng QGD cho cácnhóm yếu thế ở các nước có nhiều thành tựu trong bảo đảm QGD; nghiên cứu củaUNESCO về thực trạng thực hiện QGD theo tinh thần Công ước chống phân biệtđối xử trong giáo dục năm 1960, cụ thể:
- Phòng chính sách xã hội (Social Policy Division) thuộc tổ chức OECD thực
hiện Công trình nghiên cứu chuyên sâu về GD đặc biệt (Special Education Needs
-SEN) [123] cho nhóm chủ thể đặc biệt của QGD - trẻ em khuyết tật: Nghiên cứu
khảo sát mức độ đáp ứng chính sách của các quốc gia thuộc OECD trong giai đoạn
2007 - 2010 dưới 03 hình thức: trường học đặc biệt (special schools); lớp học đặc
biệt trong trường thường (Special classes in mainstream schools) và những hỗ trợ đặc biệt (inclusive settings); xác định những vấn đề còn tồn tại trong quá trình áp
dụng chính sách về GD đặc biệt ở các nước OECD; Công trình nghiên cứu “Nhật
Bản - Câu chuyện về sự xuất sắc bền vững” (Japan: A Story of Sustained
Excellence) do tổ chức OECD thực hiện năm 2010, phân tích luận giải những
nguyên nhân tạo nên thành công của GD Nhật Bản [122]; Các chỉ số giáo dục ở Canada: Quan điểm quốc tế 2019 (Educational indicators in Canada: International perspectives) ” phân tích những ảnh hưởng của các vấn đề môi trường toàn cầu đến
GD và thụ hưởng QGD của các chủ thể [124]; Education Uprooted (Giáo dục cho
người di cư) của UNICEF, nghiên cứu phân tích những khía cạnh đặc biệt của QGD
Trang 22đối với nhóm người di cư, đưa ra những giải pháp hỗ trợ họ tiếp cận và hưởng thụQGD [141]; Báo cáo giáo dục Hàn Quốc năm 2019 của Bộ GD Hàn Quốc (Korean Education Report 2019, Korean Ministry of Education”) nêu rõ kinh nghiệm thúc đẩy
GD đại học và GD suốt đời cho mọi người; liên kết và hợp tác quốc tế trong GD [119];
Báo cáo GD đặc biệt: Câu trả lời cho COVID-19: Lớp học trực tuyến tại Hàn Quốc (Responding to Covid-19: Online Classes in Korea, Korean Ministry of Education): Giới thiệu về kinh nghiệm xây dựng, hỗ trợ và duy trì các lớp học trực tuyến ở mọi cấp
học trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, đây là một kinh nghiệm quý báu cho tất cảcác quốc gia trong bảo đảm QGD giữa những tình huống bất ngờ nhất [120]; Bảng xếp hạng đại học thế giới Quacquarelli Symonds (QS World University Rankings) năm
2019, là một nguồn tư liệu tham khảo tin cậy, thể hiện bức tranh
toàn cảnh về GD đại học Châu Á [127];
the Jobs Of the Future?”(Làm thế nào chúng ta có thể giúp chúng chuẩn bị hànhtrang cho các công việc của tương lai?), nghiên cứu chỉ ra những bất cập của hệ thống
GD và cảnh báo hậu quả sẽ đến trong tương lai nếu chúng ta không bảo đảm QGD củacon cái ngay từ bây giờ [111]; Indigenous peoples’ right to education (Quyền giáo dục
của người bản địa) của UNESCO đã nêu các biện pháp hỗ trợ QGD cho người bản địatheo Công ước 1960 và Khuyến nghị chống phân biệt đối xử trong GD [138];
Enforcing the right to education of refugees: a policy perspective (Thực thi quyền giáo dục của người tị nạn: quan điểm chính sách) của UNESCO đã phân tích chỉ ra một số
rào cản lớn đối với QGD mà người tị nạn phải đối mặt, từ đó đề xuất các giải pháp bảođảm QGD với nhóm chủ thể đặc biệt này [137]; UNESCO and the right to education
(UNESCO và quyền giáo dục) khẳng định giáo dục là QCN cơ bản, quyền này là ưutiên tuyệt đối và là cốt lõi của sứ mệnh toàn cầu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận bìnhđẳng với GD chất lượng cho mọi người [135]; Ensuring the right to equitable and inclusive quality education (Đảm bảo quyền được hưởng công bằng và chất lượng
trong giáo dục hòa nhập) là các kết quả của tham vấn thứ chín của các quốc gia thànhviên về việc thực hiện Công ước của UNESCO và Tuyên bố chống phân biệt đối xửtrong Giáo dục [140]
Có thể nói những nghiên cứu trên đây hết sức phong phú, đa dạng và mức độ
đề cập cũng rất khác nhau, nhìn chung nội dung đều tập trung đánh giá: QGD chocác nhóm yếu thế, QGD trong và ngoài quốc doanh, sự phân biệt đối xử trong các
17
“How Can We Prepare Our Kids For
Trang 23môi trường GD, những nội dung QGD như: ngôn ngữ, sức khỏe, QCN, văn hóa ;hậu quả của việc không bảo đảm tốt QGD cho trẻ em…
1.1.3 Tình hình nghiên cứu đề xuất các quan điểm và giải pháp thực hiện quyền giáo dục
1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong phần tình hình nghiên cứu về lý luận, thực trạng QGD nêu ở mục 1.1.1 và 1.2.1 của luận án đã nêu khái quát một số công trình từ nghiên cứu lý
luận, thực tiễn có đề xuất các quan điểm, giải pháp thực hiện QGD cho các đốitượng, địa phương, lĩnh vực nghiên cứu đề cập Bên cạnh đó, còn có một số công
trình nghiên cứu như: Chăm lo cho quyền được học tập suốt đời của nhân dân của
tác giả Đức Tùng đã phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự kế thừa củaĐảng ta về nêu cao trách nhiệm của Đảng, Nhà nước của cả hệ thống chính trị phảibảo đảm quyền được học tập suốt đời của nhân dân [83]; Định hướng xây dựng chương trình xóa mù chữ dựa trên Chương trình giáo dục phổ thông 2018 của
Nguyễn Minh Tuấn đã đóng góp những giải pháp có tính định hướng nhằm xâydựng chương trình xóa mù chữ tại Việt Nam [88]
Các giải pháp tăng cường quyền giáo dục cũng được đề cập đến tại các Hội thảo khoa học gần đây như: Hội thảo Khoa học Quốc tế: “Xây dựng nền tảng học liệu mở cho GD đại học Việt Nam: Đề xuất chính sách, tạo lập cộng đồng và phát triển giải pháp công nghệ” do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối
hợp với văn phòng UNESCO tại Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ và Câu lạc
bộ Phần mềm Tự do nguồn mở Việt Nam tổ chức ngày 29/12/2015, có nhiều thamluận đề xuất các quan điểm, giải pháp áp dụng thành tựu của cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người tiếp cận và hưởng thụ QGD
[41]; Hội thảo "Xây dựng và khai thác tài nguyên giáo dục mở" (OER 2019) được
tổ chức tại trường Đại học Thăng Long: Các tham luận đã đề xuất quan điểm, giảipháp tạo điều kiện cho việc khai thác và phổ cập tài nguyên GD mở một cách rộngrãi và tránh việc xây dựng trùng lặp [43]
1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài liênquan đến QGD, đã được các học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu, dịchsang tiếng Việt để có thêm nguồn tài liệu tham khảo kinh nghiệm quốc tế về bảođảm thực hiện QGD trong bối cảnh hội nhập và phát triển ngày càng sâu rộng của
Việt Nam Cụ thể: Hiện đại hóa giáo dục của tác giả Vương Bân Thái (Giám đốc
Trang 24Sở GD tỉnh Giang Tô), do Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2014: Tổng kếtnhững kinh nghiệm trong cải cách GD tại tỉnh Giang Tô - Trung Quốc, đây là Quốc
gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam; Cải cách giáo dục Nhật Bản, Ozaki
Mugen, do Nxb Từ điển Bách Khoa phát hành năm 2014: Thông qua nghiên cứuchiều dài lịch sử những cuộc cải cách GD tại Nhật Bản, tác giả xác định những bài
học kinh nghiệm có thể áp dụng cho GD Nhật Bản hiện đại và tương lai; Bài học
Phần Lan 2.0 - Pasi Sahlberg, do Nxb Thế Giới phát hành năm 2017: đề xuất các
giải pháp mang tính cách mạng của Phần Lan: dạy ít hơn, kiểm tra ít hơn, học nhiềuhơn; tăng cường công bằng thông qua thúc đẩy đa dạng; đề cao nghề sư phạm và vaitrò của giáo viên đối với xã hội; sử dụng sức mạnh toàn cầu hóa và phong trào cảicách GD toàn cầu (GERM); ứng dụng những phương pháp cải cách GD sáng tạo từ
nước ngoài vào Phần Lan; Những sáng kiến Phần Lan, tập hợp bài viết của nhiều
tác giả do Giáo sư, nhà nghiên cứu GD Ikka Taipale biên soạn, Nxb Trẻ phát hành
năm 2017 phân tích chỉ ra kinh nghiệm bảo đảm QGD của Phần Lan; Quyền giáo
dục của sinh viên: Quan điểm quốc tế về làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý (The
Educational Rights of Students: International Perspectives on Demystifying theLegal Issues) [112] của các tác giả Charles J Russo Ed.D J.D Panzer Chair inEducation University of Dayton: cung cấp một sự khảo nghiệm toàn diện về các giải
pháp tăng cường QGD của sinh viên trong 13 cộng đồng quốc tế trên thế giới; Cách
tiếp cận dựa trên quyền giáo dục - Giáo dục cho mọi người (A Human
Rights-Based Approach to - Education for all) [134] là công trình nghiên cứu của UNESCOcông bố năm 2007: Những khuôn khổ để thực hiện QGD của trẻ em; đề xuất giảipháp tăng cường vai trò các tổ chức nhà nước và trách nhiệm của các chủ thể trongbảo đảm QGD của trẻ em và mọi người trên thế giới;…
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến QCN, QGD đã phân tích ởtrên có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá khái quát sau đây
1.2.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.2.1.1 Nhận xét tổng quát
Thứ nhất, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đa
dạng, phong phú; chủ đề QGD được quan tâm nghiên cứu cả trong nước và nước
Trang 25ngoài; được tiếp cận từ nhiều hướng với các mức độ liên quan khác nhau Cácnghiên cứu về QGD ở Việt Nam trước đây chủ yếu được tiếp cận từ góc độ GD học
và triết học Những năm gần đây, xu hướng tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học
và tiếp cận dựa trên quyền ngày càng được quan tâm hơn
Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong chừng mực nhất định đã làm rõ một
số vấn đề lý luận về QGD: Chuẩn mực quốc tế, quốc gia về QGD; đã đánh giá thựctrạng thực hiện QGD chỉ ra những thành tựu hạn chế; QGD của một số nhóm dễ bịtổn thương: Phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, dân tộc thiểu số; trách nhiệm của quốcgia thành viên các công ước quốc tế về QCN phải thực hiện QGD; nêu một số quanđiểm, đề xuất các giải pháp thực hiện QGD ở một số địa phương ở Việt Nam, một
số nước trên thế giới; kinh nghiệm thực hiện QGD của các nước có nền giáo dụctiên tiến có thể gợi mở cho Việt Nam; Đây là nguồn tư liệu quan trọng để luận án
có thể tham khảo, kế thừa và tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu thêm
Thứ ba, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu trong quy mô luận án
tiến sĩ ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính trực diện về chủ đề “Quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay Do đó, trên cơ sở các công trình nghiên cứu nêu trên,đặt ra nhiệm vụ cần phải đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu để tập trung vàohướng nghiên cứu chính của luận án, kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó vàtránh trùng lặp
1.2.1.2 Những nội dung nghiên cứu đã sáng tỏ, luận án có thể kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, về lý luận: Các nghiên cứu trong nước đã nêu rõ tính chất “quyền
trao quyền” của QGD và vai trò của QGD với hệ thống các QCN khác Thực hiệnQGD là yếu tố quyết định thúc đẩy thực hiện các quyền khác, củng cố nền tảngvững chắc cho phát triển về mọi mặt; QGD chỉ có thể được thực hiện khi tuân thủnguyên tắc bình đẳng thực chất, trái với bình đẳng hình thức - cào bằng vai trò củacác quyền cho mọi chủ thể Một số nghiên cứu đã đề cập bước đầu đến cơ chế bảođảm QGD: Cơ chế bảo đảm chung từ cơ quan nhà nước, cơ chế bảo đảm khác.Đồng thời, đã đề cập đến QGD của các chủ thể đặc biệt (dễ bị tổn thương) như: phụ
nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số
Các nghiên cứu ở nước ngoài, ở một mức độ nhất định đã làm rõ thế giới nỗ
lực thiết lập các tiêu chí đánh giá, tiêu chuẩn phổ quát và vẫn đang hướng tới việc
Trang 26xây dựng khái niệm QGD và chủ thể QGD Các nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa,tiêu chuẩn để xác định khái niệm GD, QGD, chủ thể của QGD, bởi các nhà khoa học
có uy tín và trong nhiều văn kiện pháp lý về nhân quyền quốc tế và khu vực
Đặc biệt, các nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu một số kinh nghiệm về đầu tưcho GD là đầu tư cho phát triển; nâng cao dân trí để nâng cao chất lượng, kỹ nănglàm việc của người lao động; Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm QGD cho mọingười; có chính sách ưu tiên cho nhóm dễ bị tổn thương tiếp cận QGD; có cơ chế xãhội hóa giáo dục; phát triển hệ thống các trường tư; đổi mới phương thức GD theohướng lấy người học làm trung tâm; kiểm tra, đánh giá phòng ngừa bệnh thành tíchtrong học tập, gây áp lực tâm lý cho người học, đặc biệt là trẻ em; bảo đảm các tiêu
chí tính sẵn có, tính có thể tiếp cận được, tính có thể chấp nhận được, tính có thể
thích nghi được, tạo cơ hội bình đẳng trong thụ hưởng QGD cho mọi người; …
Thứ hai, về thực trạng quyền giáo dục: Các nghiên cứu trong nước đã chỉ ra
bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn nhiều hạn chế trong thực hiện QGD
ởViệt Nam như: i) Tình trạng bất bình đẳng giới, sự kỳ thị, phân biệt đối xử trongmôi trường GD còn tồn tại ở một số vùng, dẫn đến sự mất cân bằng trong tiếp cậnQGD của các chủ thể; ii) Quy mô GD nhiều ngành nghề còn chưa tương xứng vớinhu cầu phát triển xã hội dẫn đến sự lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực; iii) Nộidung và phương pháp GD còn thiếu thiết thực, lạc hậu ảnh hưởng không nhỏ đếnviệc thụ hưởng QGD của nhiều đối tượng; iv) Chất lượng và hiệu quả GD trong vàngoài hệ thống công lập còn thấp kéo theo đó là tình trạng lãng phí, thiếu kiểm soát,quản lý của các cơ quan Nhà nước về GD còn lỏng lẻo, dẫn đến tiêu cực, lãng phí,tham nhũng trong lĩnh vực GD&ĐT
Các nghiên cứu ở nước ngoài đã đi sâu vào những khía cạnh cụ thể về QGD
trên thế giới, từ đó chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến QGD ở phạm vi toàn cầu.Ngoài việc xác định tiêu chuẩn chung về QGD bằng các cấp độ ghi nhận, bảo vệ,thúc đẩy khác nhau, các nghiên cứu đề cập đến sự tương tác, mối quan hệ giữa cácQGD của cá nhân và nhóm, các QGD của con người so với đặc quyền “ban phát” trithức của nhà nước
Thứ ba, về đề xuất các quan điểm và giải pháp: Các nghiên cứu đã đề xuất
một số giải pháp về xây dựng, hoàn thiện và thực thi các chính sách, pháp luật vềQGD cho mọi người dưới các góc độ khác nhau như: bảo đảm quyền bình đẳng
Trang 27trong GD, chủ động khắc phục sự phân hóa giàu nghèo; các giải pháp chung để bảođảm thực hiện nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong đó có QGD; các giải phápbảo đảm QGD của một số nhóm dễ bị tổng thương ở một số địa bàn đặc thù củaViệt Nam; các nghiên cứu đã đề cập đến cơ chế bảo vệ QCN trong đó có QGD trênthế giới, ở cấp độ quốc tế, khu vực và cấp quốc gia chỉ ra những khoảng trống vàthiếu hụt ở cấp độ quốc tế và khu vực, kiến nghị các quốc gia cần nỗ lực hơn, đềxuất về mô hình bảo vệ QGD hiệu quả ở trong mỗi quốc gia Đồng thời, chỉ ra kinhnghiệm giải quyết các tiêu cực, khủng hoảng và những vấn đề GD của một số quốcgia, nguyên nhân của tình trạng này trong phạm vi quốc gia; khẳng định không thể
có một mô hình chung cho mọi quốc gia và nêu ra những mô hình về cơ chế bảo vệQCN - QGD đặc thù ở mỗi nước
1.2.1.3 Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án nhưng chưa được giải quyết thấu đáo hoặc chưa được đặt ra nghiên cứu
Thứ nhất, về lý luận: Khái niệm QGD mặc dù đã được đề cập trong một số
công trình nghiên cứu, nhưng chưa có sự thống nhất; các nghiên cứu chưa đưa rađược khái niệm cụ thể của “QGD”, đặc điểm, nội dung của QGD, điều chỉnh phápluật về QGD, các yếu tố tác động đến QGD
Thứ hai, về thực trạng: Các nghiên cứu chủ yếu đánh giá thực trạng GD, bảo
đảm QCN, QGD của một số nhóm dễ bị tổn thương (trẻ em, người khuyết tật, ngườidân tộc thiểu số); chưa có nghiên cứu nào đánh giá hệ thống thực trạng QGD ở ViệtNam để chỉ ra được thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu hạn chế trongthực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay; các nghiên cứu ở nước ngoài chưa quan tâmđánh giá toàn diện cơ chế bảo đảm QGD của các nước (thiết chế và thể chế); phầnlớn chỉ tập trung đánh giá nguyên tắc bình đẳng về cơ hội tiếp cận hưởng thụ QGD;
về giải pháp pháp tăng cường trách nhiệm nhà nước, về xã hội hóa giáo dục
Thứ ba, về đề xuất các quan điểm và giải pháp: Hầu hết các nghiên cứu đề
xuất các quan điểm và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện chính sách về GDĐT; một
số đề xuất các quan điểm và giải pháp nhưng chỉ có thể áp dụng cho việc bảo đảmthực hiện QGD trong phạm vi của nhóm; chưa có quan điểm, giải pháp đồng bộ bảođảm thực hiện QGD cho mọi người; chưa có nhiều kiến nghị về hoàn thiện thể chế,thiết chế, nâng cao trách nhiệm hiệu quả hoạt động của các thiết chế bảo đảm thựchiện QGD ở Việt Nam hiện nay
Trang 281.2.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp, tổng thể và chuyên sâu vềQGD ở Việt Nam hiện nay Do đó, luận án xác định tập trung luận giải những nộidung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về lý luận: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về QGD, trong đó tập
trung phân tích luận giải các vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dungQGD, điều chỉnh pháp luật về QGD; các yếu tố tác động đến QGD
Thứ hai, về đánh giá thực trạng: Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng
QGD ở Việt Nam hiện nay: Làm rõ thực trạng thực hiện QGD; thực trạng các yếu tốtác động đến QGD; những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thành tựu hạn chếtrong thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, về đề xuất các quan điểm và giải pháp: Nghiên cứu xác định các quan
điểm và đề xuất giải pháp thực hiện QGD trong bối cảnh hội nhập và phát triển củanước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu phải lập luận thuyết phục hơn về các giải pháp
có liên quan đã được các công trình nghiên cứu khác đề cập, kiến nghị các giải pháptổng thể mang tính chiến lược và có tính khả thi cho việc thực hiện QGD ở ViệtNam hiện nay
1.3 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở nền tảng về những nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, cácgiả thuyết khoa học được nghiên cứu như sau:
- Cơ sở lý luận về quyền giáo dục đã được quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên cácnghiên cứu chưa đi sâu phân tích, luận giải một cách đầy đủ, sâu sắc, toàn diện về đặcđiểm, vai trò, nội dung QGD, điều chỉnh pháp luật về QGD, các yếu tác động đến QGD
- Quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay đã được quan tâm tôn trọng, thực hiện,
đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế
do nhiều nguyên nhân, nên cần phải nghiên cứu để khắc phục
- Để thực hiện QGD ở Việt Nam cần phải xác định quan điểm tổng thể và ápdụng đồng bộ các giải pháp: Nâng cao nhận thức về QGD, hoàn thiện thể chế vềQGD, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của các thiết chế thực hiện QGD,tạo lập các điều kiện thực huện QGD để đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển củaViệt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Trang 291.3.2 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Luận án cần phải trả lời một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng sau đây:
- Hiểu như thế nào về QGD và điều chỉnh pháp luật về QGD? Có những yếu
tố nào tác động đến QGD?
- Thực trạng thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay đã đạt được những thành tựu
gì, còn những hạn nào và nguyên nhân từ đâu?
- Cần quán triệt các quan điểm gì và có những giải pháp nào để thực hiện QGD ở Việt Nam hiện nay?
Trang 30Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cho
thấy, vấn đề quyền con người trong đó có quyền giáo dục đã có nhiều công trìnhnghiên cứu trong và ngoài nước; tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học
Thứ hai, các nghiên cứu đã làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền giáo dục:
Khái niệm giáo dục, quyền giáo dục, vị trí và tầm quan trọng của giáo dục với sựphát triển của xã hội, khẳng định quyền giáo dục là “quyền trao quyền”, đề xuất một
số giải pháp bảo đảm quyền giáo dục; gợi mở một số kinh nghiệm tham khảo choViệt Nam trong thực hiện quyền giáo dục cho mọi người, chú trọng quyền giáo dụccủa các nhóm dễ bị tổn thương
Thứ ba, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trong quy mô luận án
tiến sĩ luật học, ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính một cách trực diện, hệthống về quyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay Đây chính là điểm hạn chế, khoảngtrống còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu khoa học pháp lý về quyền giáo dục ở Việt Namhiện nay
Thứ tư, đề tài luận án là đề tài mới có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn; luận
án sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu đã được công bố, tiếp tục nghiên cứu để làmsáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất quan điểm và giải pháp thực hiệnquyền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Trang 31Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN GIÁO DỤC
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung quyền giáo dục
2.1.1 Khái niệm quyền giáo dục
Để hiểu được QGD cần phải hiểu một số khái niệm có liên quan như: kháiniệm GD, QCN
2.1.1.1 Khái niệm giáo dục
Phạm trù GD, theo cách hiểu truyền thống là “một quá trình xã hội được tổ
chức một cách có ý thức, có kế hoạch hướng vào việc truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm xã hội vào việc xây dựng và phát triển những nhân cách” [63 tr.13].
Ngày nay, GD được hiểu rộng hơn là một quá trình xã hội, là một hệ thống mở, đápứng nhu cầu học hỏi, tự hoàn thiện của mọi người, ở mọi lứa tuổi, được thực hiệntrong không gian, thời gian khác nhau; GD còn là một hình thức học tập, trong đókiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người từ thế hệ này (người truyềnđạt) được chuyển giao sang thế hệ kế tiếp (người thụ huấn) thông qua giảng dạy,huấn luyện, nghiên cứu GD thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác,nhưng cũng có thể tự học Bất kỳ sự trải nghiệm nào mà có tác dụng trên cách suynghĩ, cảm nhận hay hành vi của một người đều có thể được coi là GD
Trong tiếng Việt, "giáo" có nghĩa là dạy, "dục" có nghĩa là nuôi ; "giáo dục"
là "dạy dỗ, nuôi dưỡng đủ cả trí-dục, đức-dục, thể-dục" [52]
Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn/bậc học như: GD mầm non,
GD tiểu học, GD trung học, và GD đại học, sau đại học; hoặc được chia theo nộidung GD như GD kiến thức phổ thông, GD kiến thức chuyên ngành, GD kiến thức
bổ trợ, …
Cần phân biệt khái niệm “giáo dục” và “học tập”, bởi “học tập” chỉ là giai đoạn đầu tiên của quá trình “giáo dục”, là sự tiếp cận và chọn lọc kiến thức giản đơn và áp dụng ban đầu Hơn nữa nếu đồng nhất hai khái niệm “giáo dục” và “học tập” thì khái niệm “giáo dục” đã bị thu hẹp rất nhiều về phạm vi cũng như về cách thức bảo đảm.
2.1.1.2 Khái niệm quyền con người, quyền giáo
dục * Khái niệm quyền con người
Quyền giáo dục là một quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa, cho nên muốn tìm hiểu khái niệm QGD, trước hết phải tìmhiểu khái niệm QCN
Trang 32Là một phạm trù đa diện nên QCN (Human rights) có nhiều định nghĩa khácnhau Mỗi định nghĩa tiếp cận từ một góc độ nhất định của quốc tế, quốc gia, chỉ ranhững thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả cácthuộc tính của QCN.
Thứ nhất quan niệm của quốc tế về quyền con người
Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa QCN của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về
QCN (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) thường được
nhiều nghiên cứu trích dẫn Theo định nghĩa này QCN là những bảo đảm pháp lý
toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlement) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [51, tr.11].
Bên cạnh đó, tiếp cận từ học thuyết về các quyền tự nhiên (natural rights),
một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn: Quyền con người là những sự
được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chúng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người [36, tr.42].
Thứ hai, quan niệm của Việt Nam về quyền con người
Ở Việt Nam, một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu đưa ra các định nghĩa
về QCN là "những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người
được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [36, tr.42]; “Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế” [51, tr.12].
Bên cạnh đó, còn có quan niệm rộng hơn về QCN, đó là: i) Tiếp cận QCN từ
góc độ khoa học QCN (nhân quyền học) thì QCN: Là hệ thống tri thức khoa học về
QCN bao gồm tri thức về khái niệm, vai trò, mối quan hệ các ngành khoa học khác;
tiếp cận chuyên ngành, đa ngành và liên ngành về QCN;… ii) Tiếp cận QCN từ góc
độ pháp luật về QCN bao gồm tổng thể mục đích, định hướng, nguyên tắc, quy
phạm pháp luật về QCN có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau được phânthành các chế định và được thể hiện trong các VBQPPL về QCN, bao gồm pháp luậtquốc tế, pháp luật khu vực, pháp luật quốc gia về QCN có mối quan hệ rất chặt chẽ
với nhau; …iii) Tiếp cận QCN với tư cách là một lĩnh vực thực tiễn, một lĩnh
Trang 33vực của đời sống con người, theo đó QCN không chỉ tồn tại như một lĩnh vực khoa
học, một lĩnh vực pháp luật mà còn tồn tại như một lĩnh vực thực tiễn, một lĩnh vựccủa đời sống con người: là hành vi và lối sống thể hiện trạng thái hiện thực hóaQCN, thể hiện năng lực, khả năng thực tế con người làm thỏa mãn các QCN củamình, khả năng thụ hưởng và làm chủ các QCN [73, tr 26-28]
Cần lưu ý thuật ngữ Human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là “quyềncon người” (theo tiếng Việt) hoặc “nhân quyền” (theo Hán - Việt) Theo Đại từ điểnTiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người”, đây là hai từ đồng nghĩa, cóthể sử dụng như nhau trong các hoạt động nghiên cứu và thực tiễn [105, tr.1239]
Quyền con người được xác định như những chuẩn mực được cộng đồngquốc tế thừa nhận và tuân thủ, kết tinh những giá trị nhân văn của nhân loại mà nhờ
có chúng, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và
có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một conngười Vì vậy, QCN là những giá trị cao cả, phổ quát cần được tôn trọng và bảo vệtrong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử
Từ phân tích trên cho thấy, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi
ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Quyền con người không chỉ tồn tại như một lĩnh vực khoa học, một lĩnh vực pháp luật mà còn tồn tại như một lĩnh vực thực tiễn, một lĩnh vực của đời sống con người - là hành vi và lối sống thể hiện trạng thái hiện thực hóa quyền con người, thể hiện năng lực, khả năng thực tế con người làm thỏa mãn các quyền con người của mình, khả năng thụ hưởng và làm chủ các quyền con người.
2.1.1.3 Khái niệm quyền giáo dục
Dựa trên khái niệm QCN đã nêu trên, có thể khái quát QGD như sau:
Thứ nhất, tiếp cận dựa trên QCN cho thấy, QGD trước hết phải được ghi
nhận và bảo đảm bằng thể chế: Bao gồm các chuẩn mực chung được ghi nhận trong
các văn kiện quốc tế về QCN, trong đó công nhận nguyên tắc không phân biệt đối
xử và mọi người đều có QGD và được nội luật hóa trong pháp luật của quốc giathành viên các công ước quốc tế về QCN
Thứ hai, pháp luật (thể chế pháp lý) tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể trao
QGD (thiết chế Nhà nước và các thiết chế khác) có trách nhiệm tạo cơ hội bìnhđẳng, hỗ trợ mọi người tiếp cận kiến thức, kỹ năng dưới nhiều hình thức khác nhau;
Trang 34ghi nhận mọi người đều có QGD, bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại hành vi
vi phạm QGD (bao gồm những hành động hoặc sự bỏ mặc (không hành động) làmtổn hại đến quá trình tiếp cận QGD; tạo cơ sở pháp lý cho chủ thể hưởng thụ QGDđược tự do cơ bản trong tiếp cận QGD ở mọi cấp, mọi nơi theo điều kiện và khảnăng cao nhất của bản thân
* Quan niệm của quốc tế về quyền giáo dục
Quan niệm về QGD được thể hiện trong các văn kiện của Liên hợp quốcnhư: Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN năm1948; Công ước chống phân biệt đối xử trong giáo dục năm 1960 của UNESCO;CRC năm 1989 - QGD của trẻ em; CEDAW năm 1979 - QGD của phụ nữ; Côngước về quyền của người khuyết tật năm 2007 - QGD của người khuyết tật; Côngước về xoá bỏ các hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1981; Công ước vềquyền của người lao động di trú và những thành viên trong gia đình họ (CMW) năm1990; Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 - QGD của người tị nạn; …
Đặc biệt, quan niệm QGD đã được ghi nhận trong Điều 13, 14 của ICESCRnăm 1966, theo đó các quốc gia thành viên có trách nhiệm nội luật hóa các chuẩnmực quốc tế về QGD, tuân thủ đúng các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, bình đẳng về cơ hội, không phân biệt đối xử trong bảo đảm QGD
cho mọi người; chú trọng ưu tiên giáo dục hòa nhập, giáo dục đặc biệt cho nhómnhững người dễ bị tổn thương (trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người nghèo,người dân tộc thiểu số, người nhập cư; …)
Thứ hai, chương trình và cơ sở GD phải bảo đảm đủ về số lượng, phải có cơ
sở vật chất hoặc những bảo đảm khác liên quan đến các vấn đề như cơ sở vệ sinhcho cả hai giới, nước sạch, giáo viên đã qua đào tạo, tài liệu giảng dạy, các trangthiết bị như thư viện, máy tính và công nghệ thông tin
Thứ ba, GD phải linh hoạt để thích ứng với những nhu cầu thay đổi liên tục
của xã hội và đa dạng văn hóa Đồng thời, GD cần phải nhằm tạo cho mọi ngườitham gia hiệu quả vào xã hội tự do, thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung và tình hữunghị giữa các dân tộc và các nhóm về chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo, cũng nhưnhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động duy trì hoà bình của Liên hợp quốc
Thứ tư, đối tượng thụ hưởng QGD đa dạng ở nhiều cấp độ khác nhau, cần
được quan tâm phù hợp:
Trang 35Đối với QGD ở bậc tiểu học (đối tượng thụ hưởng chủ yếu là trẻ em): Các
quốc gia thành viên ICESCR thực hiện GD tiểu học phổ cập là: “bắt buộc” và “miễnphí cho tất cả mọi người” Giáo dục cơ bản phải được khuyến khích hoặc tăngcường tới mức cao nhất có thể được cho những người chưa tiếp cận hoặc chưa hoànthành toàn bộ chương trình GD tiểu học có điều kiện hoàn thành chương trình tiểuhọc
Đối với QGD ở bậc trung học (đối tượng thụ hưởng chủ yếu là người chưa thành niên (theo quan niệm Việt Nam, còn theo quan niệm quốc tế vẫn là trẻ em - dưới 18 tuổi): Bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể, các quốc gia từng bước áp
dụng GD trung học phổ thông với nhiều hình thức khác nhau, miễn phí GD trunghọc cũng phải đáp ứng các yêu cầu về khả năng sẵn có, có thể tiếp cận, có thể chấpnhận và tính thích ứng GD trung học đòi hỏi chương trình, giáo trình giảng dạy linhhoạt và các cách thức tổ chức khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng văn hóa [31].
Đối với QGD về kỹ thuật và dạy nghề (đối tượng thụ hưởng là người lớn)
phải bảo đảm tính sẵn có và đến được với mọi người, nội dung này bao hàm cả haiquyền là QGD và quyền có việc làm; GD kỹ thuật và dạy nghề nhìn chung phảiđược mở rộng (phổ cập) cho mọi người; GD kỹ thuật và hướng nghiệp bao gồm:mọi hình thức và cấp độ, ngoài kiến thức chung, còn gắn với việc nghiên cứu cáccông nghệ và các ngành khoa học liên quan và việc tiếp thu những kỹ năng thựchành, kinh nghiệm, thái độ và sự hiểu biết liên quan đến nghề nghiệp
Đối với QGD đại học (đối tượng thụ hưởng là người lớn), các quốc gia thành
viên ICESCR bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể là từng bước áp dụng GD miễn phí,mọi người có thể tiếp cận một cách bình đẳng GD đại học, trên cơ sở năng lực của mỗingười; cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ và của những người giám hộhợp pháp (nếu có) trong việc lựa chọn trường học cho con cái họ, kể cả những cơ sởgiáo dục dân lập mà đáp ứng được các tiêu chuẩn GD tối thiểu do nhà nước quy định.Đồng thời, các quốc gia cũng phải bảo đảm quyền tự do cho phụ huynh hoặc ngườigiám hộ được lựa chọn GD về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện riêngcủa họ Các cá nhân và tổ chức có quyền được tự do thành lập và điều hành các cơ sở
GD Tuy nhiên, các cơ sở GD đó phải luôn tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật quốc
tế về QGD và đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn tối thiểu do nhà nước quy định Đồngthời, từng bước hiện thực hoá QGD theo thời gian, nghĩa
Trang 36là các quốc gia thành viên có nghĩa vụ cụ thể và liên tục “phải xúc tiến một cáchnhanh chóng và hiệu quả đến mức có thể” hướng tới việc hiện thực hoá triệt để Điều
13 [50, tr.13]
Quyền giáo dục của mọi người cũng được ghi nhận tại Điều 56 Hiến chươngLiên hợp quốc, Điều 2 và 23 ICESCR, Điều 10 Tuyên bố thế giới về GD cho tất cảmọi người, Phần I, đoạn 34 Tuyên bố Viên và Chương trình hành động, đều khẳngđịnh nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc trợ giúp và hợp tác quốc tế đểhiện thực hoá đầy đủ QGD cho mọi người
Đặc biệt, các thiết chế tài chính quốc tế, mà tiêu biểu là WB và IMF, đều yêucầu cần quan tâm hơn nữa tới việc bảo vệ, thực hiện QGD trong các chính sách chovay của họ, các hiệp định tín dụng, các chương trình và biện pháp điều chỉnh cơ cấu
và những biện pháp đối phó với khủng hoảng nợ quốc gia [51, tr.90-93]
Từ phân tích trên cho thấy quan niệm của quốc tế về QGD là: Quyền giáo
dục là nhu cầu vốn có và khách quan của con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và quốc gia, được Nhà nước bảo đảm thực hiện, giúp con người tiếp cận kiến thức, kỹ năng dưới nhiều hình thức, ở các cấp độ giáo dục khác nhau, bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động làm tổn hại đến cơ hội tiếp cận giáo dục của con người.
* Quan niệm của Việt Nam về quyền giáo dục
Thứ nhất, cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một khái niệm chính thống về
QGD, các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước đều thừa nhận mọicông dân Việt Nam có quyền được học tập, được tiếp cận và hưởng thụ nền giáo dục
ở các cấp học, phù hợp với lứa tuổi, nhu cầu và điều kiện của của mỗi người để pháttriển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân
Từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến QGD đã được đề cập ởchương 1 của luận án, có thể thấy quan niệm của Việt Nam về QGD dựa trên quanniệm về GD Cụ thể:
Giáo dục có thể hiểu theo các nghĩa: kiến thức, môn học hoặc một quá trình,theo cách chung nhất đó là quá trình giảng dạy hoặc học tập, đặc biệt là giáo dục ởbậc học phổ thông và các bậc học cao hơn, là một quá trình xã hội được tổ chức mộtcách có ý thức, có kế hoạch hướng vào việc truyền đạt và tiếp thu những kinhnghiệm xã hội nhằm xây dựng và phát triển những nhân cách của người học
Trang 37Giáo dục là một quá trình có chủ ý, có ý thức hoặc vô thức, một quá trìnhtâm lý, xã hội, khoa học và triết học, nhằm mang lại sự phát triển của mỗi cá nhân ởmức độ đầy đủ nhất Đồng thời, GD là sự phát triển của cá nhân theo nhu cầu củabản thân cũng như nhu cầu của xã hội, bảo đảm sự hòa nhập, thấu hiểu và chia sẻgiữa các cá nhân, các nhóm người trong cộng đồng, trong mỗi quốc gia và rộng hơnnữa là giữa các quốc gia trong cộng đồng nhân loại Giáo dục vừa đòi hỏi phải làmột quá trình liên tục theo suốt cuộc đời của mỗi người (học tập suốt đời) vừa đòihỏi phải có sự quan tâm tạo điều kiện, định hướng và quản lý bằng pháp luật củanhà nước.
Từ phân tích trên có thể nhận thấy, quan niệm của Việt Nam về QGD dựa
trên quan niệm GD đó là: Những bảo đảm pháp lý được tổ chức và thực hiện một
cách có ý thức, có kế hoạch hướng vào việc truyền đạt và tiếp thu những kiến thức khoa học và những kinh nghiệm xã hội, nhằm xây dựng và phát triển nhân cách của mỗi người, thúc đẩy sự hiểu biết, sự khoan dung giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng, dân tộc và giữa các quốc gia trong cộng đồng nhân loại.
Thứ hai, trong các công trình nghiên cứu, các văn kiện của Đảng cũng như
pháp luật của Việt Nam đã đề cập đến nhiều thuật ngữ khác nhau về quyền giáodục, quyền được giáo dục, quyền được học tập
Cho nên, cần phải lưu ý về sự khác biệt giữa khái niệm “quyền giáo dục” và
“quyền được giáo dục”, “quyền được học tập”: Tuy đều mang nội dung cốt lõi là quyền được tiếp cận và hưởng thụ GD của mọi người, nhưng Quyền được giáo dục,
quyền được học tập được sử dụng với ý nghĩa thụ động (quyền được GD, quyền
được học tập của công dân; nghĩa vụ học tập của công dân), phản ánh quá trình tiếpthu kiến thức qua trường lớp một cách thụ động mang tính chất thực hiện nghĩa vụ -
quyền Còn khái niệm “quyền giáo dục” có phạm vi rộng hơn, không chỉ được sử
dụng cho những chủ thể tiếp nhận, hưởng thụ quyền (công dân - người học) mà cònbao gồm cả trách nhiệm của các chủ thể trao quyền (nhà nước, cơ sở GD quốc dân
và tư nhân, các tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân…), tức là xét về phạm vi, khái
niệm “quyền giáo dục” rộng hơn “quyền được giáo dục”, “quyền được học tập”.
Đồng thời, do khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền (các địaphương tại Việt Nam) vẫn còn khá xa, xuất phát từ sự chênh lệch trong mức độ thụ
Trang 38hưởng QGD do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; việc thụ hưởng QGD của một
số chủ thể đặc biệt dễ bị tổn thương (trẻ em gái, phụ nữ, người khuyết tật, người dântộc thiểu số, người có HIV; …) còn hạn chế bởi ảnh hưởng từ những quan niệmtruyền thống lạc hậu, sự phân biệt đối xử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Nếu cùng một hệ thống pháp luật ghi nhận, bảo vệ QGD nói chung thì nhữngnhóm chủ thể đặc biệt dễ bị tổn thương khó có cơ hội để tiếp cận và hưởng thụ đầy
đủ QGD, do đó cần phải có những chính sách pháp luật đặc thù nhằm hỗ trợ cho họ
có đủ điều kiện và cơ hội tiếp cận một cách toàn diện QGD theo nguyên tắc bìnhđẳng, không phân biệt đối xử
Trên cơ sở những quan niệm về QGD của quốc tế và Việt Nam đã phân tíchtrên, có thể đưa ra khái niệm QGD như sau:
Quyền giáo dục là nhu cầu khách quan của con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và quốc gia, được Nhà nước và các chủ thể có trách nhiệm trao quyền bảo đảm cơ hội bình đẳng tiếp cận và hưởng thụ tiêu chuẩn, chất lượng giáo dục, nâng cao kiến thức, kỹ năng ở mọi cấp học, dưới nhiều hình thức, hướng tới xây dựng, phát triển nhân cách của mỗi người, thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung giữa các
cá nhân, cộng đồng, dân tộc và giữa các quốc gia trong cộng đồng nhân loại.
2.1.2 Đặc điểm quyền giáo dục
Là một QCN thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nên QGD mangnhững đặc trưng cơ bản của QCN, đồng thời xuất phát từ vị trí quan trọng trong hệthống các QCN nên QGD có những đặc thù riêng
2.1.2.1 Quyền giáo dục mang đặc trưng cơ bản của quyền con người
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: i) QCN mang tính phổ biến và phụ thuộc vàobối cảnh lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo (tính phổ biến và tính đặc thù); ii) tínhkhông thể chuyển nhượng; iii) tính không thể phân chia; iv) tính liên hệ và phụthuộc lẫn nhau [51, tr.19-21]
- Tính phổ biến và tính đặc thù
Tính phổ biến của QCN thể hiện ở chỗ QCN là những gì bẩm sinh, vốn cócủa con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đìnhnhân loại Theo đó, tính phổ biến của QGD được thể hiện ở chỗ cơ hội tiếp cận GD
và thụ hưởng QGD là bình đẳng cho tất cả công dân mà không có sự phân biệt đối
Trang 39xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về dân tộc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, độtuổi, xuất thân Tính phổ biến của QCN thể hiện ở chỗ bản chất của sự bình đẳng
về QCN không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng
về tư cách chủ thể của QCN, mọi thành viên của nhân loại đều được công nhận cócác QCN, song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực của cá nhân,cũng như vào hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của quốc gia mà người
đó đang sống.Theo đó QGD mang tính đặc thù của từng quốc gia, mức độ phát triển
về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia sẽ ảnh hưởng lớn đến mức độthụ hưởng QGD của mỗi công dân Khả năng tiếp cận và hưởng thụ QGD phụ thuộcvào năng lực của cá nhân của mỗi người Chẳng hạn, mọi người đều có cơ hội tiếpcận QGD ở bậc đại học, sau đại học, tuy nhiên người đó chỉ có thể theo học được ởcấp bậc ở bậc đại học, sau đại học khi có đủ điều kiện về sức khỏe, năng lực nhậnthức, điều kiện kinh tế, khả năng trúng tuyển và theo học hay không
- Tính không thể tước bỏ, không thể chuyển nhượng
Tính không thể tước bỏ của QCN thể hiện ở chỗ các QCN không thể bị tướcđoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhànước Ở đây, khía cạnh “tuỳ tiện” nói đến giới hạn của vấn đề, nó cho thấy khôngphải lúc nào QCN cũng “không thể bị tước bỏ” Trong một số trường hợp đặc biệt,QCN có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế, chẳng hạn như khi một người phạm tội hình
sự nghiêm trọng thì có thể bị tước tự do theo pháp luật (tạm giam, thi hành hìnhphạt tù…), thậm chí bị tước quyền sống (hình phạt tử hình) Theo đó, mọi ngườiđều có QGD, kể cả những người bị hạn chế một số QCN theo luật định (người bịtạm giam, thi hành án phạt tù) vẫn có quyền được tiếp cận và hưởng thụ QGD: GD
để nâng cao trình độ văn hóa (học chữ với người chưa biết đọc, biết viết), GD vềđạo đức, lối sống, nhân cách, ý thức pháp luật, đào tạo nghề;…
- Tính không thể phân chia
Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ QCN nào đều tác động tiêu cực đến nhânphẩm, giá trị và sự phát triển của con người Vì vậy, tính không thể phân chia củaQCN bắt nguồn từ nhận thức rằng các QCN đều có tầm quan trọng như nhau, nên
về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào… Tuynhiên, trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất
Trang 40định, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đóchứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của các quyền đó Ví dụ, trong bốicảnh chiến tranh, dịch bệnh quyền được ưu tiên phải là quyền về an toàn tính mạng,sức khỏe của dân thường (hạn chế quyền đi lại của công dân để chống dịch COVID
19ở Việt Nam) Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần ưu tiên thực hiệnquyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôn trọng quyền củatất cả các nhóm khác Đối với QGD thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cómối quan hệ biện chứng với các quyền dân sự, chính trị; việc phân chia theo cácnhóm quyền này chỉ là tương đối Ví dụ, Việt Nam coi phát triển GD là quốc sáchhàng đầu, nhưng để phát triển GD cần phải có sự quan tâm của Đảng lãnh đạo (liênquan quyền chính trị), trên cơ sở nền kinh tế phát triển (liên quan quyền kinh tế),chịu tác động của yếu tố xã hội và văn hóa (liên quan quyền văn hóa, xã hội) Nhưvậy, Việt Nam ưu tiên phát triển GD vì là quốc sách hàng đầu, không có nghĩa coinhẹ các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, dân sự khác
Điều này khẳng định các quyền được ưu tiên thực hiện không có nghĩa làquyền đó có giá trị cao hơn các quyền khác, mà bởi các quyền đó trong thực tế đanggặp nhiều trở ngại để thực thi hơn so với các quyền khác nên chủ thể trao quyềnphải quan tâm tạo cơ hội mà thôi
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của QCN thể hiện ở chỗ việc bảo đảm cácQCN, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫnnhau Sự vi phạm hay thực hiện một quyền chắc chắn sẽ tác động tích cực hay tiêucực đến việc thực hiện các quyền khác Ví dụ, để bảo đảm các quyền được tiếp cậnthông tin, cần và đồng thời phải bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóakhác có liên quan như QGD, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội,biểu tình, quyền có mức sống thích đáng vì nếu không, quyền được tiếp cận thôngtin rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ Ngược lại, hiệuquả quản lý nhà nước thể hiện qua sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội chính là kếtquả của quá trình bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong đó có QGD, từ
đó nâng cao chất lượng đời sống của mọi người dân Vì vậy, QGD có tính liên hệ vàphụ thuộc chặt chẽ với các QCN khác