Chính vì tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc mở rộng cho vay đốivới DNNVV không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với cả cácDNNVV và toàn bộ nền kinh tế, nên sau thời gian
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà toàn cầu hoá đang trở thànhmột xu hướng tất yếu và hội nhập quốc tế là tất yếu khách quan có tính quyluật Cùng hoà nhịp với xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã có nhữngchuyển biến tích cực được đánh dấu bằng sự kiện gia nhập WTO Điều đó đãđem lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng đặt ra nhiềuthách thức Để vượt qua những thách thức đó, chúng ta phải phát huy nhữnglợi thế của mình và khai thác tốt những tiềm năng vốn có Một trong nhữngtiềm năng đó chính là các DNNVV, lực lượng đóng vai trò quan trọng trongviệc giải quyết vấn đề mà quốc gia nào cũng phải quan tâm đó là tăng trưởngkinh tế, giải quyết công ăn việc làm và hạn chế lạm phát Nhận thức được
điều đó, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “ Phát triển DNNVV là nhiệm
vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…”( Nghị định số 56/2009/NĐ – CP ngày
30/06/2009 của chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV)
Song trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, DNNVV vẫn gặpkhông ít khó khăn, mà điển hình là trở ngại về việc tiếp cận nguồn vốn để đầu
tư, mở rộng sản xuất kinh doanh
Nhận thức rõ được vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế, nắm bắtđược chủ trương của Đảng và nhà nước, đồng thời nhận ra cơ hội kinh doanh
từ loại hình DN có tiềm năng lớn này, trong những năm qua ngân hàng đã xácđịnh đây là nhóm khách hàng mục tiêu và chú trọng đến việc mở rộng chovay đối với DNNVV Hoạt động cho vay DNNVV đã đạt được những thànhquả nhất định , tuy nhiên do vấp phải những trở ngại từ điều kiện khách quan
và một số hạn chế của bản thân ngân hàng nên ngân hàng vẫn chưa đạt đượcmục tiêu đề ra
Trang 2Chính vì tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc mở rộng cho vay đốivới DNNVV không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với cả cácDNNVV và toàn bộ nền kinh tế, nên sau thời gian thực tập ở NHNN&PTNT
chi nhánh Kim Bôi – Hòa Bình em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Kim Bôi – Hòa Bình” làm đề tài khóa luận của mình.
2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằmnâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạicác ngân hàng trong thời điểm kinh tế khó khăn như hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi của đề tài.
Đối tượng: Chất lượng cho vay ngắn đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa
của ngân hàng thương mại
Phạm vi: Ngân hàng TMCP Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi
nhánh Kim Bôi- Hòa Bình, giai đoạn 2010 - 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết chủ yếu được nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứukhoa học, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, chọn lọc các tài liệu, sáchbáo, website của các ngân hàng, kết hợp với tìm hiểu thực tế tại ngân hàngNo&PTNT Kim Bôi, đồng thời tham khảo các ý kiến của lãnh đạo ngân hàng
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài tài liệu tham khảo, khóaluận được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chất lượnghoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại
Trang 3Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Kim Bôi – Hòa Bình
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tạiNgân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Kim Bôi
Trang 4CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Định nghĩa hạt động cho vay của NHTM
Căn cứ vào khoản 16 điều 4 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quyđịnh:
“ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Như vậy, cho vay là hoạt động thông qua sự thỏa thuận
giữa bên đi vay và bên cho vay dựa trên các phương án sản xuất kinh doanhhoặc dự án kinh doanh do bên đi vay trình cho bên cho vay, bên cạnh đó cáckhoản vay còn được đảm bảo bằng tài sản của bên đi vay Các khoản vay nàychứa đựng những rủi ro vì chúng xuất hiện trước khi diễn ra các hành vithương mại của bên đi vay, vì thế chúng phải đảm bảo theo 2 nguyên tắc cơbản sau:
Thứ nhất, tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích trong hợp đồng
tín dụng
Thứ hai, tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi.
1.1.2 Phân loại hoạt động cho vay
Cho vay có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức sao cho phù hợpvới tính chất, đặc điểm của nhu cầu vay và việc quản lý cho vay của ngânhàng Có một số cách chủ yếu để phân loại cho vay như sau:
Trang 51.1.2.1 Theo đối tượng khách hàng
Theo đối tượng khách hàng, cho vay được phân chia thành:
- Cho vay Chính phủ: Là hoạt động cho vay đối với Nhà nước để tài trợ
cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên Cho vay Chính phủ thường thể hiện bằngviệc Ngân hàng mua trái phiếu do Kho bạc phát hành
- Cho vay các tổ chức kinh tế: Là hoạt động cho vay đối với các doanh
nghiệp, công ty nhằm tài trợ cho các nhu cầu vốn để kinh doanh Cho vay tổchức kinh tế được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau phù hợp vớitừng nhu cầu vốn cụ thể
- Cho vay các tổ chức tài chính khác (ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín dụng…): Là hoạt động cho vay chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thanh
khoản hoặc thanh toán liên ngân hàng
- Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá
nhân – người tiêu dùng với các mục đích mua sắm tài sản, tiêu dùng hoặckinh doanh
1.1.2.2 Theo mục đích sử dụng vốn vay
Theo mục đích vốn vay được sử dụng, cho vay bao gồm:
- Cho vay kinh doanh: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng
cho mục đích kinh doanh Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cánhân, các hộ gia đình hoặc các tổ chức kinh tế, trong đó chủ yếu là các tổchức kinh tế
- Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng
cho mục đích tiêu dùng Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân (vay
để mua tài sản) và Chính phủ (vay cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên)
1.1.2.3 Theo phương thức cho vay
Về phương thức, cho vay có thể bao gồm các loại chính như sau:
- Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay đối với các khách hàng
không có nhu cầu vay thường xuyên, chỉ khi vào thời vụ kinh doanh hay mở
Trang 6rộng sản xuất mới xin vay Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng lại thựchiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân
hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức về số dư trong suốt kỳ hoặc số
dư cuối kỳ Đây là hình thức cho vay phù hợp đối với khách hàng vay mượnthường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinhdoanh
- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả
thuận tài trợ dựa trên kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và ngân quỹ của kháchhàng Hình thức này phù hợp với các doanh nghiệp thương mại hoặc doanhnghiệp sản xuất, kinh doanh có chu kỳ tiêu thụ sản phẩm ngắn
- Cho vay trả góp: Là phương thức cho vay trong đó ngân hàng trả gốc
thành nhiều lần trong thời hạn đã thoả thuận Phương thức này thường được
áp dụng đối với vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định
- Cho vay thấu chi: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận
bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền trên tài khoản tiềngửi thanh toán của mình trong một thời hạn nhất định (gọi là hạn mức thấuchi) và trong một khoảng thời gian xác định
Ngoài ra, còn có nhiều phương thức cho vay khác như: cho vay theo dự
án đầu tư, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay hợp vốn, chovay qua việc phát hành thẻ tín dụng…
1.1.2.4 Theo thời hạn
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắtđầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã đượcthoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
Ngân hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn cho vay căn cứ vào nhucầu vốn, chu kỳ sản xuất – kinh doanh của khách hàng, thời hạn thu hồi vốncủa dự án/phương án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốnvay của ngân hàng
Trang 7Theo thời hạn, cho vay được phân loại thành:
- Cho vay không có thời hạn: Là hình thức cho vay mà việc vay – hoàn
trả của khách hàng là thường xuyên, theo kế hoạch luân chuyển hàng hoá và
kế hoạch doanh thu của khách hàng, không xác định cụ thể thời điểm trả nợtrên hợp đồng tín dụng
- Cho vay có thời hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn thu hồi nợ
được xác định cụ thẻ trong hợp đồng tín dụng Cho vay có thời hạn được phânchia thành:
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay dưới 12tháng
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ trên
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp chỉ giới hạn phạm
vi nghiên cứu là hình thức cho vay ngắn hạn
1.1.2.5 Các căn cứ khác
Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản
Là việc cho vay mà ngân hàng yêu cầu người vay phải có tài sản hợppháp đảm bảo cho khoản vay Tài sản này chính là nguồn thu nợ cuối cùngcủa ngân hàng Đó có thể là tài sản để thế chấp hoặc cầm cố
- Cho vay không có tài sản đảm bảo
Là việc cho vay mà ngân hàng không yêu cầu người vay phải có tàisản làm vật đảm bảo Đây chính là hình thức cho vay đảm bảo bằng uy tín,chủ yếu chỉ áp dụng cho các khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, làm
ăn có lãi Cũng có thể đó là các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ, các
Trang 8khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn trong thờihạn ngắn mà ngân hàng có thể giám sát việc sinh lợi và khả năng trả nợ củadoanh nghiệp.
Sự phân loại cho vay trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực
tế, bao hàm trong loại cho vay này có thể là các loại cho vay khác Chẳng hạn,cho vay theo thời hạn ngắn (ngắn hạn) có thể theo phương thức cho vay từnglần, hoặc có thể là cho vay theo hạn mức
1.2 T NG QUAN V HO T Đ NG CHO VAY NG N H N C A NGÂN HÀNG Ổ Ề Ạ Ộ Ắ Ạ Ủ
TH ƯƠ NG M I Đ I V I DOANH NGHI P NH VÀ Ạ Ố Ớ Ệ Ỏ
1.2.1 Khái quát chung DNV&N
1.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thuật ngữ DNV&N ở các nước Phương tây được viết tắt là SME –Small and Medium Enterprise, được hiểu là những doanh nghiệp có quy môtương đối nhỏ Nhưng để xác định được quy mô như thế nào là nhỏ hay lớnthì còn phải xem xét và tình hình kinh tế, việc làm và tính chất nền kinh tế củanước đó Các tiêu thức chủ yếu để xác định DNNVV là số lao động được sửdụng thường xuyên, tổng số vốn được huy động vào sản xuất kinh doanh, giátrị của tài sản cố định,…Thực tế thì ở các nền kinh tế khác nhau các tiêu thứcnày cũng được đánh giá ở những mức độ khác nhau
Tại Nhật Bản, trong khu vực sản xuất thì DNNVV là doanh nghiệp códưới 300 lao động và 1 triệu USD vốn đầu tư Trong khu vực thương mại vàdịch vụ, DNNVV là doanh nghiệp có dưới 100 lao động và 300000 USD vốnđầu tư
Tại Philippin, DNNVV là doanh nghiệp có vốn đầu tư từ 1,5 đến 60triệu Peso
Tại Đài Loan, DNNVV là doanh nghiệp có vốn đầu tư dưới 40 triệu đô
la Đài Loan, số lao động thường xuyên dưới 300 người đối với doanh nghiệp
Trang 9hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng còn dưới 500 người tronglĩnh vực khai khoáng.
Tại Việt Nam, Doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở kinhdoanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành bacấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tươngđương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanhnghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên),theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng,doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động là 10 người trở xuống,doanh nghiệp nhỏ có tổng số vốn từ 20 triệuđồng trở xuống và có số lượnglao động từ 10 người đến dưới 200 người, doanh nghiệp vừa có tổng số vốn từtrên 20 triệuđồng đến 100 triệuđồng và có số lượng lao động từ trên 200người đến 300 người
Trong khu vực thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanhnghiệp có số lao động là 10 người trở xuống, doanh nghiệp nhỏ có tổng sốvốn từ 10 triệuđồng trở xuống và có số lượng lao động từ 10 người đến dưới
50 người, doanh nghiệp vừa có tổng số vốn từ trên 10 triệuđồng đến 50triệuđồng và có số lượng lao động từ trên 50 người đến 100 người
1.2.1.2 Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đặc điểm của DNNVV xuất phát trước hết từ quy mô vốn của doanhnghiệp đó và ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách phát triển củadoanh nghiệp Mặc dù có sự tương đồng về các tiêu thức đánh giá với cácquốc gia trên thế giới nhưng đặc thù của nền kinh tế nước ta là xuất phát điểmthấp từ sản xuất thuần nông, và từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyểnsang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên có nhiều ảnhhưởng tới việc hình thành các đặc điểm của DNNVV Và trong bối cảnh đó,
Trang 10DNNVV đã và đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt Sở dĩ các DNNVV
có thể phát triển nhanh về mặt số lượng, chất lượng bởi vì nó mang những ưuđiểm như sau :
Thứ nhất, khả năng linh hoạt, năng động trong hoạt động sản xuất kinh
doanh
Với một cơ cấu tổ chức, bộ máy sản xuất và quản lý gọn nhẹ nên cácquyết định được đưa ra một cách nhanh chóng và thống nhất, tiết kiệm chi phíhành chính, tăng doanh thu cho doanh nghiệp Cũng nhờ vậy mà doanhnghiệp có thể điều chỉnh một cách nhanh chóng mục tiêu, chiến lược, và triểnkhai nhanh quá trình từ quyết định sang hành động Do đó, DNNVV thíchnghi một cách nhanh chóng với sự thay đổi nhu cầu của thị trường, với cácđiều kiện kinh doanh, tham gia vào cả những lĩnh vực mà các doanh nghiệplớn vẫn e ngại Trước sự biến đổi về nhu cầu của thị trường, các DNNVV rấtlinh động, mạnh dạn đầu tư sản xuất, cải tiến sản phẩm với mức chi phí bổsung không cao, đáp ứng đầy đủ với giá cả hợp lý cho mọi nhu cầu dù là nhỏnhất của xã hội
Thứ hai, các DNNVV hoạt động đa dạng ở mọi ngành nghề, mọi lĩnh
vực kinh tế
Như đã nói ở trên, DNNVV chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp cảnước, điều đó chứng tỏ DNNVV có mặt trong hầu hết mọi thành phần kinh tếvới nhiều loại hình doanh nghiệp, từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp vàcác công ty tư nhân, đến hợp tác xã,…DNNVV hoạt động trong mọi lĩnh vựckinh tế nhưng vẫn tập trung chủ yếu trong 3 lĩnh vực chính là công nghiệp-xây dựng, thương mại- dịch vụ, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách
Thứ ba, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu không lớn, khả năng thu hồi
vốn nhanh
Để thành lập một DNNVV chỉ cần một số vốn ban đầu tương đối thấp,mặt bằng sản xuất nhỏ, quy mô nhà xưởng không lớn Khả năng thu hồi vốn
Trang 11nhanh chóng sẽ giúp tăng tốc độ quay vòng vốn, đầu tư vào nhà xưởng, đổimới công nghệ,…
Thứ tư, DNNVV đang được hỗ trợ và hưởng nhiều ưu đãi từ phía nhà
nước và chính phủ Xác định tầm quan trọng của DNNVV trong nền kinh tếquốc dân, trong những năm gần đây, nhà nuớc và chính phủ đã đưa ra nhiềuchính sách nhằm phát huy tối đa hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng nhưsức mạnh tiềm ẩn của DNV&N Đó là sự trợ giúp về tài chính, mặt bằng sảnxuất, đổi mới nâng cao năng lực công nghệ, cũng như xúc tiến mở rộng thịtrường,…Đi từ các quy định trong các văn bản pháp luật như Nghị định số56/2009 về trợ giúp Doanh nghiệp nhỏ và vừa đến các hành động cụ thể nhưgói hỗ trợ kích cầu, tiếp cận vốn vay, các chương trình hội chợ xúc tiếnthương mại cũng như giảm bớt phiền hà trong thủ tục hành chính
Tuy nhiên, bên cạnh đó Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn có nhiều nhượcđiểm:
Thứ nhất, đa số các Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trong tình trạng thiếu
cơ phải ngừng sản xuất, giải thể, phá sản cao Tính đến tháng 31/12/2012,theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, có đến 55.000 doanhnghiệp phá sản, giải thể, ngừng nộp thuế, trong đó chủ yếu là Doanh nghiệp
Trang 12nhỏ và vừa Đây chính là nhược điểm lớn nhất của DNNVV mà nguyên nhânchính là không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng, trong khi không tự huyđộng được nên khi Chính phủ chủ trương thắt chặt tín dụng, tất yếu gặp khókhăn.
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực của DNNVV tương đối thấp
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong thời kì cạnh tranhgay gắt như hiện nay thì phải có đội ngũ lao động có tay nghề và trình độchuyên môn cao Tuy nhiên, do thiếu vốn đầu tư vào công nghệ- máy mócnên hầu hết các DNNVV tận dụng nguồn lao động phổ thông để thay thế.Hơn nữa, do xuất phát hầu hết từ thành phần kinh tế tư nhân nên người quản
lý doanh nghiệp cũng thường là người trực tiếp tham gia vào sản xuất, mức độchuyên môn hóa trong quản lý không cao Phần lớn các chủ doanh nghiệp đềuchưa qua một khóa đào tạo quản lý chính quy nào, năng lực quản lý bị hạnchế rất lớn
Thứ ba, trình độ công nghệ- khoa học còn hạn chế
Trước hết là do thiếu vốn và tu duy sản xuất nhỏ giọt, các DNNVVkhông thể đầu tư hợp lý để thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc,phương pháp sản xuất mà mỗi năm mua một ít, vừa làm vừa cải tiến Hậu quả
là công nghệ được sử dụng là một mớ chắp vá, hỗn độn Để thành công trong
sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp phảithường xuyên Tuy nhiên không chỉ có mỗi DNNVV mà hầu hết các doanhnghiệp Việt Nam đều sử dụng công nghệ lạc hậu so với thế giới Một sốdoanh nghiệp do thiếu thông tin, kinh nghiệm dẫn đến bị lừa đảo khi mua báncông nghệ với các doanh nghiệp nước ngoài
Thứ tư, sức cạnh tranh và tiếp cận thị trường còn thấp
Hiện nay, các DNNVV Việt Nam đã có nhiều bước tiến mới, phát triểnnhanh về số lượng lẫn chất lượng Tuy nhiên, vì những nhược điểm đã nêutrên, các doanh nghiệp khó mà áp dụng ngay các tiêu chuẩn quốc tế khắt khevào sản phẩm của mình Các doanh nghiệp cũng hầu hết không nắm được
Trang 13thông tin về các sản phẩm cùng loại với mình trên thế giới Do đó, DNNVVrất khó để tiếp cận với thị trường bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh củamình.
Ngay cả thị trường trong nước, DNNVV cũng khó tiếp cận với nhu cầucủa người tiêu dùng Đó là hậu quả của việc nghiên cứu thị trường còn nhiềuhạn chế, nhiều thị trường tiềm năng được phát hiện nhưng không có cách khaithác hợp lý Mặc dù cũng có doanh nghiệp ý thức được vai trò quan trọng củaviệc nghiên cứu thị trường, tuy nhiên năng lực tài chính hạn chế, năng lựcphân tích và xử lý thông tin của nhân viên còn yếu kém nên hiệu quả củanghiên cứu thị trường chưa đạt được hiệu quả cao
1.2.1.3 Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế quốc dân
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung đều có vaitrò quan trọng trong nền kinh tế
Góp phần tăng trưởng - ổn định nền kinh tế: Theo thống kê của Hiệphội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tính đến thàng 31/12/2012, trong gần 500.000
DN đăng ký hoạt động theo luật doanh nghiệp của nước ta thì có tới 98% làDNNVV Mỗi doanh nghiệp tách riêng thì không lớn, nhưng tổng thể cácDNNVV là không hề nhỏ khi xét về nhiều phương diện, từ tạo công ăn việclàm, thu hút nhiều lao động, xóa đói giảm nghèo, sản xuất ra khoảng 40%hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu… Hầu hết ở các quốc gia các Doanh nghiệpnhỏ và vừa thường đóng góp khoảng 20 -50% thu nhập quốc dân Một khíacạnh khác là các doanh nghiệp này chủ yếu phục vụ cho thị trường nội địa,hoạt động dựa trên nguồn lực, phát triển các công nghệ và kỹ năng trongnước, điều này có ý nghĩa đòn bẩy giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảmthiểu gánh nặng từ những tiêu cực xã hội Hơn nữa, ở phần lớn các nền kinh
tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệplớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế
Trang 14có được sự ổn định Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảmsốc cho nền kinh tế.
Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy
mô kinh doanh gọn nhẹ, vốn nhỏ, Doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều khảnăng chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với nhu cầu thị trường mà ít gâybiến động lớn, ít chịu ảnh hưởng và có khả năng phục hồi nhanh sau nhữngcuộc khủng hoảng kinh tế trên góc độ kinh tế quốc gia Số lượng loại hìnhdoanh nghiệp này gia tăng sẽ góp phần tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thúcđẩy phát triển ý tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các nền kinh
tế trong và ngoài khu vực
Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: Doanhnghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết đượcdùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thườngđặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì Doanh nghiệp nhỏ vàvừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vàothu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương
Tạo việc làm cho người lao động: trong báo cáo của Ngân hàng Thếgiới, mức độ sử dụng lao động của các doanh nghiệp nhỏ tăng gấp 4-10 lần,thu hút nhiều lao động Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam, mộtnước có số dân hơn 80 triệu, nguồn lao động vẫn tăng liên tục và sức ép dân
số tạo ra hiện tượng di cư vào đô thị gây ra những khó khăn không nhỏ về xãhội, giải quyết việc làm là một nhu cầu bức bách
Thực tế cho thấy, các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội sản xuấtnhiều loại hàng hóa, đa dạng phù hợp với quy mô và dung lượng thị trườngphân tán, có khả năng giải quyết công ăn việc làm tại chỗ, khai thác cácnguồn nguyên liệu địa phương, đóng góp đáng kể trong quá trình phân bổthích hợp cho lực lượng lao động đặc biệt là lao động nông nhàn, giảm bớtkhoảng cách chênh lệch giữa các khu vực, góp phần thúc đẩy việc chuyển
Trang 15dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngoài ra, sựphát triển của loại hình doanh nghiệp còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhchuyên môn hóa và đa dạng hóa các ngành nghề, duy trì và phát triển cácnghề thủ công truyền thống giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời gópphần xây dựng và rèn luyện một lực lượng trẻ mới có năng lực và khả năngthích ứng nhanh với nền kinh tế thị trường.
1.2.2 Khái niệm và phân loại cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.2.1 Khái niệm cho vay ngắn hạn
Như đã phân tích ở trên, cho vay ngắn hạn là hình thức cấp tín dụng cóthời hạn hợp đồng dưới 1 năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thườngxuyên như mua nguyên liệu, trả lương cho nhân viên, dự trữ hàng hóa,…
Cho vay ngắn hạn là một trong những hình thức cấp tín dụng phổ biếnnhất của các ngân hàng thương mại Các khoản cho vay này mang ít rủi rohơn về lãi suất cũng như khả năng thanh toán Ngoài những đặc trưng chung
là tính hoàn trả, tính thời hạn và dựa trên cơ sở lòng tin thì CVNH còn mangnhững đặc điểm riêng nhất của mình :
Thứ nhất, CVNH có thời gian thu hồi vốn nhanh, mang ít rủi ro hơn so
với cho vay trung và dài hạn, vì thế lãi suất cho vay cũng thấp hơn so với hailoại hình còn lại
Thứ hai, đây là hình thức cho vay phổ biến và truyền thống của NHTM,
ngân hàng hoạt động trên cơ sở nhận tiền gửi và đi vay để cho vay Cáckhoản đi vay và nhận tiền gửi chủ yếu là ngắn hạn nên vì mục tiêu an toàn vàsinh lợi thì các NHTM chưng chủ yếu cho vay ngắn hạn Mặt khác, theo quyđịnh thì NHTM chỉ được phép chuyển một tỉ lệ nhất định tiền gửi ngắn hạn đểcho vay dài hạn (hiện nay triệulệ này là 30%, trước đây là 40%) Mặc dù thịtruờng tài chính và hoạt động tín dụng của các NHTM đã có nhiều bước phát
Trang 16triển nhưng CVNH vẫn chiếm Tỷ trọng lớn và mang vai trò hết sức quantrọng.
Thứ ba, các hình thức CVNH ngày càng phong phú Nhu cầu khách
hàng ngày càng đa dạng, số lượng NHTM cũng không ngừng gia tăng nênviệc các NHTM đua nhau cải tiến và đổi mới dịch vụ là điều tất yếu Có thếkhái quát các hình thức CVNH bao gồm : vay thấu chi, cho vay từng lần, chovay theo hạn mức, cho vay luân chuyển
Thứ tư, CVNH đáp ứng nhu cầu vốn thời vụ cũng như nhu cầu tài trợ
ngắn hạn thường xuyên cho doanh nghiệp CVNH chủ yếu đáp ứng nhu cầuvốn thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh do sự lệch pha của chu trìnhluân chuyển tiền tệ Khách hàng thường vay khi bắt đầu bước vào sản xuất vàthanh toán cho ngân hàng khi kết thúc kì sản xuất đó Bởi vậy, thời hạn chovay chỉ là một chu kỳ sản xuất
1.2.2.2Các phương thức cho vay ngắn hạn
a Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vayđược chi trội trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định
và trong một khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mứcthấu chi
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi
và thời hạn thấu chi, có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng Trong quátrình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượtquá số dư tiền gửi để chi trả nhưng vẫn nằm trong hạn mức thấu chi Khikhách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi
Số lãi mà khách hàng phải trả căn cứ trên: lãi suất thấu chi, thời gian thấu chi
và số tiền thấu chi
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp vềthời gian và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự
Trang 17đoán ngân quĩ song không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điềukiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản.phần lớn là không có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhânvài ngày trong tháng vài tháng trong năm dùng để chi lương, chi các khoảnphải nộp, mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với cáckhách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn
b Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến củangân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không cóđiều kiện để được cấp hạn mức thấu chi Các khách hàng này sử dụng vốnchủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay
mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉtham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh
Đặc điểm của hình thức CVNH này là khách hàng xin vay món nào thìphải làm hồ sơ xin vay cho món đó Mỗi món vay được tách biệt nhau thànhcác hồ sơ khác nhau Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngânhàng phương án sử dụng vốn vay Cán bộ tín dụng sẽ phân tích khách hàng và
kí hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạntrả nợ, lãi suất và các điều kiện bảo đảm nếu cần
Số lượng cho vay = Nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh - Vốn chủ sởhữu tham gia – Các nguồn vốn khác tham gia
Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trongquá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích vàhiệu quả sử dụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng có thểthu hồi nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn Lãi suất có thể cố định hoặcthả nổi theo thời điểm tính lãi
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản Ngân hàng có thể kiểmsoát từng món vay tách biệt và chủ động trong việc sử dụng vốn Tuy nhiên,
Trang 18hình thức này có nhiều nhược điểm là thủ tục phức tạp, tốn thời gian, chi phícho cả nguời đi vay và ngân hàng.
c Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho kháchhàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì
Đó là số dư tính tại thời điểm tính
Đặc điểm cơ bản của hình thức này là một hồ sơ xin vay có thể dùngcho nhiều món vay Trong kì, khách hàng có thể vay trả nhiều lần, chỉ cầnkhông vượt quá hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kếhoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.Ngân hàng ước lượng các hạn mức tín dụng đối với các doanh nghiệp căn cứvào phương án sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỉ lệcho vay tối đa trên tổng giá trị tài sản đảm bảo, khả năng nguồn vốn của ngânhàng
Trong kì, khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợkhông được vượt quá hạn mức tín dụng Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trìnhbày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hànghoá hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp vàhợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng Có một sốtrường hợp, ngân hàng quy định hạn mức cuối kì, tức là trong kì khách hàng
có thể chi quá hạn mức nhưng đến cuối kì, khách hàng phải trả nợ để dư nợcuối kì không được vượt quá hạn mức
Hình thức cho vay theo hạn mức thuận tiện cho những khách hàng vaymượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuấtkinh doanh Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ.Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản língân quỹ cho khách hàng Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các
kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả của từng lần vay
Trang 19Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tàichính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
d Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển củahàng hoá Khi doanh nghiệp mua hàng có thể bị thiếu vốn, ngân hàng sẽ chovay để mua hàng và sẽ thu nợ khi bán hàng Đầu năm hoặc quí, người vayphải làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng và khách hàng thoả thuận vớinhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá vàkhả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận trong 1 năm hoặcvài năm Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xemxét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định cho vay nữa hay không tuỳmối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình tài chính củakhách hàng
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫndoanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoándòng ngân quĩ trong thời gian tới
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọikhoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi đượctrích trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơnnhập hàng và số tiền cần vay Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán.Giá trị những hàng hoá mua vào là đối tượng được ngân hàng tài trợ và thunhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng Ngân hàng sẽ cho vaytheo triệulệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần củangười vay
Cho vay luân chuyển thường được áp dụng đối với các doanh nghiệpthương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, cóquan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng Cho vay luân chuyển rất thuậntiện cho các khách hàng Thủ tục cho vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều
Trang 20lần vay Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanhtoán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn Tuy nhiên, nhược điểm của nó là ngânhàng sẽ gặp khó khăn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõràng.
1.2.3 Sự cần thiết của cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp nhỏ và
vừa
1.2.3.1 Xuất phát từ nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nềnkinh tế thế giới như hiện nay, cho vay ngắn hạn đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung và DNV&N nói riêng
a Tăng cường quy mô vốn lưu động cho DNV&N, thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần đầu tư vốn vào tài sản lưuđộng và tài sản cố định Thông thường, nguồn vốn dài hạn và vốn chủ sở hữu
sẽ được dùng để đầu tư vào tài sản cố định, còn nguồn vốn ngắn hạn sẽ đượcđầu tư vào tài sản lưu động Như đã phân tích ở trên, DNNVV hầu như luôn ởtình trạng đói vốn Sự thiếu hụt vốn ngắn hạn là do sự chênh lệch giữa thờigian và doanh số giữa tiền bán hàng và tiền đầu tư vào tài sản lưu động hoặc
do nhu cầu thời vụ gia tăng quyết định Do đó, nhu cầu vốn ngắn hạn củaDNNVV có thể chia thành hai loại là nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên
và nhu cầu tài trợ thời vụ
Trước hết là nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên Do đặc điểm củaloại hình, DNNVV thường có chu kì sản xuất ngắn, vòng quay vốn nhanh, đòihỏi thường xuyên phải bổ sung vốn lưu động vượt qua khả năng vốn tự có củadoanh nghiệp Trong khi đó, hàng hóa sản xuất ra không phải lúc nào cũngtiêu thụ hết và được thanh toán tiền hàng ngay Bởi vậy, để hoạt động kinhdoanh được diễn ra liên tục và hiệu quả, DNNVV cần thông qua vốn vay ngắnhạn của ngân hàng để bổ sung vốn lưu động cho chính doanh nghiệp mình
Trang 21Doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn cũng chính là hình thức doanh nghiệp sửdụng nợ để tạo đòn bẩy tài chính Việc sử dụng nợ sẽ tiết kiệm được thuế chodoanh nghiệp vì chi phí lãi vay được khấu trừ trước thuế.
Ngoài nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên là nhu cầu tài trợ ngắnhạn thời vụ Nhu cầu thời vụ xuất phát từ đặc điểm thời vụ của doanh nghiệpkhiến nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến Đây chủ yếu là các doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng Nông- lâm- ngư nghiệp hoặc cácdoanh nghiệp sản xuất hàng may mặc Vay ngắn hạn giúp doanh nghiệp mởrộng qui mô vốn sản xuất, đồng thời duy trì một cơ cấu vốn hợp lý nhằm tối
đa giá trị vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
b Tạo động lực thúc đẩy các DNV&N sử dụng vốn có hiệu quả
Sau khi giải ngân bất cứ một món vay nào, để đảm bảo khả năng thuhồi gốc và lãi đúng thời hạn, các ngân hàng thường xuyên phải giám sát cáckhoản vay của doanh nghiệp Trong quá trình giám sát, các ngân hàng sẽ pháthiện được những nhược điểm cần khác phục của doanh nghiệp, giúp cácdoanh nghiệp xác định đúng phương hướng sản xuất nhằm hạn chế các rủi ro
có thể xảy ra Nhờ đó, vốn vay của doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả, thuđược lợi nhuận cao, kéo theo tăng quy mô vốn tự có, tạo điều kiện cho doanhnghiệp mở rộng sản xuất, hiện đại hóa công nghệ
1.2.3.2 Xuất phát từ mục tiêu quản lý của NHTM
Như đã phân tích ở trên, hoạt động cho vay ngắn hạn thường có lãisuất thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn Tuy nhiên, thời gian thu hồivốn ngắn, khả năng thu hồi vốn đúng hạn so với hai loại hình còn lại Lãi suấtcho vay trung và dài hạn thường cao hơn, nhưng đây thường tài trợ cho các
dự án, thời gian thu hồi vốn dài nên rủi ro cao hơn Hơn nữa, chi phí để ngânhàng huy động các khoản ngắn hạn và dài hạn cũng khác nhau, do vậy lợinhuận mang lại cũng hoàn toàn khác nhau Ngân hàng cần cân nhắc giữadoanh thu, chi phí, lợi nhuận để tạo ra cơ cấu thời hạn cho vay hợp lý Thờihạn cho vay còn ảnh hưởng tới tính thanh khoản của ngân hàng Thời gian
Trang 22cho vay càng dài thì tính thanh khoản càng thấp, tức là các khoản cho vaycàng có rủi ro Khi tăng cho vay ngắn hạn thì tính thanh khoản tăng, hoạtđộng của ngân hàng an toàn hơn.
Như vây, việc tài trợ ngắn hạn cho DNNVV mang lại lợi ích cho cả haiphía là doanh nghiệp và ngân hàng Về phía doanh nghiệp, việc cấp tín dụngngắn hạn của ngân hàng giúp họ bổ sung lượng vốn thiếu hụt, đảm bảo duy trì
và mở rộng sản xuất Về phía ngân hàng, góp phần làm tăng lợi nhuận cũngnhư làm tăng tính thanh khoản của ngân hàng đó
1.3 Chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa của ngân hàng thương mại
1.3.1 Quan niệm về chất lượng cho vay ngắn hạn
Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM, nómang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi
ro nhất Rủi ro được xem như là luôn có trong hoạt động kinh doanh nên cácnhà quản lý ngân hàng chỉ có thể ngăn ngừa, giảm bớt chứ không thể xóa bỏ
nó Do vậy, nâng cao chất lượng các khoản vay là mục tiêu hàng đầu của cácngân hàng
Chất lượng cho vay được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng( người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sự tồn tạiphát triển của ngân hàng Vì vậy chất lượng cho vay là một khái niệm vừ cụthể: Thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận, nợ quá hạn, rủi ro tín dụng (RRTD) vừamang tính trừu tượng : Thể hiện ở việc thu hút khách hàng, khả năng cạnhtranh Do đó ngân hàng nào hiểu được bản chất của chất lượng cho vay sẽ đạtđược kết quả cao trong hoạt động kinh doanh và đứng vững trong nền kinh tếthị trường
Chất lượng cho vay là một khái niệm vừa mang tính cụ thể vừa mangtính trừu tượng Chúng ta có thể sử dụng một số công thức và chỉ số cụ thể để
Trang 23lượng hoá chất lượng cho vay, tuy nhiên đối với những mặt không thể lượnghoá được thì sẽ sử dụng các chỉ tiêu định tính.
1.3.2 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cho vay ngắn hạn
1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
Nhóm chỉ tiêu này đánh giá chất lượng cho vay trên cơ sở pháp lý, việcdựa trên việc tuân thủ quy chế, quy trình nghiệp vụ và các bên pháp thực hiệnnghĩa vụ của mình như thế nào theo như cam kết trong hợp đồng cho vay
Trên cơ sở pháp lý, hoạt động cho vay ngắn hạn có chất lượng phải
chấp hành pháp luật của Nhà nước, cao nhất là Luật các tổ chức tín dụng, cácquy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước
và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Trên cơ sở quy chế cho vay của NHTM, hoạt động cho vay ngắn hạn có
chất lượng luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay Từnhững đặc điểm riêng có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu vàđưa ra các quy chế cho vay phù hợp nhất Cụ thể là các ngân hàng đưa ra cáckhái niệm, quy định, các quy trình và các hướng dẫn cụ thể dành cho các cán
bộ ngân hàng Các quy định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể chotừng trường hợp xin vay ở mỗi NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có chấtlượng Do vậy việc tuân thủ những quy trình là tiền đề của chất lượng chovay
Trên cơ sở hợp đồng cho vay, khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân
hàng và khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng Trong hợp đồng tíndụng sẽ quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích
sử dụng, số tiền vay, phương thức trả nợ, trả lãi và được thể hiện ở dạngnhững cam kết Một khoản vay được coi là có chất lượng khi nó được thựchiện đúng những cam kết đã kí trong hợp đồng tín dụng Nếu một khoản vay
mà ngay từ mục đích vay vốn khách hàng đã không tuân thủ theo đúng camkết thì khoản vay đó không được coi là có chất lượng Hoặc khoản vay mà
Trang 24không được hoàn trả đúng thời hạn, khách hàng khất lần nhiều lần thì cũngkhông đạt được chất lượng.
1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
Ngoài các chỉ tiêu định tính, người ta còn dựa vào các chỉ tiêu địnhlượng Các chỉ tiêu này nhằm đánh giá chất độ cho vay trên góc độ ngânhàng
a Chỉ tiêu phản ảnh quy mô cho vay và khả năng sinh lời của hoạt động cho vay ngắn hạn.
Dư nợ:
Phản ánh quy mô hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng, dư nợ
càng cao thì quy mô cho vay càng lớn, cho thấy hoạt động cho vay ngắn hạnđược mở rộng và uy tín của ngân hàng với doanh nghiệp cũng được nâng cao
b Nhóm chỉ tiêu về phản ánh rủi ro trong cho vay ngắn hạn đối với DNNVV
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, được sửa đổi bổ sung bằngquyết định 18/2007/QĐ-NHNN, tất cả các TCTD hoạt động tại Việt Nam phảithực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tíndụng, bù đắp những tổn thất với các khoản nợ của TCTD Theo quy định 493
Trang 25nợ được chia thành 5 nhóm : Nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêuchuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn.
Trong đó đáng chú ý là nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn
Nợ nghi ngờ là:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại;
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định 493 tại Khoản
3 và Khoản 4 Điều 6
Nợ có khả năng mất vốn
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời
hạn đã được cơ cấu lại;
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 vàKhoản 4 Điều 6
Chất lượng cho vay được đánh giá dựa trên những chỉ tiêu chủ yếu sau đây :
Nợ quá hạn:
Là khoản nợ mà khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ gốc và/ hoặclãi đã quá hạn Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xétchất lượng cho vay đối với ngân hàng
Triệulệ Nợ quá hạn / Dư nợ:
Dư nợ quá hạn
Triệulệ Nợ quá hạn = - x 100%
Tổng dư nợ
Trang 26Triệulệ nợ ngắn hạn quá cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn ngắn hạnkém, các NHTM sẽ rất khó khăn trong việc đảm bảo thanh toán, giảm thunhập, nếu quá cao sẽ dẫn đến mất tính thanh khoản Nếu triệulệ thấp, chứng tỏhoạt động cho vay của ngân hàng an toàn, mức độ rủi ro thấp, chất lượng chovay tăng.
Nợ xấu ngắn hạn: Nợ dưới tiêu chuẩn + Nợ nghi ngờ + Nợ có khả
năng mất vốn/Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng cho vay càng thấp, nhất là khitriệulệ nhóm 4 và 5 càng cao thì rủi ro mất vốn càng lớn Đồng thời nó thểhiện chất lượng thẩm định phương án kinh doanh kém, quan hệ khách hàngkhông tốt, hoạt động thu hồi nợ còn yếu
Mức độ tập trung tín dụng:
Là cơ cấu tín dụng tập trung quá vào một ngành, một lĩnh vực Tồn tạisong song với nó là Rủi ro tập trung hóa tín dụng, là bất kỳ một rủi ro đơn lẻnào hoặc nhóm các rủi ro có thể gây tổn thất đủ lớn để đe dọa sức khỏe hoặckhả năng chống đỡ của ngân hàng Do việc cho vay là hoạt động cơ bản củahầu hết các ngân hàng nên rủi ro tập trung hóa tín dụng là rủi ro cơ bản nhấttrong ngân hàng Các ngân hàng cần có dành sự quan tâm thích đáng chochúng trong chính sách nội bộ, các hệ thống và kiểm soát để nhận dạng, đolường, thanh tra và kiểm soát mức độ tập trung tín dụng Bởi vì khi nền kinh
tế gặp khó khăn hoặc chính ngành nghề đó, lĩnh vực đó có biến động xấu thìngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ không thu hồi được vốn và lãi, nguy hiểmhơn nếu mức độ tập trung quá cao sẽ dẫn đến mất tính thanh khoản Bởi vậy,
để nâng cao chất lượng cho vay thì các ngân hàng không nên “ Bỏ tất cả trứngvào một giỏ”
Lập dự phòng rủi ro:
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho nhữngtổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiệnnghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và dự
Trang 27phòng chung Theo đó, nếu dự phòng rủi ro được sử dụng hết thì ngân hàngđang đứng trước nguy cơ gặp rủi ro rất cao
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn
Trong quan hệ tín dụng ngắn hạn có hai đối tượng tham gia là ngânhàng cho vay và người đi vay chính là Doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên,
cả ngân hàng cho vay và DNV&N đều phải chịu tác động, tuân theo sự chiphối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kháchquan Những nhân tố xuất phát từ môi truờng kinh doanh và pháp lý gọi lànhân tố khách quan, xuất phát từ chính hai chủ thể trong mối quan hệ đó đượcgọi là nhân tố chủ quan
1.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan
a Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp
Thứ nhất, xét đến tư cách và đạo đức của người đi vay, tức là các doanh
nghiệp dẫn đến các rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch xuất hiện trên thịtrường tài chính (Fredic S.Mishkin, 2007) Rủi ro đạo đức xảy ra do thông tinkhông cân xứng tạo ra sau khi giao dịch diễn ra Các doanh nghiệp sử dụngvốn vào những hoạt động không tốt (thiếu đạo đức) xét theo quan điểm củangân hàng, làm giảm khả năng món vay được trả đúng hạn Hoặc doanhnghiệp cố tình không trả nợ cho ngân hàng, gây khó khăn cho ngân hàngtrong việc thu hồi vốn Sự lựa chọn đối nghịch là chính khách hàng có thểnhận thấy khả năng vỡ nợ là rất cao, nhưng vẫn quyết tâm đi vay bởi vì những
dự án của họ có rủi ro càng cao thì lợi nhuận thu được càng cao nếu nó thànhcông Những người đi vay này lại là những người sẵn sàng chấp nhận mọiđiều kiện của khoản vay, tuy nhiên, họ lại là những người ít được mong đợicho vay nhất bởi vì khả năng không hoàn trả được khoản nợ vay là rất lớn
Thứ hai, tình hình tài chính doanh nghiệp thiếu minh bạch, yếu kém.
Vấn đề thông tin không được minh bạch là hiện trạng chung của các doanhnghiệp tại Việt Nam nhất là các DNNVV Trong khi đó, kế toán doanh nghiệp
Trang 28còn mập mờ, chưa tuân thủ một cách nghiêm túc các quy định của pháp luật.Các báo cáo tài chính thường chỉ mang tính hình thức để đối phó với các cơquan chức năng chứ chưa phản ánh một cách trung thực tình hình doanhnghiệp đó, thông tin mà ngân hàng có được để thẩm định dự án chưa sát thực.Cũng chính vì vậy mà các ngân hàng thường xem trọng phần tài sản thế chấpnhư một điểm tựa để phòng chống rủi ro trong cho vay.
Thứ ba, các doanh nghiệp thường có mối quan hệ tín dụng với rất nhiều
ngân hàng và tổ chức tín dụng khác nên khó theo dõi được dòng tiền và dễdẫn đến khả năng mất tính thanh khoản hệ thống Khi doanh nghiệp có nguy
cơ vỡ nợ với một ngân hàng, sẽ kéo theo rủi ro tín dụng đối với các ngân hàngkhác, giảm chất lượng cho vay không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ
b Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Thứ nhất, các thông tin để đánh giá các doanh nghiệp như: các số liệu
thống kê, báo cáo tài chính, thông tin dự án mà ngân hàng có được khôngđầy đủ và chính xác, dẫn đến những đánh giá sai lệch về hiệu quả, thời hạncho vay và trả nợ của dự án xin vay Bên cạnh đó, việc chạy theo chỉ tiêudoanh số mà có thể xem nhẹ chất lượng khoản vay, cộng với sự yếu kémtrong năng lực và phẩm chất của một số cán bộ ngân hàng càng làm tăng nguy
cơ có rủi ro tín dụng, chất lượng cho vay cũng vì thế mà giảm sút
Thứ hai, quá trình giám sát trong và sau khi cho vay chưa được chú
trọng Các ngân hàng thường có thói quen tập trung cho công việc thẩm địnhtrước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, giám sát vốn được thực hiênnhư thế nào sau khi vay Nếu khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích,hay cố tình vay mặc dù biết ít có khả năng trả được nợ nhưng ngân hàngkhông kịp thời có thông tin, sẽ bị tổn thất nặng nề Bởi vậy, cho dù các quan
hệ tín dụng bị ràng buộc bởi các hợp đồng và phải tuân theo các quy định củapháp luật, tuy nhiên, các ngân hàng cần quản lý một cách chủ động khoản chovay của mình để đảm bảo có thể thu hồi cả gốc và lãi khi đúng hạn
Trang 29Thứ ba, việc quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi
đó như là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi Nhiều ngânhàng cho rằng đảm bảo tín dụng là một hình thức cho vay có khả năng khắcphục được rủi ro hoặc ít xảy ra, hạn chế được rủi ro Tuy nhiên, tính thanhkhoản của các tài sản đảm bảo hoặc cầm cố là rất thấp, do vậy các tổn thất tíndụng là không thể tránh khỏi Nếu khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợkhông đúng thời hạn, ngân hàng phải rao bán, hóa giá các tài sản đảm bảo nàyvới giá thấp, gây thiệt hại cho chính ngân hàng mình Đây cũng là một trongnhững nguyên nhân chính làm giảm chất lượng cho vay, tăng nợ có khả năngmất vốn
Thứ tư, thiếu bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn
mức tín dụng Một ngân hàng luôn có rất nhiều chi nhánh và phòng giao dịch.Tín dụng ngân hàng lại là hoạt động thường xuyên và chủ yếu của ngân hàng.Bởi vậy, nếu thiếu một hệ thống chuyên trách thường xuyên theo dõi và kiểmtra, có thể sẽ gây rủi ro cho cả hệ thống ngân hàng đó Việc kiểm soát nội bộtrong các ngân hàng vẫn còn rất lỏng lẻo Những sai phạm trong hợp đồngcho vay, trong quá trình giải ngân và sau giải ngân không được phát hiện kịpthời và xử lý nghiêm túc dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng mà nguy hiểm hơn
là đổ vỡ và phá sản Mặc dù các tổ chức tín dụng trong đó có ngân hàng hoạtđộng dưới sự thanh tra kiểm soát của ngân hàng nhà nước (NHNN), tuy nhiênkiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn so với thanh tra NHNN đó là tính kịp thời
và sâu sát
Thứ năm, chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng còn hạn chế.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là yêu cầu hàng đầu đối vớimỗi ngân hàng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và khảnăng tạo lợi nhuận của ngân hàng Con người là yếu tố quyết định đến sựthành bại trong quản lý vốn tín dụng nói riêng và hoạt động của ngân hàng nóichung Kinh tế càng phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranhngày càng gay gắt, đòi hỏi trình độ của người lao động càng cao Đội ngũ cán
Trang 30bộ ngân hàng có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức, có năng lực sẽ làđiều kiện tiền đề để ngân hàng tồn tại và phát triển Nếu chất lượng con ngườitốt thì họ sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ trong việc thẩm định dự án, đánh giátài sản thế chấp, giám sát số tiền vay và có các biện pháp hữu hiệu trong việcthu hồi nợ vay, hay xử lý các tình huống phát sinh trong quan hệ tín dụng củangân hàng giúp ngân hàng có thể ngăn ngừa, hoặc giảm nhẹ thiệt hại khinhững rủi ro xảy ra trong khi thực hiện một khoản tín dụng.
Thứ sáu, sự phối hợp giữa các ngân hàng còn lỏng lẻo và thiếu thông
tin chung Trong một ngân hàng, một rủi ro xảy ra kéo theo các rủi ro khác,trong hệ thống ngân hàng, sự sụp đổ của một ngân hàng này sẽ ảnh hưởng xấuđến ngân hàng khác, nhất là trong trường hợp khách hàng vay của nhều ngânhàng như đã nói ở trên Tuy nhiên, các ngân hàng chưa có hệ thống quản lýkhách hàng chung, các thông tin về khách hàng cũng không đầy đủ, làm giatăng những rủi ro trong quá trình cho vay, khả năng thu hồi vốn thấp
b Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, sự thay đổi của môi trường tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh,
bão lụt gây tổn thất cho các doanh nghiệp vay vốn kinh doanh, nhất là cácDoanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh trong lĩnh vực nông nghư nghiệp haydịch vụ du lịch, vận chuyển,…làm việc theo mùa vụ dễ bị tác động bởi sựthay đổi trên Khi đó, khả năng trả nợ cho ngân hàng ngay sau một kỳ kinhdoanh thường là không thể Trong trường hợp này các ngân hàng thường phảigia hạn thời gian trả nợ để khách hàng có thể ổn định hoạt động sản xuất kinhdoanh sau thiệt hại Do đó, tăng nợ quá hạn và nợ xấu, chất lượng cho vayngắn hạn của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng theo
Thứ hai, sự biến động của thị trường thế giới và thị trường trong nước
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, dẫn đến việc mất khảnăng trả nợ của doanh nghiệp, tăng nợ có khả năng mất vốn Các cuộc khủnghoảng kinh tế khu vực hay thế giới như khủng hoảng kinh tế khu vực từ TháiLan 1997 hay thế giới 2008 bắt đầu từ Mỹ càng ảnh hưởng xấu đến các doanh
Trang 31nghiệp, nhất là trong thời kỳ hội nhập sâu rộng như hiện nay Mặc dù cácDNNVV chưa hội nhập sâu vào thị trường thế giới, nhưng sự khó khăn củathị trường trong nước lại ảnh hưởng rất lớn đến loại hình doanh nghiệp này.Lạm phát gia tăng, giá cung tăng, lãi suất tăng khiến các DNNVV vốn đã khótiếp cận nguồn vốn vay, nay lại càng khó hơn Từ đó, phải giảm quy mô sảnxuất kinh doanh và có thể dẫn tới phá sản.
Thứ ba, môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của các
cơ quan pháp luật địa phương Các văn bản pháp luật, dưới luật về ngân hàng
và các tổ chức tín dụng đã được ban hành Tuy nhiên, việc triển khai xuốngcác cấp còn chậm trễ và còn nhiều bất cập, dẫn đến sự lúng túng của các ngânhàng trong việc xử lý nợ, xử lý tài sản đảm bảo, Bên cạnh đó là sự thanh trakiểm soát của cơ quan chức năng chưa kịp thời và chặt chẽ Sự sụp đổ của cácngân hàng những năm 1980, khủng hoảng kinh tế năm 2008 Mỹ đã khiếnnhiều ngân hàng ngân hàng phá sản mà nguyên nhân chính của nó là sự lơilỏng kiểm soát, do đó các ngân hàng đua nhau vượt rào tín dụng, cho vaydưới chuẩn, chứng khoán hóa các khoản nợ vay, làm rối loạn thị trường tàichính
Thứ tư, hệ thống thông tin tín dụng (TTTD) còn bất cập Đây chính là
thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụngtrong nền kinh tế thiếu hệ thống thông tin tương xứng Như đã nói ở trên,thông tin từ khách hàng chưa chắc đã đầy đủ và đúng thực tế, nên các ngânhàng còn phải tìm hiểu khách hàng của mình qua các kênh thông tin khác.Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành thích, mở rộng tín dụng màkhông có được thông tin đầy đủ sẽ gia tăng nợ xấu cho hệ thống ngân hàng vàRRTD
Để đảm bảo khoản tín dụng xử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ích chongân hàng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì kháchhàng có vai trò hết sức quan trọng Một khách hàng có tư cách đạo đức tốt, cótình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những
Trang 32khoản vốn vay của Ngân hàng khi đến hạn,qua đó đảm bảo an toàn và nângcao chất lượng và tín dụng Những nhân tố này bao gồm:
Tóm lại: Chương 1 đã đề cập tới những lý thuyết chung nhất về cho
vay ngắn hạn đối với DNNVV và chất lượng của cho vay ngắn hạn cũng nhưnhững nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng của loại hình cho vay này Với vaitrò quan trọng của cho vay ngắn hạn đối với nền kinh tế mà nhất là với cácDNNVV gần như luôn ở tình trạng đói vốn, các ngân hàng cần chú trọng tớisản phẩm cho vay ngắn hạn để đem lại lợi nhuận cao nhất cho mình cũngmang lại sự phồn thịnh cho nền kinh tế quốc dân Bên cạn đó, ngoài mục tiêulợi nhuận, các ngân hàng cũng cần đảm bảo được chất lượng tín dụng, nângcao tính thanh khỏan của ngân hàng mình
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NHNo&PTNT CHI
NHÁNH KIM BễI – HềA BèNH 2.1 GIỚI THIỆU VỀ CHI NHÁNH NHNo&PTNT KIM BễI – HềA BèNH
2.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Chi nhỏnh Kim Bụi - Hũa Bỡnh
2.1.1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành, phỏt triển của NHNo&PTNT Chi nhỏnh Kim Bụi - Hũa Bỡnh
Kim Bôi là một huyện miền núi thuộc tỉnh Hòa Bình
đ-ợc thành lập ngày 17/04/1959, có diện tích tự nhiên là :55.103,43 km2,số dân là: 114.774 Toàn huyện nằm trọn trênphần đất phía đông của tỉnh Hòa Bình - một trong những huyệnđược hỡnh thành từ khỏ sớm của tỉnh Hũa Bỡnh, và là đầu mối giao thụng quantrọng phớa Đụng thành phố và là huyện phớa Tõy của thành phố Hà Nội vớilưu lượng hàng húa giao thương rất lớn Hơn nữa lại là huyện cú diện tớchcanh tỏc khỏ là rộng lớn với cỏc loại cõy như mớa đường, ngụ, sắn…và là khuvực cú hệ sinh thỏi ổn định với nhiều khu du lịch sinh thỏi vỡ thế mà kinh tếnơi đõy đó tạo điều kiện cho kinh thế phỏt triển
Với những điều kiện thuận lợi về mặt vị trớ địa lý - kinh tế - xó hội,năm 1988 NHNo&PTNT chi nhỏnh Kim Bụi đó được thành lập và trực thuộcNHNo&PTNT tỉnh Hũa Bỡnh
Từ những ngày đầu mới thành lập, dự cũn bao khú khăn, thiếu thốn vềnhõn lực và cơ sở vật chất nhưng ban lónh đạo và cỏn bộ cụng nhõn viờn củachi nhỏnh vẫn hết sức nỗ lực để đạt được những kết quả tốt nhất, đúng gúpmột phần khụng nhỏ vào sự phỏt triển chung của hệ thống NHNo&PTNT.Đến năm 2008, một trụ sở mới khỏ khang trang, bề thế với đầy đủ trang thiết
Trang 34bị đó được xõy dựng tại trung tõm huyện Kim Bụi và 02 phũng giao dịch làRạnh và Nam Thượng,từ đú tạo điều kiện mở rộng thờm hoạt động của chinhỏnh, tạo đà cho những bước phỏt triển của chi nhỏnh núi riờng cũng nhưtoàn bộ hệ thống NHNo&PTNT núi chung sau này
Sau 25 năm hoạt động chi nhánh đã thực hiện tốt Đảng,nhà nớc, ngân hàng cấp trên giao, đẩy mạnh huy động vốnphục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Là nơi cónhiều khu du lịch sinh thái nên NHNo&PTNT Huyện Kim Bôi
đã nhanh chóng thực hiện giao dịch một cửa , triển khai cácnghiệp vụ mới nh : thanh toán quốc tế, chuyển tiền điện tử,thực hiện các dự án theo sự uỷ thác của các tổ chức trong vàngoài nớc…
Với mục tiêu xây dựng một Ngân hàng có cơ sở vật chấtbền vững, công nghệ tiên tiến và tài chính ổn định , độingũ cán bộ viên chức có trình độ cao, giao dịch văn minhlịch sự chính vì vậy NHNo&PTNT Huyện Kim Bôi đã thànhcông và trở thành một NHTM có thơng hiệu trên địa bàn
2.1.1.2Về công tác tổ chức:
Trong năm 2011, NHNo&PTNT Huyện Kim Bôi thực hiện vềviệc kiện toàn tổ chức lao động, quy trình sắp xếp, bố trícác phòng, tổ nghiệp vụ từ trung tâm huyện đến PGD,công tác quy hoạch cán bộ đợc kiện toàn mô hình tổ chứctheo TB số :175/NHNoHB-HCNC của NHNo&PTNT tỉnh HoàBình ,chi nhánh bao gồm 32 cán bộ phân bổ nh sau:
a Ban giám đốc : 03 ngời:
- 01 đồng chí giám đốc: là ngời chỉ đạo chung, mọihoạt động của chi nhánh
- 01 đồng chí phó giám đốc: đợc phân công chỉ đạocông tác KH-KD
Trang 35- 01 đồng chí phó giám đốc: đợc phân công chỉ đạocông tác Kế toán-NQ
b Phòng Kế hoạch-Kinh doanh : Biên chế đến nay có
10 cán bộ (trong đó có 01 trởng phòng, 01 phó phòng kiêmphụ trách địa bàn thực hiện cho vay, thu nợ)
c Phòng kế toán - ngân quỹ - hành chính: Biên chế
đến nay có 06 cán bộ (trong đó có 01 trởng phòng, 01 phóphòng đảm nhiệm công tác hậu kiểm)
d Phòng giao dịch Rạnh: Biên chế đến nay có 06 cán
bộ (trong đó 01 giám đốc, 01 kế toán, 03 nhân viên tíndụng, 1 thủ quỹ)
e Phòng giao dịch Nam Thợng: Biên chế đến nay có
07 cán bộ (trong đó có 01 giám đốc, 01 phó giám đốc kiêmphụ trách địa bàn thực hiện cho vay, thu nợ, 01 kế toán, 01thủ quỹ, 03 cán bộ tín dụng)
2.1.13.Về phân phối thu nhập:
Toàn thể cán bộ viên chức thuộc chi nhánh loại 3NHNo&PTNT Huyện Kim Bôi đều đợc xếp và hởng theokhung lơng, bảng lơng, phụ cấp lơng theo quy định của nhànớc, của ngành (bao gồm lơng cơ bản và lơng kinh doanh).NHNo&PTNT Huyện Kim Bôi thực hiện đầy đủ, nộp kịp thờicác khoản đóng bảo hiểm cho ngời lao động theo quy địnhcủa nhà nớc nh: BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn và cáckhoản đóng góp khác theo quy định của nhà nớc, của ngành.Trong năm NHNo&PTNT cơ sở cũng thực hiện và đảm bảo cácchế độ, chính sách đối với ngời lao động nh: Chế độ nghỉngơi, sắp xếp bố trí các đợt cho cán bộ viên chức đi nghỉ d-ỡng sức và khám bệnh định kỳ
Trang 36
2.1.1.4.Cơ cấu tổ chức hoạt động:
2.1.1 5.Chức năng và nhiệm vụ chính của các phòng:
a Phòng kế hoạch - kinh doanh : Nghiên cứu, thẩm
định dự án của KH, hớng dẫn KH vay vốn, giải ngân, kiểmtra, quản lý, thu thập, phân tích thông tin kinh tế-xã hộicũng nh thông tin về KH, đánh giá và xếp loại KH Xây dựng
kế hoạch tín dụng và đề xuất phơng án, dự án của KH Phânloại nợ đồng thời phòng ngừa rủi ro tín dụng
b.Phòng kế toán - ngân quỹ- HC : Thực hiện các
nghiệp vụ kế toán ngân hàng, hạch toán, thanh toán,chuyểntiền phát hành thẻ, giải ngân, xây dựng các chỉ tiêu kếhoạch, thu chi tài chính, quản lý và sử dụng các quỹ chuyêndùng Chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát,lu trữ chứng từ,bảo vệ kho tiền, đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ
Xử lý các nghiệp vụ thừa, thiếu quỹ trong ngày Thực hiệnnguyên quy tắc ra vào, bảo quản kho tiền theo đúng trình
PGDRạnh
Phòng
Kế toán NQ - HC
Phó giám
đốc
Trang 37việc chi trả lơng cho các cán bộ viên chức trong Ngân hàng.
Đảm bảo việc tổ chức và đào tạo cán bộ theo đúng quy
định của nhà nớc, của ngành đã ban hành
- Từ tháng 5 /2011 xoá bỏ phòng kiểm tra kiểm toán
nội bộ, quyết định 1 GDV là phó phòng kế toán chịu tráchnhiệm hậu kiểm chứng từ của toàn chi nhánh , trực thuộcphòng kế toán –NQ chịu trách nhiệm và quản lý
Trang 38Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Kim Bôi
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%) Tổng nguồn vốn huy
động
77.7 82
47,72 60.069 72,33 100.596 66,9326.81
7
34,48 50.297 60,56 90.245 60,046.791 8,73 8.277 9,97 7.855 5,233.512 4,52 1.244 1,5 725 0,48
Tiền gửi của TCKT 17.71
Trang 39Tiền gửi của các đối tượng
(Báo cáo tài chính của NHNo&PTNT Chi nhánh Kim Bôi – Hòa Bình)
((Báo cáo tài chính của NHNo&PTNT Chi nhánh Kim Bôi – Hòa Bình)
Thông qua bảng số liệu và biểu đồ ở trên cho thấy tình hình huy độngvốn của NHNo&PTNT Chi nhánh Kim Bôi tăng qua các năm đặc biệt năm
2012 tăng 67251 triệu đồng tăng 82% so với năm trước Sở dĩ tăng nhanh vàmạnh như vậy là vì số lượng tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh từ 22.272 triệuđồng tăng lên 49.702 triệu đồng Sở dĩ có độ tăng nhanh như vậy là do Ngânhàng trong năm 2012 mới được trang bị một cây ATM rút tiền tự động vàtrong năm đã triển khai chương trình khuyến khích các cơ quan nhà nướcdoanh nghiệp trả lương qua tài khoản Cùng với đó là lượng tiền gửi vốn
Trang 40chuyên dùng tăng mạnh trong các năm trở lại đây Đây là lượng tiền mà Bảohiểm xã hội huyện Kim Bôi gửi tại ngân hàng Con số này sẽ còn tăng dầntrong các năm tới do chính sách Bảo hiểm xã hội của nhà nước cũng như củahuyện Kim Bôi.
Chiếm Tỷ trọng phần lớn về khối lượng vốn mà Chi nhánhNHNo&PTNT Chi nhánh Kim Bôi huy động là ở thành phần cá nhân và tổchức kinh tế, Từ trên cho thấy lượng tiền huy động và tỉ trọng tiền huy độngđược từ cá nhân tăng đều qua các năm Năm 2011 tăng so với năm 2010 là
19844 triệu đồng tăng 52.6% và năm 2012 tăng so với năm 2011 là 37897triệu đồng tăng 65,85% Đây là những con số đáng mừng trong công tác huyđộng vốn trong thời kỳ kinh tế được coi là khó khăn Điều này cho thấy nhândân huyện Kim Bôi đã có được cuộc sống ấm no hơn
Hoạt động huy động vốn là một yếu tố quan trọng của hoạt độngNgân hàng Trong những năm gần đây,NHNo&PTNT chi nhánh Kim Bôi đãchú trọng quan tâm phát triển hoạt động huy động vốn Cùng với đó là cácchương trình marketing, chương trình dự thưởng mà NHNo&PTNT tổ chức,
mở tài khoản miễn phí, trả lương qua tài khoản đã kích thích người dân cũngnhư các tổ chức kinh tế gửi tiền tiết kiệm và tiền gửi không kỳ hạn tại ngânhàng
Năm 2011, trước bối cảnh nền kinh tế vĩ mô, triệulệ lạm phát cao,Ngân hàng Nhà Nước đã dùng các chính sách kinh tế khắt khe nhằm thắt chặthoạt động tín dụng, điều này đã gây không ít khó khăn cho hoạt động chungcủa các Ngân hàng Việt Nam Song bằng nhiều giải pháp linh hoạt trong đó
có mở rộng mạng lưới huy động vốn, nâng cao chất lượng phục vụ kháchhàng trên mọi mặt nên NHNo&PTNT Chi nhánh Kim Bôi vẫn đảm bảo duytrì được nguồn vốn ổn định, tăng trưởng cao đảm bảo khả năng thanh toánphần nào đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho doanh nghiệp