Ba thuật ngữ quan trong nhất trong số đó là: Kiểm kê hiện trạng môi trờng - Environmental inventory ĐGTĐMT - Environmental Impact Assessment EIA Tờng trình tác động môi trờng hoặc
Trang 1đại học quốc gia hà nội Trờng Đại học khoa học tự nhiên
Trang 2Lời nói đầu
Cho đến nay, thuật ngữ "Đánh giá tác động môi trờng" không còn xa lạ đối vớinhững ngời làm công tác quản lý ở các cấp, các ngành cũng nh những ngời làmcông tác khoa học trong nhiều lĩnh vực ở nớc ta, tuy công tác đánh giá tác độngmôi trờng (ĐGTĐMT) mới đợc tiến hành gần đây nhng chúng ta đã nhanh chóngphát triển hoạt động này phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môitrờng
Nếu chỉ nhìn vào cụm từ: “Đánh giá tác động môi trờng” thì mỗi chúng ta đều
có thể hiểu đợc ý nghĩa của nó, đó là đánh giá tất cả các tác động đang diễn ra hoặc
có thể diễn ra đến môi trờng Từ đó, có thể hình dung hoặc lấy đợc những ví dụ cụthể về một số tác động môi trờng Tác động này có thể rất gần gũi với chúng ta nhtác động của bãi rác thải, của một con sông bị ô nhiễm, của tiếng ồn trên đờng giaothông, Nhng, cũng có những tác động ở quy mô lớn hơn, khó nhận biết hơn đòihỏi chúng ta phải nghiên cứu, xác định ở quy mô toàn cầu, đó là sự gia tăng hiệuứng nhà kính, làm trái đất nóng lên hoặc sự suy giảm của tầng Ô-zôn có thể đe dọa
sự sống trên trái đất Cho dù ở quy mô nào, các tác động này cũng đang gây nêntình trạng chung: suy thoái môi trờng, suy giảm chất lợng môi trờng Mức độ suythoái môi trờng ở những nơi khác nhau cũng khác nhau Chất lợng không khí ở một
số thành phố lớn đã suy giảm đến mức con ngời nhiều khi cần tới những bình ô-xi
để trợ giúp hô hấp Nớc mặt, nớc ngầm ở nhiều nơi không những chỉ bị ô nhiễm màcòn giảm cả về số lợng khiến con ngời phải đầu t nhiều công của để khắc phục
Nh vậy, nhìn chung phải xem xét vấn đề "tác động" ở nhiều khía cạnh khácnhau, chẳng hạn:
Xét riêng tới môi trờng - nơi chịu nhiều tác động, ta cũng phải xác định rõ phạm
vi và ý nghĩa của thuật ngữ này Nếu chỉ coi môi trờng ở nghĩa hẹp, nghĩa là chỉ tính
Trang 3tới thành phần tự nhiên ảnh hởng trực tiếp tới sự sống của con ngời, thì đó chỉ làchất lợng của một số thành phần nh nớc, không khí, sinh vật Nếu mở rộng hơn,phải tính đến cả tài nguyên thiên nhiên và hơn thế nữa phải tính tới yếu tố môi trờngxã hội, nhân văn.
Nh vậy, xét theo nghĩa rộng thì ĐGTĐMT biểu hiện ở rất nhiều lĩnh vực Hầu
nh tất cả mọi ngời đều đang tham gia vào công việc này
ở trên ta đã xét tới nhận thức của con ngời về ĐGTĐMT Bây giờ ta sẽ xét
ĐGTĐMT ở khía cạnh khác, khía cạnh pháp lý
Do nhận thức đợc tầm quan trọng của ĐGTĐMT mà nhiều nớc trên thế giới đã
đa công tác này vào Luật về môi trờng Nói một cách chính xác hơn, trong hệ thốngpháp luật có nhiều điều liên quan tới ĐGTĐMT Ngoài các điều luật quy định cụ thểcách thức tiến hành công tác ĐGTĐMT, còn có một số quy định quan trọng khác,bao gồm:
- Đối tợng phải tiến hành ĐGTĐMT
Nh vậy, ĐGTĐMT là hoạt động mang tính pháp lý cao, thể hiện sự quan tâmkhông chỉ của nhân dân, cộng đồng mà của cả các quốc gia và toàn nhân loại
ĐGTĐMT còn là công cụ quản lý môi trờng có hiệu quả, giúp các cấp chínhquyền, các đoàn thể và đông đảo nhân dân nhận thức rõ các tác động đến môi tr ờngcủa các hoạt động phát triển, từ đó có những biện pháp giảm thiểu, khắc phụcnhững tác động tiêu cực
Một vài điểm nêu trên phần nào đã chỉ ra vai trò to lớn của công tác ĐGTĐMTtrong bảo vệ môi trờng Vấn đề đặt ra là phải tiến hành công tác này nh thế nào để
đạt hiệu quả cao nhất Muốn đạt đợc điều đó phải thực hiện đồng thời nhiều mảngcông việc, trong đó có công tác giáo dục, đào tạo nâng cao kiến thức về ĐGTĐMT.Nội dung của giáo trình này sẽ góp phần nhỏ vào công việc hết sức quan trọng này
Trang 4Chơng 1 Tổng quan về đánh giá tác động môi trờng
1.1 Sự ra đời và phát triển của ĐGTĐMT:
Việc xác định thời điểm ra đời của công tác ĐGTĐMT không phải dễ dàng.Bởi vì, nếu xét về tính chất công việc thì hình nh ĐGTĐMT đã có từ rất lâu Song,nếu xét thời gian mà công việc này đợc gọi tên, đợc thừa nhận thì còn rất mới mẻ.Ngời ta thờng lấy năm 1969 - năm thông qua Đạo Luật Chính sách Môi trờng củaHoa Kỳ làm thời điểm ra đời của ĐGTĐMT Trong đạo Luật này có những điều qui
định yêu cầu phải tiến hành ĐGTĐMT của các hoạt động lớn, quan trọng có thể gâytác động đáng kể tới môi trờng
Chúng ta có thể chấp nhận việc chọn thời điểm ra đời nêu trên, bởi vì, bản thân
"môi trờng" đã đợc con ngời nhận thức từ rất lâu nhng thuật ngữ môi trờng, vấn đềmôi trờng cũng mới chỉ đợc nhắc đến và đặt ra kể từ cuối những năm 1960, đầunhững năm 1970
Một số thuật ngữ đã đợc đa ra liên quan tới quá trình tuân thủ Đạo Luật Chínhsách Môi trờng của Mỹ Ba thuật ngữ quan trong nhất trong số đó là:
Kiểm kê hiện trạng môi trờng - Environmental inventory
ĐGTĐMT - Environmental Impact Assessment EIA
Tờng trình tác động môi trờng hoặc báo cáo TĐMT - EIS
Kiểm kê hiện trạng môi trờng là hoạt động nhằm mô tả toàn diện về môi trờng
đang tồn tại ở vùng dự định đặt dự án hoặc vùng có các hoạt động xảy ra Việc kiểm
kê phải đề cập đến môi trờng lý - hoá nh thổ nhỡng, địa chất, địa hình, khí hậu, nớcmặt, nớc ngầm, chất lợng không khí, chất lợng nớc, ; môi trờng sinh học: các loài
động, thực vật, đa dạng sinh học, khả năng phát triển suy thoái của các loài; môi ờng nhân văn nh các điểm khảo cổ, di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh,bảo tàng và th viện, ; môi trờng kinh tế xã hội nh xu thế tăng dân số và phân bốdân số, mức sống, hệ thống giáo dục, mạng lới giao thông, cơ sở hạ tầng, cấp thoátnớc, quản lý rác, dịch vụ công cộng nh công an, cứu hoả, bảo hiểm y tế,
tr-Từ các thành phần môi trờng trên có thể nhóm thành: Môi trờng tự nhiên, baogồm môi trờng lý hóa, môi trờng sinh học và môi trờng xã hội bao gồm môi trờngvăn hoá, môi trờng kinh tế - xã hội
ĐGTĐMT đợc định nghĩa là sự xác định, đánh giá các tác động (hoặc ảnh ởng) có thể xảy ra của các dự án, các quy hoạch phát triển hoặc của các quy địnhluật pháp liên quan tới môi trờng Mục đích của ĐGTĐMT trớc hết là khuyến khíchviệc xem xét các khía cạnh môi trờng trong việc lập quy hoạch hoặc ra quyết định
h-đối với các dự án, các hoạt động phát triển để có thể lựa chọn thực thi dự án hoạt
động có lợi cho môi trờng hơn
Trang 5Báo cáo ĐGTĐMT của một dự án là văn bản chính yếu, tờng trình tất cả kết quảcủa công tác ĐGTĐMT.
Trong đạo luật Chính sách môi trờng của Mỹ qui định hai vấn đề chính là ratuyên bố về chính sách môi trờng quốc gia và thành lập Hội đồng chất lợng môi tr-ờng Chính Hội đồng này đã xuất bản tài liệu quan trọng hớng dẫn về nội dung báocáo ĐGTĐMT năm 1973
Điều 102 của đạo luật Chính sách môi trờng đã quy định khá cụ thể về
Điểm C: Chỉ ra sự cần thiết đối với việc soạn thảo báo cáo ĐGTĐMT và xác
định nội dung cần có của báo cáo này
Nh vậy, rõ ràng với sự ra đời của Đạo luật chính sách môi trờng của Hoa Kỳ,mục tiêu, ý nghĩa, thủ tục thi hành ĐGTĐMT đã đợc xác định bằng văn bản Hệthống pháp lý cùng với các cơ quan quản lý, điều hành đợc ban hành và thành lập
đảm bảo cho việc thực hiện ĐGTĐMT nhanh chóng đi vào nề nếp
Việc ra đời Đạo luật Chính Sách môi trờng ở Mỹ là điều dễ hiểu bởi vì đây là ờng quốc có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới Song, đây cũng là nơi phải đối
c-đầu với nhiều vấn đề môi trờng, đặc biệt là ô nhiễm môi trờng Sự ra đời Đạo luậtnày với những quy định về ĐGTĐMT sẽ góp phần giải quyết và hạn chế các tác
động bất lợi đến môi trờng do hoạt động kinh tế xã hội gây nên
Sau Hoa Kỳ, ĐGTĐMT đã đợc áp dụng ở nhiều nớc (xem bảng (1.1)) Nhómcác nớc sớm thực hiện công tác này là Nhật, Sinh-ga-po, Hồng Kông (1992), tiếp
đến là Canađa (1973), úc (1974), Đức (1975), Pháp (1976), Phi-Líp-Pin (1977),Trung Quốc (1979) Nh vậy, không phải chỉ có các nớc lớn có nền công nghiệp pháttriển mà ngay cả các nớc nhỏ, đang phát triển cũng đã nhận thức đợc các vấn đề môitrờng và vai trò của ĐGTĐMT trong việc giải quyết các vấn đề này
Bảng 1.1 Yêu cầu chính thức đối với ĐGTĐMT ở các nớc tính đến tháng 7 năm
Hà LanNiu-di-lân
1990198519861991
Trang 6đang chuẩn bị1976
197519861972
đang chuẩn bị
đang chuẩn bị1982
1988198819721981
Na UyPa-kis-tanPhi-líp-pin
Ba Lan
Bồ Đào NhaSinh-ga-poTây Ban NhaSri-lan-kaThuỵ ĐiểnThuỵ Sĩ
Đài LoanThái LanHoa KỳViệt Nam
1989
đang chuẩn bị1977
1989198719721986
đang chuẩn bị1987
19831979198419691994
Nguồn: Theo bảng 1 trang 3, Alan Gilpin 1995 [3].
Nhìn vào bảng 1.1 cha thấy có tên Việt Nam, có lẽ là do vào thời điểm tháng 7năm 1993 chúng ta cha có Luật Bảo vệ môi trờng
Nhiều nớc đã ban hành Luật hoặc Quy định về công tác bảo vệ môi tr ờng nóichung và ĐGTĐMT nói riêng Bảng 1.2 chỉ ra tên một số Luật hoặc Quy định củamột số nớc tiêu biểu cho các Châu lục hoặc khu vực trên Thế giới
Bảng 1.2 Luật / Quy định của một số nớc liên quan tới ĐGTĐMT.
động môi trờng
Luật tài nguyên thiên nhiên và Bảo
vệ môi trờng Quốc gia
197719851991
Đạo luật đầu tiên
Đầu tiên ở Nam Mỹ
Nguồn: Theo bảng 2.1 trang 2.111994 IchemE.
Trang 7Từ hai bảng trên cho thấy, chỉ trong vòng 20 năm, ĐGTĐMT đã đợc rất nhiềunớc xem xét, áp dụng Tuy nhiên, yêu cầu đối với ĐGTĐMT, thủ tục thực hiện cókhác nhau giữa các nớc và thờng thể hiện ở các điểm sau:
- Loại dự án cần phải ĐGTĐMT
- Vai trò của cộng đồng trong ĐGTĐMT
- Thủ tục hành chính
- Các đặc trng lợc duyệt
Ngoài các quốc gia, các tổ chức quốc tế cũng rất quan tâm đến công tác
ĐGTĐMT Ta có thể kể ra những tổ chức có nhiều đóng góp cho công tác này:
- Ngân hàng Thế giới (WB)
- Ngân hàng Phát triển châu á (ADB)
- Cơ quan phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID)
- Chơng trình môi trờng của Liên hợp quốc (UNEP)
Các ngân hàng lớn đã có những hớng dẫn cụ thể đối với ĐGTĐMT các dự ánvay vốn của mình Tiếng nói của Ngân hàng trong trờng hợp này rất có hiệu lực vì
họ nắm trong tay nguồn tài chính mà các dự án rất cần cho sự đầu t của mình Mộtcông việc mà các tổ chức này thực hiện rất có hiệu quả là mở các Khoá học về
ĐGTĐMT ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nớc đang phát triển
ở Việt Nam, vào thời điểm hình thành ĐGTĐMT, chúng ta còn phải tập trunghết sức ngời sức của vào công cuộc giải phóng đất nớc và sau đó là khôi phục, xâydựng lại những gì đã bị huỷ hoại trong chiến tranh Tuy nhiên, vào đầu những năm
1980, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận công tác ĐGTĐMT thông qua cáchội thảo khoa học và các Khoá đào tạo Chính phủ Việt Nam cũng sớm nhận thức đ-
ợc vấn đề bảo vệ môi trờng và ĐGTĐMT nên đã tạo điều kiện cho các cơ quan, cánhân tiếp cận các lĩnh vực này Đầu những năm 80, một nhóm các nhà khoa họcViệt Nam, đứng đầu là GS Lê Thạc Cán đã đến Trung tâm Đông - Tây ở Ha-oai nớc
Mỹ nhằm nghiên cứu về luật, chính sách môi trờng nói chung và ĐGTĐMT nóiriêng
Sau đó, với sự đầu t của một số tổ chức quốc tế, nhiều khoá học về ĐGTĐMT
đã đợc mở ra Tham gia đào tạo ở các khoá học này, ngoài các nhà khoa học trongnớc còn có các chuyên gia nớc ngoài Mục đích của khoá học này là đào tạo đội ngũ
có hiểu biết về các lĩnh vực môi trờng, sẵn sàng tham gia công tác ĐGTĐMT saunày
Trong thời gian từ 1978 đến 1990, nhà nớc đã đầu t vào nhiều chơng trình điềutra cơ bản nh Chơng trình điều tra cơ bản vùng Tây nguyên, vùng Đồng bằng sông
Trang 8Cửu Long, các tỉnh giáp biển miền Trung, Các số liệu và kết quả thu đợc từ cácchơng trình này sẽ là cơ sở cho công tác ĐGTĐMT - Tơng tự nh công tác kiểm kêhiện trạng môi trờng đợc quy định trong NEPA.
Cũng trong khoảng thời gian này, một chơng trình nghiên cứu tài nguyên môitrờng đã đợc thiết lập và thực hiện Chơng trình này đã tiến hành nghiên cứu một sốvấn đề về suy thoái tài nguyên và môi trờng ở Việt Nam nh: suy thoái đất, suy thoáirừng, suy thoái đa dạng sinh học ở nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam
Sau năm 1990, Nhà nớc cho tiến hành chơng trình nghiên cứu môi trờng mangmã số KT 02, trong đó có một đề tài trực tiếp nghiên cứu về ĐGTĐMT, đề tài mangmã số KT 02 - 16, đều do GS Lê Thạc Cán chủ trì Trong khuôn khổ đề tài này, một
số báo cáo đánh giá tác động môi trờng mẫu đã đợc lập, đáng chú ý là báo cáo
ĐGTĐMT Nhà máy giấy Bãi Bằng và ĐGTĐMT Công trình thuỷ lợi Thạch Nham.Mặc dù cha có Luật Bảo vệ môi trờng và các điều luật về ĐGTĐMT, song Nhà nớc
đã yêu cầu một số dự án phải có báo cáo ĐGTĐMT, chẳng hạn nh công trình Thuỷ
điện Trị An, Nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ
Các báo cáo ĐGTĐMT đợc lập khi cha có Luật Bảo vệ môi trờng đã thể hiện sựquan tâm của các cấp chính quyền đến công tác này Thông qua thực hiện công việctrên, trình độ của các cán bộ khoa học tham gia đã đợc nâng cao, tay nghề đợc rènluyện thêm để sẵn sàng tham gia công tác này khi Luật Bảo vệ môi trờng đợc banhành
Một loạt cơ quan nghiên cứu và quản lý môi trờng đã đợc thành lập nh Cục Môitrờng trong Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng, các Sở Khoa học, Công nghệ vàMôi trờng, các Trung tâm, Viện Môi trờng Các cơ quan này sẽ đảm nhận công táclập báo cáo ĐGTĐMT và tiến hành thẩm định các báo cáo này
Việc biên soạn, thông qua và ban hành Luật Bảo vệ Môi trờng đã mở ra một bớcngoặt trong công tác Bảo vệ môi trờng nói chung và ĐGTĐMT nói riêng ở nớc ta.Luật đã đợc Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 và Chủ Tịch nớc ra quyết địnhcông bố số 29 L/CTN ngày 10/01/1994
Điều 17 và điều 18 trong Luật Bảo vệ Môi trờng quy định các dự án đang hoạt
động và dự án muốn hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam phải lập báo cáo ĐGTĐMT
và trình các cấp có thẩm quyền xem xét
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ra Nghị định về hớng dẫn thi hành Luật Bảo vệMôi trờng vào tháng 10/ 1994
Sau khi Luật ra đời, nhiều báo cáo ĐGTĐMT đã đợc lập thẩm định góp phầngiúp những ngời ra quyết định có thêm tài liệu để xem xét toàn diện các dự án pháttriển ở Việt Nam
Từ 1994 đến cuối 1998, Bộ KHCN và Môi trờng cũng đã ban hành nhiều vănbản hớng dẫn ĐGTĐMT, tiêu chuẩn môi trờng góp phần đa công tác ĐGTĐMT ởViệt Nam dần dần đi vào nề nếp
Trang 91.2 Mục đích, ý nghĩa, đối tợng của ĐGTĐMT.
Tuy ra đời chính thức cha lâu nhng ĐGTĐMT đã đợc sử dụng rộng rãi trên thếgiới Điều đó chứng tỏ khả năng áp dụng công cụ này vào công tác bảo vệ môi trờng
ở mỗi Quốc gia và trên toàn thế giới Để thấy rõ hơn điều này, ta xét kỹ hơn tới mục
đích, ý nghĩa và đối tợng của ĐGTĐMT
Đánh giá TĐMT có thể đạt đợc nhiều mục đích, Alan Gilpin [5] đã chỉ ra vaitrò, mục đích của ĐGTĐMT trong xã hội với 10 điểm chính sau:
1 ĐGTĐMT nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại
đến môi trờng của các chính sách, chơng trình, hoạt động và của các dự án Nó gópphần loại trừ cách "đóng cửa" ra quyết định, nh vẫn thờng làm trớc đây, không tính
đến ảnh hởng môi trờng trong các khu vực công cộng và t nhân
2 ĐGTĐMT tạo ra cơ hội để có thể trình bày với ngời ra quyết định về tính phù
hợp của chính sách, chơng trình, hoạt động, dự án về mặt môi trờng để ra quyết định
có tiếp tục thực hiện hay không
3 Đối với các chơng trình, chính sách, hoạt động, dự án đợc chấp nhận thực
hiện thì ĐGTĐMT tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện có thể giảmnhẹ tác động có hại tới môi trờng
4 ĐGTĐMT tạo ra phơng thức để cộng đồng có thể đónh góp cho quá trình ra
quyết định thông qua các đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới ng ời ra quyết
định Công chúng có thể tham gia vào quá trình này trong các cuộc họp công khaihoặc trong việc hoà giải giữa các bên (thờng là bên gây tác động và bên cha tác
động)
5 Với ĐGTĐMT, toàn bộ quá trình phát triển đợc công khai để xem xét một
cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên: bên đề xuất dự án, Chính phủ và cộng
đồng Điều đó góp phần lựa chọn đợc dự án tốt hơn để thực hiện
6 Những dự án mà về cơ bản không đạt yêu cầu hoặc đặt sai vị trí thì có xu h
-ớng tự loại trừ, không phải thực hiện ĐGTĐMT và tất nhiên là không cần cả đến sựchất vấn của công chúng
7 Thông qua ĐGTĐMT, nhiều dự án đợc chấp nhận nhng phải thực hiện những
điều kiện nhất định, chẳng hạn chủ dự án phải đảm bảo quá trình đo đạc giám sát,lập báo cáo hàng năm hoặc phải có phân tích sau dự án và kiểm toán độc lập
8 Trong ĐGTĐMT phải xét cả đến các khả năng thay thế, chẳng hạn nh công
nghệ, địa điểm đặt dự án phải đợc xem xét hết sức cẩn thận
9 ĐGTĐMT đợc coi là công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích phát triển tốt
hơn và trợ giúp cho tăng trởng kinh tế
Trang 1010 Trong nhiều trờng hợp, ĐGTĐMT chấp nhận sự phát thải, kể cả phát thải
khí nhà kính cũng nh việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức độ nào đấy nghĩa là chấp nhận phát triển, tăng trởng kinh tế
-Qua phân tích mục đích, vai trò của ĐGTĐMT ta thấy rõ ý nghĩa to lớn của nótrong sự phát triển chung của nhân loại, thể hiện ở chỗ ĐGTĐMT là công cụ quản
lý môi trờng quan trọng Song, nó không nhằm thủ tiêu, loại trừ, gây khó dễ chophát triển kinh tế - xã hội nh nhiều ngời lầm tởng, mà hỗ trợ phát triển theo hớng
đảm bảo hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trờng Vì vậy, nó góp phần vào mục tiêu pháttriển bền vững
ĐGTĐMT không xét các dự án một cách riêng lẻ mà đặt chúng trong xu thếphát triển chung của khu vực, của quốc gia và rộng hơn là toàn thế giới Khi đánhgiá một dự án cụ thể bao giờ cũng xét thêm các dự án, phơng án thay thế, nghĩa làxét đến các dự án có thể cho cùng đầu ra nhng có công nghệ sử dụng khác nhauhoặc đặt ở vị trí khác Hơn nữa, ở mỗi một khu vực luôn có chất l ợng môi trờng
"nền", mà khi đặt dự án vào phải cân nhắc kỹ, tránh gây tác hại tích luỹ ở mức độcao cho một khu vực
ĐGTĐMT huy động đợc sự đóng góp của đông đảo tầng lớp trong xã hội Nógóp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp quản lý, của chủ dự án đến việc bảo vệmôi trờng Đồng thời, ĐGTĐMT liên kết đợc các nhà khoa học ở các lĩnh vực khácnhau để giải quyết công việc chung là đánh giá mức độ tác động môi trờng các dự
án, giúp cho ngời ra quyết định chọn đợc dự án phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi ờng ĐGTĐMT cũng phát huy đợc tính công khai của việc lập, thực thi dự án và ýthức của cộng đồng trong trong việc tham gia ĐGTĐMT nói riêng và bảo vệ môi tr-ờng nói chung
tr-ĐGTĐMT còn giúp kết hợp các công tác bảo vệ môi trờng trong thời gian dài.Mọi tác động đợc tính đến không chỉ qua mức độ mà còn theo khả năng tích luỹ,khả năng kéo dài theo thời gian Trong thực tế, nhiều vấn đề đợc bỏ qua trong quákhứ đã gây tác động có hại cho hiện tại và mai sau, nhiều hoạt động gây rủi ro lớn
đã xảy ra buộc chúng ta phải cân nhắc kỹ
Có thể tóm tắt ý nghĩa của ĐGTĐMT là làm công việc này tốt thì quản lý môitrờng tốt, quản lý môi trờng tốt thì công việc giữ gìn, bảo vệ môi trờng sẽ tốt, đặcbiệt là trong tơng lai Điều đó thể hiện qua một số điểm rất cụ thể sau:
- ĐGTĐMT khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn Việc xem xét kỹ lỡng dự
án và những dự án có khả năng thay thế từ công tác ĐGTĐMT sẽ giúp cho dự ánhoạt động có hiệu quả hơn
- ĐGTĐMT có thể tiết kiệm đợc thời gian và tiền của trong thời hạn phát triểndài Qua các nhân tố môi trờng tổng hợp đợc xem xét đến trong quá trình ra quyết
định ở giai đoạn quy hoạch mà các cơ sở và Chính phủ tránh đợc những chi phíkhông cần thiết và đôi khi tránh đợc những hoạt động sai lầm, phải khắc phục trongtơng lai
Trang 11- ĐGTĐMT giúp cho Nhà nớc, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽhơn Các đóng góp của cộng đồng trớc khi dự án đợc đầu t, hoạt động có thể nângcao mối liên hệ cộng đồng và đảm bảo hiệu quả đầu t Thực hiện công tác
ĐGTĐMT tốt có thể đóng góp cho sự phát triển thịnh vợng trong tơng lai Thôngqua các kiến nghị của ĐGTĐMT, việc sử dụng tài nguyên sẽ thận trọng hơn và giảm
đợc sự đe doạ của suy thoái môi trờng đến sức khoẻ con ngời và hệ sinh thái
Những ý nghĩa nêu trên sẽ đợc làm rõ thêm thông qua nội dung, cách thức tiếnhành cũng nh áp dụng kết quả ĐGTĐMT ở những phần tiếp theo
Đối tợng của ĐGTĐMT đã ít nhiều đề cập đến ở những phần trên Đối tợngchính thờng gặp và có số lợng nhiều nhất là các dự án phát triển cụ thể Đó có thểlà:
- Một số bệnh viện lớn
- Một nhà máy công nghiệp
- Công trình thuỷ lợi, thuỷ điện
- Công trờng xây dựng đờng xá
Tất nhiên không phải tất cả các dự án đều phải tiến hành ĐGTĐMT nh nhau.Mỗi Quốc gia, căn cứ vào những điều kiện cụ thể, loại dự án, quy mô dự án, khảnăng gây tác động, mà có quy định mức độ đánh giá đối với mỗi dự án cụ thể Các
tổ chức Quốc tế cũng phân loại dự án theo mức yêu cầu ĐGTĐMT Chẳng hạnNgân hàng phát triển Châu á chia các dự án thành 3 nhóm:
- Nhóm A: Là những dự án nhất thiết phải tiến hành ĐGTĐMT đầy đủ, nghĩa làphải lập, duyệt báo cáo ĐGTĐMT và kiểm soát sau khi dự án đã đi vào hoạt động.Thuộc về nhóm này là những dự án có thể gây tác động lớn, làm thay đổi các thànhphần môi trờng, cả môi trờng xã hội, vật lý và sinh học
- Nhóm B: Không cần tiến hành ĐGTĐMT đầy đủ nhng phải kiểm tra các tác
động môi trờng Thờng thì những dự án thuộc nhóm này là dự án có quy mô nhỏhơn các dự án thuộc nhóm A, chẳng hạn Nhà máy nhiệt điện quy mô lớn thuộcnhóm A còn ở quy mô vừa và nhỏ thuộc nhóm B
- Nhóm C: Là nhóm các dự án không phải tiến hành ĐGTĐMT Thờng thìnhững dự án này không gây tác hại đáng kể hoặc những tác động có thể khắc phục
đợc
Mỗi nớc đều có danh mục các dự án yêu cầu phải tiến hành ĐGTĐMT một cách
đầy đủ ở nớc ta sau khi có Luật Bảo vệ môi trờng, Chính phủ đã ra Nghị định 175/
CP ngày 18/10/1994 hớng dẫn thi hành Luật Trong Nghị định này có Phụ lục IIphân cấp thẩm định báo cáo ĐGTĐMT Những dự án lớn theo quy định phải lập
Trang 12báo cáo ĐGTĐMT gửi Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng thẩm định Còn cácbáo cáo của dự án nhỏ do Sở Khoa học Công nghệ và Môi trờng các tỉnh thẩm định.Sau một thời gian thực hiện Nghị định 175/CP, vừa qua Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trờng đã ra Thông t số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29/04/1998 chia các
dự án thành 2 loại:
- Loại phải lập và thẩm định báo cáo ĐGTĐMT là dự án loại I bao gồm các dự
án có tiềm năng gây ô nhiễm môi trờng trên diện rộng, dễ gây sự cố môi trờng, khókhống chế và khó xác định tiêu chuẩn
- Các dự án còn lại là dự án loại II sẽ đợc đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trờng trêncơ sở tự xác lập và phân tích ĐGTĐMT của mình
Chính vì có sự quy định khác nhau mà cùng một loại dự án, cùng quy mô nhngquốc gia này yêu cầu phải tiến hành ĐGTĐMT đầy đủ trong khi ở nớc khác lại chohoạt động mà không cần ĐGTĐMT Chẳng hạn, để khuyến khích các dự án pháttriển năng lợng nên một số quốc gia không yêu cầu ĐGTĐMT đối với các dự ánphát triển nhiệt điện, trong khi ở một số nớc, dự án loại này phải có báo cáo
ĐGTĐMT để các cấp có thẩm quyền xem xét
Mức Quy hoạch Loại hoạt động và kiểu đánh giá (phần trong ngoặc)Chính phủ sử dụng Hoạt động theo lĩnh vực và đa lĩnh vực
lãnh thổ(ĐGMTCL)
Chính sách(ĐGMTCL)
Quy hoạch(ĐGMTCL)
Chơng trình(ĐGMTCL)
Dự án(BCĐGTĐMT)Quốc gia/
Quy hoạchphát triểnvùngQuy hoạchphát triểnvùngQuy hoạchphát triển
địa phơng
Chính sách Quy hoạch Chơng trình Xây dựng giao thông xây dựng xây dựng các xa lộquốc gia đờng bộ đờng bộ
quốc gia năm năm dài hạn
Chính sáchKinh tếquốc gia Quy hoạch chiến lợc vùng Chơng trình đầu t tiểu vùng
Dự ánxây
dựng cơsở
hạ tầng
địa phơng
Hình 1.1 Hoạt động và đánh giá trong Khung ĐGTĐMT chung
Nguồn: Theo hình 1.5 16
Trang 13Ngoài những dự án cụ thể, ĐGTĐMT còn áp dụng cả đối với những đối tợng cóquy mô lớn hơn nữa, đó là các chơng trình phát triển, quy hoạch phát triển, chínhsách phát triển Trong quy trình ĐGTĐMT các dự án cụ thể, công việc quan trọngnhất là lập báo cáo ĐGTĐMT Vì số lợng các dự án cụ thể rất lớn nên đã có nhiềuhớng dẫn việc lập các loại báo cáo này Hơn nữa, các đối tợng dự án quy mô lớn hơnlại bao gồm nhiều dự án cụ thể Các đối tợng này cần tiếp cận ĐGTĐMT theo mộtphơng thức khác đợc gọi là Đánh giá môi trờng chiến lợc (ĐGMTCL) Để thấy đợcphạm vi không gian, thời gian có thể sử dụng sơ đồ của Lee và Walsh lập năm 1962trong hình 1.1.
Cho đến nay, ĐGTĐMT chiến lợc đang trong giai đoạn khởi đầu, vì vậy cònnhiều vấn đề cần đợc nghiên cứu thêm
1 3 Nội dung cơ bản của ĐGTĐMT
Phần trên đã đề cập tới đánh giá tác động môi trờng các dự án cụ thể và đánhgiá môi trờng chiến lợc Để tiện theo dõi, từ phần này trở đi nếu không có ghi chú gìthêm thì ĐGTĐMT đợc hiểu là đối với dự án cụ thể
1.3.1 Định nghĩa ĐGTĐMT:
ĐGTĐMT thực ra là công việc rất mới nhng đã thu đợc những kết quả to lớn.Nhiều ngời trong chúng ta tởng đã hiểu rõ bản chất của công việc này, song, có lẽmỗi ngời chỉ nắm bắt đợc một vài khía cạnh cơ bản của ĐGTĐMT Một số điểm cóthể thống nhất đợc về công việc này là:
- ĐGTĐMT là quá trình xác định khả năng ảnh hởng đến môi trờng xã hội và cụthể là đến sức khoẻ của con ngời
- Từ đó, đánh giá tác động đến các thành phần môi trờng: vật lý, sinh học, kinh
tế - xã hội nhằm giúp cho việc ra quyết định một cách hợp lý và logic
- ĐGTĐMT còn cố gắng đa ra biện pháp nhằm giảm thiểu những tác động cóhại, kể cả việc áp dụng các biện pháp thay thế
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn cha có một định nghĩa chung đầy đủ, vạn năng về
ĐGTĐMT Ta có thể nêu ra một vài ví dụ đã đợc trích dẫn trong các tài liệu đểchứng tỏ tính đa dạng của định nghĩa ĐGTĐMT
"ĐGTĐMT hoặc phân tích TĐMT là sự xem xét một cách có hệ thống các hậuquả về môi trờng của các đề án, chính sách và chơng trình với mục đích chính làcung cấp cho ngời ra quyết định một bản liệt kê và tính toán các tác động mà cácphơng án hành động khác nhau có thể đem lại" / Clark, Brian D., 1980/
" ĐGTĐMT đợc coi là một kỹ thuật, một quá trình thu thập thông tin về ảnh ởng môi trờng của một dự án từ ngời chủ dự án và các nguồn khác và đợc tính đếntrong việc ra quyết định cho dự án tiến hành hay không” / Do E (1989)/
Trang 14h-“ĐGTĐMT là quá trình thu thập thông tin về ảnh hởng, tác động của dự án đềxuất, phân tích các thông tin này và gửi kết quả tới ngời ra quyết định.” / IChemE,1994/.
"ĐGTĐMT của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội là xác định, phân tích và dựbáo những tác động lợi và hại, trớc mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt động cóthể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lợng môi trờng sống của con ngời tạinơi có liên quan tới hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng, tránh,khắc phục các tác động tiêu cực.”/ Lê Thạc Cán, 1994/
Trong Luật Bảo vệ môi trờng của Việt Nam, ĐGTĐMT đợc định nghĩa nh sau:
" ĐGTĐMT là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hởng đến môi trờng củacác dự án, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh,công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng vàcác công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trờng"
Từ các định nghĩa trên có thể thấy sự nhất trí về mục đích và bản chất của
ĐGTĐMT Một số điểm khác biệt trong chúng thể hiện sự khác biệt trong nhậnthức về nghĩa của từ "môi trờng" và bản chất của dự án đợc đánh giá
Thật ra, không thể gói gọn toàn bộ công tác ĐGTĐMT chỉ vào một vài câu địnhnghĩa nh vậy Bởi vì, trong quá trình thực hiện, ta sẽ thấy từng từ ngữ trong câu đòihỏi phải có sự định nghĩa, xác định rõ Việc này cũng đã đợc đề cập trong một số BộLuật của các nớc, mà trớc hết là Đạo Luật chính sách môi trờng của Mỹ
1.3.2 Nội dung cơ bản của ĐGTĐMT.
Phần trớc chúng ta đã xét đến đối tợng của ĐGTĐMT, phần này sẽ làm rõ hơncác khái niệm “đánh giá”, “tác động”, “môi trờng”
Nh trong định nghĩa của GS Lê Thạc Cán, "đánh giá" bao gồm cả công việc thuthập, chỉnh lý số liệu, tài liệu sau đó tiến hành phân tích để xác định các tác động
Đánh giá ở đây bao hàm nghĩa xem xét, cân nhắc mức độ tác động Kết quả củaviệc đánh giá giúp cho việc quyết định lựa chọn đợc dự án thích hợp Việc đánh giámức độ tác động nhiều khi có thể dựa vào một số tiêu chuẩn, chẳng hạn tiêu chuẩncủa cơ quan y tế thế giới về khả năng tác động của các chất độc hại đến sức khoẻcon ngời Mức tác động, mức tổn thất do tác động còn có thể đánh giá qua đơn vịtiền tệ trong các bớc đánh giá chi phí - lợi ích mở rộng Tác động tốt, có lợi đợc coi
là lợi nhuận, tác động có hại đợc coi là chi phí Các lợi ích, chi phí môi trờng loạinày thờng không đợc tính đến trong luận chứng kinh tế kỹ thuật Dự báo là côngviệc rất cần thiết, trớc hết là vì việc đánh giá đợc thực hiện khi mà dự án cha thực thinên mọi tác động cha xảy ra mà cần phải dự báo Kỹ thuật dự báo tác động cũngkhá đa dạng, có thể dựa vào những tác động mà một dự án đã và đang hoạt động gâynên, hoặc thông qua những mô hình tính toán Các kỹ thuật này sẽ đợc trình bày kỹhơn ở những phần sau Trong dự báo thờng gặp sai số, sai số này sẽ có thể đợc khắcphục thông qua quá trình hiệu chỉnh dần, ngay cả khi dự án đã đợc thực thi
Trang 15Khái niệm tác động cũng đợc bàn cãi nhiều Theo định nghĩa thông thờng thìtác động là hiệu ứng, là ảnh hởng của một vật, một quá trình này lên vật hoặc quátrình khác Nếu theo định nghĩa này thì có rất nhiều tác động hiện đang tồn tại,không thể kể hết Trong ĐGTĐMT, tác động đợc xác định rõ là tác động của dự ánlên môi trờng Có thể minh hoạ tác động môi trờng của một dự án qua hình 1.2.Thông số môi trờng trên trục tung có thể là yếu tố môi trờng nh nồng độ chất ônhiễm, lợng đất bị xói mòn, chi phí khắc phục môi trờng, Hình này chỉ ra biến đổi
đặc trng Trong thực tế, biến đổi có thể ngợc lại, khi đó ta chỉ việc thay vai trò của
đờng cong khi có dự án bằng đờng cong khi không thực hiện dự án
Hình 1.2 Tác động môi trờng do dự án.
t0: thời điểm bắt đầu có dự án; t1: thời điểm có biến đổi thông số môi trờng ;
: thông số môi trờng nào đó; đờng 1: khi không có dự án; đờng 2: khi có dự án Các tác động có thể đợc phân loại dựa theo tính chất, phạm vi, mức độ cũng nh
đối tợng chịu tác động Nh vậy, muốn đánh giá tác động phải đề cập đợc các vấn đềnh:
- Tác động đó là gì ? Thuộc loại nào?
Trang 16bẩn danh thắng, cảnh quan tự nhiên và nhân tạo, di tích lịch sử văn hoá, phát triển
và quản lý giao thông, xói mòn và suy thoái đất, tiêu thoát nớc, không gian thoáng,phát sinh và quản lý chất thải và khí hậu
2 Tài nguyên thiên nhiên: Tác động lên đất nông nghiệp, tài nguyên rừng, cung
cấp nớc (kể cả nớc ngầm), tài nguyên khoáng sản và tài nguyên biển, tài nguyênnăng lợng, vật liệu xây dựng, đất ngập nớc, rừng ngập mặn, san hô, rừng ma, vùnghoang vu và rừng cây bụi
3 Môi trờng xã hội: Tác động lên các mô hình tái định c, việc làm, sử dụng
đất, nhà ở, đời sống xã hội, phúc lợi, phơng tiện giải trí, trang bị và dịch vụ côngcộng, vấn đề an toàn, cộng đồng bản địa, nhóm thiểu số, thế hệ trẻ, nạn thất nghiệp,ngời cao tuổi, tàn tật, phụ nữ và các khía cạnh khác của cộng đồng chịu tác động
4 Kinh tế: Tác động đến cơ hội có việc làm; khả năng tiếp cận các phơng tiện,
dịch vụ và việc làm; hạ tầng cơ sở đô thị; khả năng lựa chọn và giá thành hàng hoá,dịch vụ hợp lý, mặt bằng giá địa phơng, chi phí hạ tầng cơ sở và khoản đóng góp;thu nhập thực tế, giá đất và hiệu ứng lũy tiến có thể
Vậy thì những tác động nào sẽ đợc đa vào đánh giá chi tiết trong quá trình
ĐGTĐMT Ngời ta đa vào khái niệm về tác động "đáng kể" cần đề cập trong báocáo ĐGTĐMT Để hiểu hơn về từ "đáng kể" có thể tham khảo hớng dẫn của Hội
đồng chất lợng môi trờng của Mỹ (danh mục 1.7 [5]) về nghĩa của từ này:
1 Phạm vi: Mức đáng kể của một tác động phải đợc phân tích trong toàn bộ xã
hội; vùng chịu tác động; quyền lợi tác động Cả tác động ngắn hạn và dài hạn đềuphải đợc xem xét
2 Cờng độ:
a Mức độ mà dự án đợc đề xuất tác động lên sức khoẻ và an toàn cộng đồng
b Gần với vùng có tài nguyên văn hoá, lịch sử, công viên, trang trại, đất ngập
n-ớc, sông suối tự nhiên hoặc vùng có ý nghĩa sinh thái cao
c Mức độ mà các tác động còn phải tranh cãi nhiều
d Mức độ mà các tác động có mức thay đổi lớn hoặc dị thờng hoặc cha rõ
e Mức độ mà hoạt động dự án có thể đã tạo nên tiền lệ hoặc tác động đến việccân nhắc trong tơng lai
f Có liên can đến tác động đáng kể tích luỹ
g Mức độ mà tác động có thể đã tạo nên tác động có hại đến khu vực, côngtrình kiến trúc, đối tợng đợc kế đến hoặc đợc chọn ra và ghi trong sổ sách quốc giahoặc địa điểm lịch sử
Trang 17h Mức độ mà tác động có thể gây nên mất mát hoặc phá huỷ tài nguyên lịch sử
và văn hoá đáng kể
i Mức độ mà tác động có thể gây hại cho loài bị đe dọa tuyệt chủng hoặc nơi ctrú của chúng đã đợc xác định trong Luật
j Các tác động có khả năng vi phạm luật liên bang, bang hoặc địa ph ơng hoặc
điều kiện đã đợc đặt ra để bảo vệ môi trờng
Ngời ta còn xét cả tác động trực tiếp và tác động gián tiếp của dự án đến môi ờng Nếu nh tác động trực tiếp có thể dễ nhận thấy hơn khi nó xảy ra thì việc nhậnbiết tác động gián tiếp khó khăn hơn và tốn thời gian hơn Hiện nay ngời ta đã khámphá ra những tác động có nguồn gốc từ tác động xảy ra từ rất lâu Những tác độnggián tiếp đôi khi rất nguy hiểm Chính vì vậy, đã có nhiều dự báo số phận loài ngời,trái đất theo hớng bi quan Chẳng hạn, những nhà kinh tế cổ điển đã dự báo là với sựtăng dân số và tăng trởng kinh tế cao có thể đa trái đất đến tình trạng hoang tàn Tấtnhiên, những dự báo nh vậy cha tính đến vai trò của công nghệ, kỹ thuật Song, việcxét đến các tác động gián tiếp trong ĐGTĐMT là rất cần thiết
tr-Một nội dung không kém phần quan trọng của ĐGTĐMT là tìm biện pháp, giảipháp giảm nhẹ, khắc phục những tác động có hại Với biện pháp này chúng ta có thểduy trì sự phát triển mà vẫn bảo vệ đợc môi trờng Nhiều giải pháp công nghệ, kinh
tế đã và đang đợc áp dụng để giảm thiểu lợng chất thải, xử lý chất thải, giảm thiểu
và khắc phục hậu quả do dự án mang lại
Tóm lại, nội dung ĐGTĐMT rất rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, nhiều khái niệm
mà sẽ đợc làm rõ dần trong các phần tiếp theo
1.4 Mối quan hệ giữa ĐGTĐMT với phát triển kinh tế và các công cụ quản lý môi trờng khác.
Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trờng, Nhà nớc phải sử dụng đồng bộ nhiềucông cụ Các công cụ có chức năng, khả năng cũng nh phạm vi áp dụng khác nhaunhng có chung mục đích là phát triển bền vững, chất lợng môi trờng đợc duy trì vànâng cao Việc sử dụng các công cụ ở các nớc cũng không giống nhau, có thể mộtcông cụ đợc áp dụng hiệu quả ở nớc này lại tỏ ra kém hơn ở nớc khác Tuy nhiên, cóthể liệt kê các công cụ cơ bản đã đợc trình bày trong [1] có bổ sung và phân tíchthêm