Để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam” với mục tiêu đánh giá đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o -
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT, LẠM PHÁT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
GẠO CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o -
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT, LẠM PHÁT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
GẠO CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HUỲNH ĐỨC TRƯỜNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Nghiên cứu tác động của lãi suất, lạm
phát và tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam” là kết quả của
quá trình nghiên cứu, học tập của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của thầy Huỳnh
Đức Trường
Các số liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập từ những nguồn đáng
tin cậy, trích dẫn rõ ràng và xử lý khách quan
Kết quả nghiên cứu trong luận văn được thể hiện trung thực, và chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khác
TP HCM, tháng 12 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Minh Phương
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
1.6 Kết cấu của luận văn 4
Tóm tắt chương 1 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 5 2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế 5
2.1.2 Vai trò của xuất khẩu gạo 6
2.1.3 Các hình thức xuất khẩu gạo 8
2.1.4 Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo 9
2.2 Một số nghiên cứu thực nghiệm 15
2.2.1 Các nghiên cứu quốc tế 16
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 18
Tóm tắt chương 2 25
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 53.1.1 Kiểm định tính dừng 27
3.1.2 Lựa chọn độ trễ tối ưu 27
3.1.3 Kiểm định tính đồng liên kết 28
3.1.4 Ước lượng mô hình 29
3.2 Lựa chọn mô hình nghiên cứu 29
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp kiểm định 32
Tóm tắt chương 3 34
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
4.1 Tổng quan tình hình xuất khẩu gạo và biến động của chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất trong giai đoạn từ tháng 1/2008 -3/2019 35
4.1.1 Tình hình xuất khẩu gạo 35
4.1.2 Chỉ số lạm phát 40
4.1.3 Tỷ giá hối đoái 43
4.1.4 Lãi suất 45
4.2 Thống kê mô tả các biến 46
4.3 Kết quả mô hình 47
4.3.1 Kết quả kiểm định tính dừng 47
4.3.2 Xác định độ trễ tối ưu 48
4.3.3 Kiểm định đồng liên kết 48
4.3.4 Ước lượng mô hình 49
4.3.5 Kiểm định nhân quả Granger 50
4.3.6 Kiểm định tính ổn định của mô hình 53
4.3.7 Phân rã phương sai 53
4.3.8 Hàm phản ứng đẩy 55
Tóm tắt chương 4 56
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 58
5.2.1 Đối với nhà nước, và các cơ quan quản lý 58
Trang 65.3 Những hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 64
5.3.1 Những mặt còn hạn chế của luận văn 64
5.3.2 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 65
Tóm tắt chương 5 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN
PHỤ LỤC 2 KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG CỦA CHUỖI DỮ LIỆU GỐC
PHỤ LỤC 3 KIỂM ĐỊNH TÍNH DỪNG SAU KHI LẤY SAI PHÂN BẬC 1 PHỤ LỤC 4 LỰA CHỌN ĐỘ TRỄ TỐI ƯU
PHỤ LỤC 5 KIỂM ĐỊNH TÍNH ĐỒNG LIÊN KẾT
PHỤ LỤC 6 MÔ HÌNH VECM
PHỤ LỤC 7 KIỂM ĐỊNH NHÂN QUẢ GRANGER
PHỤ LỤC 8 KIỂM ĐỊNH TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH
PHỤ LỤC 9 PHÂN RÃ PHƯƠNG SAI
PHỤ LỤC 10 HÀM PHẢN ỨNG ĐẨY
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.Tóm lược kết quả của các nghiên cứu trước đây 21
Bảng 3.1 Tóm tắt nguồn dữ liệu thu thập 32
Bảng 4.1 Dự báo tình hình cung cầu gạo trên thế giới cho mùa vụ 2019/2020 (triệu tấn) 35
Bảng 4.2 Giá gạo xuất khẩu năm 2015 37
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 46
Bảng 4.4 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu gốc 47
Bảng 4.5 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu sai phân bậc 1 48
Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra tính đồng liên kết 48
Bảng 4.7 Kết quả ước lượng mô hình VECM 49
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định nhân quả Granger 51
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Tình hình xuất khẩu gạo trong giai đoạn 2008-2019 36
Đồ thị 4.2 Thị trường nhập khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam quý 1/2019 39
Đồ thị 4.3 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu trong quý 1/2019 40
Đồ thị 4.4 Mức biến động trung bình của chỉ số lạm phát từ 2008-2019 41
Đồ thị 4.5 Sự biến động chỉ số lạm phát theo tháng 2008-2009 41
Đồ thị 4.6 Mức biến động của chỉ số lạm phát qua các tháng trong năm 2011 42
Đồ thị 4.7 Tình hình lạm phát năm 2012 43
Đồ thị 4.8 Tỷ giá của ngân hàng nhà nước 2008-2009 44
Đồ thị 4.9 Biến động tỷ giá 2008-2019 45
Đồ thị 4.10 Lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng 2008-2019 46
Đồ thị 4.11 Tính ổn định của mô hình 53
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
Trang 10Tiếng Anh
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ tiếng Anh Nghĩa đầy đủ tiếng Việt ADF Augmented Dickey Fuller Kiểm định Dickey-Fuller ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn dàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
GDP Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội GLS Generalized Least Squares Phương pháp bình phương
nhỏ nhất tổng quát OLS Ordinary Least Squares Phương pháp bình phương
nhỏ nhất TPP Trans-Pacific Partnership
Agreement
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
LR Sequential modified LR test
statistic
Kiểm tra thống kê LR
FPE Final prediction error Lỗi dự báo cuối cùng
AIC Akaike information criterion Tiêu chí thông tin Akaike
SC Schwars information criterion Tiêu chí thông tin Schwars
heteroscedasticity in mean
Mô hình hồi quy không đồng nhất có điều kiện GARCH Generalised autoregressive
conditional heteroscedasticity
Mô hình hồi quy không đồng nhất có điều kiện dạng tổng quát
ARDL Autoregressive Distributed Lag Mô hình độ trễ phân phối tự
động IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ thế giới
Trang 11TÓM TẮT Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
Tóm tắt:
Xuất khẩu gạo là một trong những thế mạnh và đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho Việt Nam Hơn 10 năm trở lại đây, tình hình kinh tế thế giới và trong nước liên tục biến động, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam Vì vậy, tác giả đề xuất nghiên cứu về ảnh hưởng của lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất đến xuất khẩu gạo,
để góp phần cung cấp thêm góc nhìn bao quát hơn cho hoạt động này
Để thực hiện mục tiêu này, tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ các lý thuyết và những nghiên cứu trước đây về đề tài xuất khẩu, chọn lọc các thông tin phù hợp để định hướng cho đề tài Phạm vi nghiên cứu từ tháng 1/2008 đến tháng 3/2019, với các biến số được lựa chọn bao gồm: kim ngạch xuất khẩu gạo, lãi suất, tỷ giá, lạm phát Các số liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy, ước lượng bằng mô hình VAR/VECM
Kết quả cho thấy cả ba nhân tố tác động lên kim ngạch xuất khẩu gạo trong ngắn hạn
và dài hạn theo những hướng khác nhau Từ đó, tác giả đưa ra hàm ý chính sách nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo, cũng như nâng cao sự chủ động của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo để nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn sắp tới
Từ khóa: xuất khẩu gạo
Trang 12ABSTRACT Title: The impact of interest rates, inflation and exchange rates on Vietnam's rice export activities
Abstract: Rice export is one of Vietnam’s strengths which brings great source of foreign currency for the country Over the past 10 years, the world and domestic economy have continuously changed which affects Vietnam's rice export activities Therefore, in order to provide more broad vision for this activities, the author proposes a research on the impact of inflation, exchange rate and interest rate to rice exports
To accomplish this goal, the author approached the research problem from the theory
of rice exports then combined the reference from previous studies on export topics and selected the appropriate information to orient the topic The scope of the study including the selected variables are rice export turnover, interest rate, exchange rate and inflation during the time of January 2008 to March 2019 The data of the study are collected from reliable sources and estimated by VAR/VECM model
With the estimated results from the model show that the exchange rate, interest rate and inflation have impact on rice export turnover in short-term and long-term in different directions Since then, the author has proposed policy implications to enhance the initiative of enterprises as well as to highly promote rice export activities
in order to seize opportunities and overcome challenges in the coming period Keywords: rice export
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong những trụ cột của nền kinh tế và và có đóng góp nhất định vào GDP, cũng như giải quyết vấn đề việc làm ở khu vực nông thôn Trong giai đoạn hơn 10 năm (từ tháng 1/2008 đến tháng 3/2019), đã có không ít những chuyển biến tích cực về sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu gạo Thống kê của cục hải quan cho thấy KNXK gạo năm 2008 đạt 4.74 triệu tấn, tăng 4% so với năm trước đó, đóng góp vào thành công này là sự tăng mạnh của giá bình quân xuất khẩu gạo (đạt đến 610 USD/tấn, tăng 86.7% tương đương 283 USD/tấn)
Tuy nhiên cũng phải kể đến những giai đoạn xuất khẩu gạo cùng chung “số phận” với cả nền kinh tế khi phải gánh chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 “Cơn sóng thần” khủng hoảng đã đem đến không ít những bất ổn cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản như chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái, và lãi suất: chỉ
số lạm phát cả năm lên đến 18.42%, trong đó có những tháng lạm phát tăng lên gần 4% (so với tháng trước đó), thị trường ngân hàng cũng trải qua những biến động chưa từng
có về lãi suất, và tỷ giá “Cơn sóng đó” đã gây ra sự “chao đảo” hầu như tất cả các khía cạnh, lĩnh vực của kinh tế Không nằm ngoài quy luật, xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng chịu sự ảnh hưởng từ các biến động kinh tế vĩ mô và gặp phải không ít khó khăn: Mặc
dù sản lượng gạo xuất khẩu tăng kỷ lục, đạt 5.96 triệu tấn trong năm 2009, tuy nhiên giá giao dịch các mặt hàng lương thực, đặc biệt là gạo lại sụt giảm mạnh dẫn đến một cái kết không khả quan cho bức tranh tổng thể xuất khẩu gạo của nước ta Cụ thể, giá bình quân xuất khẩu mặt hàng này giảm đến 26.8% tương đương với 163 USD/tấn, kéo theo
sự sụt giảm 8% trong trị giá xuất khẩu Bước sang năm 2010, khi lãi suất, tỷ giá được NHNN duy trì ổn định hơn, với những nỗ lực kiềm chế lạm phát của chính phủ (mặc dù vẫn còn ở mức cao do ảnh hưởng của thiên tai và giá cả thế giới nhưng nhìn chung đang
có chiều hướng hạ nhiệt sau khủng hoảng), tình hình xuất khẩu gạo cũng đạt nhiều thành tựu khả quan hơn: về lượng đạt 6.89 triệu tấn (tăng15.6%) và kim ngạch đạt 3.25 tỷ USD (tăng 21.9% so với năm 2009) Điều này đã phản ánh được phần nào những ảnh hưởng của tỷ giá, lạm phát, lãi suất lên hoạt động xuất khẩu gạo của nước ta
Trang 14Với những phân tích ở trên, ta thấy được có một sự thay đổi nhất định của xuất khẩu gạo khi lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất biến động Điều này đặt ra câu hỏi rằng liệu
có tồn tại mối liên hệ giữa kim ngạch xuất khẩu gạo và ba yếu tố này hay không, và mức
độ ảnh hưởng của chúng như thế nào? Để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, tác giả chọn
đề tài “Nghiên cứu tác động của lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam” với mục tiêu đánh giá được tác động của những nhân tố này, nhằm tìm ra giải pháp thích hợp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam 1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hoạt động xuất khẩu, thương mại quốc tế Trên nền tảng đó tác giả tiến hành đánh giá, đo lường mức độ tác động của các nhân tố nghiên cứu đến tình hình xuất khẩu gạo ở Việt Nam Và đề xuất các giải pháp trong việc
tổ chức điều hành nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam
Với đề tài “Nghiên cứu tác động của lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam”, luận văn đặt ra và tập trung giải quyết các câu hỏi sau:
- Liệu ba nhân tố được đề cập là lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái có mối liên hệ với kim ngạch xuất khẩu gạo ở Việt Nam hay không?
- Và nếu có thì các nhân tố này tác động theo xu hướng như thế nào?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự ảnh hưởng của ba nhân tố: lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất lên hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu, lượng hóa và đánh giá mức độ tác động của ba nhân
tố lạm phát, lãi suất, tỷ giá đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam thông qua các số liệu, mô hình nghiên cứu cụ thể
Trang 15Sử dụng tiêu chí kim ngạch xuất khẩu để đánh giá thành quả của hoạt động xuất khẩu gạo, là căn cứ để xây dựng biến phụ thuộc cho mô hình, nhằm xem xét tác động từ các yếu tố được lựa chọn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng, với sự hỗ trợ của các công cụ thống kê phân tích là excel và phần mềm STATA để xử lý dữ liệu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 1/2008 đến tháng 3/2019 Quá trình nghiên cứu được thực hiện cụ thể như sau:
- Giới thiệu cơ sở lý thuyết về hoạt động xuất khẩu và các tác động vĩ mô, kết hợp tham khảo các nghiên cứu trước đó cho đề tài này
- Dựa trên cơ sở lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm để thiết kế và thực hiện mô hình nghiên cứu định lượng trên phần mềm STATA
- Phân tích mối tương quan giữa các biến, và mức độ ảnh hưởng của các biến đến giá trị xuất khẩu gạo Tham khảo thêm ý kiến chuyên gia để điều chỉnh mô hình với các biến độc lập, biến phụ thuộc, và thang đo thích hợp
- Dùng thống kê mô tả để kiểm định
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: củng cố các lý thuyết và cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm
về tác động của một số nhân tố vĩ mô đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
Trang 16Ý nghĩa thực tiễn: tác giả hy vọng từ góc nhìn của luận văn, những kết quả, và phân tích trong bài viết, chính phủ sẽ định hướng được những ảnh hưởng của các nhân tố, để tìm ra biện pháp phù hợp để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế nước nhà Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng có giải pháp
tự bảo vệ mình khỏi những biến động bất lợi cũng như tận dụng cơ hội để đạt hiệu quả kinh doanh tốt nhất
1.6 Kết cấu của luận văn
Chương 01 Giới thiệu
Chương 02 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Chương 03 Phương pháp nghiên cứu
Chương 04 Kết quả nghiên cứu
Chương 05 Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, và mục tiêu cụ thể mà tác giả mong muốn đạt được Bên cạnh đó, tác giả định hình khung của luận văn thông qua việc làm rõ phạm vi nghiên cứu, phương pháp thực hiện, ý nghĩa và kết cấu của đề tài
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu nhưng phải đến cuối thế kỷ 15, những lý thuyết đầu tiên của hoạt động này mới dần hình thành Ở giai đoạn này, chủ nghĩa trọng thương phát triển với quan điểm khuyến khích xuất khẩu, và hạn chế nhập khẩu Tuy nhiên, họ lại nhìn nhận thương mại quốc tế như một “trò chơi” với tổng lợi ích bằng không, điều này chỉ đúng trong mô hình thương mại – không sản xuất
Cùng với sự phát triển chung của xã hội, các lý thuyết dần được hoàn thiện và phù hợp hơn Năm 1776, lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith cho rằng mỗi quốc gia có một lợi thế nhất định, và thương mại quốc tế sẽ giúp cho nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn xét trên phương diện toàn cầu Lý thuyết này đã phần nào giải thích được
xu hướng xuất khẩu của một số mặt hàng nhất định ở các quốc gia Nhưng vấn đề đặt ra lúc này là vẫn có một số quốc gia hoàn toàn không có lợi thế về mặt hàng nào, nhưng họ vẫn xuất khẩu Và David Ricardo đã trả lời cho câu hỏi này với lý thuyết lợi thế so sánh vào năm 1817: tạo ra lợi thế từ quy mô sản xuất, phân công lao động quốc tế - đây là một trong những lý thuyết quan trọng của thương mại quốc tế nhưng vẫn còn hạn chế khi cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị Một lý thuyết khác ra đời vào năm
1936 của Gottfried Haberler đưa ra ý tưởng về chi phí cơ hội: với đường biên giới hạn nguồn lực, ta sẽ phải hy sinh một đơn vị sản phẩm này để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm khác Điều này giải thích cho nhu cầu thương mại quốc tế giữa các quốc gia: trao đổi các nguồn lực dư thừa lấy các nguồn lực khan hiếm (dựa trên cơ sở các sản phẩm tạo ra)
Những năm gần đây, lý thuyết về thương mại quốc tế hiện đại cũng được các nhà kinh tế học phát triển để phù hợp hơn cho bối cảnh hội nhập toàn cầu Tiêu biểu có thể
kể đến lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael E Porter Theo đó, cơ sở cạnh tranh của các quốc gia được hình thành từ bốn yếu tố chính: chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành – các điều kiện về phía cầu – các ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan – các điều kiện về yếu tố sản xuất (mô hình kim cương) Ông cho rằng một quốc
Trang 18gia nên xuất khẩu mặt hàng có lợi thế trên cả bốn yếu tố trên, và nhập khẩu những mặt hàng không thuận lợi
Nhìn chung, thương mại quốc tế (ngoại thương) là một hoạt động trao đổi hàng hoá
và dịch vụ xuyên biên giới giữa các quốc gia Hoạt động này tác động đến toàn bộ nền kinh tế thế giới
Chính nhờ tính chất toàn cầu đã đề cập ở trên, thương mại quốc tế sẽ tạo cơ hội cho người tiêu dùng trên toàn thế giới được sử dụng các hàng hóa, dịch vụ mà nước sở tại chưa có Trên góc độ quốc gia, thương mại quốc tế còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, vốn, cũng như tài nguyên nếu các nước tham gia vào hoạt động này tận dụng tốt thế mạnh của mình trong quá trình chuyên môn hóa
Hai hoạt động chính tạo nên tính toàn cầu cho thương mại quốc tế là xuất khẩu và nhập khẩu Trong đó, xuất khẩu là hình thức cung cấp dịch vụ, hàng hóa từ nước sở tại (hay còn gọi là nước xuất khẩu) sang các nước khác Ngược lại, nhập khẩu là việc nước
sở tại (nước nhập khẩu) sử dụng các sản phẩm dịch vụ cung cấp từ nước ngoài Trong Luật Thương mại năm 2005- 36/2005/QH11 cũng đưa ra định nghĩa cụ thể cho hai khái niệm này như sau:
- Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Trong phạm vi của luận văn, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu lý thuyết hoạt động thương mại quốc tế ở khía cạnh xuất khẩu mặt hàng gạo
2.1.2 Vai trò của xuất khẩu gạo
Xuất khẩu gạo là một quy trình khép kín, được tạo thành từ một chuỗi những nghiệp
vụ phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau Để đạt được hiệu quả khi thực hiện, một thương vụ xuất khẩu gạo thường được tiến hành qua các bước:
- Nghiên cứu thị trường quốc tế
Trang 19- Lựa chọn nguồn cung và lên kế hoạch thu mua
- Lựa chọn đối tác xuất khẩu
- Ký kết hợp đồng
- Thực hiện hợp đồng
- Đánh giá hiệu quả của quá trình
Cùng với nhập khẩu, hoạt động xuất khẩu vốn đã có mặt từ rất lâu đời, là cột mốc đánh dấu sự phát triển của hình thức thương mại quốc tế Hình thức trao đổi xuyên biên giới này được thực hiện cho hầu hết mọi loại hàng hóa, dịch vụ từ hàng tiêu dùng, nhu yếu phẩm, khoáng sản, đến các mặt hàng máy móc thiết bị công nghệ cao Hoạt động này được xem là một hình thức của mối quan hệ xã hội, giúp phân phối lại nguồn lực, tài nguyên,…giữa các quốc gia nhằm đem lại lợi ích tối ưu cho người tiêu dùng cuối cùng, cũng như sự phát triển chung cho nền kinh tế thế giới
Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, xuất khẩu ngày càng thể hiện vai trò của mình trong việc phản ánh sự phụ thuộc kinh tế giữa các quốc gia, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu ngày một lan tỏa hiện nay Xuất khẩu nói riêng hay thương mại quốc tế nói chung dựa trên cơ sở lợi thế so sánh giữa các quốc gia Lợi thế so sánh này
có thể là các lợi thế khách quan như vị trí địa lý, khí hậu, khoáng sản,… cũng có thể đến
từ sự phát triển khoa học công nghệ Do sự chênh lệch này, các quốc gia sẽ lựa chọn các sản phẩm thế mạnh của mình để chuyên môn hóa, giảm chi phí sản xuất cho cả nền kinh
tế toàn cầu, và phát sinh nhu cầu mậu dịch giữa các quốc gia Điều này dẫn đến sự phụ thuộc kinh tế chúng ta đã đề cập ở trên Như vậy, chuyên môn hóa sẽ đem lại lợi ích cho
cả nước xuất khẩu (thu được ngoại tệ) và cho nước nhập khẩu (mua được hàng hóa, dịch
vụ giá rẻ) Từ đó, tạo điều kiện để các quốc gia có thể đầu tư, nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình, rút ngắn chênh lệch kinh tế với các quốc gia phát triển khác
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp lâu đời với khí hậu phù hợp cho việc trồng lúa nước, đây cũng được xem là lợi thế của nước ta khi so sánh với các quốc gia khác Cùng với sự phát triển chung của đất nước, nền nông nghiệp cũng có những bước phát triển nhanh chóng Mặc dù thay đổi cơ cấu cây trồng làm giảm diện tích trồng lúa
so với các cây trồng khác, nhưng việc tăng tỷ trọng trồng các giống lúa chất lượng cao
Trang 20giúp cho hạt gạo của Việt Nam có sức cạnh tranh hơn, thu được nhiều ngoại tệ hơn (do giá tăng), và thâm nhập được vào các thị trường cao cấp, khó tính Đứng trong Top ba quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, lợi ích chúng ta nhận được không chỉ là hàng nghìn tỷ ngoại tệ thu về hàng năm tạo điều kiện để đầu tư, phát triển các lĩnh vực khác,
mà còn là cơ hội việc làm cho rất nhiều lao động khu vực nông thôn, giảm thất nghiệp,
ổn định xã hội
2.1.3 Các hình thức xuất khẩu gạo
Hoạt động xuất khẩu được diễn ra với nhiều hình thức đa dạng Nhưng đối với xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam chủ yếu được diễn ra theo ba hình thức:
Xuất khẩu trực tiếp các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ trực tiếp trao đổi với đối tác để thỏa thuận về các điều khoản hợp đồng Hình thức này sẽ giúp hai bên dễ dàng bàn bạc, tránh những hiểu lầm đáng tiếc và tăng lợi nhuận do không phải thông qua bên trung gian Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ chủ động được khâu chuẩn bị, và điều chỉnh kịp thời theo thị trường Tuy nhiên hình thức này cũng đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu cần trang bị đầy đủ những kiến thức về thị trường, và có nguồn nhân lực đáp ứng
đủ trình độ cho các nghiệp vụ
Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác) là hình thức xuất khẩu có sự xuất hiện của bên trung gian (nhận ủy thác) để hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu (bên ủy thác) Áp dụng hình thức này, doanh nghiệp xuất khẩu phải trích một phần lợi nhuận cho nhân tố trung gian Tuy nhiên, họ sẽ tránh được rủi ro bị ép giá do thiếu hiểu biết về thị trường, và có thể tập trung vào chuyên môn của mình hơn
Xuất khẩu theo định thư giữa hai chính phủ doanh nghiệp xuất khẩu căn cứ theo chỉ tiêu của nhà nước giao để tiến hành xuất khẩu gạo cho chính phủ nước ngoài trên cơ
sở nghị định thư đã ký giữa hai Chính phủ Khoản thanh toán trong trường hợp này được đảm bảo bởi chính phủ, và giá cả cũng xác lập ở mức hợp lý để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trong đó, hình thức xuất khẩu theo định thư sẽ ít chịu rủi ro về biến động lạm phát,
tỷ giá, lãi suất hơn so với hai hình thức còn lại do được đảm bảo bởi chính phủ Tuy nhiên, không phải DNXK nào cũng có đủ điều kiện để xuất khẩu theo hình thức này Vì
Trang 21vậy, việc nhận biết các biến động, ảnh hưởng, rủi ro khách quan từ bên ngoài sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trước những thay đổi của thị trường
2.1.4 Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo
Thương mại quốc tế được hình thành dựa trên hai hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu
Và cũng như thương mại thông thường, nó cũng chịu ảnh hưởng của quy luật cung – cầu Bên cạnh đó, do là hoạt động thương mại xuyên quốc gia, nên thương mại quốc tế còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố trung gian liên quan đến khoảng cách địa lý, khoảng cách kinh tế giữa hai quốc gia, tỷ giá hối đoái, các hiệp định thương mại và các rào cản thuế quan, cũng như các chính sách khuyến khích xuất – hạn chế nhập khẩu
Trong đó, các nhân tố chính thường được nhắc đến liên quan đến mối quan hệ cung
và cầu trong mô hình thương mại quốc tế là quy mô nền kinh tế (được đo bằng thu nhập bình quân đầu người GDP), dân số, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, cơ sở hạ tầng Mối quan hệ giữa một số các nhân tố đến xuất khẩu được nhà kinh tế Jan Tinbergen lượng hóa lần đầu tiên vào năm 1962 dựa trên lý thuyết của định luật vạn vật hấp dẫn của Newton với nội dung: lực hấp dẫn giữa hai vật thể có tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng, với dạng cơ bản:
FAB = G * ∗
Với FAB là trao đổi thương mại song phương
G là hệ số hấp dẫn
MA và MB là quy mô 2 nền kinh tế (thu nhập bình quân)
DAB là khoảng cách hai quốc gia
Nhiều nhà kinh tế học sau này khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố có sự tương quan giữa hai quốc gia xuất - nhập khẩu cũng đưa mô hình này vào phân tích kinh tế lượng với dạng mở rộng và tìm thấy mối quan hệ của nhiều biến số khác đối với KNXK như: các hiệp định thương mại (Thorvaldur Gylfason, 1997), lạm phát, tỷ giá (Mohammad Mafizur Rahman, 2010), dân số giữa hai quốc gia (Ngô Thị Mỹ, 2016) … Cũng như những hàng hóa khác, ngoài những nhân tố thuộc về chất lượng sản phẩm hay thuộc về đặc điểm nội tại của ngành, xuất khẩu gạo cũng chịu tác động của những yếu tố vĩ mô như trên Các nhân tố điển hình đó có thể được phân tích như sau
Trang 22Thu nhập bình quân của nước xuất khẩu (GDP - XK) Theo lý thuyết kinh tế, thu nhập tăng kéo theo sự phát triển của năng lực sản xuất trong nước Điều này dẫn đến lượng cung trong nước tăng lên, sản phẩm dư thừa cho nhu cầu nội địa và nguồn cung
để xuất khẩu sẽ trở nên dồi dào hơn Tuy nhiên, xét ở một khía cạnh khác, thu nhập tăng cũng làm tăng nhu cầu tiêu dùng hàng xa xỉ, dẫn đến cầu tăng, nhưng đối với mặt hàng thiết yếu như gạo, việc tăng thu nhập có thể ít ảnh hưởng đến lượng cầu nội địa hơn Vì vậy, trong điều kiện mà cung nội địa dồi dào và cầu dường như ít thay đổi thì hàng hóa
sẽ có xu hướng chuyển dịch ra các thị trường nước ngoài nhiều hơn Các nghiên cứu của Thorvaldur Gylfason (1997), Ngô Thị Mỹ (2016) cũng đưa ra kết quả cùng chiều cho hai biến số này Như vậy, đối với từng quốc gia, và mặt hàng cụ thể (hàng thiết yếu, hàng
xa xỉ…) sự ảnh hưởng của GDP đến kim ngạch xuất khẩu có thể khác nhau Nhưng nhìn chung, trong cả lý thuyết và thực tiễn, mối quan hệ này luôn được xem là đồng biến với nhau
Thu nhập bình quân của nước nhập khẩu (GDP - NK) Như đề cập ở trên, thu nhập phản ánh năng lực sản xuất nội tại của một quốc gia Vì vậy khi GDP của nước nhập khẩu tăng, hàng hóa từ nước ngoài sẽ khó có cơ hội cạnh tranh hơn với hàng trong nước Nếu chỉ phân tích đến đây, ta có thể sẽ nghĩ rằng hai nhân tố này chuyển động ngược chiều nhau, nhưng thực tế cho thấy mối quan hệ này rất phức tạp Trong bài nghiên cứu của mình, Ngô Thị Mỹ (2016) đã phân tích ở khía cạnh ngược lại như sau: khi thu nhập tăng, nhu cầu cho mặt hàng thứ cấp sẽ giảm, một số hàng xa xỉ sẽ tăng, do người dân sẽ có xu hướng dùng những sản phẩm chất lượng để nâng cao đời sống hơn Và việc xác định hàng hóa thứ cấp, hàng hóa thiết yếu hay hàng hóa xa xỉ lại còn tùy thuộc vào
vị thế của quốc gia đứng ở vai trò là bên xuất khẩu hay nhập khẩu Điều này có khả năng làm đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng xa xỉ vào các quốc gia không sản xuất các mặt hàng này Các nghiên cứu của Winrose Chepng’eno (2017) và Ying Qian và Panos Varangis (1994) cũng đưa ra kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa hai biến số GDP-NK và xuất khẩu Trong phạm vi của luận văn, lúa gạo là mặt hàng thiết yếu – khi GDP tăng, nước nhập khẩu sẽ tập trung sản xuất và nâng cao chất lượng sản
Trang 23phẩm để giảm nhu cầu nhập khẩu (Ngô Thị Mỹ, 2016) Như vậy, GDP –NK sẽ tác động ngược chiều đến xuất khẩu gạo
Dân số của nước xuất khẩu Dân số liên quan đến nguồn nhân lực, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sản xuất của quốc gia Vì vậy, dân số tăng sẽ tạo nên lợi thế của nguồn lao động về mặt số lượng, tạo động lực để gia tăng xuất khẩu Nhưng trong thời kỳ công nghệ khoa học ngày càng phát triển, số lượng lao động tăng là không đủ để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Vì vậy khi xem xét nhân tố này, ngoài yếu tố số lượng, cần phải đánh giá cả chất lượng nguồn nhân lực, cũng như mức độ già hóa dân
số Mặt khác, dân số nước xuất khẩu còn đại diện cho quy mô thị trường (cầu nội địa)
Vì vậy, dân số tăng có thể dẫn đến lượng hàng hóa dùng cho xuất khẩu giảm, do tập trung phục vụ cho nhu cầu trong nước nhiều hơn Trong trường hợp này, biến dân số sẽ
có tác động ngược chiều với xuất khẩu Như vậy, dân số của nước xuất khẩu có thể tác động cùng chiều hoặc ngược chiều với KNXK (Ngô Thị Mỹ, 2016)
Dân số của nước nhập khẩu dân số của nước nhập khẩu cũng được xem xét dưới hai góc độ: nguồn lao động và cầu về hàng Cụ thể, (i) dân số tăng kéo theo lượng cầu tăng khiến cho nhu cầu về hàng nhập khẩu tức là KNXK của đối tác tăng; (ii) Mặt khác, dân số tăng cũng giúp mở rộng quy mô lao động trong nước làm tăng khả năng sản xuất dẫn tới tăng kết quả sản xuất Khi đó, sản xuất trong nước cũng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng dẫn đến KNNK hàng hóa giảm (cũng tức là KNXK của quốc gia đối tác giảm) (Ngô Thị Mỹ, 2016)
Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và có tác động mạnh
mẽ lên xuất khẩu Đây cũng là lý do rất nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu về mối quan hệ này để đưa ra những giải pháp thích hợp cho từng mặt hàng, môi trường kinh tế và bối cảnh xã hội cụ thể
Dựa trên các lý thuyết kinh tế, Ngô Thị Mỹ (2016) đã tiếp cận mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và xuất khẩu theo hai khía cạnh:
- Về lượng: Khi đồng nội tệ của một quốc gia giảm giá so với các đồng tiền khác, giá cả của hàng hóa xuất khẩu tính theo ngoại tệ sẽ giảm, khi đó cầu
Trang 24quốc tế của hàng hóa từ quốc gia này sẽ tăng, làm cho sản lượng xuất khẩu tăng Ngược lại, nếu đồng nội tệ tăng giá so với ngoại tệ thì sẽ khiến cho sản lượng xuất khẩu giảm
- Kim ngạch xuất khẩu: KNXK phụ thuộc vào cả lượng và giá, nên ngoài xem xét đến lượng, còn cần nhìn nhận đến độ co giãn của giá: Nếu cầu hàng hóa
là co giãn đối với giá thì khi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ tăng lên sẽ khiến tổng kim ngạch xuất khẩu tính theo ngoại tệ tăng lên Nếu cầu hàng hóa ít co giãn thì khi tỷ giá tăng sẽ khiến kim ngạch xuất khẩu tính theo ngoại tệ giảm
đi
Như vậy, việc hướng tác động của tỷ giá hối đoái lên KNXK còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự co giãn về giá xuất khẩu Điều này cũng đồng nghĩa rằng mỗi doanh nghiệp cần có những phương hướng, chiến lược riêng cho sản phẩm của mình trước rủi ro tỷ giá để có thể tối đa hóa lợi nhuận
Theo một số các nghiên cứu mà tác giả thu thập được, chiều hướng tác động của tỷ giá (theo yết trực tiếp) lên KNXK thể hiện cùng chiều (xem mục 2.2)
Lạm phát Kinh tế vĩ mô định nghĩa lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung, hay đơn giản là sự mất giá của đồng tiền Trên phương diện tiền tệ, lạm phát sẽ làm cho đồng tiền nội tệ mất giá so với ngoại tệ Hay nói cách khác, nếu bỏ qua những yếu tố còn lại, lạm phát tăng đồng nghĩa với tỷ giá hối đoái tăng Và cũng như trường hợp tỷ giá được phân tích ở trên, chiều tăng/giảm của tỷ giá sẽ chính là chiều hướng ảnh hưởng lên xuất khẩu gạo Như vậy, xét ở góc độ ảnh hưởng thông qua tỷ giá, lạm phát
có thể có xu hướng biến động cùng chiều với kim ngạch xuất khẩu gạo
Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, lạm phát tác động xấu lên chi phí đầu vào của các doanh nghiệp xuất khẩu, đẩy giá bán ra tăng lên Như vậy, lạm phát có thể tác động lên xuất khẩu theo hai hướng khác nhau Và hướng tác động nào có ảnh hưởng mạnh hơn còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể nền kinh tế, và hướng giải quyết của doanh nghiệp
Ở nghiên cứu của Ngô Thị Mỹ (2016) khi nghiên cứu về xuất khẩu nông sản (đi sâu vào xuất khẩu gạo và cà phê), cơ chế ảnh hưởng của lạm phát đến xuất khẩu được luận
Trang 25giải như sau: lạm phát tăng đẩy giá hàng hóa trong nước nâng lên, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước so với nước ngoài Khi lạm phát giảm, giá hàng hóa trong nước giảm giúp tăng năng lực cạnh tranh khiến cho lượng hàng hóa trong nước xuất khẩu nhiều hơn Như vậy, nhân tố lạm phát tác động ngược chiều đến kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lại cho thấy hai chiều ảnh hưởng của nhân tố này trong ngắn hạn: cùng chiều đối với mặt hàng gạo, và ngược chiều đối với cà phê (không có giá trị thống kê đối với nông sản nói chung)
Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Thorvaldur Gylfason (1997) cho rằng hai biến
số này có mối tương quan ngược chiều nhau
Lãi suất
Nhìn chung, lãi suất là một công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô Vì vậy mà nó cũng
sẽ có ảnh hưởng ít nhiều đến tất cả các yếu tố khác của nền kinh tế, bao gồm cả xuất khẩu Tuy nhiên, lãi suất có ảnh hưởng gián tiếp đến xuất khẩu thông qua các nhân tố khác như tỷ giá hối đoái và lạm phát Vì vậy, hầu như ở Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào cho mối quan hệ này
Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái được đề cập trong lý thuyết “Ngang bằng lãi suất” như sau: “khi có sự chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia sẽ được bù đắp lại bằng sự chênh lệch giữa tỷ giá của 2 loại đồng tiền của hai quốc gia này” Nói một cách
dễ hiểu, lãi suất tăng sẽ thu hút dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường quốc tế, những người nắm giữ ngoại tệ sẽ có xu hướng đổi sang đồng nội tệ để cho vay với lãi suất cao hơn, làm cho cung nội tệ tăng Kết quả là đồng nội tệ sẽ tăng giá hơn so với ngoại tệ, làm cho tỷ giá giảm (ngược chiều)
Trong khi đó, mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất danh nghĩa được thể hiện qua phương trình của hiệu ứng Fisher:
“Lãi suất danh nghĩa = tỷ lệ lạm phát + lãi suất thực”
Lãi suất thực được quyết định bởi cung và cầu vốn vay Theo lý thuyết “Số lượng tiền tệ” thì tốc độ tăng của lưu lượng tiền tệ quyết định tỷ lệ lạm phát Trong dài hạn, khi trạng thái cân bằng được thiết lập, sự thay đổi của cung tiền không có ảnh hưởng gì đến lãi suất thực tế cũng như các biến thực tế khác Vì lãi suất thực tế không đổi nên lãi suất
Trang 26danh nghĩa sẽ được điều chỉnh theo tỷ lệ một - một với sự thay đổi của lạm phát (cùng chiều)
Thông qua mối quan hệ giữa xuất khẩu và lạm phát cũng như tỷ giá hối đoái đã được luận giải ở trên, cùng với những phân tích về mối quan hệ giữa lãi suất với lạm phát và
tỷ giá hối đoái, ta có thể đưa ra chiều hướng tác động của lãi suất lên xuất khẩu thông qua nhân tố như sau:
- Lãi suất – (Tỷ giá hối đoái) – Xuất khẩu: có thể cùng chiều hoặc ngược chiều (do tác động không rõ ràng của tỷ giá)
- Lãi suất – (Lạm phát)– Xuất khẩu: ngược chiều (xét theo nghiên cứu của Ngô Thị Mỹ (2016), liên quan đến xuất khẩu nông sản)
Khoảng cách giữa hai quốc gia Theo Ngô Thị Mỹ (2016), khoảng cách của hai quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu ở đây được xem xét ở hai góc độ
- Khoảng cách về sự phát triển: Các quốc gia thường có nhu cầu xuất khẩu những loại hàng hóa mà bản thân họ cũng sử dụng, và đang dư thừa (cung lớn hơn cầu nội địa) Đối với hai quốc gia ít có khoảng cách về trình độ phát triển sẽ dễ tương đồng hơn về thị hiếu tiêu dùng, cũng như yêu cầu về chất lượng Và sản phẩm mà quốc gia xuất khẩu làm ra sẽ có khả năng được chấp nhận ở thị trường của quốc gia nhập khẩu Ngược lại,
sự khác biệt lớn về trình độ phát triển đem lại nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu Minh chứng cụ thể của sự ảnh hưởng này là các mặt hàng gạo của nước ta đã phải mất một khoảng thời gian để cải thiện chất lượng nhằm đảm bảo tiêu chuẩn nhập khẩu của một
số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Pháp,…
- Khoảng cách về mặt địa lý: Trong hoạt động thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, khoảng cách địa lý vẫn luôn là một vấn đề đáng quan tâm Khi khoảng cách giữa hai bên mua và bán quá xa nhau, chi phí vận chuyển sẽ trở thành một vấn đề đáng cân nhắc, lộ trình và phương tiên vận chuyển được lựa chọn phải phù hợp với mặt hàng Thời gian vận chuyển kéo dài cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (ở đây mặt hàng lúa gạo yêu cầu điều kiện bảo quản nhất định) Vì vậy các quốc gia thường lựa chọn các “bạn hàng” phù hợp cho từng mặt hàng, và ưu tiên giao thương với những quốc gia trong khu vực (thông qua các chính sách khuyến khích, mở cửa, các hợp
Trang 27đồng ưu đãi) Các số liệu ngành lúa gạo Việt Nam cũng cho thấy thị trường xuất khẩu chủ yếu của chúng ta tập trung vào khu vực châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á
- Kết quả nghiên cứu của Mohammad Mafizur Rahman (2010), Norman D Aitken (1973) cũng cho thấy bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều này
Các hiệp định thương mại quốc tế Trong bài nghiên cứu của mình, Ngô Thị Mỹ (2016) đã phân tích tầm ảnh hưởng của các mối quan hệ quốc tế đối với hoạt động xuất khẩu thông qua các lập luận như sau: Xu hướng toàn cầu hóa với việc tham gia vào các liên minh kinh tế, và ký kết một số các hiệp định thương mại tự do, đã cho phép hàng hóa xuất khẩu của nước ta dễ dàng thâm nhập vào các thị trường nước ngoài hơn Khi các mục tiêu giảm thuế, giảm giá được thực hiện, và các hàng rào mậu dịch bị loại bỏ, mối quan hệ kinh tế song phương thiết lập sẽ đem lại nhiều lợi ích cho cả nước xuất khẩu lẫn nhập khẩu Đây sẽ là tác nhân tích cực hay là rào cản đối với một quốc gia còn phụ thuộc vào các quan hệ kinh tế quốc tế giữa quốc gia đó với các quốc gia khác trong liên minh kinh tế Xem xét trên kết quả phân tích từ các nghiên cứu thực nghiệm của Thorvaldur Gylfason (1997), Ngô Thị Mỹ (2016) đều cho thấy việc tham gia vào các hiệp định thương mại này đã đem đến nhiều chuyển biến tích cực cho nước xuất khẩu Trên đây chỉ là một số nhân tố cơ bản tác động đến hoạt động xuất khẩu, nhưng trên thực tế vẫn còn rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác tùy thuộc vào mặt hàng cũng như đặc trưng riêng của quốc gia, dẫn đến kết quả của một thời kỳ xuất khẩu Mặt khác, các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu có mối liên quan chặt chẽ và tương tác lẫn nhau, nên việc xem xét tác động của từng nhân tố chỉ mang tính tương đối 2.2 Một số nghiên cứu thực nghiệm
Như đã đề cập từ phần giới thiệu, từ khi hình thành, hoạt động xuất khẩu vẫn luôn
là một trong những mối quan tâm hàng đầu đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên, cũng giống như rất nhiều các hoạt động kinh tế xã hội khác, xuất khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Chính vì vậy mà trên thế giới đã
có không ít những những nghiên cứu xoay quanh vấn đề này Để phân tích tác động của những ảnh hưởng này, các nghiên cứu thường thông qua hai phương pháp phân tích chính là định tính và định lượng
Trang 28Phân tích định tính là cách mà người nghiên cứu phân tích dựa trên cơ sở lý luận, kinh nghiệm của chính bản thân hoặc những nghiên cứu trước đó để đưa ra đánh giá về vấn đề nghiên cứu Trong khi đó, phương pháp định lượng lại dùng cách lượng hóa các ảnh hưởng một cách thông qua các mô hình hồi quy Đối với phương pháp này, ảnh hưởng từ các nhân tố đến đối tượng nghiên cứu sẽ được cụ thể hóa hơn, từ đó giúp người nghiên cứu đề xuất phương án giải quyết phù hợp hơn so với kết quả mang tính tổng quát từ phương pháp định tính Tuy nhiên, việc xây dựng mô hình cũng như thu thập số liệu cho những biến định lượng có thể gặp phải khó khăn đối với một số nhân tố (như chính sách, chất lượng hàng hóa,…), nên tùy thuộc vào biến độc lập mà người nghiên cứu sẽ lựa chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp, hoặc kết hợp cả hai phương pháp để đạt kết quả phù hợp
2.2.1 Các nghiên cứu quốc tế
Trong một bài nghiên cứu của nhóm tác giả Ying Qiang và Panos Varangis (1994)
về việc xem xét tác động của biến động tỷ giá hối đoái đến khả năng xuất khẩu (tỷ giá được yết theo phương pháp gián tiếp), đã thu thập số liệu về giá và lượng xuất khẩu Canada, Nhật Bản, Australia (xuất khẩu sang Hoa Kỳ), Thụy Điển, Hà Lan, Anh (số liệu tổng hợp) trong giai đoạn từ tháng 1/1974 đến tháng 12/1990 (số liệu theo tháng), cùng với các số liệu khác về những biến liên quan để xây dựng mô hình phân tích định lượng ARCH-M Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng xuất khẩu với hóa đơn được lập bởi đồng ngoại tệ sẽ chịu tác động ngược chiều với những biến động trong tỷ giá hối đoái (trường hợp Canada, Australia, Nhật) Ngược lại, việc lập hóa đơn với đồng nội tệ sẽ giúp doanh nghiệp xuất khẩu đẩy được rủi ro cho bên nhập khẩu Mở rộng vấn đề, chúng ta nhận thấy thương mại giữa quốc gia phát triển và đang phát triển thường được lập theo đồng tiền của nước phát triển hoặc đồng USD, vì vậy việc xuất khẩu ở những quốc gia đang phát triển cũng chịu rủi ro từ biến động tỷ giá như trường hợp của Canada, Australia, Nhật Bản Bài viết cũng cho thấy ưu điểm của phương pháp thống kê này so với các phương pháp tiếp cận trước đó (mô hình VAR, GARCH) là cung cấp các ước tính hệ số hiệu quả hơn và tránh được vấn đề hồi quy giả
Trang 29Thorvaldur Gylfason (IMF Working Paper, No 97/119, 1 September 1997) đã phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu, lạm phát và tăng trưởng kinh tế thông qua số liệu thu thập về tổng khối lượng xuất khẩu của 160 quốc gia và vùng lãnh thổ từ năm 1985 đến
1994 Bằng việc xem xét các số liệu thống kê qua dữ liệu chéo và mô hình hồi quy của các biến số dân số, thu nhập bình quân đầu người, lạm phát, độ mở của nền kinh tế,… tác giả đã đưa ra kết luận về giai đoạn được xem xét như sau: lạm phát cao dẫn đến xuất khẩu giảm, tăng trưởng kinh tế chậm
Một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí The Journal of Developing Areas năm 2010 của tác giả Mohammad Mafizur Rahman cũng đóng góp thêm bằng chứng về sự tồn tại của các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu xuất khẩu của Bangladesh sang 30 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng với các yếu tố được lựa chọn làm biến độc lập cho mô hình trong khoảng thời gian từ năm 1972 đến năm
1999 (số liệu được thu thập hàng năm) Với cách tiếp cận bằng dữ liệu dạng bảng (panel data) và mô hình trọng lực (gravity model), nghiên cứu cũng đưa ra nhận định tương tự
về mối quan hệ giữa tỷ giá và xuất khẩu: Xuất khẩu của Bangladesh tăng trưởng khi có
sự mất giá của đồng nội tệ
Một bài nghiên cứu khác vào năm 2013 của nhóm tác giả Anca Gherman, George Stefan và Adriana Fili lấy bối cảnh hoạt động xuất khẩu ở Romani với một số nhóm hàng chính (như nguyên liệu thô, dầu, thực phẩm, hóa chất…) xuất khẩu vào thị trường châu
Âu trong giai đoạn từ tháng 12/2005 đến tháng 9/2011 cũng sử dụng phương pháp định lượng với phương trình hồi quy đơn giản để đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái và độ trễ của tác động này lên xuất khẩu Kết quả thu được từ nghiên cứu là sự mất giá của đồng tiền Romania tác động tích cực lên xuất khẩu của nước này (ở độ trễ 4 tháng) Sự tăng trưởng trong quá khứ của xuất khẩu cũng là một động lực thúc đẩy cho sự phát triển của chính nó Đặc biệt, kết quả ở những nhóm hàng thực phẩm có mối quan hệ phụ thuộc với tỷ giá hơn những nhóm hàng khác (độ co giãn cao) Ngoài ra, kiểm định nhân quả Granger còn cho ta biết về mối quan hệ của tỷ giá (yết giá trực tiếp) và lạm phát: khi tỷ giá tăng lên, lạm phát cũng có xu hướng biến động tương tự
Trang 30Đặc biệt ở lĩnh vực xuất khẩu nông sản, tác giả Winrose Chepng’eno đã đề cập đến ảnh hưởng về tỷ giá (yết trực tiếp) đến tình hình xuất khẩu trà đen ở Kenya như sau: biến động tỷ giá hối đoái tác động tích cực đến xuất khẩu trà đen ở Kenya cả ngắn và dài hạn Tuy nhiên, ảnh hưởng của biến động này được thấy rõ rệt trong ngắn hạn và trong dài hạn nó không còn là vấn đề lớn đáng quan ngại Bài nghiên cứu công bố chính thức năm
2017 được tác giả thực hiện bằng cách tiếp cận theo phương pháp độ trễ phân phối tự động (ARDL) để khắc phục lỗi, với dữ liệu nghiên cứu là khối lượng trà đen của 16 quốc gia chủ yếu nhập khẩu trà đen của Kenya, giai đoạn thu thập dữ liệu từ năm 1997 đến
2010 (dữ liệu theo năm)
Liên quan đến nông sản, nhóm tác giả Abule Mehare và Abdi K Edriss (2012) cũng nghiên cứu về đề tài xuất khẩu các loại hạt có dầu với các biến độc lập bao gồm tỷ giá hối đoái (yết giá gián tiếp), GDP và tỷ lệ trao đổi TOT của Ethiopia Bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí Journal of Economics and Sustainable Development Các công
cụ thống kê mô tả được dùng để phân tích dữ liệu, mô hình độ trễ phân phối tự động (ARDL) và các thử nghiệm được đưa ra để kiểm định giả thiết về mối quan hệ giữa cung xuất khẩu hạt có dầu và các biến độc lập Đối tượng của nghiên cứu là giá trị xuất khẩu hạt có dầu của Ethiopia được thu thập từ năm 1992 đến năm 2010 Kết quả cho thấy xuất khẩu hạt có dầu có mối quan hệ tiêu cực với tỷ giá hối đoái (yết giá gián tiếp) Tuy nhiên
sự ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái là không đáng kể, nên sự giảm giá liên tục của đồng nội tệ sẽ không cải thiện nhiều đến khả năng cạnh tranh của xuất khẩu hạt có dầu ở quốc gia này
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Thêm một bài nghiên cứu khác về các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam đăng trên tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới - số 3, Trần Nhuận Kiên (2015) và cộng sự của mình đã dùng mô hình trọng lực xử lý số liệu
từ năm 1997 đến 2013 để phân tích ảnh hưởng lên kim ngạch xuất khẩu nông sản Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái (yết giá trực tiếp) có tác động lớn đến kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu Điều này đồng
Trang 31nghĩa với việc giá nông sản xuất khẩu của Việt Nam đang phải chịu sự chi phối đáng kể của đồng USD, đồng tiền đang được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế
Tiếp nối ý tưởng trên, Ngô Thị Mỹ (2016) tiếp tục nghiên cứu về đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam” trong luận án của mình Trong đó, gạo và cà phê là hai mặt hàng có lợi thế so sánh lớn và kim ngạch xuất khẩu cao, nên được lựa chọn để đi vào nghiên cứu chuyên sâu Mô hình trọng lực được tác giả lựa chọn để thực hiện ước lượng cho bộ dữ liệu thu thập từ năm 1997 đến năm
2013 (số liệu theo năm) Mô hình lần này cũng đưa ra kết quả về chiều hướng tích cực của tác động tỷ giá lên gạo và cà phê Bên cạnh đó, mô hình đề cập đến mối quan hệ giữa biến lạm phát và xuất khẩu: biến lạm phát không có ý nghĩa khi thực hiện nghiên cứu với nông sản nói chung nhưng lại thể hiện sự tác động lên xuất khẩu của gạo và cà phê của Việt Nam Cụ thể đối với mặt hàng gạo, mô hình cho kết quả về tác động cùng chiều của lạm phát lên xuất khẩu Tuy nhiên, ở mặt hàng cà phê, lạm phát lại có ảnh hưởng tiêu cực
Ngoài ra, với phương pháp nghiên cứu thiên về định tính, Nguyễn Hoàng Giang (2016) cũng có bài nghiên cứu chuyên sâu về tác động của việc điều chỉnh tỷ giá lên năng lực xuất khẩu của Việt Nam Dựa trên nền tảng của các lý thuyết trước đây, tác giả gợi nhắc về mối quan hệ giữa sự biến động tỷ giá hối đoái và xuất khẩu thông qua các lập luận và ví dụ điển hình Qua đó, một lần nữa khẳng định “nội tệ có trị giá càng cao thì xuất khẩu càng bị hạn chế, nhập khẩu càng được khuyến khích và ngược lại”
Tổng quan về tác động của các nhân tố đến hoạt động xuất khẩu qua các nghiên cứu
Ta có thể thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu,
và tùy thuộc vào bối cảnh, cũng như mục tiêu, mà các nghiên cứu lựa chọn các biến và cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy các nghiên cứu trong và ngoài nước đối với ảnh hưởng từ các nhân tố vĩ mô hầu hết đều tập trung vào yếu tố tỷ giá hối đoái Đây
là yếu tố tác động trực tiếp đến cán cân thương mại thông qua sự định giá giữa các đồng tiền Vì vậy mà tác động của nó lên hoạt động xuất khẩu là khá rõ ràng và ảnh hưởng lớn đến khối lượng xuất khẩu Do đó, việc nghiên cứu tác động của yếu tố này cụ thể cho
Trang 32từng lĩnh vực, ngành, quốc gia nhằm tìm ra phương án phù hợp để phát triển xuất khẩu cũng được các nhà kinh tế học hết sức quan tâm Trong khi đó, lạm phát tác động đến xuất khẩu gián tiếp qua tỷ giá hối đoái với việc làm giảm giá trị đồng nội tệ có ảnh hưởng
ít hơn, nên biến số này cũng ít được quan tâm hơn trong các nghiên cứu liên quan đến hoạt động xuất khẩu Đối với tác động từ lãi suất đến xuất khẩu, tác giả vẫn chưa tìm được đề tài nghiên cứu cho vấn đề này Sự hạn chế này có thể đến từ việc nhận định mức tác động của yếu tố này không đáng kể, do các lý thuyết kinh tế đều cho rằng sự tác động đến hoạt động xuất khẩu của yếu tố này là gián tiếp qua nhiều yếu tố trung gian (lạm phát và tỷ giá)
Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho kết quả như nhau và phù hợp với lý thuyết về tác động của tỷ giá đến hoạt động xuất khẩu theo cơ chế việc phá giá đơn vị tiền tệ trong nước (làm giảm giá trị đồng tiền nội địa so với các đồng tiền khác) sẽ kích thích khối lượng xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài và ngược lại Tuy nhiên, các nghiên cứu lại cho hai kết quả trái ngược nhau khi xem xét tác động của biến lạm phát Điều này cũng đã được đề cập ở lý thuyết, vì vậy việc phá giá đồng tiền hay không còn cần được xem xét
ở những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Căn cứ vào dữ liệu thu thập và mục tiêu của nghiên cứu, các mô hình được sử dụng cho dữ liệu dạng chuỗi thời gian (time series) là ARCH-M (autoregressive conditional heteroscedasticity in mean), độ trễ phân phối tự động (ARDL) Mô hình trọng lực (gravity model) được áp dụng cho dữ liệu hỗn hợp (panel data)
Như vậy, thông qua các nghiên cứu thu thập được, tác giả rút ra nhận xét như sau: Bên cạnh tỷ giá hối đoái được đưa vào đa số các nghiên cứu, hai yếu tố còn lại là lãi suất
và lạm phát ít được chú trọng khi nghiên cứu tác động lên hoạt động xuất khẩu, điều này
có thể làm cho góc nhìn về vấn đề bị thu hẹp, dẫn đến những hạn chế khi đề xuất các giải pháp thích hợp Xét về mô hình nghiên cứu, hai mô hình ARCH-M và ARDL được
sử dụng để ước tính cho các nghiên cứu sử dụng dữ liệu dạng chuỗi thời gian Mặt khác, các nghiên cứu trong nước thu thập được chỉ sử dụng mô hình trọng lực với dữ liệu dạng hỗn hợp, mà chưa có các nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu chuỗi thời gian Vì vậy, tác giả dự định sẽ tiến hành ước lượng bằng mô hình VAR (hoặc VECM trong trường
Trang 33hợp xảy ra đồng liên kết) và so sánh kết quả với các nghiên cứu tham khảo trong đề tài
Từ đó, cung cấp thêm một mô hình phù hợp cho việc phân tích về những ảnh hưởng của hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam
Bảng 2.1.Tóm lược kết quả của các nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu quốc tế
Panos Varangis (1994)
Mô hình ARCH-M
Lạm phát - Thorvaldur Gylfason (1997) Các mô hình hồi quy đơn giản
(2010)
Mô hình trọng lực (gravity model)
Tỷ giá hối đoái* + Abule Mehare và Abdi K
Edriss (2012)
Mô hình độ trễ phân phối tự động (ARDL)
Tỷ giá hối đoái + Anca Gherman, George
Srefan và Adriana Fili (2013)
Các mô hình hồi quy đơn giản
Tỷ giá hối đoái + Winrose Chepng’eno (2017) Mô hình độ trễ phân phối tự
động (ARDL) Nghiên cứu trong nước
Tỷ giá hối đoái + Trần Nhuận Kiên (2015) Mô hình trọng lực (gravity
model)
Tỷ giá hối đoái
Lạm phát**
+ +
Ngô Thị Mỹ (2016) Mô hình trọng lực (gravity
model)
Tỷ giá hối đoái + Nguyễn Hoàng Giang (2016) Nghiên cứu định tính
Chú thích: tác động ngược chiều (-), tác động cùng chiều (+)
*Để tiện cho việc so sánh các kết quả, tỷ giá hối đoái ở trên được quy đổi sang yết giá trực tiếp (tỷ giá thể hiện giá nội tệ của một đơn vị ngoại tệ)
** Đối với mặt hàng gạo xuất khẩu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả Xuất khẩu gạo chịu ảnh hưởng từ rất nhiều các nhân tố Câu hỏi đặt ra ở đây là chúng
ta sẽ lựa chọn nhân tố nào để đưa vào mô hình nghiên cứu?
Lãi suất được xem là một trong những công cụ đặc biệt mà chính phủ có thể tác động
để điều hành các chính sách vĩ mô, và có ảnh hưởng lên tất cả mọi hoạt động kinh tế kể
cả xuất khẩu Lý thuyết kinh tế và thực tiễn cho thấy một chính sách lãi suất hợp lý có
Trang 34vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều hành tổng thể nền kinh tế nói chung Là một thành phần của nền kinh tế, hoạt động xuất khẩu gạo cũng sẽ chịu tác động từ nhân tố lãi suất, nhưng cho đến hiện tại đề tài nghiên cứu về mối quan hệ này vẫn còn rất hạn chế Mặt khác, do ảnh hưởng rộng đến tất cả các khía cạnh của nền kinh tế với nhiều mức độ khác nhau, việc nghiên cứu ảnh hưởng cụ thể của lãi suất lên xuất khẩu gạo sẽ chi tiết hơn về sự tác động của lãi suất, để các nhà hoạch định chính sách lựa chọn những quyết định phù hợp, và các doanh nghiệp ứng biến kịp thời với các rủi ro
Trong khi đó, tỷ giá là một trong những nhân tố tác động trực tiếp và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu (thông qua giá cả) Chúng ta cũng đã thấy việc phá giá liên tục đồng Nhân dân Tệ (NDT) trong những năm gần đây giúp cho Trung Quốc tăng mạnh xuất khẩu vào các nước, tuy nhiên điều này cũng mang đến rủi ro lạm phát tăng cao và gây sức ép làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm lại Hiểu được tầm quan trọng của nhân tố này, đã có không ít nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh việc xem xét biến động của tỷ giá lên xuất khẩu Nhưng trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện nay, cùng với sự sụt giảm của tỷ trọng xuất khẩu gạo tổng KNXK, các đề tài liên quan đến ảnh hưởng tỷ giá lên xuất khẩu gạo cũng ít được quan tâm hơn Tuy nhiên, nếu nhìn nhận trên tổng thể, gạo vẫn là mặt hàng thiết yếu, và xuất khẩu gạo qua các giai đoạn vẫn giữ được vị trí nhất định, đem lại nguồn thu ngoại tệ ổn định cho quốc gia Vì vậy, hiểu được những nguy cơ và cơ hội mà nhân tố này đem lại cho hoạt động xuất khẩu gạo
sẽ giúp ích không nhỏ để các nhà hoạch định chính sách, và các doanh nghiệp trong ngành đạt được mục tiêu của mình
Xét về lạm phát, nhân tố này ảnh hưởng đến giá bán nội địa, từ đó gây sức ép lên nguồn cung gạo cho xuất khẩu, nên cũng gây ra ảnh hưởng nhất định đến giá xuất khẩu Lạm phát cũng kéo theo sự điều chỉnh về tỷ giá hối đoái tác động lên giá gạo xuất khẩu theo hướng ngược lại Bỏ qua các yếu tố khác, lạm phát ảnh hưởng lên xuất khẩu chủ yếu thông qua sự co giãn về giá đối với từng mặt hàng khác nhau Vì thế mà tác động của nó đối với từng loại hàng hóa, và quốc gia hầu như cũng không có sự trùng lặp Cũng với lý do nêu trên, những nghiên cứu về tác động của lạm phát đến xuất khẩu gạo ở Việt Nam còn nhiều hạn chế Và chúng ta hoàn toàn có thể mắc sai lầm khi ra quyết định liên
Trang 35quan đến xuất khẩu gạo dựa trên những nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và hoạt động xuất khẩu các mặt hàng khác, hoặc các bài nghiên cứu ở bối cảnh khác do tính đặc thù của mặt hàng cũng như quốc gia xuất và nhập khẩu Có thể nói đây là một biến
số có ảnh hưởng khá phức tạp lên hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam mà vẫn còn rất
ít được khai thác
Bên cạnh những phân tích nói trên, yếu tố lãi suất, tỷ giá và lạm phát còn thể hiện
cụ thể qua các số liệu biến động từng ngày, thậm chí từng giờ theo sự thay đổi của thị trường Sự biến động liên tục và phức tạp của các nhân tố này tác động ngược lại lên thị trường, có thể gây ra những ảnh hưởng không mong muốn lên hoạt động xuất khẩu gạo
Vì vậy, việc tìm hiểu chiều hướng tác động cũng như mức ảnh hưởng của ba nhân tố này
có thể góp phần hoàn thiện hơn các chính sách, và giúp các doanh nghiệp chủ động phòng ngừa rủi ro thậm chí lựa chọn đánh đổi để đạt được mục tiêu trong trường hợp cần thiết
Các nhân tố kể trên đều xét trong điều kiện riêng lẻ, đều có tác động nhất định đến hoạt động xuất khẩu gạo Tuy nhiên, trên thực tế, các nhân tố này không đứng một mình,
mà chúng là những phần tử tương tác, hòa quyện lẫn nhau tạo nên bức tranh tổng thể chung vận hành kinh tế - xã hội Các tương tác này có thể cộng hưởng góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, nhưng cũng có trường hợp tác động ngược nhau để gây ra những bất lợi cho hoạt động xuất khẩu
- Mối quan hệ tỷ giá - lạm phát: Nhắc đến mối quan hệ này, lý thuyết “Ngang giá sức mua” thường được đề cập đến với nội dung như sau: “trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái sẽ điều chỉnh để loại trừ những khác biệt về tỷ lệ lạm phát giữa các nước có quan hệ thương mại với nhau nhằm duy trì sự cân bằng cán cân thanh toán” Như vậy, khi chỉ số lạm phát tăng lên, giá cả hàng hóa tăng, đồng nghĩa với giá trị đồng nội tệ giảm Đồng tiền trong nước sẽ mất giá so với ngoại tệ, hay nói cách khác
tỷ giá hối đoái lúc này tăng (một đồng USD phải dùng nhiều đồng VND hơn để quy đổi)
Do giá của hàng hóa rẻ hơn so với nước ngoài, cơ hội cạnh tranh về giá cho các mặt hàng xuất khẩu sẽ gia tăng Ngược lại, sự sụt giảm của tỷ lệ lạm phát làm cho đồng tiền nội địa tăng giá (tỷ giá hối đoái giảm), gây tác động tiêu cực đến xuất khẩu Như vậy, lạm
Trang 36phát và tỷ giá hối đoái có mối tương quan cùng chiều nhau, và gây tác động cộng hưởng lên hoạt động xuất khẩu
- Như đã phân tích ở phần “Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo”, lãi suất danh nghĩa tác động gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu thông qua các nhân tố tỷ giá hối đoái và lạm phát Vì vậy, ở đây ta không tiếp tục xem xét sự cộng hưởng hoặc
bù trừ ở hai cặp nhân tố này
Mặt khác, chiều tác động ngược lại từ kim ngạch xuất khẩu gạo lên các yếu lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất cũng có khả năng xảy ra, nếu nó chiếm trọng số đủ lớn Đối với lãi suất: Như chúng ta biết lãi suất thường là công cụ để điều chỉnh nền kinh
tế, và các lý thuyết hầu như chỉ đề cập đến yếu tố kỳ vọng, hoặc cung - cầu tiền tác động đến lãi suất Vì vậy trong mối quan hệ này, ta có thể giải thích như sau: xuất khẩu giảm làm giảm nguồn thu ngoại tệ, hay nói cách khác nguồn cung ngoại tệ giảm so với đồng nội tệ dẫn đến một sự tăng giá của đồng ngoại tệ (tỷ giá, lạm phát tăng) Khi các chỉ số kinh tế biến động vượt ngưỡng cho phép dẫn đến NHNN phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi để làm giảm sự mất giá của đồng nội tệ Ngược lại, xuất khẩu phát triển giúp cho quốc gia thu được nhiều ngoại tệ hơn, lại làm cho tỷ giá và lạm phát có chiều hướng giảm đi Trong những trường hợp cần thiết, lãi suất sẽ được điều chỉnh giảm để kích thích nền kinh tế tăng trưởng
Đối với tỷ giá hối đoái: Kim ngạch xuất khẩu liên quan trực tiếp đến tài khoản vãng lai, gây ra tác động ngược lại đến tỷ giá như sau: Khi kim ngạch xuất khẩu giảm kéo theo sự sụt giảm nguồn thu ngoại tệ, và thâm hụt tài khoản vãng lai Các khoản vay nợ nước ngoài sẽ tăng để tài trợ thâm hụt, dẫn đến nhu cầu mạnh mẽ về đồng ngoại tệ thanh toán cho các giao dịch này Đồng ngoại tệ tăng giá sẽ dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng Cũng như luận giải trên, tỷ giá hối đoái sẽ có chiều hướng giảm do cung ngoại tệ tăng ở trường hợp xuất khẩu tăng
Đối với lạm phát: Mối quan hệ giữa lạm phát và xuất khẩu vẫn chưa được khai thác nhiều trong các nghiên cứu thực nghiệm Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, xuất khẩu giảm có thể làm cho đồng tiền nội địa bị mất giá so với ngoại tệ dẫn đến nguy cơ lạm
Trang 37phát tăng Trong khi đó, khi xuất khẩu mở rộng đem lại lượng ngoại tệ dồi dào lại làm giảm lạm phát
Tóm tắt chương 2
Chương 2 của luận văn trình bày hai nội dung chính:
Những lý thuyết liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế Trong đó, đi sâu vào nghiên cứu chủ yếu các vấn đề liên quan đến hoạt động xuất khẩu, những yếu tố vĩ mô tác động đến hoạt động này (theo hướng riêng lẻ và theo hướng tương tác lẫn nhau) Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài được xem xét để làm căn cứ thực hiện mô hình nghiên cứu cho đề tài
Trang 38CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Việc nghiên cứu được tiến hành tuần tự qua các bước sau:
Trang 393.1.1 Kiểm định tính dừng
Rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng hầu như tất cả các chuỗi thời gian đều không có tính dừng (chỉ xoay quanh giá trị trung bình của chuỗi) vì nó luôn ảnh hưởng bởi xu thế Việc đưa các biến không có tính dừng vào mô hình nghiên cứu có thể sẽ dẫn đến hiện tượng hồi quy giả mạo, gây sai lệch kết quả ước lượng (Gurajati,1995) Kiểm định trong nghiên cứu này được sử dụng để xem xét tính dừng ở các biến trước khi thực hiện mô hình
Giả thuyết đặt ra khi kiểm định cho mỗi chuỗi là:
Ngược lại, t < DF, chuỗi thời gian không tính dừng
Bên cạnh đó, do hầu hết các dữ liệu kinh tế đều mang tính xu hướng, tác giả sẽ sử dụng thêm kiểm định KPSS để tăng độ tin cậy với giả thuyết H0 là chuỗi dữ liệu kiểm định có tính dừng
3.1.2 Lựa chọn độ trễ tối ưu
Độ trễ tối ưu là thông tin vô cùng cần thiết để ước lượng cho mô hình VAR Nếu
độ trễ quá lớn dẫn đến các tham số cần ước lượng nhiều, khi đó đòi hỏi kích thước mẫu phải đảm bảo đủ lớn Nếu độ trễ quá nhỏ có thể mô hình sẽ bỏ sót những biến có ý nghĩa
Độ trễ tối ưu được lựa chọn dựa trên các tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC), tiêu chuẩn thông tin Schwarz (SC) và tiêu chuẩn thông tin Hannan Qiunn (HQ) Độ trễ nào làm cho các thống kê nói trên nhận giá trị nhỏ nhất thì được xem là độ trễ tối ưu của mô hình
Độ trễ tối đa được lựa chọn có thể thông qua tần suất của số quan sát Theo Brooks (2014), các số độ trễ tối đa có thể đề xuất theo tháng, quý, năm lần lượt là 12, 4, 2 Vì
Trang 40vậy, việc lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình nghiên cứu được tác giả tiến hành bằng cách
sử dụng phương pháp VAR lag Order Selection Criteria, với độ trễ tối đa là 12
3.1.3 Kiểm định tính đồng liên kết
Kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến số là một bước quan trọng để xác định
mô hình phù hợp khi ước lượng các chuỗi dữ liệu thời gian Dựa vào hạng của ma trận hay số lượng đồng liên kết (r) sẽ quyết định ta nên sử dụng mô hình VAR hay VECM Với k biến số trong phương trình ta có:
Hạng của phương trình (r) Ý nghĩa
r = k Tất cả các biến đều dừng ở chuỗi gốc I(0)
Mô hình VECM là không cần thiết, và VAR sẽ là lựa chọn phù hợp để ước lượng
r = 0 Tất cả các biến đều dừng ở cùng bậc sai phân I(1), và
không tồn tại đồng liên kết
Do không có mối quan hệ dài hạn giữa các biến, nên ta chỉ ước lượng được theo VAR
0 < r ≤ k-1 Tồn tại r vecto đồng liên kết (tồn tại mối quan hệ dài
hạn giữa các biến)
VECM là lựa chọn phù hợp để ước lượng
Như vậy, ngoại trừ trường hợp r = k (các biến dừng ở nguyên phân), ta đều tiến hành kiểm định đồng liên kết để xác định mô hình phù hợp thông qua 5 loại mô hình VECM điển hình Do mô hình VECM được xây dựng dựa trên nền tảng mô hình VAR (thể hiện các mối quan hệ ngắn hạn), và điều chỉnh thêm phần cân bằng dài hạn thông qua hệ số đồng liên kết CE Vì vậy, để xác định mối quan hệ dài hạn (hay tính đồng liên kết) giữa các biến, ta tiến hành bởi kiểm định Jonhansen, theo nguyên tắc Pantula thông qua việc xem xét 5 mô hình cụ thể như sau:
Mô hình 1: Không có tính dừng hoặc xu thế ở phần CE hoặc VAR
Mô hình 2: Có tính dừng không xu thế ở phần CE, và không có tính dừng hoặc xu thế ở VAR