1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hương đề CƯƠNG KHOA LUAN thu huong doc

109 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 872 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hàng năm, giảm bền vững tỷ lệ sinh là một trong những mục tiêu quan trọngcủa Tổng cục DS- KHHGĐ.Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương thật sự có liên quan rấtmật thiết đến sự phát

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của đấtnước Bên cạnh tiềm lực kinh tế, yếu tố con người giữ vai trò vô cùng quantrọng, nó quyết định con đường đi lên của mỗi quốc gia Ở Việt Nam công tácdân số luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đó là nhiệm vụ quan trọngcủa chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Nghị quyết Đại hội IX của Đảng chỉ

rõ: Chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản- kế hoạch hoá gia đình; giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực.

Tại Hội nghị tổng kết công tác dân số 2012 được Tổng cục Dân số

-Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) tổ chức ngày 25.1 tại Hà Nội ÔngDương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết tínhđến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,47triệu người so với năm 1999 (với sai số thuần là 0,3%) Tỉ lệ tăng dân số bìnhquân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10năm trước và là tỷ lệ tăng thấp nhất trong vòng 50 năm qua dân số VN đạt88,78 triệu người Với số dân trên, Việt Nam hiện là quốc gia có dân số đôngthứ hai khu vực Đông Nam Á và xếp thứ 13 trên thế giới trong khi diện tíchnước ta xếp thứ 56 trên hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Như vậy, nước ta

là nước có dân số đông Việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia luôn làvấn đề mà Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI, Tháng 12 năm 1986 Đảng và nhà nước đã xác định lương thực thựcphẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là một trong ba chương trình kinh tếlớn trong phát triển kinh tế, xã hội đất nước Kiểm soát tốc độ gia tăng dân số

Trang 2

hàng năm, giảm bền vững tỷ lệ sinh là một trong những mục tiêu quan trọngcủa Tổng cục DS- KHHGĐ.

Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương thật sự có liên quan rấtmật thiết đến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như có ảnhhưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân Sự gia tăng dân sốlàm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốcgia Bùng nổ dân số là nguy cơ là thách thức đối với các nhà lãnh đạo

Về mặt tích cực, dân số đông đem lại nguồn lao động cho sản xuất,nhất là khi trình độ cơ giới hóa, tự động hóa chưa cao Tuy nhiên về mặt tiêucực, dân số đông dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng nhất là khi cung khôngđáp ứng đủ yêu cầu

Về mặt kinh tế, khi mà tài nguyên thiên nhiên, đầu tư cơ sở vật chấtkhông đáp ứng kịp tỉ lệ tăng dân số, nạn thất nghiệp sẽ là một vấn đề nan giải

Từ đó dẫn đến những vấn đề như người lang thang, ăn xin thậm chí là những

tệ nạn xã hội như trộm cướp, mại dâm v.v chưa kể đến sự đổ xô của nhiềungười lên thành thị làm nặng thêm những vấn đề này ở các thành phố lớn

Về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt mức đáp ứng của hệthống giáo dục cộng với điều kiện kinh tế gia đình khó khăn làm tăng tìnhtrạng thất học, bỏ học dẫn đến trình độ dân trí trung bình giảm thấp, ảnhhưởng đến sự phát triển chung của xã hội cũng như chất lượng cuộc sống

Về mặt y tế, dân số tăng nhanh vượt quá mức cung ứng sẽ dẫn đến dịchbệnh gia tăng dẫn đến giảm sức lao động, thương tật, tử vong

Hậu quả nghiêm trọng nhất của việc tăng dân số là vấn đề môi trường.Việc khai thác thiên nhiên một cách bừa bãi như phá rừng lấy đất canh tác,khai thác gỗ làm chất đốt, vật dụng, khai thác thú rừng, v.v đã tàn phá trầmtrọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên gián tiếp ảnh hưởng đến các rối loạn

về mặt sinh thái như nạn lụt lội, hạn hán

Trang 3

Dân số tăng đặc biệt ở thành thị dẫn đến những vùng có mật độ dân cưcao, sống chen chúc, mất vệ sinh dẫn đến sự gia tăng các dịch bệnh Khóithải, nước thải, rác thải làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất làmtrọng trầm thêm những vấn đề sức khỏe nhất là ở các đô thị hoặc khu côngnghiệp Ảnh hưởng về mặt kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường đã tác độngmạnh đến đời sống xã hội và tâm lý của người dân Cuộc sống khó khăn dẫnđến quẫn bách hoặc xào xáo, mâu thuẫn trong gia đình càng làm giảm thêmchất lượng cuộc sống.

Dân số Việt Nam đã lên tới 88,78 triệu người (năm 2012) đứng thứ 13trên thế giới Tuy nhiên thu nhập bình quân đầu người cũng như các chỉ số vềsức khỏe của người dân vẫn ở mức thấp so với nhiều quốc gia trên thế giới.Dân số đông cũng khiến cho mật độ dân số bình quân của Việt Nam lên tới

227 người/km2, cao gấp gần 5 lần so với trung bình của thế giới

Mặc dù mức sinh giảm, nhưng quy mô dân số Việt Nam vẫn ngày mộtlớn do số dân tăng thêm trung bình mỗi năm ở mức cao Trong bối cảnh kinhtế- xã hội Việt Nam ở đầu thập kỷ 21, khi mức sinh tiến gần mức sinh thaythế, muốn duy trì xu thế giảm sinh vững chắc, thì không thể chỉ tập trung giảiquyết vấn đề quy mô dân số trong thời gian qua, mà cùng với giảm sinh phảigiải quyết đồng bộ, từng bước có trọng điểm các vấn đề về chất lượng, cơ cấudân số và phân bố dân cư theo định hướng “ Dân số- sức khỏe sinh sản vàphát triển”

Dân số không chỉ là mối quan tâm của Đảng, nhà nước tổng cục dân sốquốc gia mà còn thu hút được sự quan tâm của các cá nhân tổ chức doanhnghiệp Công tác dân số là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước, là yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từnggia đình và toàn xã hội, góp phần vào việc thực hiện công nghiệp hóa hiện đạihóa đất nước

Trang 4

Đối với nước ta công tác dân số luôn được Đảng và nhà nước quan tâm.Nói đến dân số tức là nói đến con người - chủ thể của xã hội Muốn đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của xã hội trước hết phải đảm bảo sự tồn tại và pháttriển của con người Vì vậy dân số đông và tăng nhanh là yếu tố cản trở đến

sự phát triển của xã hội

Chính sách về DS-KHHGĐ luôn được xác định là một bộ phận quantrọng của Chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề kinh tế xãhội hàng đầu của quốc gia Thực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hoá giađình là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người,từng gia đình và của toàn xã hội

Kiến thức về DS-KHHGĐ đối với mỗi người dân là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Người dân được cung cấp đầy đủ những kiến thức về chính sách DS-KHHGĐ hiểu được tầm quan trọng của việc thực hiện tốt các chính sách

về dân số của Đảng và nhà nước sẽ góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân số quốc gia Từ thực tế vấn đề dân số tại địa bàn Xã Cách Bi,

Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh em đã chọn đề tài “ Vai trò của nhân viên

CTXH trong việc nâng cao nhận thức của người dân về kiến thức KHHGĐ” với mong muốn sẽ cung cấp đến cho người dân địa phương những

DS-kiến thức về DS-KHHGĐ để góp phần thực hiện tốt công tác DS- KHHHGĐ, đặc biệt là giảm tỷ lệ các hộ gia đình sinh con thứ ba trên địa bàn Xã Cách

Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Tại Hội nghị Bắc Kinh +5, Tổng thư ký Liên hợp quốc đã đệ trình bảnBáo cáo về tình hình thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh trong giaiđoạn 1995-2000 Báo cáo đã đề cập đến một số vấn đề quan nổi bật sau:

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, cả những nước phát triển và đang pháttriển, vị thế của trẻ em gái bị nhìn nhận thấp hơn trẻ em trai Ðể cải thiện tìnhtrạng đó, tại kỳ họp lần thứ 42 của Uỷ ban về Ðịa vị Phụ nữ của Liên hợp

Trang 5

quốc đã khuyến nghị các nước phải tiến hành các biện pháp nhằm bảo vệ vàtăng cường quyền năng cho trẻ em gái, bao gồm các biện pháp nhằm ngănchặn và xoá bỏ tệ buôn bán trẻ em, sử dụng trẻ em làm mại dâm và khiêudâm, hỗ trợ trẻ em gái khi chúng mang thai, làm mẹ ở lứa tuổi thiếu niên vàtiếp tục giáo dục các em.

Luật pháp của Ni-giê-ri-a nghiêm cấm việc trẻ em gái bỏ học để bảođảm chương trình học tập cho các em

Zăm-bia đã bắt đầu cấp học bổng cho trẻ em gái

Úc, Burkina Faso, Ðô-mi-ni-ca, Iran, Nhật Bản, Mê-hi-cô, Bỉ và bia đã đưa ra các chương trình hành động cụ thể nhằm khuyến khích nữ sinhtheo học các ngành khoa học-công nghệ và các môn học phi truyền thốngkhác

Zăm-Quỹ Dân số của Liên Hợp Quốc (UNFPA) ở Ni-ca-ra-goa đã hỗ trợ xâydựng chương trình về sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho thanh niên nôngthôn qua các trạm xá di động và các đội phẫu thuật

Cộng hoà Séc, Ðô-mi-ni-ca, In-đô-nê-xia, Latvia và Liên bang Nga đãxây dựng chương trình giáo dục về giới tính và sức khoẻ sinh sản

Hà Lan, Lucia, Sanh vin xen và Grê na đa đã phát động các chiến dịchtruyền thông và tổ chức các Hội thảo nhằm ngăn chặn việc có thai ở tuổi vịthành niên

Canađa là một trong những quốc gia đã ban hành đạo luật cấm cắt bỏ

bộ phận sinh dục nữ đối với số người di cư và tị nạn tại Canada

An-ba-ni, Trung Quốc, Cu Ba, Ga-na, ý, Môn-đô-va và Việt Nam lànhững quốc gia đã có báo cáo về sự điều chỉnh luật pháp nhằm tăng cườngbảo vệ quyền của trẻ em gái

Như vậy, Báo cáo cho thấy vấn đề chăm sóc SKSS, DS- KHHGĐ làvấn đề quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Quyền bình đẳng giữa namgiới và nữ giới, là vấn đề nhiều quốc gia đề cập đến song song với việc phát

Trang 6

triển kinh tế xã hội Vai trò của nữ giới ngày càng được đề cao đồng thời cónhiều chính sách khuyến khích nữ giới tham gia vào các hoạt động phát triểnkinh tế, chính trị, xã hội.

Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ 4 ở Bắc Kinh – Trung Quốc cho rằngsức khỏe phụ nữ là một trong 12 lĩnh vực được quan tâm hàng đầu và nêu rõ:Chăm sóc sức khỏe sinh sản trong khuôn khổ chăm sóc ban đầu sẽ đặt cạnhcác vấn đề khác bao gồm: Tư vấn thông tin, giáo dục truyền thông và dịch vụ

kế hoạch hóa gia đình, các dịch vụ chăm sóc trước khi sinh đẻ, đặc biệt là vấn

đề cho con bú bằng sữa mẹ, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ

em, phòng chống và chữa trị chứng vô sinh bao gồm cả ngăn ngừa nạo pháthai, điều trị nhiễm khuẩn đường sinh dục và giáo dục bản năng giới tính củacon người về sức khỏe sinh sản và trách nhiệm của cha mẹ Như vậy, SKSS

có vai trò rất quan trọng trong nâng cao chất lượng dân số cũng như thực hiệncác chính sách về DS-KHHGĐ của mỗi quốc gia

Thấy được tầm quan trọng và cấp bách của vấn đề trên, thủ tướng chínhphủ đã phê duyệt chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và chiếnlược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011-2020 với mụctiêu là: “Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản,duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số vàphân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước”

Năm 2012 là năm đầu tiên triển khai thực hiện Chiến lược Dân số vàsức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và Chương trình mục tiêuquốc gia DS-KHHGĐ giai đoạn 2012-2015 Dù đạt được nhiều thành tựuđáng ghi nhận, nhưng chất lượng dân số còn hạn chế, tỷ lệ bệnh, tật bẩm sinh

và tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao (đặc biệt là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa);

có sự chênh lệch bất lợi về mức sinh giữa các địa phương và các vùng, miền;

Trang 7

mất cân bằng giới tính khi sinh đã bước vào mức cao, tốc độ tăng nhanh vàngày càng lan rộng.

Năm 2013, năm thứ hai thực hiện Chiến lược DS-SKSS Việt Nam giaiđoạn 2011-2020, chúng ta tiếp tục tập trung vào 5 nội dung lớn để giải quyếtđồng bộ các vấn đề DS-SKSS là: (1) Nâng cao chất lượng dân số; (2) Cảithiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em; (3) Phát huy cho được lợi thế cơ cấu “dân sốvàng”; (4) Chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số một cách hợp lý; (5) Kiểmsoát có hiệu quả tỷ số giới tính khi sinh

Có nhiều nghiên cứu về sự gia tăng dân số và tình hình DS-KHHGĐcủa nước ta trong những năm vừa qua

Năm 1992, tại Hải Phòng đã có nghiên cứu về tình hình sức khỏe của

bà mẹ trẻ em trong dự án Quỹ nhi đồng Anh Nghiên cứu này bước đầu nhằmtìm hiểu việc chăm sóc thai sản, tiêm chủng cho trẻ dưới 5 tuổi và có cáchướng dẫn về dịch vụ KHHGĐ ở phụ nữ từ 15 tuổi cho đến 19 tuổi tại haihuyện Thủy Nguyên và Kiến Thụy của Thành phố Hải Phòng Kết quả củacuộc nghiên cứu cho thấy : Có 46% các sản phụ không đi khám thai trongtổng số các sản phụ, có 1/4 số ca đẻ được thực hiện tại nhà chiếm khoảng23%, tỷ lệ sử dụng các BPTT giảm từ 50% xuống còn 33% Đây chính lànhững vấn đề còn tồn tại mà đòi hỏi các cấp các ngành cần quan tâm, giảiquyết

Năm 2004 được sự hỗ trợ của tổ chức UNICEF, Viện Xã hội học phốihợp với Vụ sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế tổ chức nghiên cứu về “Hành vitìm kiếm và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ dântộc thiểu số Tây Nguyên” tại 4 tỉnh là Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, ĐắcNông Kết quả của nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài cho thấy ngành Y tế nóichung và các địa phương khu vực Tây Nguyên nói riêng đã có nhiều cố gắngtrong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân và đến nay đã có nhữngthành tựu nhất định

Trang 8

Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra trong công tác này còn gặp một sốkhó khăn hạn chế Kiến thức về DS- KHHGĐ của phụ nữ dân tộc thiểu sốTây Nguyên còn rất hạn chế mơ hồ, thậm chí còn hiểu sai Mô hình, hành vitìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn mang tính bị động Ở đây còn tồn tạinhiều phong tục tập quán, thói quen xấu có ảnh hưởng hành vi chăm sócSKSS của người dân Họ chưa ý thức được cần phải sinh đẻ có kế hoạch để

có thể nuôi dạy các con được tốt và phát triển được kinh tế gia đình Do điềukiện kinh tế chưa phát triển, kinh tế nghèo đói khó khăn họ sinh nhiều con vớimong muốn mang lại nguồn lao động cho gia đình mà chưa ý thức đượcnhững hậu quả của việc gia tăng dân số đến chính việc phát triển kinh tế giađình và phát triển kinh tế xã hội đất nước

Nghiên cứu của Tổng cục dân số KHHGĐ về những tồn tại và giảipháp cho mô hình tổ chức bộ máy dân số, Kế hoạch hóa gia đình ở cấp Huyện

và Cấp Xã Chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính,thực hiện quản lý đa ngành là hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển Kếtquả của quá trình này là có sự sáp nhập một số bộ, trong đó công tác DS-KHHGĐ được chuyển về cho Bộ Y tế quản lý Tuy nhiên, sau hơn 3 nămthực hiện mô hình tổ chức mới để triển khai thực hiện công tác DS-KHHGĐ

đã cho thấy những bất cập trong việc triển khai thực hiện, đặc biệt là ở cấphuyện và Xã

Trên cơ sở các phát hiện từ thông tin khảo sát cũng như tổng hợp kếtquả từ các cuộc điều tra khác và ý kiến của các địa phương yêu cầu đặt ra làcần ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định mô hình tổ chức bộ máylàm công tác DS-KHHGĐ để chỉnh sửa, bổ sung mô hình cho phù hợp vớithực tiễn Bên cạnh việc giữ nguyên tổ chức bộ máy ở cấp Trung ương vàtỉnh/thành phố, các kiến nghị về điều chỉnh mô hình tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ tập trung vào ở cấp huyện và xã để nâng cao hiệu quả hoạt động, cụthể là kiến nghị sửa đổi Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày

Trang 9

25/4/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân cấptỉnh, cấp huyện và Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tếhướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ ở địa phương.

Như vậy, kết quả của cuộc nghiên cứu đã chỉ về những tồn tại và giảipháp cho mô hình tổ chức bộ máy dân số, Kế hoạch hóa gia đình ở cấp Huyện

và Cấp Xã Ưu điểm vượt trội của mô hình tổ chức bộ máy Trung tâm KHHGĐ trực thuộc UBND huyện so với mô hình trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ.Việc chuyển đổi mô hình chỉ là sự thay đổi hoàn toàn thuận lợi,không gây xáo trộn về tổ chức, không làm tăng biên chế và kinh phí hoạtđộng trong khi lại có thể nâng cao rõ rệt hiệu quả của cơ chế quản lý và điềuhành công việc Chuyển Trung tâm DS-KHHGĐ tuyến huyện hiện đang làđơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ sang trực thuộcUBND cấp huyện Góp phần ổn định và phát huy hiệu quả của đội ngũ làmcông tác dân số cấp Xã, Huyện

GS Lê Thị Nhâm Tuyết, nguyên là Phó Viện trưởng Viện Gia đình vàGiới (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) thời kỳ 1986 -1992, là người sáng lập

và là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trongphát triển (CGFED,5/1993), nhà nhân học xã hội tiên phong trong nghiên cứu

về giới và phụ nữ ở Việt Nam, nhà khoa học nữ xuất sắc với nhiều công trìnhnghiên cứu nổi tiếng về quyền con người của phụ nữ, người thầy đặc biệt củanhiều thế hệ nhà nghiên cứu khoa học xã hội về phụ nữ Việt Nam Bà đã dànhnhiều thời gian nghiên cứu và có nhiều công trình về DS-KHHGĐ, về sứckhoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục, quyền sinh sản và quyền tình dục

Từ năm 1990, GS Lê Thị Nhâm Tuyết đã có những bài viết trình bày

tại nhiều hội thảo về DS-KHHGĐ Bài Giáo dục dân số và đời sống gia đình Việt Nam – khía cạnh tâm lý và văn hoá, đề cập đến cơ cấu, quy mô gia đình

Trang 10

và tâm lý đẻ con trai, về trách nhiệm trong hành vi tình dục và sinh sản, về tụctảo hôn và có con ngay sau khi cưới, phụ nữ cô đơn và phụ nữ sinh con ngoàigiá thú.

Năm 1991, dự án “Tăng cường khả năng nghiên cứu phục vụ chiếnlược chăm sóc sức khoẻ ban đầu” được thực hiện tại Thái Bình, với tư liệu từ

những chuyến đi điền dã, Bà đã công bố một loạt bài viết: Một mình mẹ đẻ con, Sự sinh sản của một gia đình bốn thế hệ ở xã Đông Hoàng; Nạo hút thai

ở hai cộng đồng nông thôn; …

Đáng chú ý là dự án Huy động cộng đồng tham gia vào chương trình DS-KHHGĐ ở Việt Nam, từ năm 1993-2000 tại Thái Bình Đây là dự án do

CGFED chủ trì phối hợp với Viện Karolinska (Thuỵ Điển) Các quả nghiêncứu của giáo sư cùng với các đồng nghiệp đã được đăng trên các tạp chí trongnước và quốc tế

GS Lê Thị Nhâm Tuyết đã cùng Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình

và Môi trường trong phát triển (CGFED) thực hiện nhiều dự án về lĩnh vựcnày Đáng kể nhất là dự án Giới, Sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục chocác gia đình nông thôn Việt Nam, với sự hỗ trợ của Hội KHHGĐ Đan Mạch,triển khai tại 4 tỉnh trên phạm vi cả nước từ năm 2003, được thực hiện rấtthành công và đã mở rộng phạm vi và thời gian dự án đến tháng 6/2014

Nghiên cứu của GS Lê Thị Nhâm Tuyết đã đóng góp quan trọng vàonhững nghiên cứu về DS- KHHGĐ Cung cấp những kiến thức về chăm sócSKSS, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sinh sản, chăm sóc SKSS đồngthời nghiên cứu của Bà cũng nêu lên thực trạng vấn đề này tại một số địaphương trong cả nước

Như vậy đã có khá nhiều các cuộc nghiên cứu đề cập đến vấn đề kiến thức dân số, kế hoạch hóa gia đình nhưng mỗi đề tài lại đề cập đến một khía cạnh khác nhau của vấn đề này Là một sinh viên được đào tạo về chuyên ngành CTXH em muốn nghiên cứu kiến thức DS- KHHGĐ ở một khía cạnh

Trang 11

khác đó là “Vai trò của nhân viên CTXH trong việc nâng cao nhận thức cho người dân về kiến thức DS- KHHGĐ” Nhằm cung cấp đền người dân các kiến thức và các biện pháp chăm sóc sức khỏe sinh sản, các BPTT an toàn hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao nhận thức cho người dân địa phương thay đổi hành vi về DS- KHHGĐ, góp phần thực hiện chính sách dân số quốc gia,

ổn định quy mô dân số, giảm vững chắc tỷ lệ sinh đồng thời nâng cao chất lượng dân số Nhân viên CTXH có đóng vai trò trong quá trình đó hay không

và vai trò cụ thể của nhân viên CTXH là gì?

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu cần được nâng cao nhận thứccủa người dân trên địa bàn xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh vềnhững kiến thức DS-KHHGĐ

Khẳng định vai trò quan trọng của NVCTXH trong việc cung cấpnhững kiến thức và kỹ năng cho người dân địa phương về DS-KHHGĐ Nângcao nhận thức của người dân về kiến thức DS-KHHGĐ nhằm giảm tỷ lệ sinhcon thứ ba trong địa bàn xã

Đồng thời đưa ra giải pháp những, những khuyến nghị giúp cho bandân số của Xã điều chỉnh hợp lý, kiểm soát được tình hình gia tăng dân sốchung của toàn xã Cách Bi

3.2 Ý nghĩa khoa học

CTXH vừa là một khoa học tổng hợp và cũng là một nghề chuyên mônbao gồm nhiều phương pháp vừa của riêng ngành CTXH vừa sử dụng kết hợpvới nhiều ngành khác Đề tài “Vai trò của nhân viên CTXH trong việc nângcao nhận thức của người dân về kiến thức DS-KHHGĐ” cung cấp những căn

cứ có tính khoa học, là cơ sở cho việc nâng cao nhận thức của người dântrong việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ

Trang 12

Kết hợp sự vận dụng các phương pháp và kỹ năng của ngành CTXHkết hợp với các ngành khoa học khác giúp trong việc nâng cao nhận thức chongười dân về kiến thức DS-KHHGĐ để họ thực hiện đúng và thực hiện tốtchính sách DS-KHHGĐ của Đảng và nhà nước ta.

4 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức của người dân về kiến thức DS-KHHGĐ cho người dân đang sống trên địa bàn Xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh

4.2 Khách thể nghiên cứu

Người dân đang sống tại địa bàn Xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh BắcNinh Thông qua quá trình nghiên cứu tại địa bàn có thể thu thập được nhữngthông tin liên quan đến vấn đề nâng cao nhận thức cho người dân về kiến thứcDS-KHHGĐ

Chính quyền địa phương : Qua trao đổi với chính quyền để có nhữngthông tin khái quát về vấn tình hình dân số chung của toàn xã và công tác DS-KHHGĐ đang được triển khai trên địa bàn Xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, TỉnhBắc Ninh

4.3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng vấn đề DS- KHHGĐ đang diễn ra trên địa bàn,đưa ra giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về kiến thức DS-KHHGĐ nhằm kiểm soát tốc độ gia tăng dân số tại địa phương, giảm và giảmvững chắc tỷ lệ sinh đặc biệt là tỷ lệ sinh con thứ ba tại địa bàn Xã Cách Bi,Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênnin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trongviệc xem xét các sự vật, hiện tượng Nghiên cứu nhận thức của người dân vềkiến thức DS-KHHGĐ phải đứng trên quan điểm toàn diện, có nghĩa là vấn

Mác-đề này phải được đặt trong bối cảnh hiện nay cùng với sự biến đổi nhanhchóng về kinh tế cũng như xã hội; đó là nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa mà nội dung quan trọng nhất của nó là công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước

Dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử cho thấy: Trong những giai đoạnkhác nhau của lịch sử con người và xã hội phải có nhận thức khác nhau phùhợp, và vấn đề kiến thức DS-KHHGĐ có mối quan hệ gắn bó với các yếu tốkhác như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế…

Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng thì kinh tế là yếu tố có tácđộng trực tiếp đến nhận thức, hành vi sinh sản của người dân địa phương.Những yếu tố tâm lý, phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sự gia tăng dân sốcủa các vùng miền trên toàn quốc nói chung và trên địa Xã Cách Bi, HuyệnQuế Võ, Tỉnh Bắc Ninh nói riêng

5.2 Phương pháp cụ thể

5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin là phương pháp không thể thiếu được trong suốt quátrình nghiên cứu để hoàn thiện đề tài Thu thập thông tin từ các tài liệu, từ cácphương tiện thông tin đại chúng, (các báo cáo, các nghiên cứu đã được chínhthức công nhận cho đến thời điểm hiện tại), sách báo, tạp chí chuyên ngành cóliên quan đến thông tin cần thu thập về DS- KHHGĐ, từ những cán bộ địaphương, từ những người dân và gia đình đang sinh sống tại địa phương Khicác thông tin được thu thập, tác giả tiến hành chọn lọc thông tin, xác minh và

Trang 14

tìm những thông tin có chính xác nhất Do đó, những thông tin được đề cậptrong đề tài đều đảm bảo khách quan và chính xác.

5.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu

Khi bàn về bất cứ một vấn đề gì cũng đều có rất nhiều nguồn tài liệukhác nhau như sách, báo, các phương tiện truyền thông đại chúng… trongnước cũng như quốc tế Có rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau nhưng phải làmthế nào để có thể có được nguồn tài liệu có giá trị với đề tài nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp phân tíchtài liệu một cách có chọn lọc trên cơ sở các tài liệu có liên quan tới vấn đềnghiên cứu như: Các lý thuyết của ngành xã hội học, CTXH, các tài liệu trênInternet (các báo cáo, thông tin của bộ, các tổ chức đã có công bố chính xác

và cập nhập, các nghiên cứu đã được chính thức công nhận cho đến thời điểmhiện tại), các văn bản Luật, Chính sách, Quyết định, Nghị định, các chỉ thị,nghị quyết, các chiến lược của Đảng, Nhà nước, các chuyên đề và các báocáo, sách báo, tạp chí chuyên ngành có bài viết liên quan đến vấn để nghiêncứu Thông qua các tài liệu được phân tích giúp cho tác giả có cái nhìn toàndiện hơn về vấn đề nghiên cứu, nắm bắt được các số liệu, các quan điểmnghiên cứu trước đó để rút kinh nghiệm và tìm ra cái nhìn mới mẻ cho đề tàinghiên cứu của mình

Dựa trên các nguồn tài liệu của đại phương, các thông số dữ liệu của tàiliệu tham khảo để thu thập thông tin, đối chiếu so sánh lám sáng tỏ vấn đềnghiên cứu Những tài liệu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu bao gồm:

- Kết quả điều tra qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu

- Báo cáo điều tra dân số trên địa bàn xã qua các năm gần đây

- Báo cáo phát triển kinh tế xã hội địa phương

- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2011, Phươnghướng nhiệm vụ năm 2012

Trang 15

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn là phương pháp cụ thể để thu thập thông tinthông qua việc tác động tâm lí – xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và ngườiđược hỏi nhằm thu thập những thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụnghiên cứu của đề tài Trong phỏng vấn, nguồn thông tin là các câu trả lời củangười được phỏng vấn trên cơ sở ý thức của họ về vấn đề nghiên cứu và cùngvới đó là các yếu tố hành vi của họ được quan sát trong thời gian phỏng vấn

Có rất nhiều phương pháp phỏng vấn như phỏng vấn sâu, phỏng vấncấu trúc, phỏng vấn bán cấu trúc… Trong quá trình thu thập thông tin nghiêncứu đã có sự kết hợp giữa các phương pháp phỏng vấn với nhau để thu thậpnhững thông tin có giá trị giúp đề tài nghiên cứu được hoàn thiện Phỏng vấnngười dân trực tiếp sống trên địa bàn Xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh BắcNinh để có được những thông tin liên quan đến vấn đề kiến thức DS-KHHGĐgiúp cho việc thu thập thông tin về đề tài được hoàn thiện Cũng nhờ phươngpháp phỏng vấn để biết những ý kiến, tâm tư nguyện vọng của người dân vềthực trạng vấn đề dân số đang diễn ra trên địa bàn xã và những ý kiến củangười dân địa phương về giải pháp nhằm giảm tỷ lệ sinh trên địa bàn xã Cách

Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh

5.2.4 Phương pháp quan sát

Quan sát là một phương pháp thu thập thông tin thử nghiệm thông quacác tri giác nghe nhìn để thu thập thông tin và các quá trình, các hiện tượng xãhội, dựa trên cơ sở đề tài và mục tiêu của cuộc nghiên cứu Quan sát là baotrùm toàn bộ các cách thức, quy tắc để tiếp cận và thu nhận được các thôngtin thực nghiệm từ thực tế xã hội

Đây là phương pháp khá hiệu quả trong nghiên cứu xã hôi Ở đây,phương pháp này được dùng để bổ sung cho phương pháp phỏng vấn sâu vàphân tích tài liệu để phác họa, mô tả khái quát về tình hình thực hiện và kết

Trang 16

quả các chính sách DS-KHHGĐ đang được triển khai trên địa bàn Xã Cách

Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh

5.2.5 Phương pháp vãng gia

Đây là phương pháp mà nhân viên Công tác xã hội đến những hộ giađình thuộc nơi nghiên cứu để tìm hiểu, thu thập thông tin, phân tích vấn đề,lên kế hoạch và can thiệp giúp đỡ phục vụ cho nghiên cứu Vãng gia làphương pháp đề cao hoạt động cùng làm, cùng nói chuyện và cùng suy ngẫmcủa NVCTXH với thành viên trong gia đình

Phương pháp vãng gia giúp thu thập thông tin một cách chính xác quaviệc trực tiếp nói chuyện, quan sát thành viên gia đình, đây cũng là cơ hội đểNVXH kiểm tra lại thông tin và nhận định còn có nghi hoặc Giúp cho NVXHtạo ra được mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình, làm chomối quan hệ giữa NVXH và gia đình đối tượng được xích lại gần nhau hơnđiều đó giúp cho NVXH có thể gần gũi và có được sự tin tưởng của đối tượngcũng như là người thân của đối tượng Bên cạnh đó thúc đẩy được sự tham giacủa các thành viên trong gia đình trong quá trình hỗ trợ và giúp đỡ đối tượnggiải quyết vấn đề của mình một cách nhanh chóng hiệu quả và bền vững

5.3 Phương pháp và kỹ năng CTXH

CTXH vừa là một khoa học tổng hợp và cũng là một nghề chuyên mônbao gồm nhiều phương pháp vừa của riêng ngành CTXH vừa sử dụng kết hợpvới nhiều ngành khác Trong chuyên ngành CTXH, các phương pháp cơ bản

là CTXH với cá nhân, CTXH với nhóm và Phát triển cộng đồng Trong đề tàinày sử dụng ba phương pháp nghiên cứu nhưng nhấn mạnh tới phương Pháttriển CĐ Đây là một phương pháp mà tác giả vận dụng nhằm đưa ra giảipháp can thiệp, giúp đỡ CĐ để tăng cường, thay đổi, phát triển chức năng của

CĐ dựa trên tình hình thực tiễn và tiềm năng của CĐ

Trang 17

5.3.1 Phương pháp CTXH cá nhân

Là phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua quan hệ một, nhằm giải quyết vấn đề xã hội của cá nhân viên Đây là cách thức màNVXH sử dụng để tác động vào một cá nhân trong tiến trình can thiệp giảiquyết vấn đề Công cụ chủ yếu được sử dụng trong phương pháp này là sựtương tác giữa NVCTXH và một cá nhân để giúp họ bộc lộ những vấn đề củachính họ Đồng thời khích lệ họ bộc lộ những tâm tư, nhu cầu để NVCTXHhiểu được vấn đề của đối tượng và tiến hành các hoạt động trợ giúp Ở đây,NVCTXH sử dụng phương pháp CTXH với cá nhân để làm việc với ngườidân địa phương, gia đình họ nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về kiếnthức DS-KHHGĐ thông qua các biện pháp tuyên truyền hay là cầu nối đểcung cấp các dịch vụ về CSSS, KHHGĐ đến cho người dân

Trong CTXH nhóm mối tương tác trong nhóm là điều quan trọng nhất.Thông qua sự tương tác trong nhóm các thành viên có cơ hội được chia sẻkinh nghiệm trong quá trình làm việc, cũng như những suy nghĩ, tình huốngthường gặp và có thể mạnh dạn đưa ra phương hướng mình đã từng áp dụng

để giải quyết vấn đề

Đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức của người dân về kiến thức KHHGĐ phương pháp CTXH nhóm được áp dụng một cách có hiệu quả.Thông qua hoạt động nhóm người dân có thể mạnh bày tỏ ý kiến quan điểm

Trang 18

DS-của mình về thực trạng dân số DS-của địa bàn xã đưa ra phương hướng giải quyếtvấn đề.

Môi trường nhóm trong CTXH là một trong những điều kiện thuận lợigiúp cho NVCTXH làm việc một cách có hiệu quả

5.3.3 Phương pháp CTXH Cộng đồng

Cộng đồng là một danh từ chung nhằm để chỉ một tập hợp người nhấtđịnh Họ cùng tương tác với nhau mặt khác trong cộng đồng giữa họ phải cómột vài đặc điểm chung về vật chất hay tinh thần nào đó ngôn ngữ, tôn giáo,

sở thích, nhu cầu, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, cùng vấn đề quan tâm

Tổ chức và phát triển cộng đồng là phương pháp nhằm hướng tới sự thayđổi cho cộng đồng còn yếu, kém phát triển về một mặt nào đó trong sự pháttriển toàn diện của xã hội

Thực chất của phương pháp này là huy động nguồn lực của nhân dân,của toàn xã hội, có sự tham gia của Nhà nước để cải thiện đời sống nhân dân

và tăng cường khả năng tự lực của cộng đồng thông qua nhóm chính sách,chương trình, các dịch vụ xã hội cơ bản Vai trò của cán bộ xã hội là hỗ trợcộng đồng trong xác định, phân tích tìm ra nguyên nhân của những trở ngạikhó khăn ảnh hưởng tới sự phát triển và tạo ra mối liên kết giữa các thànhviên trong cộng đồng, giữa cộng đồng với các cơ quan, tổ chức thông qua cácchương trình, dịch vụ để tiến hành các hoạt động làm thay đổi bộ mặt cộngđồng

Ngoài 3 phương pháp phổ biến của công tác xã hội đã nêu ở trên thìtrong hoạt động công tác xã hội cần quan tâm đến một số phương pháp củacác ngành khoa học khác như: xã hội học, tâm lý học, giáo dục học… Bởi lẽtrong xã hội hiện đại có những vấn đề nảy sinh nó còn có thể bắt nguồn từchính sách xã hội, môi trường xã hội, tổ chức và quản lý xã hội Tùy thuộcvào trình độ phát triển của xã hội và sự phát triển của bộ máy an sinh xã hội

Trang 19

mà thiết lập và sử dụng các biện pháp can thiệp khác nhau vào các đối tượngtrong xã hội.

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết 1: Người dân địa phương chưa được cung cấp đầy đủ

các kiến thức về DS-KHHHGĐ Mức sinh hàng năm tại địa bàn Xã Cách Bi,Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh vẫn còn ở mức cao Quan niệm cần phải sinhcon trai để nối dõi tông đường vẫn còn chi phối mạnh mẽ đến việc sinh concủa người dân địa phương

- Giả thuyết 2: Ảnh hưởng của công tác truyền thông và các dịch vụ

chăm sóc sức khỏe sinh sản đến công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là rấtlớn

- Giả thuyết 3: Việc nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về

kiến thức DS-KHHHGĐ đã được trung tâm dân số KHHGĐ, hội phụ nữ, cơquan y tế các ban ngành đoàn thể tại địa phương quan tâm nhưng chưa đạthiệu quả

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái

Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ lýthuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy Bertalanffy sinh ngày19/09/1901 tại Vienna và mất 12/06/1972 tại Newyork- Mĩ Ông đã tốtnghiệp các trường đại học: Vienna(1948), London(1949), Montreal(1949).Ông là một nhà sinh học nổi tiếng Lý thuyết của ông là một lý thuyết sinhhọc cho rằng “ Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từcác tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do

đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, màđược tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn” Lý thuyết này được áp dụng đốivới các hệ thống xã hội cũng như những hệ thống sinh học Sau này, lýthuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển thêm:Hanson(1995), Mancoske(1981), Siporin(1980)…

Hệ thống bao gồm nhiều bộ phận, nhiều yếu tố cấu thành, có sự liênkết và tác động qua lại với nhau Những bộ phận, những yếu tố này đượcsắp xếp theo một trình tự nhất định tạo thành một tổng thể Trong việc sắpxếp vấn đề đặt ra cho các chủ thể tổ chức là cần phải tiến hành phân tíchcấu trúc, tính đến các mối quan hệ giữa cấu trúc và yếu tố hệ thống, giữacấu trúc và chức năng

Hệ thống muốn hoàn thiện hơn thì phải tìm được các yếu tố và các mốiliên hệ giữa các yếu tố đã làm hạn chế sự phát triển của hệ thống Muốn hệthống hoạt động có hiệu quả phải tính toán làm sao cho chức năng và nhiệm

vụ của hệ thống được sự ủng hộ của cộng đồng, xã hội Mỗi hệ thống đều cótính hướng đến mục tiêu riêng của từng yếu tố cấu tạo nên hệ thống

Trang 21

Có bốn thành tố đối với mọi hệ thống, đó là: hành vi, cấu trúc, văn hóa,diễn biến của hệ thống Mỗi hệ thống đều có thời gian sống và nghỉ ngơi.

Hành vi có khi gọi là năng lượng mang tính tâm lý (thức ăn là nănglượng, sự nâng đỡ về tình cảm là năng lượng) Hành vi là cách sử dụng nănglượng mới thì hệ thống sẽ chết dần, vì vậy mọi hệ thống đều phải mở ra vàtiếp nhận những năng lượng mới Mọi hệ thống đều thay đổi nhưng khôngthay đổi quá nhanh mà luôn luôn có những lực lượng bên trong một hệ thống,luôn có sự sống và năng lượng, những năng lượng này đẩy kéo nhau

Cấu trúc: bất cứ hệ thống nào cũng có một bộ phận hay hệ thống bộphận như trong cơ thể con người có rất nhiều hệ thống Cơ cấu có nghĩa làranh giới

Văn hóa: bất cứ hệ thống nào đều mang nét văn hóa riêng của nó

Diễn biến của hệ thống: bất cứ hệ thống nào cũng thay đổi theo thờigian nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải giữ được sự cân bằng, ổnđịnh, không có một cơ cấu nào tồn tại mãi mãi như vốn có Bất kỳ một hệthống nào cũng phải có nhiều phương tiện để kiểm tra, quản lý

Hướng tiếp cận vấn đề theo hệ thống được sử dụng rộng rãi trong nhiềungành khoa học khác nhau, đặc biệt là trong khoa học xã hội bởi nhờ phươngpháp này giúp ta có cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu

Hệ thống là sự tập hợp của các bộ phận cấu thành và các quá trìnhtrong mối liên hệ qua lại theo trật tự năng động Cấu trúc của hệ thống đượctạo bởi các tiểu hệ thống, mỗi cấu trúc lại có chức năng riêng Có rất nhiềuyếu tố tác động đến hệ thống- theo hai hướng tích cực và tiêu cực TrongCTXH, trên cơ sở này cần xem xét thân chủ không phải là các yếu tố táchbiệt, tự thân mà như các hệ thống có mối liên hệ tổng hợp với các hệ thốngkhác lớn hơn như bối cảnh, môi trường…

Mỗi cá nhân trong xã hội đều sống, tồn tại trong môi trường, hoàn cảnh

cụ thể, từ đó tạo nên một thể thống nhất có sự tác động qua lại lẫn nhau, có sự

Trang 22

ràng buộc với nhau chặt chẽ trong môi trường sinh thái Môi trường sinh tháilại được cấu tạo bởi nhiều yếu tố và các yếu tố này vừa độc lập, vừa riêngbiệt, vừa liên kết chặt chẽ với nhau Bản thân mỗi người cũng chính là một hệthống gồm các mặt sinh học, tâm lý, hành vi

Trong đề tài nghiên cứu về vấn đề dân số tại địa bàn xã Cách Bi, HuyệnQuế Võ, Tỉnh Bắc Ninh cũng cần phải tìm hiểu về trên các phương diện nhưvậy Hơn nữa, tìm hiểu về người dân trong bối cảnh gia đình, nhóm hay cộngđồng mà họ sinh sống Đặc biệt là gia đình sinh con một bề, họ là những giađình có khả năng sinh con thứ ba ở mức cao Chúng ta xem xét các hộ giađình đã sinh con thứ ba, những gia đình đông con ở các phương diện hành vi,cấu trúc, văn hóa và diễn biến hệ thống dẫn đến hành vi sinh con thứ ba củacác hộ gia đình, hay tỷ lệ sinh của người dân tại phương vẫn ở mức cao

1.2 Lý thuyết nhu cầu

Công tác xã hội là hoạt động hướng tới sự giúp đỡ cá nhân hay nhómnhằm thỏa mãn nhu cầu cần thiết, giúp họ hoạt động có hiệu quả hơn Để giúp

đỡ được họ thì nhân viên xã hội phải có những kiến thức, kỹ năng tâm ly đểhiểu được nhu cầu, mong muốn cũng như các hành vi của họ

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Nhu cầu là đòi hỏi kháchquan của con người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống vàphát triển của mình”

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970) được xem như mộttrong những người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn Năm

1943, ông đã phát triển một trong các học thuyết mà tầm ảnh hưởng của nóđược thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đó

là lý thuyết về thang bậc nhu cầu của con người

Trong lý thuyết này, Ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một

hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuấthiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước

Trang 23

Maslow đã chia nhu cầu làm 5 bậc:

- Nhu cầu thứ nhất: là nhu cầu về vật chất, sinh lý như ăn, ở, mặc… Đó

là nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất cần có cho bất kỳ một cá nhân nào Nếunhu cầu này mà không được thỏa mãn sẽ không có nhu cầu tiếp theo

- Nhu cầu thứ hai: là nhu cầu về an toàn xã hôi, nhà ở, việc làm, sức khỏe

- Nhu cầu thứ ba: là nhu cầu được yêu thương, gắn bó…

- Nhu cầu thứ tư: là nhu cầu được tôn trọng, được nhìn nhận đúng giátrị bản thân

- Nhu cầu thứ năm: là nhu cầu được phát triển trí tuệ, được học tập,sáng tạo, được thể hiện khả năng của mình

Các nhu cầu trên luôn luôn được tồn tại, thay đổi và phát triển Chúng

có mối quan hệ qua lại với nhau Sự thay đổi trong việc đáp ứng nu cầu này sẽảnh hưởng tới sự đáp ứng nhu cầu khác

+ Nhu cầu cơ bản:

Nhu cầu này được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý, baogồm các nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở,tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái, đây là những nhu cầu cơbản nhất và mạnh nhất của con người Maslow cho rằng, những nhu cầu ởmức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này đượcthỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã mộtngười hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Ông bà ta cũng sớmnhận ra điều này khi cho rằng “có thực mới vực được đạo”, cần phải được ănuống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn.Chúng ta có thể kiểm chứng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói kháthoặc bệnh tật, khi đó các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu

+ Nhu cầu về an toàn, an ninh:

Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, khi đó các nhu cầu

về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh này

Trang 24

thể hiển trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệcho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm, các trường hợp khẩn cấp,nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ trẻ conthường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ,mong muốn được vỗ về Nhu cầu này được thể hiện qua các mong muốn về

sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở

+ Nhu cầu về xã hội:

Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộphận, một tổ chức nào đó, hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nhu cầunày thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm ngườiyêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic,tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm

+ Nhu cầu về được quý trọng:

Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng, vì nó thể hiện hai cấpđộ:

Một là: Nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các

thành quả của bản thân

Hai là: Nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của

mình, có lòng tự trọng, sự tin tưởng vào khả năng của bản thân

Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến một đứa trẻ học tậptích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn

+ Nhu cầu được thể hiện mình:

Maslow mô tả nhu cầu này như sau: Nhu cầu của một cá nhân mongmuốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nóimột cách đơn giản, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềmnăng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xãhội

Trang 25

Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow vào đề tài nghiêncứu, chính là xem xét việc thực hiện các chính sách DS-KHHGĐ của ngườidân sống trên địa bàn xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh đã đượcđảm bảo đúng các nhu cầu và quyền cơ bản của con người mà không vi phạmchính sách pháp luật về dân số của Đảng và nhà nước hay chưa Đồng thờicũng cung cấp đến người dân địa phương những kiến thức về DS-KHHGĐ đểngười dân góp phần thực hiện tốt chính sách dân số của quốc gia đặc biệt gópphần giảm tỷ lệ sinh kiểm soát tốc độ gia tăng dân số tại địa phương.

1.1.3 Lý thuyết hành vi con người

Khoa học phân tích hành vi ra đời năm 1849 bắt đầu với thí nghiệm củaIvan PavLov Sau đó, có một số nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu là Jonh B.Watson (1878 – 1958) và Burrhur F Skinner (1904 – 1990)

Theo Parlov: Hành vi có tính phản xạ, khi có một tác nhân kích thích sẽdẫn đến hành vi Theo Watson và Burrhur thì hành vi có tính hành động nghĩa

là từ hành vi tạo nên kết quả Đồng thời, hai ông cũng nhấn mạnh ảnh hưởngcủa môi trường đến hành vi con người

Công tác xã hội có mục tiêu hỗ trợ con người thực hiện các chức năngcủa mình một cách bình thường Do vậy, để tiến hành giải quyết ca trongcông tác xã hội cá nhân, NVXH phải đánh giá được quá trình hình thành hành

vi cá nhân, nắm được cách tác động của các yếu tố môi trường làm phát sinhhành vi đó

Hành vi con người được hiểu là cử chỉ, động tác đáp lại của con ngườikhi một kích thích từ bên ngoài hoặc một động lực thúc đẩy từ bên trong đểgiải tỏa sự mất cân bằng (nhu cầu cơ bản) để đạt mục đích là thỏa mãn nhucầu là tái lập sự cân bằng Ngoài ra, NVXH cũng cần hiểu hành vi ứng phócủa thân chủ, các hành vi ứng phó được xác định như là các hành vi hướngtrực tiếp đến môi trường

Lý thuyết hành vi có những đặc điểm sau:

Trang 26

Hành vi của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng của điều kiện xung quanh nhưmôi trường sống, kinh nghiệm sống mà người đó trải qua Hành vi của conngười liên quan đến các yếu tố như cảm xúc, suy nghĩ, lời nói, hành động.Trong đó, cảm xúc và suy nghĩ không thể nhận biết được còn lời nói và hànhđộng thường bộc lộ một cách công khai Môi trường là những yếu tố xungquanh bao gồm cả về vật chất và con người Môi trường sẽ tác động tới hành

vi của cá nhân trong những điều kiện cụ thể

Hành vi của con người thường có mục đích và hành vi này là sự đáp trảcho nhu cầu tình cảm và thể lí của cá nhân Hành vi của con người mà chúng

ta có thể nhận biết hay giải thích nếu nhu cầu về vật chất và nhu cầu tình cảm

có thể quan sát được Nhưng cũng có những nhu cầu về tình cảm mà chúng takhông dễ dàng nhận biết được, khi đó rất khó để thiết lập mối liên hệ giữanhu cầu và hành vi

Hành vi của người khác chỉ có thể hiểu được bằng sự thấu hiểu cả về trithức và tình cảm của người đó Khi thấy một người nào đó hành xử theo cách

mà xã hội không thể chấp nhận, chúng ta thường đưa ra những lý do giải thíchhành vi đó dựa trên phán đoán chủ quan của chúng ta mà đôi khi lý do nàykhông dựa các yếu tố kinh tế, tình cảm một cách nghiêm túc

Do vậy, xác định hành vi của một người, chúng ta phải có thái độ cởi

mở, sẵn sàng tiếp cận, tìm hiểu họ dựa trên nhiều nguồn thông tin khác nhau

Trong đề tài nghiên cứu, em vận dụng lý thuyết hành vi để phân tíchnhững yếu tố tạo nên hành vi về chăm sóc SKSS và thực hiện chính sách DS-KHHGĐ của người dân sống tại địa bàn xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, TỉnhBắc Ninh Từ đó, đưa ra những giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thứccủa người dân về kiến thức CSSKSS, DS-KHHGĐ và cung cấp các dịch vụCSSKSS nhằm thay đổi hành vi của người dân địa phương góp phần thựchiện chính sách DS-KHHGĐ của Đảng và nhà nước

Trang 27

1.1.4 Lý thuyết vai trò

Trong xã hội, mỗi cá nhân có một vị trí và vai trò xã hội nhất định Ví

dụ vai trò xã hội của một giáo viên là giảng dạy, vai trò một bác sĩ là chữabệnh Do đó, có thể nói vai trò xã hội của một cá nhân là khái niệm xã hộihọc xác định những gì cá nhân ấy phải làm ở một không gian và thời gian

nhất định theo những qui tắc chuẩn mực mà xã hội đã đặt ra.

Vai trò xã hội là dùng để chỉ “vai diễn” hoặc trọng trách mà các cánhân phải đảm đương, thực hiện trong một thời gian nhất định do mọi ngườitín nhiệm, giao phó và mong đợi Những vai trò này do cá nhân học hỏi, rènluyện trog quá trình xã hội hóa cá nhân tạo nên Tất nhiên trong một tổ chức

xã hội bao gồm nhiều vai trò xã hội “phân công” có người tùy năng lực, điềukiện chủ quan và khách quan… có thể có vai trò là người thừa hành thực hiện

Vai trò xã hội mô tả các tác phong đồng nhất được xã hội chấp nhận

Nó xuất hiện từ những mối quan hệ xã hội, những mối quan hệ qua lại củanhững người cùng hoạt động

Vai trò xã hội bao hàm các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tới mộtnhiệm vụ nào đó Bao giờ cũng có độ chênh lệch giữa vai trò mong đợi và vaitrò thực sự

Vai trò bao giờ cũng đi liền với trách nhiệm hay chính là chức năng phảithực hiện mà xã hội mong đợi ở các chủ thể hành động Như vậy, có thể thấyvai trò chính là những đòi hỏi đặt ra mà buộc mỗi cá nhân, nhóm ở vị thế củamình phải thực hiện

Mỗi thời kỳ, mỗi xã hội khác nhau việc xác định vai trò cho mỗi một vịthế có sự thay đổi khác nhau Để thực hiện các vai trò của mình đòi hỏi cácchuẩn mực phải rõ ràng, các cá nhân phải học đóng các vai trò ứng với mỗimột quan hệ xã hội, ở mỗi một vị trí thì người ta lại có vai trò khác nhau.Vận dụng lý thuyết vai trò trong việc nâng cao nhận thức của người dân

về kiến thức DS-KHHGĐ đề xem xét vai trò của mỗi người dân, mỗi hộ gia

Trang 28

đình trong việc xem xét vai trò của họ trong mối quan hệ với gia đình, họhàng, dòng tộc, làng xóm Vai trò ấy có ảnh hưởng như thế nào đến hành visinh sản, đến việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ của người dân địaphương Đồng thời cũng khẳng định vai trò quan trọng của mỗi người dân địaphương trong việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ của địa phương.

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 CTXH

Công tác xã hội vừa là một khoa học xã hội ứng dụng vừa là một nghềnghiệp chuyên môn được hình thành từ cuối thế kỷ XIX, cho đến nay đã pháttriển rộng khắp trở thành ngành khoa học và nghề chuyên môn phổ biến ở hầuhết các quốc gia trên thế giới Công tác xã hội có vị trí và vai trò quan trọngtrong xã hội hiện đại

Công tác xã hội là một khoa học một nghề vận dụng kiến thức khoa họcvận dụng kỹ năng nghề công tác xã hội để can thiệp tác động vào cá nhân, giađình nhóm cộng đồng để hỗ trợ họ giải quyết vấn đề Tăng cường các chứcnăng xã hội của họ bằng cách tập trung vào các hoạt động vào các quan hệ xãhội quan hệ giữa con người và môi trường dẫn đến sự thay đổi và phát triển cánhân xã hội

Theo IFSW - Liên đoàn Công tác xã hội, 2000, định nghĩa: CTXH thúcđẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,

sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho họ ngày càng cócuộc sống thoải mái, dễ chịu Vận dụng lý thuyết về hành vi con người và hệthống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môitrường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản củanghề công tác xã hội

CTXH là vận dụng khoa học về hành vi con người và hệ thống xã hộinhằm khôi phục lại chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vịtrí địa lý, vai trò cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế, nhắm tới sự bình

Trang 29

đẳng và tiến bộ xã hội CTXH còn là dịch vụ đã chuyên môn hóa, góp phầngiải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến con người nhằm thỏa mãn nhucầu căn bản của cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, mặt khác giúp cá nhân tựnhận thức về vai trò, vị trí của mình

1.2.2 NVCTXH

NVXH giúp con người tăng cường khả năng giải quyết, đối phó vấn đề,giúp họ có được những tài nguyên cần đến, tạo sự tương tác giữa cá nhân vàgiữa con người với môi trường làm cho các tổ chức đáp ứng với con người vàảnh hưởng đến các chính sách xã hội Để giải quyết vấn đề của thân chủ, nhânviên CTXH cần thực hiện tốt những vai trò sau:

 Người giáo dục: NVXH tìm cách chuyển thông tin đến thân chủ,giúp họ thay đổi nhận thức và hành vi

 Chiếc cầu nối: NVXH tìm hiểu rõ nhu cầu của thân chủ và cácnguồn tài nguyên, vì vậy NVXH phải tích cực nối kết đối tượng với nguồn tàinguyên

 Người tạo điều kiện: NVXH tạo điều kiện cho thân chủ tăng dần khảnăng bàn bạc, lựa chọn, lấy quyết định và hành động để giải quyết vấn đề theo

sự hiểu biết và quyết định của riêng họ

 Người trung gian: NVXH giúp một hay nhiều thân chủ hiểu quanđiểm của nhau và cùng đi đến sự thống nhất chung

 Người biện hộ: Đây là vai trò quan trọng của NVXH, trong trườnghợp này nhân viên xã hội đại diện cho tiếng nói của thân chủ, đề đạt đến các

cơ quan thẩm quyền, tổ chức xã hội… yêu cầu các quyền hợp pháp cho thânchủ

 Người lập kế hoạch: NVXH cùng với thân chủ lập kế hoạch hànhđộng dựa trên thông tin được đánh giá để có cách giải quyết phù hợp

 Người điều phối: Đảm bảo cho thân chủ có quyền với các dịch vụcần thiết và các dịch vụ này được thực hiện có hiệu quả Ngoài ra, NVXH còn

Trang 30

đóng vai trò điều phối các dịch vụ hỗ trợ cho thân chủ được hợp lý, mang lạiquyền lợi cho thân chủ.

1.2.3 Vai trò

Theo từ điển XHH- NXB thế giới – 2002: “ Vai trò là tập hợp những kỳvọng ở trong một xã hội gắn bó với nhau của nhũng người mang các địa vị Ởmức độ này thì vai trò riêng là tập hợp nhóm các kỳ vọng hành vi”

Theo từ điển tiếng việt : Vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạtđộng, sự phát triển của cái gì đó Vai trò của người quản lý giữ một vai trònhất định

Vai trò – hiểu theo nghĩa chung nhất chính là sự mong mong đợi của xãhội vào mỗi cá nhân CTXH là một nghề còn non trẻ so với nhiều nghề khácnhưng nó đã và đang đóng vai trò quan trọng phục vụ đắc lực cho mục tiêutăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia

1.2.4 Dân số

Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa

lý hoặc một không gian nhất định, thường được đo bằng một cuộc điều tradân số

Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ: quy mô và cơcấu Nội hàm của khái niệm Dân cư không chỉ bao gồm số người, cơ cấu theo

độ tuổi và giới tính mà nó còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sứckhoẻ, ngôn ngữ tức là nó rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệmDân số Dân số học được hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ nghiên cứu quy mô, cơcấu và biến động dân số Dân số đang là đối tượng quản lý của Nhà nước

1.2.5 Sức khỏe sinh sản.

Theo ICPD Hội nghị dân số và phát triển :

SKSS là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, khôngchỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc không tàn phế của hệ thống sinh sản.Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận

Trang 31

thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, các biện pháp

kế hoạch hóa gia đình an toàn có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựachọn của mình, đảm bảo người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ

an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng cơ hội tố nhất để sinh được những đứa conlành mạnh

Một cách ngắn gọn : SKSS là một tình trạng hài hòa về thể lực, tinhthần, xã hội trong tất cả các vấn đề có liên quan đến tình dục và hệ thống sinhsản của con người, chức năng và quá trình của nó SKSS được hiểu là có nhucầu và có khả năng về một cuộc sống thoải mái, khỏe manh, tình dục đượcthỏa mãn, an toàn

Chăm sóc SKSS được hiểu là tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật vàcác dịch vụ dành cho SKSS và trạng thái khỏe mạnh bằng cách phòng và giảiquyết các vấn đề SKSS

Các thành tố của chiến lược chăm sóc SKSS của Việt Nam

4 Phòng chống và chữa trị RTI, STD/HIV/ AIDS

5 Sớm phát hiện và chữa trị ung thư đường sinh sản

6 Chống và chữa trị vô sinh

7 Sức khỏe sinh sản vị thành niên

1.2.6 KHHGĐ

Kế hoạch hóa gia đình là những nỗ lực của các cặp vợ chồng hay của

cá nhân nhằm mục đích chủ động sinh đẻ số lượng con và duy trì khoảng cáchsinh theo ý muốn bằng các biện pháp tránh thai có hiệu quả

Trang 32

KHHGĐ có thể mang lại lợi ích về sức khỏe và kinh tế - xã hội, hoàntoàn có thể đạt được hiệu quả cao với mọi đối tượng có đủ kiến thức và kỹnăng cần thiết về các biện pháp tránh thai, đồng thời hiểu được các tác dụng

Tri thức là:

- Các thông tin, các tài liệu, các cơ sở lý luận, các kỹ năng khác nhau, đạtđược bởi một tổ chức hay một cá nhân thông qua các trải nghiệm thực tế haythông qua sự giáo dục đào tạo; các hiểu biết về lý thuyết hay thực tế về mộtđối tượng, một vấn đề, có thể lý giải được về nó;

- Là những gì đã biết, đã được hiểu biết trong một lĩnh vực cụ thể hay toàn

bộ, trong tổng thể;

Tri thức giành được thông qua các quá trình nhận thức phức tạp: quátrình tri giác, quá trình học tập, tiếp thu, quá trình giao tiếp, quá trình tranhluận, quá trình lý luận, hay kết hợp các quá trình này

Trang 33

1.2.8 Nhận thức

Triết học định nghĩa rằng “ Nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạolại hiện thực trong tư duy của con người, được quy định bởi những quy luậtphát triển xã hội và không tách rời thực tiễn, có nhận thức đúng, có nhận thứcsai” Nhận thức nảy sinh trong quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể.Triết học cũng khẳng định rằng chủ thể của nhận thức là con người và conngười là tổng thể hòa các mối quan hệ tự nhiên và xã hội Con người là chủthể của nhận thức cho nên nhận thức của con người luôn được chi phối bởicác yếu tố: lợi ích, tâm lý, các yếu tố xã hội như phong tục tập quán, định kiến

xã hội, truyền thống văn hóa dân tộc Khách thể của nhận thức là đối tượng

mà nhận thức hướng tới

Nhận thức là biết được hiểu được và ý thức được thế giới xung quanhqua hoạt động thực tiễn Từ nhận thức con người có thể trau dồi kinh nghiệm,kiến thức từ đó nâng cao hiểu biết của bản thân Do nhận thức nảy sinh trongquá trình chủ thể tương tác với khách thể nên nhận thức có mối quan hệ chặtchẽ, hữu cơ với hành vi Từ nhận thức tới hành vi phait trải qua một quá trìnhnhưng không thể phủ nhận rằng nhận thức có ảnh hưởng trực tiếp và quantrọng tới hành vi Hành vi bị chi phối bởi nhiều mức độ nhận thức Nếu nhậnthức là chính xác, đầy đủ thì nó là nền tảng là tiền đề cho hàng loạt nhữnghành vi đúng đắn phù hợp với mong đợi và chuẩn mực của xã hội

Nghiên cứu khái niệm nhận thức để thấy được trong vấn đề thực hiệnchính sách DS-KHHGĐ thì nhận thức là yếu tố quyết định dẫn tới các hành visinh sản của người dân về số con sinh ra, khoảng cách giữa các lần sinh, sửdụng các BPTT phù hợp Đồng thời thấy được nếu nhận thức của người dânđược nâng cao, thay đổi nhận thức sẽ thay đổi được hành vi về DS-KHHHGĐcủa người dân địa phương góp phần thực hiện chính sách dân số quốc gia

Trang 34

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ

Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX xác định: “Chính sách dân số nhằmchủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với những yêucầu phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình; giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân

bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, NXB chính trị quốc gia, Năm 2001, Trang 107).

Trên cơ sở năm quan điểm của Nghị quyết 04-NQ/HNTW và quanđiểm của Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, Quyết định số147/2000/QĐ-TTg xác định quan điểm mở rộng toàn diện mục tiêu của chínhsách dân số là: “Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hoàquan hệ giữa số lượng với chất lượng dân số, giữa phát triển dân số với pháttriển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân cư với phát triển kinh tế

- xã hội là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân số; tập trung ưu tiên cho cácvùng có mức sinh cao, vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa để giải quyết các vấn

đề dân số và nâng cao mức sống nhân dân”

Nghị quyết số 47-NQ/TW xác định quan điểm chỉ đạo là Tiếp tục quántriệt và kiên quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghịlần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách dân số và

kế hoạch hoá gia đình; phấn đấu sớm đạt được mục tiêu ổn định quy mô dân

số, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số Việt Nam; Toàn Đảng,toàn dân kiên trì thực hiện chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến haicon để có điều kiện nuôi dạy tốt; Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầuthực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình

Tại hội nghị TW 4 khóa VII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vềChính sách dân số và KHHGĐ, Đảng ta nêu rõ:

Trang 35

- Công tác Dân số và kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quantrọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế -

xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượngcuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội

- Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số và Kế hoạch hóa giađình là vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụKHHHGĐ đến tận người dân, có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp chongười chấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúngthực hiên KHHGĐ

- Đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quả kinh

tế trực tiếp rất cao Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác KHHGĐ, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sựviện trợ của quốc tế

DS Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác DSDS KHHGĐ,đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý chương trình mựctiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu quả và đến tậnngười dân

- Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều đó có ýnghĩa quyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổchức thực hiện công tác DS-KHHGĐ theo chương trình

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC DS- KHHGĐ TẠI ĐỊA BÀN XÃ CÁCH BI, HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

2.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

, Địa hình

Địa hình của Xã Cách Bi tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu

từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảymặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình Địa hình bằng phẳng là yếu tốthuận lợi để xã phát triển ngành sản xuất nông nghiệp với lúa là cây trồng chủđạo ngoài ra còn có các loại cây rau màu khác

, Khí hậu

Xã Cách Bi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đônglạnh Nhiệt độ trung bình năm là 23,3°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là28,9°C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8°C (tháng 1) Sựchênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1°C

Với những đặc điểm khí hậu trên là điều kiện thuận lợi để xã phát triểnmột nền nông nghiệp đa dạng với cơ cấu cây trồng vật nuôi đa dạng

Trang 37

, Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của Xã khoảng 817,8 ha Trong đó đất canhtác nông nghiệp là 423,9 ha chiếm 51,83%, đất phi nông nghiệp là 268,9 ha.Chiếm 32,88% Đất chưa sử dụng là 125 ha chiếm 15,29%

Trong tổng diện tích đất canh tác thì đất nông nghiệp là 289,5 ha chiếm69,29% tổng diện tích đất canh tác của Xã Đất trồng cây hàng năm khác là121,3 ha chiếm 28,61% diện tích đất canh tác của Xã Còn lại là diện tích đấttrồng cây lâu năm 13,1 ha chiếm 2,1% diện tích đất canh tác của Xã

, Khoáng sản

Về tài nguyên khoáng sản thì Xã Cách Bi có nguồn cát, đá sỏi ven SôngĐuống Đây là nguồn vật liệu xây dựng khá dồi dào phục vụ cho các hoạtđộng khai thác đáp ứng nhu cầu trong xã và phục vụ cho các xã lân cận khác

, Sông Ngòi

Nguồn nước cung cấp cho Xã Cách Bi chủ yếu do sông Đuống SôngĐuống hay còn gọi là Sông Thiên Đức là con sông có chiều dài 68km nốiSông Hồng với Sông Thái Bình Thuận lợi cho xã Cách Bi phát triển một nềnsản xuất nông nghiệp có cơ cấu cây trồng vật nuôi đa dạng

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, chính trị của xã Cách Bi, huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh.

Cách Bi là xã nằm ở phía Đông nam của huyện Quế Võ, có điều kiện tựnhiên, khí hậu phù hợp với việc phát triển cây lúa nước Do thuận lợi về địa

lý, đất đai và điều kiện tự nhiên, rất ưu đãi đối với việc phát triển cây lúa.Người dân trong xã Cách Bi phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nôngnghiệp, với cây lúa là cây trồng chủ yếu Ngoài ra còn trồng xen canh các loạicây như ngô, lạc, đậu tương

Trong 20 năm trở lại đây Xã Cách Bi đã phát triển kinh tế và đạt đượcmột số thành tựu đáng kể Từ năm 2005 đến nay kinh tế của xã có nhiều khởisắc và đang trên đà phát triển, thu nhập bình quân đầu người trong toàn xã

Trang 38

được nâng lên đạt mức 12.103.000 đồng/ người/ năm Kinh tế của xã trongnhững năm gần đây tăng trưởng ở mức bền vững Theo thống kê của xã, năm

2010 tỉ lệ hộ nghèo toàn xã chiếm 7.7% so với dân số toàn xã theo mức chuẩnnghèo mới của cả nước

Như vậy, Cách Bi là xã có nền kinh tế phát triển trong Huyện Quế Võ.Cách Bi cũng là Xã mức sống của người dân khá cao so với các xã khác tronghuyện Quế Võ

2.1.3 Những đặc điểm về văn hóa, xã hội của thôn Cách Bi xã Cách Bi huyện Quế Võ.

Tổng số trong toàn xã gồm 5 thôn, thành phần chủ yếu là dân tộc kinh.Toàn xã có 1496 hộ, với 5824 người Trong đó: Nam có 2883 người; nữ có:

2941 người Như vậy trong cơ cấu dân số của xã Cách Bi đang có sự chênhlệch giới tính Tỷ lệ nữ giới cao hơn tỷ lệ nam giới Nữ giới chiếm 50.49%,

nữ giới chiếm 49.51%

Cơ cấu dân số của xã xét về nhóm tuổi thì dưới tuổi lao động chiếm15,09%, trong tuổi lao động chiếm 61,27%, hết tuổi lao động chiếm 23,64%.Như vậy, cơ cấu dân số của xã thuộc loại trẻ, nguồn lao động dồi dào là điềukiện thuận lợi để xã phát triển kinh tế

Mức sinh của xã năm 2011 là 14,3% Tỷ lệ tử vong là 5.3%/ năm Tỷ lệ

hộ gia đình trong xã sinh ra con thứ 3 khá cao 12,6 % trẻ trong năm

Như vậy nguồn lao động của xã khá dồi dào trong đó khả năng chuyểnđổi cơ cấu lao động sang hướng lao động dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp làrất lớn Song cần có biện pháp đào tạo lao động có kỹ thuật

Đánh giá một cách tổng quan, nguồn lao động của xã tuy khá dồi dàonhưng chủ yếu là lao động giản đơn, sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp Tỷ

lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp

Hiện nay xã có một trạm y tế Tổng số biên chế của trạm có 6 cán bộ: 02bác sỹ, 01 y tá, 02 y sỹ, 01 nữ hộ sinh Đặc biệt xã có 5 y tế thôn được chia

Trang 39

đều cho 5 khu dân cư, công tác khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân đượcthường xuyên, làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, thực hiện tốt chươngtrình y tế quốc gia, CSSKSS, chương trình DS-KHHGĐ.

2.2 Công tác DS-KHHGĐ tại địa bàn Xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh.

2.2.1 Cơ cấu tổ chức của Ban DS-KHHGĐ cấp Xã.

Ban DS-KHHGĐ xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh do BàPhạm Thi Minh Khương hội trưởng hội phụ nữ Xã làm trưởng ban và một cán

bộ dân số chuyên trách Ngoài ra, có 5 cộng tác viên dân số và các tìnhnguyện viên dân số tại các thôn

Các cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số hầu hết được đào tạoqua các lớp tập huấn dài hạn Ngoài ra, đội ngũ cán bộ làm công tác dân sốcủa xã cũng thường xuyên được nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ quacác lớp tập huấn ngắn hạn do Tỉnh Bắc Ninh và Huyện Quế Võ tổ chức Độingũ cán bộ cộng tác viên làm công tác DS-KHHGĐ từ xã đến thôn nhiệt tình yêunghề có trách nhiệm cao, có kinh nghiệm trong công tác DS-KHHGĐ đã khắcphục được khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

2.2.2 Thực trạng công tác DS- KHHGĐ tại địa bàn Xã Cách Bi, Huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

2.2.2.1 Nhận thức của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ

Công tác DS-KHHGĐ là mối quan tâm của lãnh đạo xã, ban dân sốcũng như các các cấp lãnh đạo huyện, tỉnh Qua điều tra mẫu các các vợchồng trong độ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu về thực trạng sử dụng cácBPTT thu được kết quả:

Trang 40

Bảng 2.1: Mức độ hiểu biết và nắm bắt các thông tin về các biện pháp tránh thai an toàn của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ.

xã tỷ lệ các cặp vợ chồng không có kiến thức về các BPTT an toàn cũngchiếm một tỷ lệ không nhỏ

Vận dụng lý thuyết hành vi vào để tìm hiểu thực trạng nắm bắt và hiểubiết của người dân địa phương kiến thức về các BPTT an toàn có thể thấymột phần là do người dân địa phương không được tiếp cận và cung cấp đầy

đủ các kiến thức về DS-KHHGĐ từ cán bộ dân số Xã, Huyện hay từ các cấpchính quyền địa phương hoặc do họ không chủ động giành thời gian tìm hiểu

Ngày đăng: 28/12/2020, 12:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS-TS Tống văn Đường, Quản lý chương trình dân số- kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội, 2002 Khác
4. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 của Hội nghị lần thứ 4 BanChấphành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Khác
5. Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 06/3/1995 của Ban Bí thư về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình Khác
6. Chỉ thị số 37-CT/TTg ngày 17/01/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh thực hiện chiến lược dân số - kế hoạch hoá gia đình Khác
8. Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Ban Chấp hành Trung ương về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Khác
9. Quyết định số 09/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Khác
10.Kết luận số 44-KL/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về kết quả 3 nămthực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w