Do đó, trong chương này, chúng tôi đưa ra những giới thiệu đại cương về Ðánh giá tác động môi trường trên phương diện là một quy trình cùng với mục tiêu của quy trình đó; về các hìnhthức
Trang 1Giới thiệu về đánh giá tác động
môi trường
John Glasson
Trang 2Riki Therivel Andrew Chadwick
(Môi trường tự nhiên và nhân tạo)
ví dụ quan trọng về một trong những nỗ lực đó Luật đánh giá tác động môi trường được áp dụng ở Mỹ đã hơn 20 năm nay Năm 1985, Uỷ ban Châu Âu ra chỉ thị tăng cường áp dụng luật này ở các nước thành viên EC và kể từ năm 1988 - khi luật được giới thiệu ở Anh - nó đã trở thành một lĩnh vực phát triển mạnh Từ chỗ ban đầu chỉ có 20 báo cáo về tác động môi trường mỗi năm, hiện nay Anh đã có trên 300 báo cáo /năm và đây mới chỉ là “một góc nhỏ của tảng băng trôi” Trong những năm 1990, phạm vi đánh giá tác động môi trường sẽ được
mở rộng hơn rất nhiều
Do đó, chúng ta có lẽ sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng việc đánh giá tác động môi trường gặp phải nhiều sự phản đối ở nhiều nước khác nhau, đặc biệt là ở Anh Các nhà lập kế hoạch thanh minh rằng họ đã và đang tiến hành các đánh giá tác động môi trường, nhưng điều này chỉ đúng sự thật một phần Nhiều chuyên gia về phát triển coi đánh giá tác động môi trường làmột sức ép khác đối với sự phát triển, gây tốn kém thời gian và tiền bạc Ngoài ra, cả chính quyền trung ương cũng rất thiếu nhiệt tình Ðiều đáng buồn cười là luật pháp Anh hiện nay chỉ dùng thuật ngữ “đáng giá môi trường”, lờ đi từ “tác động” vốn rất nhạy cảm về chính trị
và nghe có vẻ tiêu cực Thực ra, thuật ngữ này vẫn còn đang ở giai đoạn hình thành sơ khai
Do đó, trong chương này, chúng tôi đưa ra những giới thiệu đại cương về Ðánh giá tác động môi trường trên phương diện là một quy trình cùng với mục tiêu của quy trình đó; về các hìnhthức phát triển, môi trường và các tác động môi trường và các vấn đề liên quan đến Ðánh giá tác động môi trường hiện nay
1.2 Bản chất của đánh giá tác động môi trường
Ðịnh nghĩa: Có rất nhiều Ðịnh nghĩa về Ðánh giá tác động môi trường Từ định nghĩa rộng
của Munn (1979), theo đó cần phải “phát hiện và dự đoán những tác động đối với môi trường cũng như đối với sức khoẻ và sự thịnh vượng của con người, của các đề xuất, các chính sách, chương trình, dự án, quy trình hoạt động và cần phải “chuyển giao và công bố những thông tin về các tác động đó” Theo định nghĩa hẹp của Cục môi trường Anh, “thuật ngữ “đánh giá môi trường” chỉ một kỹ thuật và một quy trình dùng để giúp các chuyên gia phát triển tập hợp
Trang 3những thông tin về ảnh hưởng đối với môi trường của một dự án và những thông tin này sẽ được những nhà quản lý quy hoạch sử dụng để đưa ra những quyết định về phương hướng phát triển.” Năm 1991, Uỷ ban Liên hiệp quốc về các vấn đề kinh tế Châu Âu đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và súc tích “Ðánh giá tác động môi trường là đánh giá tác động của một hoạt động có kế hoạch đối với môi trường.”
Quy trình đánh giá tác động môi trường (EIA)
Ðánh giá tác động môi trường là một quy trình có tính hệ thống nhằm xem xét trước những hậu quả mà các hoạt động phát triển gây ra cho môi trường So với các cơ chế bảo vệ môi trường khác, cơ chế này tập trung vào ngăn ngừa ô nhiễm Trước đây, các nhà quy hoạch tất nhiên cũng tiến hành đánh giá những tác động của phát triển đối với môi trường nhưng không thực hiện một cách có hệ thống, có kỷ luật như yêu cầu của một quy trình EIA Quy trình Ðánh giá tác động môi trường bao gồm một số bước như đã nêu ở Hình 1.1 Những bước này được miêu tả ngắn gọn dưới đây và sẽ được bàn kỹ hơn từ chương 4 đến chương 7 Cần chú ýrằng mặc dù các bước được liệt kê lần lượt theo kiểu đường thẳng nhưng Ðánh giá tác động môi trường là một hoạt động có tính quay vòng, giữa các bước có sự liên hệ chặt chẽ với nhau Trong thực tế, việc đánh giá tác động môi trường có nhiều điểm khác so với quy trình trong Hình 1.1 Ví dụ như, luật Ðánh giá tác động môi trường của Anh hiện nay không yêu cầu một số bước, ví dụ như: xem xét các giải pháp thay thế, giám sát sau khi đưa ra quyết định (Cục môi trường Anh 1989) Ngoài ra thứ tự các bước trong quy trình cũng có thể thay đổi
* Giới hạn lựa chọn dự án: Việc áp dụng Ðánh giá tác động môi trường chỉ giới hạn cho
những dự án có tác động đáng kể đối với môi trường Việc lựa chọn một phần dựa trên những quy định về Ðánh giá tác động môi trường hiện hành ở nơi và ở thời điểm tiến hành đánh giá
* Phạm vi: ngay từ lúc đầu, phải xác định được những vấn đề chính yếu từ tất cả những tác
động mà một dự án phát triển có thể gây ra và từ tất cả những giải pháp thay thế có thể áp dụng được
* Xem xét những giải pháp thay thế: bước này để đảm bảo rằng các biện pháp khả thi khác đã
được xem xét, bao gồm thay đổi địa điểm, quy mô, quy trình, cách bố trí, điều kiện hoạt động của dự án, kể cả giải pháp “không hành động”
* Miêu tả hoạt động của dự án phát triển: bước này bao gồm phân loại mục đích và tính hợp
lý của dự án; tìm hiểu những đặc điểm khác nhau của dự án, ví dụ như các giai đoạn phát triển, địa điểm, các quy trình
* Miêu tả tình trạng môi trường: miêu tả tình trạng môi trường hiện nay và trong tương lai,
khi dự án kết thúc, trong đó có tính đến những thay đổi do các sự cố thiên nhiên và do các hoạt động của con người
* Xác định những tác động chủ yếu: bước này cùng với các bước trên nhằm đảm bảo rằng tất
cả các tác động đáng kể có thể xảy ra đối với môi trường (cả tác động có lợi lẫn tác động có hại) đều được phát hiện và tính đến trong quá trình đánh giá
Dự đoán những tác động nhằm xác định quy mô và các khía cạnh khác của một
sự thay đổi môi trường khi có một dự án/hoạt động đang diễn ra bằng cách so sánh với tình hình khi không có dự án /hoạt động đó
Trang 4- Ðánh giá ý nghĩa: nhằm đánh giá ý nghĩa tương đối của các tác động để tập trung vào
những tác động tiêu cực chủ yếu
- Khắc phục: Bước này đưa ra những biện pháp nhằm tránh, giảm nhẹ, khắc phục hoặc bồi
thường cho bất kỳ tác động có hại nào
- Xin ý kiến và kêu gọi sự tham gia của quần chúng: Bước này nhằm đảm bảo chất lượng, tính
toàn diện và hiệu quả của quy trình Ðánh giá tác động môi trường cũng như để đảm bảo rằng quan điểm của công luận được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình đưa ra quyết sách
* Trình bày: Ðây là một bước rất quan trọng trong quy trình Nếu bước này không được thực
hiện tốt thì sẽ làm cho các công việc trước đây trở nên vô ích
*Xem xét, đánh giá lại: đây là bước xem xét một cách có hệ thống về chất lượng đánh giá tác
động môi trường nhằm đóng góp cho quá trình đưa ra quyết sách
* Ðưa ra quyết định về dự án: quyết định này bao gồm cả ý kiến của những người có trách
nhiệm về hệ thống tác động môi trường (kể cả các chuyên gia tư vấn) và các ý kiến đóng góp khác
* Giám sát sau khi đưa ra quyết định: Bước này góp phần giúp quản lý dự án một cách hiệu
quả
* Kiểm tra: Ðây là bước tiếp theo của bước theo dõi giám sát, bao gồm so sánh các kết quả
đạt được với kết quả dự kiến Bước này được sử dụng để đánh giá chất lượng của khâu phát hiện, dự đoán tác động và hiệu quả của khâu khắc phục ảnh hưởng Ðây là một bước quan trọng trong đánh giá tác động môi trường
Giới hạn lựa chọn dự án - Có cần tiến hành Ðánh giá tác động môi trường hay không ?
Phạm vi - Những tác động và những vấn đề nào cần được xem xét
Miêu tả dự án / hoạt động phát triển
Miêu tả tình trạng môi trường
Phát hiện những tác động môi trường chủ yếu
Dự đoán các tác động
Ðánh giá ý nghĩa của các tác động
Xác định các biện pháp khắc phục
Trình bày những kết quả đánh giá tác động môi trường
Xét lại quy trình đánh giá tác động môi trường
Ðưa ra quyết định
Theo dõi, giám sát sau khi đưa ra quyết định
Trang 5Kiểm tra các biện pháp dự đoán tác động và khắc phục hậu quả
Tham khảo ý kiến quần chúng
Trang 6Hình 1.1 Những bước quan trọng trong quy trình Ðánh giá tác động môi trường: Ðánh giá
tác động môi trường là một hoạt động có tính quay vòng, trong đó có sự liên hệ chặt chẽ giữa các bước khác nhau Ví dụ như sự tham gia của quần chúng rất hữu ích trong hầu hết các bước của quy trình, các hệ thống theo dõi giám sát cần thảm khảo những thông số trong các bước đầu và trong miêu tả tình hình
Công bố tài liệu về đánh giá tác động môi trường
Việc công bố những tài liệu về đánh giá tác động môi trường bao gồm công bố những thông tin dự đoán thu được sau các bước của quy trình đánh giá Phòng bệnh hơn chữa bệnh Khi một hệ thống EIA phát hiện ra nhiều tác động có hại không thể tránh khỏi, nó sẽ cung cấp những thông tin rất có giá trị nhằm giúp đình chỉ hoặc có những cải tiến cơ bản đối với hoạt
Trang 7động phát triển đó Nếu có thể hạn chế được những tác động có hại đó bằng các biện pháp khắc phục ảnh hưởng thì có thể đưa ra quyết định khác Bảng 1.1 cho thấy một ví dụ về nội dung của một hệ thống đánh giá tác động môi trường của một dự án phát triển.
Báo cáo tóm tắt ngoài chuyên môn là một trong những bộ phận tài liệu quan trọng Việc đánh
giá tác động môi trường đôi khi rất phức tạp Do đó báo cáo tóm tắt có thể giúp cho việc giao
dịch với các bên đối tác khác nhau được dễ dàng hơn Báo cáo phương pháp phản ánh tính
chất phức tạp của quy trình Ngay từ đầu, báo cáo đưa ra một số thông tin quan trọng (ví dụ như: ai là chuyên gia tư vấn, hình thức tư vấn? Phương pháp được sử dụng là gì? những khó khăn nào đã phát sinh ? Giới hạn của hệ thống đánh giá tác động môi trường là gì ?)
Báo cáo tóm tắt về các vấn đề cơ bản cũng có thể giúp tạo điều kiện cho việc giao dịch, trao
đổi Những hệ thống đánh giá tác động môi trường tốt còn có một chương trình theo dõi giám sát Những thông tin cơ bản về dự án phát triển thu được sau những bước đầu của quy trình đánh giá tác động môi trường, bao gồm: miêu tả chi tiết về dự án, các điều kiện cơ bản (kể cả các kế hoạch và chính sách quy hoạch thích hợp) Thông thường, đối với mỗi chủ đề của hệ thống đánh giá tác động môi trường, sẽ có thảo luận về những điều kiện hiện tại, dự đoán những tác động, phạm vi khả năng khắc phục và giải quyết những tác động xấu
Trong thực tế, các hệ thống đánh giá tác động môi trường rất khác nhau giữa các nghiên cứu khác nhau và giữa các nước khác nhau Theo một nghiên cứu gần đây của Liên hiệp quốc về hoạt động đánh giá tác động môi trường ở một số nước cho thấy có những thay đổi về mặt quy trình và hồ sơ tài liệu (theo Uỷ ban kinh tế Châu Âu của Liên hiệp quốc năm 1991) Những thay đổi đó bao gồm: chú trọng hơn đến khía cạnh kinh tế xã hội, sự tham gia của quần chúng và đến những hoạt động “sau khi ra quyết định” ví dụ như theo dõi giám sát
Bảng 1.1 Nội dung của hệ thống đánh giá tác động môi trường của một dự án
Báo cáo ngoài chuyên môn
Phần 1: Phương pháp và những vấn đề chính
1 Báo cáo về phương pháp
2 Báo cáo về các vấn đề chính; báo cáo về hoạt động theo dõi, giám sát
Phần 2: Những đặc điểm cơ bản của dự án phát triển
3 Những nghiên cứu ban đầu: nhu cầu, quy hoạch, các biện pháp thay thế, lựa chọn địa điểm
4 Miêu tả vị trí /những điều kiện cơ bản
5 Miêu tả dự án phát triển
6 Các chương trình và hoạt động
Phần 3: Ðánh giá tác động môi trường - những chủ đề chính
7 Tình hình sử dụng đất, cảnh quan và chất lượng thực tế
Trang 88 Ðịa lý, địa hình và đất
9 Chất lượng nước và điều kiện thủy văn
10 Chất lượng không khí và khí hậu
11 Sinh thái nước và đất
12 Tiếng ồn
13 Giao thông
14 Ðiều kiện kinh tế - Xã hội
15 Mối liên quan giữa các tác động
Các định nghĩa khác
Các hoạt động phát triển không chỉ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên còn có thể ảnh hưởng đến môi trường kinh tế và xã hội (ví dụ như: các cơ hội công ăn việc làm, các dịch vụ sức khoẻ, giáo dục, các cấu trúc cộng đồng, lối sống và nhiều giá trị khác Do đó, trong tài liệu
này, đánh giá tác động kinh tế - xã hội hay đánh giá tác động xã hội được coi như một bộ
phận của đánh giá tác động môi trường Tuy nhiên, ở một số nước, chúng bị coi như một quy trình riêng biệt, ở một số nước khác, chúng được tiến hành song song với quy trình đánh giá tác động môi trường (Carky & Bustelo 1984, Finsterbusch, 1985)
Ðánh giá môi trường chiến lược (SEA) là một hình thức đánh giá tác động môi trường nhưng
được mở rộng cho các chính sách, kế hoạch và chương trình Các hoạt động phát triển có thể
là một dự án (ví dụ một nhà máy điện hạt nhân); một chương trình (ví dụ một số nhà máy điệnhạt nhân có sử dụng lò phản ứng áp lực nước); một kế hoạch (ví dụ kế hoạch về hệ thống quy hoạch đô thị và nông thôn của Anh và xứ Wales); một chính sách (ví dụ chính sách phát triển các nguồn năng lượng có thể tái tạo) Nói chung, việc đánh giá tác động môi trường, thường được áp dụng đối với từng dự án riêng lẻ và vai trò của quy trình đánh giá tác động môi trường chính là trọng tâm của tài liệu này Hiện nay, hoạt động đánh giá môi trường chiến lược hay nói cách khác là việc đánh giá tác động môi trường đối với các chương trình, kế hoạch và chính sách được Cộng đồng Châu Âu rất quan tâm (Therivel & cộng sự 1992) Hoạt động đánh giá môi trường chiến lược cho thấy một hình thức đề ra quyết sách ở trình độ cao hơn, có tính chất chiến lược hơn Về mặt lý thuyết, việc đánh giá tác động môi trường cần phải được tiến hành trước hết với các chính sách, sau đó đến các kế hoạch và chương trình rồicuối cùng mới đến các dự án
Ðánh giá rủi ro (RA) là một thuật ngữ khác có liên quan đến Ðánh giá Tác động môi trường
(EIA) Hoạt động đánh giá rủi ro là một biện pháp phân tích những rủi ro liên quan đến nhiều hình thức phát triển khác nhau để đối phó với những sự cố như vụ nổ nhà mày hóa chất ở Flixborough (Anh) và vụ tai nạn ở nhà mày điện hạt nhân Three Mile Island (Mỹ) và
Chernobyl (Ukraine) Nghiên cứu về hóa dầu và các lĩnh vực phát triển công nghiệp khác ở Canvey Island (Anh) là một ví dụ về biện pháp đó (Uỷ ban sức khoẻ và An toàn 1978)
1.3 Những mục đích của hoạt động đánh giá tác động môi trường
Trang 9Hỗ trợ việc đưa ra quyết sách
Ðánh giá tác động môi trường là một quy trìnhvới nhiều mục đích quan trọng Ðó là một hoạt động hỗ trợ cho việc đưa ra quyết sách Ví dụ như, đối với những nhà quản lý địa phương hoạt động đánh giá tác động môi trường giúp xem xét một cách có hệ thống những khía cạnh môi trường của một hoạt động phát triển trước khi đưa ra quyết định cuối cùng và trong đó một số trường hợp, nó giúp tìm ra những giải pháp thay thế Người chịu trách nhiệm đưa ra quyết sách có thể cân nhắc báo cáo đánh giá tác động môi trường cùng với nhiều tài liệu khác liên quan đến hoạt động phát triển đó So với các biện pháp khác, ví dụ như biện pháp phân tích chi phí - lợi ích, biện pháp đánh giá tác động môi trường thường có phạm vi rộng hơn Việc đánh giá tác động môi trường không thay thế được cho bước quyết định nhưng nó giúp phân định một số yếu tố liên quan đến hoạt động phát triển và những yếu tố này có thể đưa đến một quyết định hợp lý hơn Quy trình đánh giá tác động môi trường có thể là cơ sở cho việc đàm phán, thương lượng giữa các chuyên gia phát triển với các tổ chức dân sự hữu quan
và các nhà quản lý quy hoạch Ðiều này giúp cân bằng giữa lợi ích môi trường và lợi ích phát triển
Hỗ trợ cho sự định hình của một dự án phát triển
Nhiều chuyên gia phát triển coi việc đánh giá tác động môi trường là một chướng ngại vật mà
họ phải vượt qua trước khi xúc tiến các hoạt động khác Quy trình đánh giá tác động môi trường còn có thể bị coi là một hoạt động tốn kém thời gian và tiền bạc Tuy nhiên, hoạt động này có thể đem lại cho họ những lợi ích to lớn vì nó tạo ra một khuôn mẫu để song song xem xét các vấn đề môi trường và các vấn đề về thiết kế và vị trí Việc đánh giá tác động môi trường góp phần hỗ trợ cho sự định hình của một dự án phát triển, ví dụ như: nó chỉ ra những
bộ phận nào của dự án cần phải được cải tiến để giảm thiểu hoặc loại bỏ những tác động có hại đối với môi trường Việc sớm xem xét những tác động môi trường ngay từ giai đoạn lập
kế hoạch phát triển sẽ giúp cho hoạt động phát triển đó trỏ nên an toàn cho môi trường; giúp cải thiện mối quan hệ giữa các chuyên gia phát triển, các cơ quan quản lý quy hoạch và cộng đồng địa phương; giúp cải tiến quy hoạch và theo một số chuyên gia phát triển ví dụ như các chuyên gia của British Gas, trong một số trường hợp, nó giúp tăng lợi nhuận thu được
(Breakell & Glasson, 1981) O Riordan (1990) đã gắn những khái niệm đó với những khái niệm môi trường mới như “Phong trào tiêu dùng bảo vệ môi trường” và “Tư bản môi trường”.Người tiêu dùng hiện nay ngày càng đòi hỏi các sản phẩm phải không gây thiệt hại cho môi trường Do đó, thị trường cho các công nghệ sạch cũng ngày càng phát triển Việc đánh giá tác động môi trường có thể cung cấp cho các chuyên gia phát triển những dấu hiệu về những tranh chấp có thể xảy ra Do vậy, những chuyên gia phát triển khôn ngoan có thể sử dụng quy trình đánh giá tác động môi trường như một giải pháp “Hiệu quả môi trường” nhằm loại bỏ những tác động tiêu cực đối với môi trường, xoa dịu sự phản đối của công luận và tránh được kiện cáo tốn kém
Một công cụ phục vụ cho phát triển bền vững
Ðằng sau tất cả những mục đích đó là vai trò trung tâm của hoạt động đánh giá tác động môi trường trên phương diện là một trong những công cụ giúp đạt đến phát triển bền vững tức là
sự phát triển không bắt trái đất phải trả giá Những hoạt động có hại cho môi trường hiện này cần phải được quản lý càng chặt chẽ càng tốt Trong một số trường hợp, các hoạt động đó tuy
đã bị đình chỉ nhưng những hậu quả môi trường do chúng để lại vẫn kéo dài hàng chục năm
Sẽ rất có lợi nếu như những tác động tiêu cực đó được giải quyết sớm ngay từ giai đoạn quy hoạch vì phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn là chữa bệnh
Trang 10Các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội cần phải được đặt ra trong bối cảnh môi trường cụ thể Năm 1966, Boulding đã minh họa rất sinh động sự khác nhau giữa “nền kinh tế năng suất” và “nền kinh tế không gian” (Hình 1.2) Mục tiêu đẩy mạnh mức tăng GNP bằng cách
sử dụng nhiều đầu vào hơn để tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ hơn chính là mầm mống của
sự thoái hóa xuống cấp bởi vì việc tăng sản phẩm đầu ra không chỉ đem lại nhiều hàng hóa và dịch vụ mà còn thêm nhiều sản phẩm phế thải Môi trường tự nhiên chính là nơi tiếp nhận những phế thải đó và cũng là nơi cung cấp tài nguyên Do đó, ô nhiễm môi trường và sự suy giảm các nguồn tài nguyên chính là hậu quả kèm theo của sự phát triển kinh tế
Trang 11Hình 1.2 Quá trình phát triển kinh tế xét trong bối cảnh môi trường (Boulding 1966)
Các chính quyền, từ cấp địa phương đến cấp quốc gia đều đã nhận ra mối liên hệ qua lại giữa phát triển kinh tế - xã hội với môi trường tự nhiên cũng như những tác động qua lại giữa các hoạt động của con người và thế giới sinh vật Ðã có nhiều cố gắng để cải thiện phương thức quản lý những mối quan hệ đó Tuy nhiên, một báo cáo gần đây của Uỷ ban Châu Âu mang tên “Hướng về sự phát triển bền vững” (CEC 1992) cho thấy những xu hướng mới có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường Những xu hướng đó bao gồm: xu hướng tăng năng lượng tiêu thụ lên 25% vào năm 2010 nếu không có thay đổi nào về tỷ lệ tăng nhu cầu năng lượng hiện nay; tỷ lệ xe ô tô riêng tăng 25% và độ dài đường đi tăng 17% vào năm 2000; mặc
dù phong trào tái chế đang phát triển nhưng từ năm 1987 đến 1992, lượng chất thải đô thị vẫn tăng lên 13%, ngành du lịch ở khu vực Ðịa Trung Hải theo dự tính sẽ phát triển thêm 60% từ năm 1990 đến năm 2000 Ở những nước đang phát triển - nơi các tài nguyên môi trường phải chịu nhiều sức ép hơn do tốc độ tăng dân số cao và tiêu chuẩn sống thấp - những xu hướng này dường như còn trầm trọng hơn Thực trạng môi trường hiện tại của nhiều nước Trung và Ðông Âu cũng như của các nước khác trên thế giới càng làm tăng thêm tính thuyết phục cho bản báo cáo này của EC “Trong thập kỷ này, những cuộc đấu tranh vĩ đại vì môi trường có thể thắng lợi hoặc thất bại nhưng để đến thế kỷ sau thì sẽ quá muộn”
Theo Báo cáo năm 1987 của Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới (còn gọi là Báo cáo Brundtland), phát triển bền vững được định nghĩa là “sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Uỷ ban môi trường và phát triển thế giới của Liên hiệp quốc - 1987) Phát triển bền vững có nghĩa là trao lại cho các thế hệ tương lai không chỉ “những tài sản nhân tạo”(ví dụ như đường sá, trường học, các di tích lịch sử) và “tài sản con người” (ví dụ như tri thức, kỹ năng) mà còn cả “những tài sản thiên nhiên/môi trường” (ví dụ như: không khí sạch, nước ngọt, rừng mưa nhiệt đới, tầng ozôn, đa dạng sinh học) Báo cáo Brundtland đã miêu tả những đặc điểm chính của phát triển bền vững như sau: phát triển bền vững cho phép duy trì chất lượng mọi mặt của cuộc sống, duy trì khả năng tiếp cận lâu dài với các tài nguyên thiên nhiên, tránh được những thiệt hại cho môi trường Phát triển bền vững có nghĩa là sống dựa vào “thu nhập” của trái đất thay vì làm hao hụt “vốn liếng” của nó (DOE 1990)
Tuy nhiên, thuật ngữ “Phát triển bền vững” đang có nguy cơ bị chìm lấp và đã xuất hiện nhiềuđịnh nghĩa thay thế Turner & Pearce (1992) đã hướng sự chú ý tới những ý nghĩa khác của việc duy trì nguồn vốn Chính sách bảo tồn nguồn vốn về mọi mặt (kể cả tài sản nhân tạo, tài sản con người và tài sản thiên nhiên) không phản đối việc sử dụng bất kỳ loại vốn nào, với điều kiện là khi lĩnh vực này bị hụt vốn thì song song phải có đầu tư vào lĩnh vực khác Trường hợp này được định nghĩa là “sự lâu bền yếu kém” Ngược lại “trong phát triển lâu bền
Trang 12mạnh mẽ”, không cho phép làm tiêu hao những tài sản môi trường do một số lí do như: do chúng ta chưa hiểu biết đầy đủ về những hậu quả đối với con người, do không thể khôi phục được (không gì có thể thay thế được những loài sinh vật đã mất đi), do một số tài nguyên thiên nhiên phải phục vụ cho chức năng hỗ trợ cuộc sống; và do mọi người không muốn những thiệt hại cho môi trường Có rất nhiều điều còn phải bàn về “sự phát triển lâu bền mạnhmẽ” nhưng về mặt thể chế, còn chưa có sự nhất quán.
Ðể đạt đến phát triển bền vững, cần có sự hưởng ứng của các thể chế ở các cấp khác nhau Những vấn đề đáng lo ngại đối với toàn thế giới (ví dụ như: tình trạng suy giảm tầng ôzôn, hiện tượng thay đổi khí hậu, nạn phá rừng, sự tổn thất đa dạng sinh học ) đòi hỏi phải có mộtcam kết hành động chính thức của toàn cầu Hội nghị của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển (UNCED) tổ chức ở Rio de Janeiro năm 1992 là một ví dụ về sự lo ngại chung của cộng đồng quốc tế nhưng còn là một ví dụ về một hành động phối hợp để đối phó với những vấn đề đó “Chương trình hành động 21” - một bản kế hoạch hành động dài 800 trang của cộng đồng thế giới cho thế kỷ 21 - đã vạch ra những việc mà các quốc gia cần phải thực hiện
để đạt được sự phát triển bền vững Bản kế hoạch gồm nhiều chủ đề, như đa dạng sinh học, hiện tượng sa mạc hóa, tình trạng phá rừng, chất thải độc hại, hệ thống thoát nước, biển và không khí Hội nghị Rio đã kêu gọi thành lập một Uỷ bản về phát triển bền vững để triển khaithực hiện “Chương trình hành động 21) (Lovejoy 1992)
Trong số 4 chương trình hoạt động cộng đồng về môi trường của Liên hiệp quốc được triển khai từ năm 1972 đến năm 1992, có một vấn đề được nêu lên Ðó là cần có khung luật pháp riêng cho nhiều lĩnh vực, bao gồm quản lý chất thải, ô nhiễm không khí, bảo vệ thiên nhiên vàđánh giá tác động môi trường Chương trình thứ 5 mang tên “Hướng đến sự phát triển
bềnvững” được xây dựng trong bối cảnh khối thị trường chung Châu Âu vừa được thiết lập Khối thị trường chung tập trung vào những thay đổi chính về tình hình phát triển kinh tế, do
có sự xoá bỏ tất cả những hàng rào về tài chính, nguyên liệu và công nghệ giữa các quốc gia thành viên Chính điều đó đã gây ra những nguy cơ mới cho môi trường Chương trình thứ 5 thừa nhận sự cần thiết phải phối hợp giữa các mục tiêu (liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường) của nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, năng lượng, giao thông vận tải và du lịch Chính sách môi trường của Uỷ ban Châu Âu dựa trên “nguyên tắc ngăn ngừa” Theo nguyên tắc này, cần phải tiến hành các hành động ngăn ngừa, cần hạn chế tận gốc những thiệt hại môitrường và người gây ô nhiễm phải trả Trong khi các chương trình trước của EC chủ yếu dựa trên những công cụ pháp luật thì chương trình thứ 5 ủng hộ việc sử dụng “phối hợp nhiều
“công cụ thị trường” (ví dụ như: đưa các chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm thông qua việc áp dụng các biện pháp tài chính) cùng với “các công cụ hỗ trợ song song” (ví dụ như: cải thiện cơ sở dữ liệu thống kê, cải thiện chức năng quy hoạch) Hình 1.3 cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nguồn tài nguyên, các lĩnh vực sản xuất - dịch vụ và các chính sách, trong đó rõ ràng là có vai trò của hoạt động đánh giá tác động môi trường
Quản lý tài nguyên
- Quản lý chất lượng không khí
- Quản lý nguồn nước
- Cải thiện chất lượng đất
- Bảo tồn thiên nhiên và cảnh quan
- Bảo vệ năng lượng và hiệu quả năng lượng0