Các thông tin công bố còn nặng về hình thức, mới chỉ dừng lại ở yêu cầu công khai chứ chưa chú trọng đến tính minh bạch, vẫn còn phổ biến các tình trạng như: Công bố BCTC không kịp thời,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-
MAI THỊ HOA
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦATHÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội, Năm 2020
Trang 2-
MAI THỊ HOA
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 9.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn KH 1: PGS,TS Lê Thị Thanh Hải Người hướng dẫn KH 2: GVC,TS Nguyễn Tuấn Duy
Hà Nội, Năm 2020
Trang 3liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Mai Thị Hoa
Trang 4Thanh Hải và GVC,TS Nguyễn Tuấn Duy là giáoviên hướng dẫn trực tiếp tôi thực hiện luận án này Thầy, Cô đã luôn giúp tôi định hướng nghiên cứu, dành cho tôi những lời động viên, những lời khuyên, những lời góp ý, phê bình hết sức quý báu giúp tôi có thể hoàn thiện luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy/Cô Khoa Kế toán – Kiểm toán, Bộ môn
kế toán tài chính- Trường ĐH Thương Mại đã tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên môn giúp tôi cũng như các NCS khác nâng cao trình độ và cập nhật những kiến thức mới và đã giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể sư phạm Khoa Sau đại học – Trường ĐH Thương Mại đã luôn hướng dẫn, tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện thủ tục
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể sư phạm Khoa Tài chính – Đầu tư, Học viện Chính sách và phát triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nơi tôi công tác đã tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh (chị) là lãnh đạo, giám đốc, kế toán trưởng, kế toán tại các doanh nghiệp và các chuyên gia đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến gia đình, anh em, bạn bè luôn cổ vũ, động viên tôi, tạo điều kiện tốt nhất để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận án
Mai Thị Hoa
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 18
4 Câu hỏi nghiên cứu 19
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
6 Phương pháp nghiên cứu 19
7 Đóng góp của luận án 20
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 22
1.1 Tổng quan về minh bạch thông tin trên BCTC 22
1.1.1 Minh bạch thông tin 22
1.1.2 Thông tin trên Báo cáo tài chính 23
1.1.3 Minh bạch thông tin trên BCTC 24
1.2 Vai trò của minh bạch thông tin trên BCTC 24
1.3 Tiêu chí đánh giá và đo lường mức độ minh bạch thông tin trên Báo cáo tài chính 26
1.3.1 Tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 26
1.3.2 Đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 28
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của các thông tin trên BCTC 30 1.4.1 Một số lý thuyết nền tảng 31
1.4.2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC 36
Trang 62.1 Doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 41
2.1.1 Doanh nghiệp niêm yết 41
2.1.2 Doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 44
2.2 Tổng quan về báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 46
2.2.1 Hệ thống báo cáo tài chính 46
2.2.2 Quy định về lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam 48
2.2.3 Đặc điểm báo cáo tài chính của các DN phi tài chính niêm yết 53
2.3 Khái quát thực trạng về lập, trình bày và công bố thông tin trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phi tài chính niêm yết 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 60
3.1 Thiết kế nghiên cứu 60
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 60
3.1.2 Mô hình nghiên cứu 62
3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu và quy trình thực hiện trong nghiên cứu định tính 84
3.2.1 Thu thập dữ liệu 84
3.2.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu định tính 85
3.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu trong nghiên cứu định lượng 86
3.3.1 Thu thập dữ liệu 86
3.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu định lượng 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 92
4.1 Kết quả nghiên cứu định tính 92
4.1.1 Tổng hợp ý kiến chuyên gia về các tiêu chí đo lường tính minh bạch thông tin 92
Trang 7trên BCTC của các DNPTCNY 93
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 93
4.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 93
4.2.2 Kết quả thống kế mô tả về thực trạng mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY 94
4.2.3 Thống kê mô tả về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY 96
4.2.4 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo 97
4.2.5 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 101
4.2.6 Kết quả phân tích tương quan và hồi quy bội 111
4.2.7 Kết quả kiểm định giả thuyết 116
4.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch của thông tin trên Báo cáo tài chính của các DN phi tài chính niêm yết 117
4.3.1 Kiểm soát nội bộ 118
4.3.2 Hội đồng quản trị 118
4.3.3 Ban Giám đốc 120
4.3.4 Ban kiểm soát 121
4.3.5 Nhân viên kế toán 123
4.3.6 Môi trường pháp lý 124
4.3.7 Kiểm toán độc lập 129
4.3.8 Về phần mềm kế toán 130
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 131
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 132
5.1 Kết luận 132
5.1.1 Kết luận về tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam 132
5.1.2 Kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DN phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam 133
Trang 85.2.1 Đối với các DNPTCNY 135
5.2.2 Đối với nhân viên kế toán 141
5.2.3 Đối với Bộ Tài chính và Uỷ ban chứng khoán Nhà nước 143
5.2.4 Đối với kiểm toán độc lập 150
5.2.5 Đới với Hội nghề nghiệp, cơ sở đào tạo 154
5.2.6 Đối với các nhà đầu tư 155
5.3 Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 157
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 158
KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
Trang 9Bảng 1.2: Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch 39
Bảng 3.1 Thang đo tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY 67
Bảng 3.2 Tổng hợp thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch 80
thông tin trên BCTC của các DNPTCNY 80
Bảng 3.3 Số lượng các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam tính đến 18.5.2018 87
Bảng 4.01: Mức độ minh bạch thông tin trên BCTC tại các DNPTCNY 94
Bảng 4.02: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin BCTC tại các DN 97
Bảng 4.03 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng thang đo tính MBTT trên BCTC và các yếu tố ảnh hưởng 98
Bảng 4.04 Kiểm định tính thích hợp của EFA 101
Bảng 4.05 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát 102
Total Variance Explained 102
Bảng 4.06 Ma trận xoay các yếu tố 103
Bảng 4.07 Ma trận hệ số tưương quan Pearson 111
Bảng 4.08 Tóm tắt mô hình 113
Bảng 4.09 Phân tích ANOVA 113
Bảng 4.10 Bảng hồi quy 114
Bảng 4.11 Thứ tứ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc 115
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu 116
Trang 10Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 63
Trang 11BCTC Báo cáo tài chính
BIG 4 Bốn doanh nghiệp kiểm toán hàng đầu thế giới gồm: KPMG,
PWC (PricewaterhouseCoopers), E&Y (Ernst&Young), Deloitte
DNPTCNY Doanh nghiệp phi tài chính niêm yết
IFRS International Financial Reporting Standards (Chuẩn mực báo
cáo tài chính quốc tế)
Trang 12SFC Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Hồng Kông
U.S GAAP United State Generally Accepted Accounting Principles
(Vietnam Association of Accountants and Auditors)
Association of Certified Public Accountants)
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp (DN) Có thể coi BCTC là sản phẩm của quá trình lập, trình bày và cung cấp thông tin của một đơn vị kế toán BCTC là một nguồn thông tin quan trọng để nhà đầu tư đánh giá thực trạng tài chính của DN, phục vụ việc ra quyết định đầu tư Nhà đầu tư cần được đảm bảo rằng họ được cung cấp thông tin trung thực và đáng tin cậy về tình hình tài chính của DN Để đảm bảo độ tin cậy của thông tin do doanh nghiệp niêm yết (DNNY) công bố, các Luật Chứng khoán năm 2004 và 2014, nay là Luật Chứng khoán năm 2019 mới được ban hành đều đã có quy định BCTC hàng năm của các DNNY phải được kiểm toán Tuy nhiên thực tế thời gian qua, chất lượng BCTC của các DNNY còn nhiều vấn đề nổi cộm, nhiều trường hợp BCTC đã được kiểm toán song vẫn còn sai sót, làm sai lệch thông tin tài chính, gây thiệt thòi cho các nhà đầu tư, không ít nhà đầu tư ra quyết định sai lầm theo những thông tin mà DNNYcông bố trong BCTC kể cả BCTC đã được kiểm toán Dư luận xã hội quan ngại về chất lượng kiểm toán BCTC của các DNNY trong thời gian gần đây
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam là kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế thị trường Để tạo được lòng tin của nhà đầu tư trên TTCK, thông tin về DNNY phải minh bạch, tức là phải công khai, trung thực, chính xác và được cung cấp đầy đủ, kịp thời cho thị trường Tính minh bạch là yếu tố sống còn và quyết định mức độ hiệu quả của TTCK vì mức độ minh bạch và trung thực của thông tin, là căn cứ chủ yếu để cơ quan quản lý (UBCKNN) xem xét điều kiện chào bán, niêm yết chứng khoán và nhà đầu tư ra quyết định đầu tư
Việc công khai, minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY được quan tâm từ nhiều nhóm đối tượng khác nhau, không chỉ là ban lãnh đạo DN mà BCTC còn được quan tâm đặc biệt từ các nhà đầu tư, các chuyên gia phân tích, các đối tác, các cơ quan quản lý… Công khai, minh bạch là phương tiện hữu hiệu để các đối tượng quan tâm có được sự nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng hoạt động của DN, đặc biệt là thực trạng tài chính khi đưa ra các quyết định kinh tế Tuy nhiên, thông tin trên BCTC được trình bày và công bố như thế nào để đáp ứng được nhu cầu người sử dụng vẫn còn khoảng cách tương đối lớn giữa thực tế và kỳ vọng Song, tính công khai minh bạch của thông tin trên BCTC phụ thuộc vào chất lượng của
Trang 14quá trình tạo lập, trình bày và công bố thông tin của các DN, quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiều các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài DN Chính vì vậy, hiện nay trên thế giới và Việt Nam, vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Tại Việt Nam, TTCK ngày càng phát triển, theo đó các quy định về pháp lý liên quan ngày càng được bổ sung hoàn thiện Đặc biệt là các quy định liên quan đến lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC Các quy định này được hoàn thiện theo hướng ngày càng nâng cao tính công khai, minh bạch của thông tin Song, một số quy định còn mang tính định hướng chưa thực sự cụ thể, rõ ràng, chưa
có sự ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý Điều này, dẫn đến khả năng vận dụng quy định pháp luật vào thực tiễn ở mỗi DN có sự khác nhau nhất định Bên cạnh, các DNNY đã có ý thức chấp hành tốt các quy định của pháp luật trong việc lập, trình bày và công bố BCTC vẫn còn không ít số lượng DN chưa chú trọng nhiều đến tính công khai, minh bạch của thông tin trên BCTC Các thông tin công bố còn nặng về hình thức, mới chỉ dừng lại ở yêu cầu công khai chứ chưa chú trọng đến tính minh bạch, vẫn còn phổ biến các tình trạng như: Công bố BCTC không kịp thời, số liệu trước và sau khi kiểm toán có sự chênh lệch tương đối lớn; giao dịch với các bên liên quan chưa được thuyết minh đầy đủ; trình bày các chỉ tiêu trên BCTC chưa đầy
đủ, chưa đúng quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán và các quy định pháp lý liên quan; một số khoản mục trọng yếu trên BCTC chưa được trình bày đầy đủ, chi tiết
và rõ ràng… làm ảnh hưởng đến khả năng đọc hiểu thông tin cũng như ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng khi sử dụng thông tin trên BCTC của các DNNY để đưa ra quyết định kinh tế
Tuy nhiên, tính công khai, minh bạch của thông tin trên BCTC không dễ dàng đánh giá và nhận biết Đến nay, ở Việt Nam và trên thế giới cũng chưa có bộ chỉ số chính thức nào được sử dụng để đánh giá tính minh bạch của các thông tin trên BCTC của các DNNY Do vậy, các tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các nghiên cứu trước vẫn còn rời rạc, chưa nhất quán, chưa đồng bộ
Để đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC là việc không dễ dàng, song làm thế nào để biết được các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC càng khó hơn Bởi vì, chỉ khi hiểu rõ, nắm vững và kiểm soát được các yếu
tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC mới giúp nhà quản lý DN, các cơ quan quản lý xác định được các giải pháp phù hợp để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC có thể xuất phát từ bên trong và bên ngoài, có thể từ phía các DNNY với vai
Trang 15trò là người cung cấp thông tin, từ phía các DNKT trong việc phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trên BCTC, hay từ phía môi trường pháp lý liên quan, hay
do một yếu tố nào khác Mặt khác, số lượng các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết (DNPTCNY) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DNNY trên TTCK VN (khoảng 90%), đa dạng về lĩnh vực kinh doanh như: Xây dựng, sản xuất, thương mại, dịch vụ,…có vai trò rất lớn trong sự phát triển của nền kinh tế Theo đó, đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC của các DNPTCNY cũng rất đa đạng bao gồm Ban lãnh đạo DN, nhà đầu tư, ngân hàng, các đối tác, cơ quan quản lý Nhà nước, DNKT và các chuyên gia phân tích chứng khoán…Do đó, sự minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin Để có thể đưa ra những khuyến nghị và giải pháp một cách phù hợp, mang tính khả thi cao nhằm đảm bảo và nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của DNPTCNY yết trên TTCK Việt Nam, cần thiết phải xác định được các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC, đặc biệt là thông tin trên BCTC của các DN phi tài chính niêm yết trên TTCK
Mặt khác mới đây Quốc hội đã chính thức ban hành Luật Chứng khoán năm
2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, trong có có những điều khoản quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của DNNY trong việc đảm bảo chất lượng thông tin trên BCTC để công khai, minh bạch Để những quy định của Luật đi vào cuộc sống cần thiết phải có những nghiên cứu, đề xuất cụ thể các giải pháp để nâng cao tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNNY trên TTCK Việt Nam
Ở Việt Nam tính đến nay, theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứu chính thức nào xác định các yếu tố, cũng như lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính minh bạch của các thông tin trên BCTC của DNPTCNY trên TTCK TTCK dưới góc độ người cung cấp thông tin, mặc dù vấn đề này đang nhận được sự quan tâm không chỉ từ các nhà nghiên cứu mà còn từ các nhà quản lý DN, cơ quan quản lý, nhà đầu tư, DNKT… Đây được coi là phương pháp kiểm soát tính minh bạch thông tin trên BCTC từ gốc
Từ những lý do trên, NCS lựa chọn nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu các
yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam” với mong muốn góp phần làm sáng tỏ vấn đề
đang được quan tâm, đồng thời là cơ sở để tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam
Trang 162 Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu về đánh giá tính minh bạch thông tin và tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính
Đánh giá tính minh bạch thông tin nói chung, minh bạch thông tin trên BCTC nói riêng là một việc không hề dễ dàng Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về tính minh bạch thông tin trên BCTC có thể chia theo hai hướng tiếp cận khác nhau: Một số công trình nghiên cứu cho rằng minh bạch thông tin đồng nghĩa với mức độ công bố thông tin, trong khi đó có những công trình nghiên cứu lại cho rằng minh bạch thông tin phải được xem xét theo các đặc tính của thông tin công bố Do vậy, các tiêu chí đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC cũng dựa trên những
Bộ chỉ số này bao gồm các câu hỏi nhằm đánh giá có hay không việc công bố thông tin chứ chưa tập trung vào việc đánh giá chất lượng của thông tin công bố
Theo Mine Aksu and Arman Kosedag (2005) nghiên cứu minh bạch thông tin quản trị và thông tin trên BCTC với mẫu nghiên cứu là 52 DN tại Thổ Nhĩ Kỳ, tác giả đã vận dụng chỉ số minh bạch và công bố thông tin của Standard and Poor’s (S&P) dựa trên BCTC bằng 109 câu hỏi chia thành 3 nhóm trong đó có 35 câu hỏi liên quan đến công khai minh bạch thông tin tài chính và tính hình kinh doanh Các câu hỏi khảo sát cũng tập trung đánh giá sự tuân thủ các quy định về công bố thông tin chứ chưa tập trung vào đánh giá tính minh bạch thông tin theo các đặc tính chất lượng của thông tin công bố Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công khai và
Trang 17minh bạch thông tin tài chính của 52 DN chỉ đạt ở mức trung bình 6/10 điểm Tuy nhiên, chỉ số của S&P chỉ dừng lại ở việc đánh giá xem các có công bố các thông tin liên quan hay không mà ít có các câu hỏi khác để phân biệt mức độ minh bạch thông tin của từng nội dung của chỉ số (như: thực hiện đúng quy định, thực hiện tốt quy định…) và chưa đánh giá được mức độ minh bạch thông tin một cách toàn diện
Nghiên cứu của Chueng và cộng sự (2005) cho rằng minh bạch thông tin là mức độ công bố thông tin tài chính và thông tin quan trị công ty, nghiên cứu này sử dụng bảng khảo sát được thiết kế dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD do Hiệp hội các giám đốc Viện Thai Institute of Director (IOD)’s thực hiện đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết Ở Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội cũng đã công khai bộ tiêu chí đánh giá công bố thông tin và minh bạch thông tin được xây dựng trên cơ sở tham khảo bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD với 70 câu hỏi chia thành 2 nhóm: Một là nhóm gồm 41 câu hỏi về việc tuân thủ các quy định pháp lý Hai là nhóm gồm 29 câu hỏi về thông lệ quốc tế Điểm được đánh giá theo thang điểm 0-1-2 Tổng điểm tối đa mà một DNNY có thể đạt được là 97 điểm Để đảm bảo nhất quán về phương pháp đánh giá từ góc nhìn của nhà đầu tư, trong quá trình đánh giá dù có áp dụng các quy định pháp lý và thông lệ tốt nhưng không công bố ra thị trường vẫn sẽ không được tính điểm
Đối với nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng sự (Năm 2007), đã dựa trên chỉ
số “hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và CBTT - ITDRS” để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các DNNY Đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về sự minh bạch và CBTT của các DNNY được xây dựng ở Đài Loan Chỉ số này bao gồm 88 khoản mục công bố được phân chia thành 5 nội dung: (1) Sự tuân thủ với các quy định về công bố, (2) Sự kịp thời của các báo cáo, (3) Sự công bố các dự báo tài chính, (4) Sự công bố báo cáo thường niên, (5) Sự CBTT trên website của công ty Bên cạnh những ưu điểm trong việc xếp hạng của ITDRS, thì nghiên cứu của Yu-Chil Lin đưa ra nhận định rằng, xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin của ITDRS chỉ đánh giá được mức độ công bố thông tin của các công ty mà không thể xem xét được chất lượng thông tin đi kèm với những công bố này
Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, cho thấy khi đứng trên quan điểm của người sử dụng thông tin để đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC thì chỉ tập trung đánh giá về có hay không việc công bố thông tin trên BCTC chứ chưa tập trung đánh giá mức độ minh bạch thông tin một cách toàn diện, đầy đủ dẫn đến trường hợp những thông tin được công bố nhưng lại chưa chắc đã
Trang 18đảm bảo tính minh bạch và ngược lại có những thông tin đảm bảo tính minh bạch nhưng không được công bố Do vậy, có nhiều công trình nghiên cứu đã lựa chọn cách tiếp cận thứ hai là đánh giá tính minh bạch thông tin thông qua các đặc tính của thông tin công bố Các tác giả cho rằng dù khách quan hay chủ quan thì các thông tin trên BCTC là sản phẩm của quá trình lập, trình bày và cung cấp thông tin nên để đảm bảo tính minh bạch thì các thông tin đó nên được kiểm soát từ quá trình này Theo Tara Vishwanath và Daniel Kaufmann (2001), Minh bạch thông tin tài chính là việc cung cấp và miêu tả các thông tin tài chính, kinh tế một cách kịp thời
và có chất lượng cho những đối tượng quan tâm, bao gồm các đặc tính: Đầy đủ, kịp thời, trung thực và có thể so sánh
Theo Raymond S Kulzick (2003), Blanchet (2002) & Prickett (2002) nghiên cứu sự minh bạch thông tin tài chính, cho rằng, tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính bao gồm các đặc tính hữu ích của thông tin như: Chính xác, đầy đủ, kịp thời, nhất quán
Theo Bert J Zarb (2006), dưới góc độ nghề nghiệp của kế toán viên công chứng với vai trò là xác minh về tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên BCTC của các DN khách hàng, tác giả cho rằng để thông tin tài chính hữu ích và kịp thời, thì thông tin tài chính cũng phải đáng tin cậy, có thể so sánh được, nhất quán và minh bạch Một cách để đạt được tính minh bạch trong báo cáo tài chính là thông tin phải được thiết lập với một bộ nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi
và có chất lượng cao Trong một thị trường toàn cầu, một bộ các báo cáo tài chính
đã được chuẩn bị sử dụng các chuẩn mực kế toán của một quốc gia không có nghĩa
là chúng sẽ có thể so sánh được với các quốc gia khác Hơn nữa, các phép đo kế toán được sử dụng trong các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi của một quốc gia có thể không được sử dụng hoặc có thể không quen thuộc với người dùng
ở một quốc gia khác Nếu báo cáo tài chính có thể được thiết lập bằng cách sử dụng một bộ chuẩn mực kế toán được chấp nhận rộng rãi, thì sự hiểu biết của của người
sử dụng thông tin có thể được mở rộng cho vô số người dùng ở các quốc gia khác nhau Nhiệm vụ để có được một bộ tiêu chuẩn như vậy là bộ tiêu chuẩn BCTC quốc
tế (IFRS) do Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) ban hành và IFRS đang có ảnh hưởng đến bối cảnh quốc tế hiện nay
Theo Gheorghe, Mironela (2009) nghiên cứu về minh bạch thông tin trên BCTC và trách nhiệm giải trình, tính minh bạch đề cập đến nguyên tắc tạo ra một môi trường thông tin dễ tiếp cận, dễ hiểu đối với tất cả các bên tham gia thị trường
Trang 19trong việc ra các quyết định kinh tế Trách nhiệm giải trình đề cập đến nhu cầu sử dụng thông tin các thành viên tham gia thị trường Nghiên cứu này cho rằng thông tin trình bày trên BCTC hữu ích cho người dùng phải mang các đặc tính cơ bản là:
Sự phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được, dễ hiểu, kịp thời, có lợi ích so với chi phí
bỏ ra Các nhà cung cấp thông tin phải tuân thủ yêu cầu về chất lượng thông tin và công bố thông tin để đạt được sự cân bằng các đặc tính định tính trên trong một môi trường cụ thể
Theo nghiên cứu của Ferdy van Beest và G.B, ‘Suzanne Boelens (2009), tác giả cho rằng tính minh bạch của thông tin tài chính được đo lường thông qua các tiêu chí đánh giá chất lượng của thông tin trên BCTC, bao gồm các đặc tính: Sự phù hợp, Sự trung thực khách quan, sự dễ hiểu, so sánh được và kịp thời
Theo Nguyễn Đình Hùng (2010) nghiên cứu về hệ thống kiểm soát tính minh bạch thông tin tài chính của các DNNY, cho rằng thông tin trên BCTC phải được trình bày và công bố theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán và các quy định về công
bố thông tin hiện hành Trong nghiên cứu của minh tác giả cũng đưa ra quan điểm
về tính minh bạch thông tin tài chính bao gồm các đặc tính như: Kịp thời, đầy đủ, chính xác, nhất quán và thuận tiện
Theo Xuan QI, Dan LIU (2012), nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin
kế toán của các DNNY tại Trung Quốc, theo quan điểm của tác giả tính minh bạch thông tin kế toán là phản ánh mức độ công bố thông tin tự nguyện và thông tin bắt buộc cả về số lượng và chất lượng nhằm cung cấp thông tin ữu ích của những đối tượng quan tâm
Theo MarianaMan, Maria Ciurea (2016), nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin kế toán, tác giả cho rằng minh bạch thông tin kế toán phải đảm bảo về số lượng và chất lượng của thông tin được công bố Chất lượng thông tin kế toán phải đáp ứng theo yêu cầu của chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế ( IFRS) của IASB
Theo Nguyễn Trọng Nguyên (2016) và Phạm Quốc Thuần (2016) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC Tác giả cho rằng thông tin tài chính có chất lượng thì phải bao gồm các đặc tính như: Thích hợp, trung thực, so sánh, dễ hiểu và kịp thời Để đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC tác giả đã tham khảo các thuộc tính đo lường chất lượng thông tin trên BCTC của FASB & IASB 2010, đồng thời kế thừa phương pháp đo lường của Ferdy van Beest & công sự (2009) để đo lường các đặc tính chất lượng thông tin theo thang đo likert
Trang 20Như vậy, với cách tiếp cận minh bạch thông tin thông theo các đặc tính của thông tin công bố, các tác giả đều cho rằng tính minh bạch của thông tin trên BCTC không chỉ đảm bảo về số lượng mà còn đảm bảo về chất lượng thông tin Do vậy,
bộ chỉ số đo lường đánh giá tính minh bạch thông tin theo đặc tính của thông tin thường được căn cứ theo khuôn mẫu IAS, IFRS của các tổ chức kế toán quốc tế như IASB, FASB sẽ đầy đủ hơn, bao quát hơn, qua đó mức độ minh bạch thông tin trên BCTC giữa các DN sẽ được phân biệt rõ nét hơn Ngoài ra, các tác giả cũng cho rằng để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC thì phải xác định và kiểm soát được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo lập và cung cấp thông tin trên BCTC Quá trình này được thực hiện bởi chính các - người cung cấp thông tin
2.2 Các công trình nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC
Đến nay, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch thông tin nhưng phạm vi nghiên cứu khác nhau, có công trình nghiên cứu ở phạm vi xuyên quốc gia, có công trình nghiên cứu ở phạm
vi DN hay có những công trình chỉ nghiên cứu trong phạm vi giới hạn ở các báo cáo
kế toán của một DN (như: báo cáo thường niên, báo cáo quản trị, báo cáo tài chính)
Do vậy, các yếu tố ảnh hưởng ở mỗi công trình nghiên cứu cũng chưa thống nhất về
cả số lượng các yếu tố và nội dung Hơn nữa, tùy vào cách tiếp cận khái niệm minh bạch thông tin của mỗi công trình, dẫn đến các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin cũng khác nhau Qua tổng quan, có thể hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng theo các nhóm yếu tố sau:
Các yếu tố thuộc về đặc điểm tài chính
Các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến mức độ minh bạch và công bố thông tin trên BCTC là các yếu tố được đo lường bởi các số liệu thứ cấp lấy từ BCTC của các DNNY như là các yếu tố: Quy mô DN, đòn bẩy tài chính, hiệu quả sử dụng tài sản, lợi nhuận, tài sản đảm bảo,…Điển hình về việc nghiên cứu các yếu tố này, có thể khái quát như sau:
Quy mô DN
Các nghiên cứu trước đây đã xác định biến quy mô có ảnh hưởng đáng kể đến công bố thông tin (CBTT) của các DNNY Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng các DN có quy mô lớn thì minh bạch hơn DN nhỏ Nhận định này được rút ra
từ kết quả nghiên cứu xuyên quốc gia của các tác giả: Wallace (1994), Meek (1995), Ahmed and Courtis (1999), và Zarzeski (1996), Robert Bushman và cộng sự
Trang 21(2001), Archambault (2003), Khanna và cộng sự (2004) Ngoài ra, kết quả này cũng được khẳng định qua báo cáo chương trình đánh giá chất lượng “Công bố thông tin
và minh bạch của các DNNY trên sàn GDCK HN năm 2015-2016” do SGDCK HN thực hiện Các nghiên cứu trên đưa ra lý do giải thích cho mối quan hệ giữa quy mô
DN và mức độ minh bạch thông tin là do nhu cầu công khai thông tin hay có thể là các DN lớn công bố nhiều thông tin hơn để giảm áp lực chính trị hoặc các DN lớn thường có nhiều nguồn lực sản xuất nên công khai thông tin nhiều hơn Cụ thể, một
số nghiên cứu (Robert Bushman và cộng sự, 2001; Archambault, 2003) cũng cho rằng, các DN có quy mô lớn thường có nhiều nhà đầu tư lớn hơn DN có quy mô nhỏ, thông tin do họ công bố thường nhạy cảm hơn với sự giám sát nhiều hơn từ công chúng, nhà đầu tư và chính phủ
Đòn bẩy tài chính
Một số nghiên cứu của các tác giả trước đây cho rằng, DN có đòn bẩy tài chính cao sẽ công bố nhiều thông tin tài chính hơn các DN có đòn bẩy tài chính thấp Khi các DN có đòn bẩy tài chính cao thì sẽ chịu sự giám sát nhiều hơn từ các bên liên quan (Ahmed và Courtis, 1999; Archambault, 2003) Các chủ nợ sẽ yêu cầu DN cung cấp thông tin nhiều hơn để đảm bảo lợi ích của họ Nhà quản lý sẽ thuyết phục các chủ nợ trong việc cho vay bằng việc CBTT nhiều hơn để giảm chi phí nợ vay Đồng thời, thông qua lý thuyết đại diện, có thể thấy rằng, đây là cách để nhà quản lý giảm chi phí đại diện Tăng cường mức độ công bố thông tin và minh bạch thông tin sẽ làm giảm sự bất đối xứng thông tin giữa các chủ nợ và nhà quản
lý, do đó làm giảm chi phí đại diện Ngoài ra, Jaggi và Low (2000) nhận thấy rằng mức độ CBTT sẽ gia tăng ở các DN có đòn bẩy tài chính cao đối với các quốc gia theo trường phái thông luật, ngược lại, ở quốc gia mà hệ thống pháp luật theo luật
La Mã thì lại không có mối quan hệ nào giữa đòn bẩy tài chính và mức độ CBTT Các công trình nghiên cứu trong nước, cũng cho thấy, tồn tại mối quan hệ thuận chiều giữa đoàn bẩy tài chính với mức độ công khai minh bạch thông tin (Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương, 2014)
Hiệu quả sử dụng tài sản
Các nghiên cứu trước đây đều cho rằng, các DN có hiệu quả sử dụng tài sản cao thường công bố thông tin rõ ràng và đầy đủ hơn để duy trì lợi thế cho nhà quản
lý (người đại diện) và để thu hút sự chú ý của nhà đầu tư về tính hiệu quả trong công tác quản trị nói chung và việc sử dụng tài sản nói riêng của người đại diện (Stephen Yan-Leung Cheung và cộng sự, 2005) Đây cũng là cách phát tín hiệu cho
Trang 22nhà đầu tư hiện tại và tương lai thấy được triển vọng phát triển trong tương lai của của DN
để các nhà đầu tư phân biệt được chứng khoán tốt và xấu nhằm hạn chế tình trạng lựa chọn bất lợi (Michael Spence, 1973) Các DN có lợi nhuận cao thường công bố nhiều thông tin nhằm thu hút sự quan tâm của thị trường và các nhà đầu tư, từ đó giá trị cổ phiếu của họ được gia tăng Trong khi đó, DN có lợi nhuận thấp thường công bố ít thông tin hay công bố không rộng rãi nhằm che dấu những lý do hay tình trạng hoạt động kém hiệu quả nếu lợi nhuận thấp (Lang và Lundholm, 1993 và Khanna & cộng sự , 2004)
Các yếu tố thuộc về đặc điểm quản trị công ty
Quản trị công ty được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu
DN Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông), nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của hội đồng quản trị (HĐQT), sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động Những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí, lợi ích và quyền lợi Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế
để nhà đầu tư, cổ đông và các bên liên quan đến DN có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào
Trang 23mối quan hệ giữa quản trị và hiệu quả công ty Một số nghiên cứu cho thấy quản trị công ty tốt dẫn đến CBTT và minh bạch tốt hơn (Mitton 2002; Lins 2003) Tuy nhiên không có sự bảo đảm nào việc công bố và minh bạch tốt hơn sẽ dẫn đến hiệu quả DN tốt hơn Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số đặc điểm về quản trị công ty đến tính minh bạch thông tin thông qua các yếu tố như sau:
Quy mô hội đồng quản trị
Đặc điểm quan trọng khác của HĐQT là quy mô của HĐQT Jensen (1983) cho rằng, quy mô HĐQT lớn hơn dẫn đến thảo luận ít chân thật hơn về các vấn đề quan trọng, từ đó làm cho việc giám sát của HĐQT sẽ không tốt, dẫn đến hệ thống CBTT trong công ty cũng yếu kém hơn Yermack (1996) trích trong Chueng và cộng sự (2005) đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô HĐQT và giá trị công ty trong các công ty có quy mô lớn ở Mỹ Một nghiên cứu khác của Huther (1997) thực hiện trên mẫu các công ty dịch vụ tiện ích công cộng của Mỹ với kết quả cho thấy quy mô HĐQT càng lớn thì hiệu quả hoạt động của công ty càng thấp Năm 1998, nghiên cứu của nhóm tác giả Eisenberg và cộng sự về mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và lợi nhuận của các công ty nhỏ ở Thụy Điển Kết quả cho thấy quy mô HĐQT càng lớn thì lợi nhuận của các công ty nghiên cứu càng thấp
Sự kiêm nhiệm giữa chủ tich HĐQT và Giám đốc
Các nghiên cứu trước đây đã tìm ra những bằng chứng cho thấy những DN khi kiêm nhiệm hai chức danh thì công bố ít thông tin hơn (Gul và Leung, 2004) Theo lý thuyết ủy nhiệm, việc kết hợp hai chức năng này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng kiểm soát của HĐQT Theo nghiên cứu của Bader Al Shammari (2010), việc kiêm nhiệm này dẫn đến việc xu hướng che dấu những thông tin bất lợi của
DN đến với cổ đông Tính minh bạch thông tin sẽ gia tăng chỉ khi tách hai chức năng Tổng Giám đốc và Chủ tịch HĐQT (Jouini Fathi, 2013) Mặt khác, theo nghiên cứu thực nghiệm của David B Farber (2004) xem xét 87 DN trước và sau thời điểm phát hiện gian lận tại Hoa kỳ, Ông kết luận những DN có sự kiêm nhiệm hai chức năng thì số lượng gian lận nhiều hơn Tuy nhiên, theo Cheng và Courtenay (2004) nghiên cứu 104 tại Singapore thì việc kiêm nhiệm hai chức danh không có mối tương quan đến mức độ minh bạch thông tin tài chính
Tại Việt Nam, có nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2016); Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) cũng cho rằng sự bất kiêm nhiệm giữa hai chức danh này sẽ góp phần làm gia tăng tính minh bạch thông tin
Trang 24Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập
Thành viên HĐQT, đặc biệt là các thành viên độc lập giúp nâng cao vai trò giám sát của HĐQT (Fama và Jensen, 1983; Agrawal và Knoeber, 1996) Họ có thể giúp giảm thiểu cơ hội che dấu thông tin của những nhà quản lý (Kelton và Yang, 2008) Theo David B Farber (2004), Ienciu (2012) tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT càng cao thì tỷ lệ gian lận và phù phép gian lận càng thấp Mặt khác, Mohamed Akhtaruddin và các cộng sự (2009); Eugene C.M Cheng, Stephen M.Courtenay (2006), Chiraz Ben Ali (2009), Nurwati Ashikkin Ahmad Zaluki (2009) Ienciu (2012) cho rằng với tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT càng cao thì mức độ công bố các thông tin tự nguyện cũng như các thông tin phi tài chính càng nhiều (> 50% thì mức độ công bố tự nguyên cao hơn những DN không có thành viên HĐQTĐL) Bên cạnh đó, thành viên HĐQTĐL còn giúp nâng tinh minh bạch của thông tin trên BCTC công bố
Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2016),
Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) cũng cho rằng tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT càng cao thì mức độ công khai minh bạch thông tin càng cao
Ban kiểm soát (BKS)
BKS của DN bao gồm các chuyên gia về tài chính và các thành viên không điều hành có trách nhiệm giám sát tình hình tài chính DN, tính hợp pháp trong các hoạt động của các thành viên HĐQT, Tổng giảm đốc/giám đốc điều hành, sự phối hợp hoạt động giữa BKS với HĐQT và Tổng giám đốc/giám đốc điều hành với cổ đông và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và điều lệ DN nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của DN và cổ đông Nhiệm vụ chủ yếu của BKS là giám sát quá trình lập và trình bày BCTC của Ban giám đốc, đồng thời tiến hành giám sát kiểm toán độc lập BCTC nhằm gia tăng tính minh bạch của BCTC Theo Luật DN Việt nam (2014) và, BKS có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực trong tổ chức công tác kế toán và lập BCTC Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Đình Hùng (2010); Nguyễn Trọng Nguyên (2016); Phạm Quốc Thuần (2016) cho rằng BKS có số lượng thành viên độc lập, số thành viên có chuyên môn, trưởng ban kiểm soát có chuyên môn thì sự minh bạch thông tin trên BCTC càng cao
Ban giám đốc
Barnea và các tác giả (1985), chứng minh rằng khi nhà quản lý của công ty
sở hữu những thông tin quan trọng hoặc mang tính chất bí mật thì sẽ dẫn đến thông
Trang 25tin bất cân xứng, điều này sẽ dẫn đến rủi ro về đạo đức, các lựa chọn sai lệch và do
đó giảm sự minh bạch của thông tin Nghiên cứu của Zhara và các tác giả (2000), cho thấy số lượng các thành viên của Ban giám đốc càng am hiểu về hệ thống chuẩn mực kế toán và các quy định liên quan đến công bố thông tin sẽ làm gia tăng tính minh bạch thông tin trên BCTC Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng (2010) cho thấy mối tương quan giữa Ban giám đốc và sự minh bạch thông tin trên BCTC
Kiểm soát nội bộ
Theo COSO (Committee of Sponsoring Organization of the Treadway Commission), kiểm soát nội bộ là một quá trình (bao gồm các thủ tục và quy định), ảnh hưởng bởi các nhà quản lý, cá nhân, được thiết lập nhằm cung cấp mức độ đảm bảo lợp lý liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu của DN trên các khía cạnh:
- Kiểm soát hoạt động (Sử dụng nguồn lực hiệu quả)
- Kiểm soát báo cáo tài chính (Các báo cáo tài chính công bố là đáng tin cậy)
- Kiểm soát tuân thủ (tuân theo các quy định nội bộ và luật pháp hiện hành) Kiểm soát nội bộ hiệu quả đối với báo cáo tài chính rất cần thiết cho một công ty để quản lý một cách hiệu quả việc kinh doanh và đáp ứng được nghĩa vụ của công ty đối với các nhà đầu tư Bởi vì nhà quản lý của công ty, chủ công ty, các nhà đầu tư và các đối tượng khác đều phải dựa trên các thông tin tài chính được công bố của DN để ra các quyết định Kiểm soát nội bộ vững mạnh cũng cung cấp các cơ hội tốt hơn trong việc phát hiện và ngăn chặn các gian lận (Zinatul Iffah Binti Abdullah và các công sự, 2015) Ví dụ, rất nhiều gian lận dẫn đến sự trình bày sai trên báo cáo tài chính do khả năng nhân viên có thể khai thác các điểm yếu trong kiểm soát nội bộ Trong tình huống như vậy, báo cáo về kiểm soát nội bộ có thể lấy lại được niềm tin của các nhà đầu tư bằng cách cải thiện sự hiệu quả của kiểm soát nội bộ để giảm phạm vi ảnh hưởng của các gian lận (Nguyễn Đình Hùng, 2010)
Năng lực của nhân viên kế toán
Năng lực chuyên môn sẽ được thể hiện trong quá trình làm việc bao gồm khả năng lập báo cáo và trình bày báo cáo kế toán, khả năng thống kê, phân tích tài chính, khả năng lập và phân tích báo cáo kế toán cũng như quản trị tài chính DN…Đặc biệt, kế toán trong các DNNY thì đòi hỏi phải có năng lực chuyên môn cao hơn do các DNNY có quy mô lớn, ngành nghề kinh doanh phức tạp, hình thức
sở hữu đa dạng, sức ép về công bố thông tin và minh bạch thông tin từ các cổ đông.Theo nhiều nghiên cứu trước như của He, TJ.Wong, Young (2012), Zehri &
Trang 26Chouaibi (2013), Bewley, Graham and Peng (2013) cho thấy trình độ của nhân viên
kế toán có mối quan hệ với tính minh bạch thông tin trên BCTC
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần (2016) cho rằng Năng lực nhân viên kế toán là một nhóm các yếu tố có liên quan đến kỹ năng, kiến thức của nhân viên trong công tác kế toán cho phép họ hoàn thành trách nhiệm về công việc
kế toán của mình nhằm đảm bảo tính minh bạch của thông tin trên BCTC
Các yếu tố bên ngoài
Kiểm toán độc lập
Quy mô DNKT là một trong những chỉ tiêu thường được sử dụng như là chỉ tiêu tiêu biểu nhất cho chất lượng kiểm toán BCTC Ngay từ năm 1981, theo DeAngelo các DNKT quy mô lớn thường có chất lượng được đánh giá (bởi thị trường) cao hơn các DNKT quy mô nhỏ Để tồn tại và phát triển, DNKT phải nâng cao chất lượng kiểm toán vì các DNKT có quy mô lớn thì số lượng khách hàng có thể bị mất khi những hành vi cố tình làm giảm chất lượng kiểm toán bị công chúng phát hiện Nói cách khác, DNKT nào có càng nhiều khách hàng thì càng có nhiều khả năng sai phạm của KTV bị phát hiện Do vậy, quy mô (số lượng khách hàng) của DNKT càng lớn thì họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao chất lượng kiểm toán Quy mô DNKT càng lớn với nhiều nguồn lực thì có thể thanh toán được tiền phạt khi có kiện tụng, điều này cũng làm tăng điều kiện duy trì chất lượng kiểm toán ở mức cao và sẽ làm giảm tối thiểu khả năng xảy ra các vụ kiện tụng
Nhiều nghiên cứu cho rằng tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DN
có thể bị ảnh hưởng bởi các DNKT (Kết quả nghiên cứu của Fargher và cộng sự, 2001; Archambault, 2003) Lý giải thêm điều này, lý thuyết thông tin hữu ích khẳng định rằng, do đặc điểm mất cân đối về mặt thông tin giữa các đối tượng bên trong và bên ngoài DN, trên TTCK những đối tượng bên ngoài, thường là các nhà đầu tư có xu hướng dựa vào thông tin trên BCTC như một tài liệu quan trọng cho việc ra các quyết định kinh tế Trên thực tế ở Mỹ, Big 4 thực hiện kiểm toán đến 97% tổng số các công ty đại chúng tại Hoa Kỳ Nếu BCTC được kiểm toán bởi các DNKT qui mô lớn, có uy tín sẽ được những đối tượng sử dụng thông tin tin cậy hơn Hơn nữa, người trực tiếp thực hiện cuộc kiểm toán chính là các kiểm toán viên nên chất lượng kiểm toán sẽ phụ thuộc phần lớn vào năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên Các DNKT có uy tín thì họ sẽ khắt khe hơn trong việc tuyển dụng và đào tạo nhân viên Việc tìm đến DNKT có uy tín như
là một lời khẳng định với cổ đông về tính minh bạch trong kết quả kiểm toán và độ
Trang 27tin cậy của BCTC mà DNNY công bố Có nhiều công trình trong và ngoài nước đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của kiểm toán độc lập đến chất lượng thông tin trên BCTC cũng như ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY, điển hình như: Nguyễn Trọng Nguyên (2016), Phạm Quốc Thuần (2016), Zinatul Iffah Binti Abdullah (2015), Nguyễn Đình Hùng (2010), Eccher và Healy (2000), Hu (2002) và Wu và các tác giả (2005), Lang và Lundholm (1993) và Khanna & cộng sự (2004), Bùi Thị Thủy (2014)
Năm 2010, nhằm xem xét quan điểm soạn lập BCTC, nghiên cứu của Thomas J Phillips et el đăng trên Academy of Accounting and Financial Studies Journal 14.4 với tựa đề “Transparency in financial reporting: a look at rules- based versus principles-based standards” Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhà quản lý
DN có mong muốn thiết lập BCTC dựa trên các chuẩn mực kế toán, trong khi các nhà đầu tư và chủ nợ lại nghiêng về quan điểm nên thiết lập BCTC dựa trên luật lệ
Một môi trường pháp lý đầy đủ nghĩa là đảm bảo bao quát hết tất cả các vấn
đề liên quan đến việc lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC của các DNNY trên TTCK Theo Nguyễn Thị Thanh Loan (2017) chuẩn mực kế toán Việt Nam chưa có “ Báo cáo vốn chủ sở hữu”, có báo cáo lại chi tiết quá (Bảng cân đối kế toán, Bảng thuyết minh báo cáo), có báo cáo lại cô đọng quá (Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) Mặc dù Bảng thuyết minh BCTC khá chi tiết nhưng cách trình bày lại chưa rõ ràng, không có nhiều số liệu để so sánh, đánh giá, không có thêm thông tin ngoài thước đo giá trị, không sử dụng các công cụ để phân tích luôn trên các báo cáo, các nội dung công khai trên BCTC của Việt nam ít hơn so với chuẩn mực quốc tế
Trang 28Hơn nữa, một môi trường pháp lý hoàn thiện đòi hỏi phải có sự phù hợp tức
là phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, phải cập nhật để phù hợp với xu thế phát triển, không lạc hậu, lỗi thời Nếu các quy định và hướng dẫn chưa phù hợp hoặc không phù hợp với thực tế dẫn đến việc các DNKT cũng như DNNY có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất đối với cùng một vấn đề làm hạn chế đến chất lượng kiểm toán qua đó sẽ ảnh hưởng tính minh bạch BCTC của các DNNY Ngoài
ra, chế tài xử phạt và chất lượng của các bên liên quan cũng là yếu tố quan trọng giúp cho môi trường pháp lý hoàn thiện Riêng đối với các DNNY trên TTCK thì thông tin trên BCTC có rất nhiều đối tượng quan tâm, do vậy một chế tài xử phạt đủ mạnh và quy định rõ trách nhiệm pháp lý cho các bên liên sẽ đảm bảo được quyền lợi cho những đối tượng sử dụng thông tin đặc biệt là nhà đầu tư làm cho TTCK ngày càng minh bạch và hiệu quả (Nguyễn Đình Hùng, 2010) Theo nghiên cứu của Eccher và Healy (2000), Hu (2002) và Wu và các tác giả (2005) đều cho kết luận: số liệu kế toán dựa trên Chuẩn mực kế toán quốc tế cũng không mang lại thêm giá trị so với
số liệu kế toán dựa trên Chuẩn mực kế toán Trung quốc, sở dĩ có kết quả này là do thiếu cơ chế kiểm soát và giám sát chứ không phải là do bản chất của Chuẩn mực kế toán quốc tế Điều đó cho thấy, nếu chuẩn mực kế toán tốt chưa đủ mà còn cần các quy định bắt buộc liên quan đến công bố báo cáo tài chính thì mới mang lại sự minh bạch và hiệu quả cho các thông tin trên BCTC
2.3 Khoảng trống nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến luận án Tác giả thấy rằng:
Minh bạch thông tin nói chung hay minh bạch của thông tin trên BCTC nói riêng là một khái niệm khá trừu tượng và khó đo lường một cách trực tiếp và đầy
đủ Do vậy, cách tiếp cận của các công trình trước cũng chưa rõ ràng, nhất quán Một số công trình tiếp cận dưới góc độ người sử dụng thông tin, cho rằng minh bạch thông tin đồng nghĩa với công bố thông tin Trong khi đó, một số công trình khác xem xét tính minh bạch thông tin thông qua quá trình soạn lập và cung cấp thông tin Do vậy, để đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC, các nhà nghiên cứu thường đánh giá qua các đặc tính của thông tin công bố như: Thích hợp, tin cậy, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh
Từ cách tiếp cận khái niệm minh bạch thông tin khác nhau dẫn đến việc áp dụng các phương pháp đo lường, đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC cũng khác nhau Có những công trình vận dụng bộ tiêu chí được công bố từ các tổ
Trang 29chức trên thế giới như S&P, CIFAR, OECD, IDTRS…để đánh giá mức độ minh bạch thông tin và công bố thông tin, song những bộ tiêu chí này chủ yếu tập trung vào số lượng thông tin công bố, ít quan tâm đến chất lượng thông tin Bên cạnh đó,
có những nghiên cứu đã thiết lập bộ tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin theo các đặc tính của thông tin trình bày và công bố trên BCTC dựa trên các khuôn mẫu nhất định như IAS, IFRS Bộ tiêu chí đo lường theo cách tiếp cận này có ưu điểm không những đánh giá tính minh bạch thông tin dựa trên số lượng thông tin được công bố mà còn chú trọng đến chất lượng của thông tin, giúp cho kết quả đánh giá chính xác, đầy đủ hơn Cho đến nay cũng chưa có bộ tiêu chí chính thức nào về đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC được công bố áp dụng tại Việt Nam,
mà chủ yếu là vận dụng trên cơ sở kế thừa từ các nghiên cứu của nước ngoài, tùy vào phạm vi nghiên cứu cũng như cách tiếp cận mà bộ tiêu chí đánh giá của mỗi công trình cũng chưa được nhất quán, vẫn còn rời rạc Do vậy, việc nghiên cứu để xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY mang tính hệ thống bao hàm đầy đủ các đặc tính minh bạch của thông tin trên BCTC là rất cần thiết
Về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào việc nghiên cứu các yếu tố thuộc đặc điểm tài chính và đặc điểm quản trị của DN nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC, rất ít các công trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình soạn lập và công bố thông tin trên BCTC Mặt khác, mặc dù chất lượng hay tính minh bạch của thông tin trên BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với người sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu tư Song, người sử dụng thông tin khi đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC thường phụ thuộc nhiều vào cảm nhận của bản thân đối với những thông tin có sẵn, được cung cấp bởi các DN,
họ không phải là người tạo ra thông tin đó nên những yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo
ra Báo cáo tài chính minh bạch dường như rất ít được người sử dụng thông tin quan tâm cũng như không đủ cơ sở để đánh giá Hơn nữa, chất lượng thông tin công bố của các luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi TTCK Thông tin công bố minh bạch, đảm bảo chất lượng sẽ bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, tạo sự minh bạch, ổn định và phát triển của thị trường Tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DN phi tài chính niêm yết phụ thuộc mức độ minh bạch của thông tin trong các BCTC mà
DN lập và hoạt động công khai BCTC tin trên thị trường Vì vậy, việc tính minh bạch thông tin trên BCTC công bố phải được xem là trách nhiệm pháp lý đối với
Trang 30các DNPTCNY Có thể thấy, để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY thì cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu thập,
xử lý và công bố thông tin trên BCTC - quá trình này được thực hiện bởi người cung cấp thông tin là bản thân các DNPTCNY
Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC trong các nghiên cứu trước cũng rời rạc, chưa hệ thống Các công trình trong nước được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp nghiên cứu định tính, rất ít các nghiên cứu thực nghiệm và các nghiên cứu lượng hóa được mức độ minh bạch thông tin trên BCTC cũng như ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DN phi tài chính niêm yết
Về phạm vi nghiên cứu, đa số các công trình nước ngoài thường nghiên cứu trên phạm vi quốc gia Còn các công trình trong nước thường mới chỉ dừng lại ở phạm vi từng Sở giao dịch chứng khoán (tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội hoặc tại Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh)
Do vậy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam dưới góc độ người cung cấp thông tin bằng việc sử dụng kết hợp 2 phương pháp định tính và định lượng là nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận và có có giá trị về mặt thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận án: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY nói riêng và các DNNY trên TTCK VN nói chung
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa, bổ sung và góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết về minh bạch thông tin trên BCTC và các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC dưới góc độ người cung cấp thông tin
- Xác định mức độ minh bạch thông tin trên BCTC và các yếu tố ảnh hưởng cũng như lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK VN
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY nói riêng và các DNNY nói chung trên TTCK Việt Nam
Trang 314 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích và trả lời các câu hỏi sau:
(1) Minh bạch thông tin trên BCTC và các yếu tố nào ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC dưới góc độ người cung cấp thông tin?
(2) Thực trạng về mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính minh bạch thông tin trên BCTC như thế nào?
(3) Các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Minh bạch thông tin trên BCTC và yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu minh bạch thông tin trên BCTC
và yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam dưới góc độ người lập, trình bày và công bố thông tin
Đồng nhất cụm từ” DNPTCNY” và “ DNNY” được đặt đặt trong bối cảnh cụ thể là “ trên TTCK Việt Nam”
Phạm vi không gian: Tác giả tiến hành thu thập số liệu và khảo sát tại các
DNPTCNY trên TTCK Việt Nam Tác giả không thực hiện khảo sát các tổ chức tài chính như ngân hàng, các tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm… niêm yết
Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu các nội dung liên quan đến luận án
được thực hiện từ năm 2015-2019
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước cơ bản: Nghiên cứu tổng thể để khám phá bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu kiểm định bằng phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp định tính: Nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY, hình thành mô hình nghiên cứu, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, thiết lập bảng hỏi điều tra; các thang đo nháp
và thang đo chính thức thông qua việc tổng hợp, phân tích từ quá trình tổng quan các công trình nghiên cứu trước trong và ngoài nước đồng thời kết hợp với phỏng vấn,
Trang 32trao đổi với các chuyên gia về lĩnh vực tài chính, kế toán - kiểm toán, chứng khoán
Phương pháp định lượng: Được thực hiện trên cơ sở mô hình nghiên cứu đã xác định ở bước nghiên cứu định tính nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và
sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK
7 Đóng góp của luận án
Các đóng góp về mặt lý luận
Thứ nhất, dựa vào các nghiên cứu tiền nhiệm về minh bạch thông tin trên
BCTC luận án hệ thống hóa, tổng hợp và phân loại cách tiếp cận về tính minh bạch thông tin trên BCTC theo hai hướng: (1) Minh bạch thông tin dưới góc độ người sử dụng thông tin và (2) minh bạch thông tin dưới góc độ người cung cấp thông tin
Thứ hai, luận án đã hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch
thông tin trên BCTC của các DNPTCNY theo nhóm các yếu tố ảnh hưởng, trong đó phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC dưới góc độ người cung cấp thông tin
Thứ ba, luận án chỉ rõ vai trò cũng như cơ sở vận dụng của các lý thuyết làm
nền tảng cho nghiên cứu về minh bạch thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin trên BCTC
Thứ tư, về phương pháp nghiên cứu, luận án đã sử sụng kết hợp hai phương
pháp nghiên cứu: định tính và định lượng để xây dựng mô hình nghiên cứu cũng như kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với 8 biến độc lập là các yếu tố ảnh hướng và biến phụ thuộc là tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY
Các đóng góp về mặt thực tiễn
Thứ nhất, dựa theo các khuôn mẫu về đặc tính của thông tin trên BCTC của
các tổ chức lập quy và các nghiên cứu trước, luận án đã xây dựng được bộ tiêu chí
đo lường đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY gồm
5 đặc tính minh bạch (Thích hợp, Tin cậy, Có thể so sánh, Kịp thời và Thuận tiện) với 21 thuộc tính đo lường
Thứ hai, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, dưới góc độ người cung
cấp thông tin, có 7/8 yếu tố ảnh hưởng thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC với 29 thuộc tính đo lường Trong đó, yếu tố Môi trường pháp lý có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC với tỷ lệ 38.8 %, tiếp theo là yếu tố Nhân viên kế toán (NVKT) với tỷ lệ 37.2%, yếu tố Ban kiểm soát (BKS) với tỷ lệ 34.4%, yếu tố Kiểm toán độc lập
Trang 33(KTĐL) với tỷ lệ 33.3%, yếu tố Hội đồng quản trị (HĐQT) với tỷ lệ 29.1%, yếu tố Phần mềm kế toán (PMKT) với tỷ lệ 25.5% và thấp nhất là yếu tố Ban giám đốc (BGĐ) với tỷ lệ 22%
Thứ ba, trên cơ sở kết quả về nghiên cứu định lượng đã trình bày trong phần
thực tiễn, luận án cũng đã trình bày một số khuyến nghị và giải pháp để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY qua nghiên cứu định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC Các khuyến nghị và giải pháp chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả quản trị công ty của các DNPTCNY, nâng cao năng lực nhân viên kế toán, hoàn thiện môi trường pháp lý, lựa chọn phần mềm kế toán có chất lượng, lựa chọn DNKT có uy tín, từ đó sẽ nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY nói riêng và các DNNY nói chung
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam
Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK VN
Trang 34CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Tổng quan về minh bạch thông tin trên BCTC
1.1.1 Minh bạch thông tin
Minh bạch thông tin là một khái niệm rất trừu tượng, do vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về minh bạch thông tin
Một số quan điểm cho rằng minh bạch thông tin là phản ánh mức độ công bố thông tin Minh bạch thông tin là số lượng thông tin mà trên đó, các nhà kinh tế dựa vào đó để đưa các quyết định và kỳ vọng của họ, thông tin công bố càng đầy đủ thì tính minh bạch thông tin càng cao (Andrew Schnackenberg, 2000; Dipiazza và Ecccles, 2002) Vaccaro và Madsen (2009) cũng cho rằng minh bạch thông tin là mức độ đầy đủ của thông tin được cung cấp liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị
Như vậy, có thể thấy các quan điểm trên xem xét minh bạch thông tin thường tập trung vào số lượng thông tin công bố, trong khi đó, một số quan điểm khác xem xét tính minh bạch thông tin không chỉ tập trung vào mức độ công bố thông tin mà còn quan tâm đến chất lượng thông tin được công bố Minh bạch là một khái niệm khá trừu tượng, khi xem xét tính minh bạch thông tin, công khai thôi chưa đủ mà còn bao gồm cả khả năng tiếp cận thông tin một cách công bằng, bình đẳng, thuận tiện trong việc tiếp cận thông tin đối với các đối tượng sử dụng thông tin, các thông tin phải được cung cấp nhất quán, mọi chính sách kinh tế mà DN đưa ra phải có khả năng dự đoán trước và có thái độ cởi mở (Đậu Anh Tuấn, 2006) Cùng với quan điểm này, Lâm Thị Hồng Hoa (2009), cũng cho rằng minh bạch thông tin có nghĩa
là những thông tin về thực trạng đang diễn ra, về các quyết định mà mỗi đối tượng quan tâm sử dụng cho các mục đích khác nhau phải là những thông tin có thể dễ dàng tiếp cận, thấy được, hiểu được, tính minh bạch có liên quan chặt chẽ đến tính trách nhiệm Tính trách nhiệm yêu cầu các chủ thể cung cấp thông tin phải lý giải được các chính sách sử dụng trong hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm đối với quyết định và kết quả tạo ra Tara Vishwanath và Daniel Kaufmann (2001) cũng nhấn mạnh rằng, minh bạch thông tin là việc trình bày, miêu tả và cung cấp các thông tin kinh tế một cách kịp thời và có chất lượng cho những đối tượng quan tâm
Từ các quan điểm trên, có thể thấy rằng minh bạch thông tin không chỉ dừng lại ở việc xem xét mức độ công bố thông tin và còn bao gồm cả chất lượng thông tin
Trang 35được công bố Thực tế, chất lượng thông tin công bố chỉ có thể được kiểm soát từ quá trình soạn lập, trình bày và công bố thông tin Do đó, để nhìn nhận một cách bao quát nhất, đầy đủ nhất về tính minh bạch thông tin cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin, NCS đứng trên quan điểm của người cung cấp thông tin để nghiên cứu
Theo đó, minh bạch thông tin được hiểu là việc thông tin được công bố đầy
đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng từ người cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin
1.1.2 Thông tin trên Báo cáo tài chính
Thông tin trên BCTC được nhìn nhận theo hai góc độ như sau:
Dưới góc độ người sử dụng thông tin, thông tin trên BCTC không chỉ gắn liền thông tin tài chính, mà nó còn bao gồm những thông tin phi tài chính (Ali shah.S.Z, 2009) Thông tin BCTC đảm bảo chức năng thiết yếu cho thị trường vốn hiệu quả, vì vậy DN ngoài việc cung cấp thông tin quy định luật pháp cần phải bổ sung những thông tin mang tính chất tự nguyện về những phân tích đánh giá, các dự báo của nhà quản lý (Healy và Palepu, 2001)
Dưới góc độ người cung cấp thông tin, BCTC (Financial statements) là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả tài chính của DN BCTC cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của DN, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ (IASB, 2012) Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày thông tin về: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ, khoản góp vốn của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền Thông thường, một hệ thống BCTC bao gồm: báo cáo tình hình tài chính, báo cáo thu nhập; báo cáo vốn chủ sở hữu; báo cáo lưu chuyển tiền và thuyết minh BCTC Việc soạn lập và công bố thông tin trên BCTC là trách nhiệm của đơn vị lập báo cáo BCTC cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính về đơn vị báo cáo cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2018)
Như vậy, đứng trên quan điểm của người cung cấp thông tin thì thông tin trên BCTC là kết quả của quá trình tạo lập, trình bày và công bố thông tin của các đơn vị kế toán, bao gồm các thông tin tài chính (tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí và dòng tiền) và thông tin phi tài chính (cơ hội, rủi ro, cơ cấu nhân sự, đặc điểm
Trang 36hoạt động sản xuất kinh doanh, chính sách kế toán…) Thông tin trên BCTC luôn nhận được sự quan tâm từ nhiều đối tượng như nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước, các đối tác và bản thân các DN khi đưa ra các quyết định liên quan Do vậy, làm thế nào để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC là việc hết sức quan trọng và cần thiết
1.1.3 Minh bạch thông tin trên BCTC
Mặc dù chưa có một khái niệm chính thức nào về tính minh bạch của thông tin trên BCTC Song, dưới góc độ người cung cấp thông tin, minh bạch thông tin trên BCTC được hiểu như sau:
Minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính được đảm bảo thông qua việc công bố đầy đủ và có thuyết minh rõ ràng về những thông tin hữu ích, cần thiết cho việc ra quyết định kinh tế của nhiều đối tượng sử dụng thông tin Thông tin trên BCTC minh bạch thì thông tin đó phải đáng tin cậy, kịp thời, có thể so sánh được,
dể hiểu, dễ tiếp cận, các nhà cung cấp thông tin phải tuân thủ yêu cầu về trình bày
và công bố thông tin (Bert J Zarb, 2006; Gheorghe, Mironela, 2009)
Như vậy, khi nghiên cứu dưới góc độ người cung cấp thông tin, NCS cho rằng: Minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính là quá trình soạn lập, trình bày và công bố một cách công khai và đảm bảo chất lượng về toàn bộ thông tin liên quan đến tình hình tài chính, kết quả hoạt động, dòng tiền và các thông tin bổ sung khác trên thuyết minh BCTC nhằm tuân thủ các quy định pháp lý liên quan đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng quan tâm
1.2 Vai trò của minh bạch thông tin trên BCTC
Minh bạch thông tin trên BCTC có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với các đối tượng sử dụng thông tin mà còn quan trọng đối với bản thân các DN cung cấp thông tin Cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với bản thân các DN Minh bạch thông tin sẽ mang lại lợi ích
rõ rệt cho DN: Làm gia tăng uy tín trên TTCK, gia tăng niềm tin đối với các nhà đầu tư, giảm chi phí huy động vốn…
Thứ hai, minh bạch trên BCTC góp phần giảm thiểu rủi ro và chi phí trung
gian đối với nhà đầu tư Các nhà đầu tư thực chất là những người mua trên TTCK
Họ thường rơi vào lựa chọn bất lợi khi không có thông tin đầy đủ so với những nhà quản lý bên trong DN hay các cổ đông chiến lược Do đó, họ có thể bị thiệt hại nếu chọn phải những chứng khoán xấu hoặc phải tốn nhiều chi phí để sàng lọc thông tin
và kiểm soát việc sử dụng vốn của các DN để hạn chế rủi ro đạo đức trên thị trường
Trang 37Đối tượng thường chịu thiệt hại lớn nhất là các nhà đầu tư không kiểm soát, mua chứng khoán với số lượng ít Enron, Worldcom ở Mỹ hay gần đây là Olympus ở Nhật là những ví dụ rõ ràng về tác hại của sự không minh bạch thông tin Cuối cùng sự phá sản của Enron, Worldcom hay Olympus đã gây ra những thiệt hại lớn cho nhà đầu tư và chủ nợ của họ, đồng thời cũng làm mất niềm tin của công chúng
về những công bố của các công ty cũng như các quy định kiểm soát các công ty đại chúng mà nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu minh bạch thông tin tài chính Minh bạch thông tin tài chính giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn Minh bạch thông tin sẽ giúp nhà đầu tư có quyền kiểm soát chất lượng của những chứng khoán trên thị trường Qua đó họ sẽ xác định mức giá giao dịch tối ưu nhất cho mình Đối với các thông tin khác trên TTCK, đặc biệt là thông tin tình hình kinh doanh của các DN mà các nhà đầu tư quan tâm, minh bạch hóa thông tin sẽ cho họ biết DN đó đang trong tình trạng nào, đang có những thuận lợi hay khó khăn gì
và tương lai ra sao Qua đó, các nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định đúng đắn và thích hợp hơn
Thứ ba, đối với cơ quan quản lý Nhà nước Với việc tiếp cận dễ dàng mọi
thông tin trên TTCK, việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời hơn, các
cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn tổng quát và sát thực hơn về TTCK Từ
đó, các cơ quan này sẽ có những biện pháp phù hợp để hạn chế và ngăn chặn các hành vi vi phạm trên TTCK, thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô hiệu quả hơn, đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường
Thứ tư, đối với TTCK Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, một thị trường
không minh bạch thông tin nói chung, thông tin tài chính nói riêng, với quá nhiều thông tin bị che giấu, nơi mà các giao dịch và giá cả của các loại chứng khoán không phản ánh đầy đủ, kịp thời các thông tin liên quan đến DN phát hành, chính là biểu hiện của thị trường không hiệu quả Khi đó, nhà đầu tư sẽ ngại không muốn tham gia, các công ty làm ăn tốt không muốn phát hành chứng khoán trên thị trường
do lo sợ vì định giá thấp Như vậy, hàng hóa, người mua, người bán trên thị trường đều thưa thớt Điều này, sẽ giảm tính thanh khoản của TTCK và tính hiệu quả của thị trường cũng suy yếu Khi đó, các nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ không được huy động và phân bố một cách hiệu quả, gây tác động tiêu cực đối với nền kinh tế
về nhiều mặt Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ thì TTCK các nước trên thế giới ngày càng liên kết nhiều hơn, điều đó, giúp các nhà đầu tư có thể tìm ra những cơ hội đầu tư mới trên các TTCK khu vực và thế giới Do đó, minh bạch
Trang 38thông tin tài chính sẽ là một tiêu chí quan trọng để TTCK của một quốc gia có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, quyết định khả năng cạnh tranh với các TTCK tại các nước khác
1.3 Tiêu chí đánh giá và đo lường mức độ minh bạch thông tin trên Báo cáo tài chính
1.3.1 Tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC
Từ quan điểm tiếp cận tính minh bạch thông tin trên BCTC từ góc độ người cung cấp thông tin, luận án sẽ xem xét tính minh bạch thông tin trên BCTC theo hai nhóm tiêu chí: chất lượng thông tin trên BCTC và mức độ công bố thông tin (khả năng tiếp cận thông tin của người sử dụng)
Thứ nhất, về chất lượng thông tin trên BCTC
Chất lượng thông tin trên BCTC chính là chất lượng của sản phẩm do công tác kế toán tài chính tạo ra thông qua quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin kế toán Chất lượng này cùng với một số yếu tố khác là tiêu chuẩn và thước đo đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC Để có cơ sở đánh giá chất lượng của thông tin trên BCTC, luận án sẽ xem xét về yêu cầu chất lượng thông tin tài chính qua các quan điểm tiếp cận khác nhau của các tổ chức quốc tế
(1) Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB)
Để đánh giá chất lượng của thông tin trên BCTC, quan điểm của IASB dựa vào các tiêu chí: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được và kịp thời
Có thể hiểu được: Người đọc được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh, kế toán và thiện chí, nỗ lực để đọc BCTC Tuy nhiên, thông tin
về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừ khỏi BCTC chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng
Thích hợp: Thông tin có chất lượng khi nó thích hợp với nhu cầu đưa ra quyết định của người sử dụng Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giá trước đó
Tính thích hợp bao gồm tính dự đoán và tính xác nhận, hai đặc điểm này quan trọng với nhau Tính thích hợp của thông tin phụ thuộc vào nội dung và tính trọng yếu
Thông tin được coi là trọng yếu khi sự sai lệch hay bỏ sót nó có thể gây ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào
Trang 39số tiền và thông tin hoặc sai sót hay sự đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Trọng yếu không phải là một tiêu chuẩn chất lượng mà là một ngưỡng phân cách
Đáng tin cậy: Đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót trọng yếu và không bị thiên lệch, đồng thời phản ánh trung thực vấn đề cần trình bày Thông tin có thể thích hợp nhưng không đáng tin cậy
Có thể so sánh được: Thông tin trên BCTC có chất lượng khi có thể so sánh được với năm trước, với DN khác Để có thể so sánh được, BCTC phải :
- Áp dụng các nguyên tắc kế toán nhất quán
- Khai báo về chính sách kế toán sử dụng trên BCTC
Kịp thời: Thông tin luôn sẵn có để giúp những người sử dụng BCTC kịp đưa
ra các quyết định Thông thường, những thông tin cũ thường kém hữu ích hơn, tuy nhiên một số thông tin vẫn có tính kịp thời sau khi kết thúc kỳ báo cáo một thời gian
(2) Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán tài chính Mỹ (FASB)
Đối với FASB, trước tháng 9/2010, chất lượng của thông tin trên BCTC được đánh giá qua các đặc điểm: tính phù hợp, tính đáng tin cậy và khả năng so sánh được
Tính phù hợp (tính thích hợp): Thông tin kế toán là thích hợp khi nó có khả năng thay đổi quyết định của người sử dụng Để đảm bảo tính thích hợp, thông tin phải: Có giá trị dự đoán hay đánh giá và kịp thời
Tính đáng tin cậy: Thông tin kế toán đáng tin cậy trong phạm vi nó có thể kiểm chứng, khi được trình bày trung thực và không có sai sót hoặc thiên lệch
Khả năng so sánh được: Thông tin kế toán phải được đo lường và báo cáo theo cùng một phương thức để có thể so sánh được giữa các DN
Cùng với xu hướng hội tụ kế toán thì từ tháng 9/2010, quan điểm đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC của FASB cũng tương tự như IASB
Tóm lại, từ các quan điểm tiếp cận trên, có thể thấy rằng, chất lượng thông tin trên BCTC có thể được đánh giá thông qua các đặc điểm: Thích hợp, tin cậy, có thể so sánh, kịp thời, dễ hiểu
Thứ hai, về khả năng tiếp cận thông tin của người sử dụng
Khả năng tiếp cận thông tin là một tiêu chí quan trọng vì kể cả khi các thông tin được nộp cho cơ quan quản lý đúng hạn thì tính minh bạch của thông tin cũng bị hạn chế nếu chỉ có một số lượng hạn chế người sử dụng tiếp cận được thông tin này Thông thường có 3 cách để công bố thông tin (CBTT) ra công chúng: (1) CBTT bằng văn bản, báo chí; (2) CBTT bằng hệ thống điện tử; (3) CBTT bằng hệ thống Inernet
Trang 40Hầu hết các nước đều chấp nhận nhiều phương thức CBTT đồng thời Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, phương thức CBTT bằng Internet đã trở nên phổ biến và là một kênh thông tin được nhiều người sử dụng thông tin tin cậy Tuy vậy, xét về mặt luật pháp, Internet vẫn chưa được nhiều quốc gia thừa nhận là kênh thông tin hợp pháp nếu các doang nghiệp không công bố bằng văn bản
Để đánh giá mức độ tiếp cận thông tin của người sử dụng, tác giả xem xét tiêu chí sau đây:
- Người sử dụng thông tin nắm được thông tin công bố của DN từ những phương tiện CBTT nào? Các phương tiện CBTT càng phổ biến thì công chúng càng
dễ tiếp cận Nói cách khác, chi phí liên quan đến tiếp cận thông tin phải được giảm thiểu với nhà đầu tư DN có hệ thống CBTT hay không?
- Thông tin trên BCTC có được CBTT kịp thời, chính xác và đầy đủ, dễ hiểu cho người sử dụng hay không? trách nhiệm của DN trong việc công bố và giải trình thông tin trên BCTC như thế nào?
- Ngôn ngữ sử dụng trên BCTC có thuận tiện cho người sử dụng hay không? Tóm lại, để đánh giá mức độ tiếp cận thông tin của người sử dụng cần dựa trên các tiêu chí cụ thể như: Đầy đủ, kịp thời, chính xác, dễ hiểu, dễ tiếp cận
1.3.2 Đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC
Đến nay, vẫn chưa có phương pháp chính thức nào được áp dụng để đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC Do vậy, khi đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính hay thông tin trên BCTC, tùy theo cách tiếp cận của mỗi công trình sẽ có phương pháp đo lường mức độ minh bạch khác nhau Rất ít các công trình nghiên cứu tính minh bạch thông tin trên phạm vi là báo cáo tài chính mà chủ yếu là nghiên cứu tính minh bạch công ty nói chung và minh bạch thông tin tài chính nói riêng Vì vậy, phương pháp đo lường mức độ minh bạch thông tin cũng khác nhau Đối với các công trình nghiên cứu cho rằng minh bạch thông tin tài chính đồng nghĩa với mức độ công bố thông tin, thường xuất phát từ quan điểm của người sử dụng thông tin đặc biệt là từ cảm nhận của nhà đầu tư để đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC Qua phần nghiên cứu tổng quan, tác giả nhận thấy,
để đánh giá mức độ minh bạch thông tin, các nhà nghiên cứu tiền nhiệm thường dựa trên bộ tiêu chí đánh giá tính minh bạch của các tổ chức có uy tín như OECD, S&P, CIFAR Song, thang đo đánh giá mức độ minh bạch thông tin trong các bộ tiêu chí này chủ yếu tập trung vào khía cạnh số lượng thông tin được công bố hơn là tập trung vào mức độ minh bạch của thông tin (chất lượng thông tin) Ngoài ra, các câu