Hiện tại, cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết ngành hàng tiêu dùng có sức thu hút rất lớn đối với nhà đầu tư, chẳng hạn như Công ty cổ phần sữa Việt Nam VNM, Tổng công ty cổ phần rượu
Trang 1NGÔ XUÂN BAN
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2NGÔ XUÂN BAN
Mã s ố: 60.34.03.01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đường Nguyễn Hưng
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Xuân Ban
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC CỦA CÁC DOANH NGHI ỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 13
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BCTC VÀ TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC 13
1.1.1 Khái quát chung về BCTC 13
1.1.2 Khái quát chung về tính minh bạch thông tin trên BCTC 13
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC 17
1.2.1 Lý thuyết đại diện 17
1.2.2 Lý thuyết tín hiệu 18
1.2.3 Lý thuyết thông tin hữu ích 19
1.2.4 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 20
1.2.5 Lý thuyết chi phí chính trị 20
1.3 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC 21
1.3.1 Chỉ số minh bạch thông tin tài chính của các DNNY trên TTCK Việt Nam 21
Trang 51.3.4 Đo lường công bố và minh bạch thông tin theo nguyên tắc Quản
trị công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) 24
1.3.5 Chỉ số IDTRS tại TTCK Đài Loan 25
1.4 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC 26
1.4.1 Nhóm nhân tố đặc điểm tài chính 26
1.4.2 Nhóm nhân tố đặc điểm quản trị công ty 30
1.4.3 Đánh giá chung các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 35
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 35
2.1.1 Tổng quan về ngành hàng tiêu dùng 35
2.1.2 Tình hình tài chính và kết quả hoạt động của ngành hàng tiêu dùng 36
2.2 CÁC GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 38
2.2.1 Các giả thuyết nghiên cứu 38
2.2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 47
2.2.3 Đo lường các biến 48
2.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 61
2.4 PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH 62
2.4.1 Lựa chọn mô hình 62
2.4.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Trang 63.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67
3.1.1 Thống kê các tiêu chí phản ánh mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 67
3.1.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 74
3.1.3 Mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình 77
3.1.4 Ứớc lượng mô hình và kiểm định các giả thuyết 79
3.2 CÁC HÀM Ý VÀ ĐỀ XUẤT TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 86
3.2.1 Một số hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu 86
3.2.2 Một số đề xuất nhằm tăng cường tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY ngành hàng tiêu dùng 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
K ẾT LUẬN 95 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PH Ụ LỤC
Trang 7BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCTC Báo cáo tài chính
BIG 4
Bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế giới gồm: KPMG, PWC (Pricewaterhouse Coopers), E&Y (Ernst & Young), Deloitte
Non Big 4 Các công ty kiểm toán không thuộc nhóm big 4
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
Trang 8b ảng Tên b ảng Trang
2.2 Khả năng thanh toán của các ngành 37 2.3 Hiệu quả quản lý của các ngành 37 2.4 Bảng phân nhóm doanh nghiệp kiểm toán 54 2.5 Điểm mức độ trung thực của thông tin trên BCTC 56 3.1 Thống kê nhóm doanh nghiệp kiểm toán và loại ý kiến
3.7 Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã trải qua 17 năm hoạt động TTCK là phương thức khơi thông dòng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, giúp
thúc đẩy việc tích lũy và tập trung vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn của bản thân một đơn
vị hoặc qua con đường vay truyền thống thì không đáp ứng được về thời gian và lượng vốn Giá trị cổ phiếu của các công ty tỷ lệ thuận với lợi nhuận mà công ty đạt được Chỉ số chung của thị trường chứng khoán phản ánh mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia trong thời gian ngắn, trung và dài hạn
Trong tất cả các hoạt động nói chung trên TTCK, thông tin luôn là yếu
tố không thể thiếu khi thực hiện các hoạt động đầu tư Thông tin phản ánh trên báo cáo tài chính (BCTC) có ý nghĩa quan trọng trong các quyết định của nhà đầu tư Trong công bố thông tin thì tính minh bạch được xem là cốt lõi có ảnh hưởng quyết định đến quyết định của nhà đầu tư Trên TTCK Việt Nam, nhiều
vụ việc có liên quan đến sự minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp đã được phát hiện như Công ty CP Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF), Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang (DQC) Điểm chung của các doanh nghiệp này là đều không minh bạch về thông tin tài chính, công bố thông tin sai sự thật, đến khi bị phát hiện và thông tin xấu bị công bố ra thị trường thì giá cổ phiếu đồng loạt giảm, khiến cho nhà đầu tư bị thiệt hại
Ngành hàng tiêu dùng là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng sản xuất, kinh doanh các mặt hàng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng với nhiều chủng loại khác nhau từ hàng bình dân đến các mặt hàng xa xỉ như bia,
xe hơi,…Ngành hàng tiêu dùng có đặc điểm là thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong nước và xuất khẩu, tính cạnh tranh cao, đặc biệt là sức ép từ các doanh
Trang 10nghiệp bán lẻ nước ngoài tại thị trường Việt Nam ngày càng lớn Hiện tại, cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết ngành hàng tiêu dùng có sức thu hút rất
lớn đối với nhà đầu tư, chẳng hạn như Công ty cổ phần sữa Việt Nam (VNM),
Tổng công ty cổ phần rượu bia nước giải khát Sài Gòn (SAB)… Nghiên cứu
nhằm đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY của một ngành đặc thù là ngành hàng tiêu dùng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch là chủ đề rất quan trọng và hữu ích nhưng chưa có nhà nghiên
cứu nào tại Việt Nam thực hiện Việc nghiên cứu những vấn đề trên góp phần giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định phù hợp hơn khi đầu tư vào các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng, giúp cho TTCK Việt Nam nói chung và ngành hàng tiêu dùng nói riêng hoạt động bền vững và hiệu quả là yêu cầu cần thiết Chính vì
vậy, tác giả chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính c ủa các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên th ị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc đặc điểm doanh nghiệp đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu để đề xuất một số gợi ý phục vụ cho việc ban hành các chính sách cần thiết nhằm tăng cường tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK
Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu: nhóm nhân tố đặc điểm tài chính và nhóm nhân tố đặc điểm quản trị công ty của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Tác giả thực hiện lược khảo các kết quả nghiên cứu trước trên thế giới và ở Việt Nam để tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng Ngoài ra, luận văn tiến hành đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin trên BCTC, từ đó xây dựng mô hình
hồi quy phản ánh mối tương quan giữa các nhân tố đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý đề xuất từ kết quả nghiên cứu
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Các nghiên c ứu nước ngoài
Nghiên cứu minh bạch thông tin tài chính trong phạm vi một quốc gia, nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) có bài viết với tựa đề “Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kông and Thailand” đã xem xét mức độ công bố và minh bạch thông tin tài chính của các
Trang 12doanh nghiệp niêm yết ở 2 thị trường mới nổi là Thái Lan và Hồng Kông Nghiên
cứu đưa ra 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh bạch thông tin là: Nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị công ty
Nhóm nhân tố tài chính, nhóm tác giả đưa ra 5 biến ảnh hưởng đến
+ Hiệu quả sử dụng tài sản
Đối với nhóm nhân tố về quản trị công ty, nhóm tác giả cho rằng các
biến có ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh bạch của thông tin gồm:
+ Mức độ tập trung quyền sở hữu;
+ Cơ cấu của HĐQT và
+ Quy mô của HĐQT
Nghiên cứu được thực hiện trên hai thị trường là Thái Lan và Hồng Kông
vì hai quốc gia này vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 với cách
thức khác nhau Nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát với số lượng 265 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Thái Lan và 148 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK
Hồng Kông Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: mức độ công bố và minh bạch thông tin của các doanh nghiệp Thái Lan khác biệt so với các doanh nghiệp ở Hồng Kông Sự thay đổi trong mức độ công bố và minh bạch thông tin cho các doanh nghiệp ở Hồng Kông có thể được giải thích bằng các nhân tố tài chính Trong khi đó, nhóm nhân tố này lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh
bạch thông tin cho các doanh nghiệp ở Thái Lan Các nhân tố quản trị công ty như quy mô và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh minh
bạch thông tin ở Thái Lan nhưng lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố và
Trang 13minh bạch thông tin ở Hồng Kông Riêng biến “tỷ lệ các giám đốc điều hành không phải là thành viên của HĐQT” (trong biến cơ cấu của HĐQT) càng lớn thì mức độ minh bạch và công bố thông tin của các DNNY càng cao ở cả Thái Lan và Hồng Kông Nghiên cứu cũng đã thực nghiệm để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh bạch thông tin và kết luận rằng quản trị công ty tốt dẫn đến việc công bố và minh bạch thông tin sẽ tốt hơn ở thị trường Thái Lan Tuy nhiên, nhóm tác giả chủ yếu chỉ so sánh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên giữa 2 TTCK Thái Lan và Hồng Kông, đồng thời chỉ mới thống
kê mô tả về mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố tài chính và quản trị công ty; nhưng chưa giải thích được nguyên nhân sâu xa của các kết quả từ nghiên
cứu thực nghiệm, chẳng hạn vì sao hầu như các nhân tố tài chính lại không ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ công bố thông tin ở các DNNY Thái Lan nhưng lại có ảnh hưởng đối với các CTNY Hồng Kông
Nghiên cứu trên phạm vi toàn thế giới, có nhóm tác giả Robert Bushman, Piotroski & Smith (2004) với tựa đề “What Determines Corporate Transparency?” thực hiện nghiên cứu tại 45 quốc gia trên toàn thế giới Nhóm tác giả đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các doanh nghiệp dựa trên 2 khía cạnh: minh bạch thông tin tài chính và minh bạch thông tin quản trị Nghiên
cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân tố luật pháp và kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp Nhóm tác giả kết luận rằng: minh
bạch trong quản trị công ty chủ yếu liên quan đến chế độ pháp lý, trong khi đó minh bạch thông tin tài chính liên quan chủ yếu đến chính sách kinh tế Cụ thể, tính minh bạch trong quản trị công ty cao hơn ở các nước theo thông luật Ngược
lại, minh bạch thông tin tài chính cao hơn ở các quốc gia có nền kinh tế có đặc điểm sở hữu nhà nước thấp Doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức độ minh bạch thông tin tài chính cao hơn doanh nghiệp nhỏ Ngược lại, mức độ minh bạch trong quản trị công ty không liên quan đến quy mô doanh nghiệp Tuy nhiên,
Trang 14nghiên cứu của Bushman và nhóm tác giả chỉ dừng lại ở mức thống kê mô tả các nhân tố liên quan đến tính minh bạch thông tin và trình bày các thước đo để đo lường mức độ minh bạch thông tin mà chưa đưa ra được mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin
Nghiên cứu "Stakeholders and transparencycapital structure" của
Andres Almazan, Javier Suarez và Sheridan Titman (2003) Nhóm tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với cơ cấu vốn trong doanh nghiệp và chỉ ra rằng mức độ minh bạch thông tin càng cao thì các doanh nghiệp
có xu hướng lựa chọn cơ cấu vốn an toàn hơn
Tiếp theo các nghiên cứu trên, nhóm tác giả Bartley R Danielsen và cộng
sự (2007) có bài viết “Auditor Fees, Market Microstructure, and Firm transparency” (Journal of Business Finance & Accounting), nghiên cứu đưa ra
2 giả thuyết: giả thuyết thứ nhất là phí kiểm toán càng cao thì rủi ro kiểm toán càng lớn và giả thuyết thứ hai là các doanh nghiệp trả phí cho danh tiếng của các doanh nghiệp kiểm toán thì nhận thức của người sử dụng BCTC được cải thiện Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết thứ nhất là đúng còn giả thuyết thứ hai nhóm tác giả chưa tìm thấy mối liên hệ giữa danh
tiếng của doanh nghiệp kiểm toán và nhận thức của người sử dụng BCTC trong
mẫu nghiên cứu
Nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng sự (2007) trong nghiên cứu “The relationship between information transparency and the informativeness of accounting earnings” Nghiên cứu sử dụng các doanh nghiệp niêm yết tại Đài Loan năm 2003 và năm 2004 làm mẫu để nghiên cứu mối quan hệ giữa minh
bạch thông tin và tính tin cậy của thu nhập kế toán Mức độ minh bạch thông tin được đo lường bằng kết quả xếp hạng của ITDRS (đây là chỉ số đánh giá
xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin của các DNNY được xây dựng
ở Đài Loan) Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy rằng:
Trang 15minh bạch thông tin gắn với tính tin cậy của thu nhập kế toán Mức độ minh
bạch thông tin được đo bằng tỷ số các khoản đầu tư cổ phiếu dài hạn thì thông tin thu nhập kế toán sẽ gia tăng ở các công ty có mức độ minh bạch cao Kết
quả cũng cho thấy, theo đánh giá của nhà đầu tư, số liệu của kế toán hữu ích và
có giá trị hơn so với kết quả xếp hạng của chỉ số ITDRS Nhóm tác giả cũng cho rằng sử dụng chỉ số ITDRS không phải là cách tốt để đánh giá sự minh bạch của thông tin tài chính
Các nghiên c ứu trong nước
Nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ có tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), “Minh
bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, nghiên cứu sử dụng số liệu của 178 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và đưa ra 8 giả thuyết tương ứng với 8 biến tác động đến mức độ minh bạch thông tin tài chính gồm: quy mô, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, hiệu
quả sử dụng tài sản, công ty kiểm toán, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng GĐ Kết quả phân tích cho thấy các nhân tố như đòn bẩy tài chính, lợi nhuận (ROE) và doanh nghiệp kiểm toán có mối tương quan thuận với mức độ minh bạch thông tin tài chính còn cơ cấu HĐQT_2 (doanh nghiệp có tỷ lệ giám đốc điều hành không có trong HĐQT) có mối tương quan nghịch với mức độ minh bạch thông tin tài chính của các DNNY trên TTCK Việt Nam Nghiên cứu sử dụng 2 cách để đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính Cách thứ nhất: tác giả dựa trên các đặc điểm phản ánh sự minh bạch của thông tin tài chính như: tin cậy, đầy đủ, nhất quán, chính xác, kịp thời và thuận
tiện để đo lường mức độ minh bạch Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trên các báo cáo như: báo cáo kiểm toán, BCTC,… năm 2011 và năm 2012 Cách này được
sử dụng để làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi, đối chiếu, so sánh với việc đo lường minh bạch theo cách thứ hai Cách thứ hai: tác giả sử dụng phiếu khảo sát để đánh giá mức độ minh bạch thông tin tài chính của các DNNY theo cảm
Trang 16nhận của nhà đầu tư Cách này dữ liệu được lấy từ phần trả lời của nhà đầu tư qua 2 thời điểm: tháng 4 năm 2013 và tháng 2 năm 2014 Cách thứ hai này được sử dụng để đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính và để chứng minh cho các giả thuyết nghiên cứu của tác giả Nghiên cứu của tác giả chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE Do đó, chưa bao quát được
hết TTCK Việt Nam Các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính như: mức độ sở hữu tập trung; sở hữu nhà nước chưa được tác giả xem xét Việc đo lường mức độ minh bạch thông tin dựa vào phiếu khảo sát nhà đầu tư có độ tin cậy không cao vì kết quả đánh giá mức độ minh bạch hoàn toàn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người được khảo sát Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả chỉ thu thập dữ liệu 2 năm và sử dụng mô hình hồi quy
đa biến để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tài chính nên kết quả có thể kém tin cậy
Ở cấp độ thạc sĩ, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nhất Nam (2015) với tựa
đề “Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên HOSE”, tác giả xây dựng mô hình hồi quy 11 biến ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin BCTC của các doanh nghiệp niêm yết gồm: quy mô; đòn bẩy tài chính; Lợi nhuận; hiệu quả sử dụng tài sản; khả năng thanh toán; thời gian hoạt động; sở hữu nhà nước; kiểm toán; quy mô HĐQT; sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc và quy mô ban kiểm soát Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến: quy mô; đòn bẩy tài chính; tỷ suất sinh lời; khả năng thanh toán; thời gian hoạt động; kiểm toán; hiệu quả sử dụng tài sản có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin BCTC các DNNY trên HOSE Nghiên cứu
của tác giả mới chỉ xem xét các công ty niêm yết trên HOSE mà chưa xem xét
tới các DNNY trên TTCK Việt Nam Ngoài ra, tác giả chỉ sử dụng dữ liệu chéo (dữ liệu 1 năm - năm 2013) để nghiên cứu nên kết quả kém tin cậy
Trang 17Nghiên cứu về chủ đề minh bạch thông tin của tác giả Dương Thị Cẩm Vân (2014), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin
của các công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”, tác
giả xây dựng 8 giả thuyết tương ứng với 8 biến độc lập ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các công ty cổ phần Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố như: quy mô; ROA; Thành phần HĐQT và Quy mô HĐQT có ảnh hửơng đến tính minh bạch thông tin các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao
dịch chứng khoán Hà Nội Tác giả khi xây dựng bảng câu hỏi để chấm điểm
mức độ minh bạch thông tin theo nguyên tắc của OECD còn mang tính cảm tính chưa có cơ sở vững chắc
Tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh (2017) có nghiên cứu với tựa đề “Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong công bố thông tin trên báo cáo tài chính và
quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam” Nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn
2014-2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa mức độ minh bạch trong công bố thông tin trên BCTC và quản trị lợi nhuận, đồng thời cũng chỉ ra theo quy mô doanh nghiệp hoặc theo nơi niêm yết chứng khoán thì
có sự khác biệt trong quan hệ giữa mức độ minh bạch trong công bố thông tin trên BCTC và mức độ quản trị lợi nhuận Nếu các DN có hành vi quản trị lợi nhuận tăng thì chắc chắn rằng mức độ minh bạch trong công bố thông tin trên BCTC sẽ giảm và ngược lại, khi công ty có mức độ minh bạch trong công bố thông tin trên BCTC thấp thì có nhiều khả năng công ty đó đã sử dụng quản trị
lợi nhuận Nghiên cứu sử dụng mô hình Modified Jones (1995) để tính toán
quản trị lợi nhuận mà chưa kiểm định mô hình này có phù hợp với thực tiễn
hoạt động của TTCK Việt Nam hay không Ngoài ra, nghiên cứu này chỉ thu thập các thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp năm 2014 - 2015 mà không phân tích rộng hơn cho một giai đoạn nhiều năm
Trang 18Nghiên cứu của tác giả Lê Trường Vinh (2008) về "Minh bạch thông tin các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP.HCM" Trong nghiên cứu này tác giả đã xây dựng mô hình sử dụng 5 biến nguyên nhân ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin gồm: quy mô, lợi nhuận, nợ phải trả, tài
sản cố định, vòng quay tổng tài sản Tác giả kết luận rằng chỉ có biến tình hình tài chính đại diện là chỉ tiêu lợi nhuận - PROFIT là ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các DNNY Nghiên cứu của tác giả mới chỉ nghiên cứu 30 DNNY trên HOSE và chưa xem xét các nhân tố thuộc về quản trị công ty ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin
Bài viết của tác giả Lâm Thị Hồng Hoa đăng trong tạp chí công nghệ ngân hàng (số 38, trang 38-42): Minh bạch thông tin - Yêu cầu thực tiễn và mức độ đáp ứng (2009) Tác giả đã đưa ra bảy nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu minh bạch
về thông tin như: cách thức điều hành nền kinh tế; quan niệm giữ bí mật trong kinh doanh bị lạm dụng; năng lực quản trị còn yếu kém, tâm lý ngại thay đổi; Cách
thức soạn thảo và trình bày văn bản đã có dấu ấn của lợi ích cục bộ của ngành, địa phương; chưa có chế tài cho việc xử phạt công bố thông tin cho nhà đầu tư thiếu minh bạch; chưa có hệ thống chỉ tiêu để người sử dụng thông tin kiểm chứng thông tin đó đã minh bạch hay chưa và cuối cùng là hoạt động kiểm toán chưa thực sự góp phần làm cho thông tin được minh bạch
Tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa trong bài viết “Minh bạch thông tin trên TTCK Việt Nam” (2007), đăng trên tạp chí phát triển kinh tế (Số 1, trang 14-19),
đã sử dụng lý thuyết thị trường hiệu quả để phân tích và khảo sát để đánh giá tính
hiệu quả thông tin của TTCK Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra giải pháp
áp dụng việc xây dựng và phát triển một hệ thống công bố thông tin số hóa để
giảm bớt hiện tượng bất cân xứng thông tin trên TTCK Việt Nam
Nghiên cứu về chủ đề công bố thông tin, tác giả Nguyễn Công Phương
và cộng sự (2014) có bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố
Trang 19thông tin tài chính của các công ty niêm yết”, đăng trên Tạp chí Phát triển kinh
tế (số 287 trang 15-33), các tác giả đã sử dụng BCTC của 99 DNNY trên HOSE
Kết quả phân tích cho thấy: i) mức độ công bố thông tin trong BCTC của các DNNY là không cao; ii) các yếu tố quy mô, tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài, kiểm toán, mức độ sinh lời và thời gian niêm yết của doanh nghiệp có tác động đến mức độ công bố thông tin
Thông qua việc tổng quan các nghiên cứu trước về minh bạch thông tin nói chung và minh bạch thông tin trên BCTC nói riêng cho thấy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC Các nghiên cứu trên thế giới xem xét ở nhiều góc độ từ vĩ mô như hệ thống luật pháp, kinh tế, chính trị, văn hóa đến phạm vi doanh nghiệp như đặc điểm tài chính hay đặc điểm quản trị công ty Các doanh nghiệp hoạt động ở các quốc gia chịu tác động, chi phối bởi nền văn hóa khác nhau, thể chế khác nhau thì sự ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố đến tính minh bạch thông tin có thể có kết quả khác nhau Chẳng
hạn, cùng một nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) trong nghiên cứu “Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kong and Thailand”, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: mức độ công
bố và minh bạch thông tin của các doanh nghiệp Thái Lan khác biệt so với các doanh nghiệp ở Hồng Kông Mức độ công bố và minh bạch thông tin cho các doanh nghiệp ở Hồng Kông có thể được giải thích bằng các nhân tố tài chính Trong khi đó, nhóm nhân tố này lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh bạch thông tin cho các doanh nghiệp ở Thái Lan
Cùng về chủ đề minh bạch thông tin trên BCTC, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp niêm yết trên toàn TTCK Việt Nam mà chưa có nghiên cứu nào xem xét các doanh nghiệp thuộc
một nhóm ngành cụ thể như ngành hàng tiêu dùng với những đặc điểm khác biệt
với những ngành khác như: sản xuất những mặt hàng đáp ứng nhu cầu thiết yếu
của người tiêu dùng; thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong nước và xuất khẩu;
Trang 20chịu áp lực cạnh tranh rất lớn từ các nhà bán lẻ nước ngoài trên thị trường Việt Nam; sử dụng chi phí nhân công nhiều; cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp thuộc ngành có sức hấp dẫn cao với nhà đầu tư Những đặc điểm này có thể làm cho tính minh bạch thông tin trên BCTC khác với các doanh nghiệp thuộc các ngành còn lại Ngoài ra, các nghiên cứu trong nước chưa đề cập đến nhân tố sở hữu cổ đông nước ngoài Nhân tố này thuộc về quản trị công ty có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC Từ việc xác định khoảng trống trong những nghiên cứu trước, tác giả tập trung xem xét các nhân tố thuộc phạm vi doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam Kế thừa các kết quả và mô hình nghiên cứu của các tác giả trước, đặc biệt là của nhóm tác giả Cheung và
cộng sự (2005); Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) Để đo lường biến phụ thuộc, luận văn
điều chỉnh lại cách đo lường các đặc điểm: sự tin cậy, đầy đủ và nhất quán so
với tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh để thể hiện rõ ràng hơn các đặc điểm của thông tin
Dữ liệu được sử dụng để đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY được lấy từ các tài liệu khách quan và có độ tin cậy cao như: báo cáo
kiểm toán, từ sở giao dịch chứng khoán (HOSE và HNX)… Đặc biệt, để đảm bảo sự tin cậy của kết quả nghiên cứu, luận văn sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu
bảng (dữ liệu của 4 năm) Thông qua các kiểm định phù hợp, tác giả sẽ lựa chọn một trong ba mô hình hồi quy dữ liệu bảng: (1) Mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS); (2) Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM); (3)
Mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model – FEM) để ước lượng mô hình Nghiên cứu của tác giả nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh
bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam Căn cứ vào kết quả nghiên cứu để đề xuất một số gợi ý
phục vụ cho việc ban hành các chính sách cần thiết nhằm tăng cường tính minh
bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam, góp phần giúp TTCK hoạt động hiệu quả và bền vững
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BCTC VÀ TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC
1.1.1 Khái quát chung về BCTC
BCTC là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán (Luật
kế toán Việt Nam, 2015)
Như vậy, thông tin trên BCTC là thông tin phản ánh các tác động tài chính, kế toán của các sự kiện kinh tế được thu thập, xử lý và báo cáo nhằm cung cấp thông tin một cách hữu ích cho các đối tượng sử dụng trong việc đưa
ra các quyết định kinh tế
Thông tin trên BCTC là những thông tin liên quan đến dòng tiền, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của đơn vị ở những thời kỳ xác định, được xác định vào những thời điểm nhất định Thông tin trên BCTC có thể là thông tin trong quá khứ hoặc thông tin mang tính dự báo, thông thường được biểu
hiện bằng đơn vị tiền tệ BCTC thường bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh BCTC
gắn liền với thời gian
1.1.2 Khái quát chung về tính minh bạch thông tin trên BCTC
a Khái niệm minh bạch thông tin trên BCTC
Minh bạch (tiếng Anh là transparency) là sự có thể nhìn rõ được, nhìn xuyên qua sự vật hiện tượng từ bên này sang bên kia, là sự rõ ràng, trong sạch,
Trang 22trong suốt Transparency là một từ ghép có nguồn gốc từ hai khái niệm độc lập
là “trans” và “parent”, trong đó Trans có nghĩa là sự di chuyển và Parent có nghĩa là nhìn thấy được
Sự phát triển của thị trường chứng khoán luôn gắn liền với khái niệm minh bạch thông tin Minh bạch thông tin là việc cung cấp thông tin một cách
rõ ràng, đầy đủ và cụ thể Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam
Có nhiều quan điểm về sự minh bạch thông tin được đưa ra bởi nhiều tổ
chức và cá nhân trong nhiều nghiên cứu trước đây, như:
Theo S&P (Standard & Poors) (2002) cho rằng sự minh bạch là công bố
kịp thời và đầy đủ của việc điều hành, hoạt động và tài chính của doanh nghiệp cũng như các thông lệ quản trị công ty liên quan đến quyền sở hữu, hội đồng
quản trị, cơ cấu quản lý và quy trình quản lý Tương tự như vậy, OECD (2004) định nghĩa sự minh bạch thông tin là việc cung cấp thông tin kịp thời và đầy đủ
từ phía cơ quan công quyền về thể chế kinh tế, các quy định của pháp luật, các
số liệu, các thông tin liên quan đến chính sách tài chính, chính sách tiền tệ theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận được
Ở góc độ công ty, theo Robert Bushman và cộng sự (2004), minh bạch thông tin tài chính là sự sẵn có của thông tin cụ thể về doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài
Trên quan điểm của người sử dụng thông tin, theo Kulzick (2004), minh
bạch của thông tin bao gồm các đặc điểm:
- Sự chính xác (Accuracy): thông tin phản ánh chính xác dữ liệu tổng
hợp từ sự kiện phát sinh;
- Sự nhất quán(Consistency): thông tin được trình bày có thể so sánh được và là kết quả của những phương pháp được áp dụng đồng nhất;
Trang 23- Sự thích hợp (Appropriateness): khả năng thông tin tạo ra các quyết định khác biệt, giúp người sử dụng dự đoán kết quả trong quá khứ, hiện tại và tương lai;
- Sự đầy đủ (Completeness): thông tin phản ánh đầy đủ các sự kiện phát sinh và các đối tượng có liên quan;
- Sự rõ ràng (Clarity): thông tin truyền đạt được thông điệp và dễ hiểu;
- Sự kịp thời (Timeliness): thông tin có sẵn cho người sử dụng trước khi thông tin làm giảm khả năng ảnh hưởng đến các quyết định;
- Sự thuận tiện (Convenience): thông tin được thu thập và tổng hợp dễ dàng;
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) cho rằng: minh bạch thông tin tài chính là việc cung cấp các thông tin tài chính một cách tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ và nhất quán theo cách thức mà công chúng
có thể tiếp cận một cách thuận tiện
Qua tổng hợp các khái niệm về minh bạch thông tin tuy xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như: các tổ chức; phạm vi công ty; người sử dụng thông tin nhưng tựu chung là minh bạch thông tin trú trọng đến chất lượng của thông tin công bố
Trên cơ sở kế thừa các khái niệm về minh bạch thông tin đã đề cập, theo
quan điểm của tác giả:“Minh bạch thông tin trên BCTC là việc cung cấp thông tin trên BCTC ph ải đảm bảo tin cậy, kịp thời, trung thực, đầy đủ, nhất quán và thu ận tiện”
b Tầm quan trọng của minh bạch thông tin trên BCTC
Trên cơ sở khái niệm về minh bạch bạch thông tin và các nghiên cứu trước cho thấy: minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY trên TTCK có vai trò quan trọng đối với nhiều đối tượng khác nhau như nhà đầu tư; cơ quan
quản lý nhà nước và TTCK Cụ thể như sau:
Đối với nhà đầu tư
- Minh bạch thông tin trên BCTC sẽ giúp bảo vệ nhà đầu tư Nhà đầu
Trang 24tư là chủ thể quan trọng của TTCK, họ là người cung cấp vốn – yếu tố quan
trọng nhất của thị trường Đối với các nước có TTCK còn sơ khai và đang trong giai đoạn phát triển như Việt Nam thì vấn đề lợi ích của nhà đầu tư nhỏ lẻ
thường không được đảm bảo như nhà đầu tư lớn, các nhà đầu tư lớn thường là
những người bên trong doanh nghiệp, là người quản lý nên họ có được nhiều thông tin hơn nhà đầu tư nhỏ lẻ Do đó, minh bạch thông tin trên BCTC giúp bảo vệ nhà đầu tư
- Minh bạch thông tin trên BCTC giúp các nhà đầu tư giảm thiểu chi phí trung gian Trên TTCK, nhà đầu tư thường sử dụng nhiều thông tin khác nhau phục vụ cho quyết định đầu tư Thông tin trên BCTC được xem là một trong những nguồn thông tin quan trọng nhất đối với nhà đầu tư Do đó, thông tin trên BCTC mà minh bạch sẽ giúp người sử dụng giảm thiểu được các chi phí trung gian như chi phí môi giới, chi phí sử dụng các phần mềm chuyển đổi các định dạng tập tin…
kênh huy động vốn chính của các DNNY
Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Khi thông tin trên BCTC của các DNNY minh bạch sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn bao quát và đầy đủ hơn về TTCK Từ đó, giúp cho việc ban hành các quy định sẽ sát thực hơn, thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô hiệu
quả, đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường
Trang 25Như vậy, minh bạch thông tin trên BCTC là điều kiện quyết định sự phát triển của TTCK, là cơ sở để khai thác tiềm năng của TTCK cũng như giúp cho TTCK hoạt động hiệu quả và bền vững
1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH MINH
B ẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC
Như nội dung tác giả đã trình bày ở phần mở đầu, có khá nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC và kết quả của các nghiên cứu này cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC Tuy nhiên, kết quả của một số nghiên
cứu không giống nhau, có nhân tố trong nghiên cứu này không có tác động nhưng trong nghiên cứu khác lại có tác động, thêm vào đó cũng có trường hợp nhân tố tác động thuận chiều đến tính minh bạch thông tin trên BCTC ở nghiên
cứu này nhưng lại có kết quả ngược chiều ở nghiên cứu khác Vì vậy, để có cơ
sở cho tác giả phát triển các giả thuyết nghiên cứu và giải thích kết quả trong
luận văn, tác giả thực hiện việc phân tích các lý thuyết nền tảng có liên quan, các lý thuyết đó là lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết thông tin hữu ích và lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết chi phí chính trị
1.2.1 Lý thuyết đại diện
Theo M Jensen and W Meckling (1976), lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa người chủ (principal) và người đại diện (agent) thông qua các hợp đồng Lý thuyết này cho rằng:
(1) Chủ thể (Principal) hay chủ sở hữu vốn (Shareholders) và người đại
diện (Agent) hay nhà quản trị (Manager) luôn có sự đối nghịch về lợi ích Người
sở hữu vốn quan tâm đến giá trị của doanh nghiệp, giá cổ phiếu (cũng chính là
lợi ích của bản thân họ) Trong khi nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích của cổ đông mà quan tâm đến lợi ích của mình (lương, thưởng, phụ
cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác)
Trang 26(2) Việc không đồng nhất giữa lợi ích cổ đông (chủ sở hữu) và giám đốc (người đại diện) làm phát sinh một loại chi phí gọi là “chi phí đại diện” (agent costs) Đây là lọai chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả (ví dụ
một khoản tiền của các cổ đông) Chi phí này bằng không khi chủ sở hữu đồng
thời là giám đốc doanh nghiệp Cụ thể hơn, khi giám đốc sở hữu toàn bộ vốn
của doanh nghiệp Các chi phí đại diện bao gồm: chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và chi phí cơ hội
Do có sự khác biệt về lợi ích và nhiệm vụ của mỗi người, trong khi người đại diện nắm bắt được nhiều thông tin thì người sở hữu, nhà đầu tư khó có cơ hội tiếp cận với thông tin hơn người đại diện Để kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, chủ sở hữu phải gia tăng các hoạt động giám sát dẫn đến việc gia tăng chi phí đại diện Tăng cường mức độ công bố và minh bạch thông tin sẽ làm giảm sự bất đối xứng thông tin giữa các cổ đông và nhà
quản lý, do đó làm giảm chi phí đại diện Lý thuyết đại diện được sử dụng
để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố cơ cấu HĐQT, quy mô doanh nghiệp,
hiệu quả hoạt động, hiệu suất sử dụng tài sản, đòn bẩy tài chính đến tính minh bạch thông tin trên BCTC
1.2.2 Lý thuyết tín hiệu
Theo tác giả M Spence (1973) là người tiên phong nghiên cứu lý thuyết tín hiệu Theo lý thuyết này, khi có sự tồn tại của sự bất cân xứng thông tin, lý thuyết tín hiệu đưa ra một trạng thái cân bằng, trong đó đối tượng có lợi thế về thông tin tốt hơn nên cung cấp một số tín hiệu (thí dụ các thông tin thích hợp) cho các đối tượng khác
Trên TTCK, nhà quản lý phải cung cấp một tín hiệu về tình trạng của doanh nghiệp cho chủ sở hữu Tín hiệu có thể được thực hiện qua công bố thông tin thông qua các báo cáo như BCTC, báo cáo thường niên Những thông tin
thể hiện trong các báo cáo này khi được nhà đầu tư sử dụng họ sẽ đánh giá đúng
Trang 27đắn hơn về doanh nghiệp để đưa ra các quyết định của mình Vì vậy, nếu nhà
quản lý cung cấp ít tín hiệu sẽ dẫn đến tình trạng thiếu minh bạch
Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng thông tin không cân xứng giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư gây ra sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư Lý thuyết này giúp giải thích các nhân tố như quy mô, mức sinh lời, chủ thể kiểm toán trong nghiên cứu của tác giả
1.2.3 Lý thuyết thông tin hữu ích
Trên phương diện lý thuyết, yêu cầu về minh bạch thông tin tài chính
xuất phát từ lý thuyết thông tin hữu ích và lý thuyết quan hệ quản lý Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin tài chính được thiết lập dựa trên các giả thiết (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015):
- Luôn tồn tại sự mất cân đối về mặt thông tin giữa người lập BCTC và người sử dụng thông tin
- Nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán là không được xác định trước và cần được xác định thông qua các dẫn chứng thực tế
- Việc đáp ứng thông tin của người sử dụng được thực hiện thông qua
những bên có lợi ích liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Tính hữu ích của thông tin cần được đánh giá trong mối tương quan lợi ích – chi phí khi thực hiện công việc kế toán
Do đặc điểm bất cân xứng về mặt thông tin giữa các đối tượng bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp, những đối tượng bên ngoài luôn có xu hướng dựa vào thông tin kế toán như một tài liệu quan trọng cho việc ra quyết định kinh
tế Minh bạch thông tin tài chính được xây dựng trên nền tảng tính hữu ích của thông tin tài chính đối với các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp: nhà đầu tư, ngân hàng và các chủ nợ
Lý thuyết này được sử dụng để giải thích về việc sử dụng doanh nghiệp
kiểm toán của các DNNY trên TTCK Việt Nam
Trang 281.2.4 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn một bên khác (George A Akerlof, 1970) Hay nói rộng ra là người bán biết nhiều thông tin về sản phẩm hơn đối với người mua
Thông tin bất cân xứng là tình trạng mà các bên tham gia giao dịch không
có được thông tin như nhau, một bên tham gia giao dịch trên thị trường (ban điều hành công ty, cổ đông lớn) có nhiều thông tin hơn, có thông tin sớm hơn
hoặc tiếp cận thông tin dễ dàng hơn so với các bên còn lại (các nhà đầu tư nhỏ
lẻ) Thông tin bất cân xứng chính là tình trạng thông tin không đầy đủ, không
kịp thời, không tin cậy, không chính xác và không tạo điều kiện để tiếp cận dễ dàng đối với các nhà đầu tư còn lại trên thị trường Đây chính là biểu hiện của
sự không minh bạch thông tin trên thị trường
Lý thuyết thông tin bất cân xứng được sử dụng để lý giải ảnh hưởng của nhân tố hiệu quả kinh doanh, hiệu suất sử dụng tài sản, đòn bẩy tài chính hay
mức độ tập trung quyền sở hữu đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY trong nghiên cứu
1.2.5 Lý thuyết chi phí chính trị
Chi phí chính trị là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu thông qua một hành vi mang tính chính trị từ tác động bên ngoài (như Nhà nước, nghiệp đoàn hay các nhóm cộng đồng) Lần đầu tiên lý thuyết chi phí chính trị được Watts, Zimmerman (1978) giới thiệu cho kết quả đó là doanh nghiệp lớn có chi phí chính trị cao hơn doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp sẽ minh bạch thông tin nhiều hơn để giảm các chi phí chính trị này Nghiên cứu trên lập luận rằng tầm quan trọng của chi phí chính trị phụ thuộc nhiều vào quy mô doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp là một biến đại diện cho sự chú ý chính trị Lý thuyết này cho rằng các nhà quản lý nhà nước có thể ra các quyết định ảnh hưởng liên quan đến lợi ích doanh nghiệp ví dụ như chính sách thuế, hạn chế độc
Trang 29quyền,…dựa trên các thông tin đã được doanh nghiệp công bố Lý thuyết này cũng thừa nhận rằng những doanh nghiệp chịu sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan
quản lý (chẳng hạn như doanh nghiệp có vốn sở hữu bởi nhà nước) có xu hướng gia tăng minh bạch bạch thông tin để tránh sự can thiệp của các quy định (Watts
& Zimmerman 1986)
Lý thuyết chi phí chính trị được sử dụng để lý giải ảnh hưởng của nhân
tố quy mô doanh nghiệp, sở hữu cổ đông nhà nước đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY
1.3 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ MINH
B ẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC
Để đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp, một vài chỉ số đã được sử dụng như: chỉ số minh bạch và công bố thông tin T&D được xây dựng bởi Standard and Poor’s, chỉ số GTI được sử dụng ở Singapore, chỉ số IDTRS tại TTCK Đài Loan, chỉ số minh bạch thông tin tài chính các DNNY trên TTCK Việt Nam được sử dụng trong nghiên cứu của Lê
Thị Mỹ Hạnh (2015)… Dưới đây, tác giả sẽ giới thiệu khái quát các phương pháp đo lường mức độ minh bạch thông tin đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước
1.3.1 Chỉ số minh bạch thông tin tài chính của các DNNY trên TTCK Vi ệt Nam
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) với tựa đề “Minh bạch thông tin tài chính của các DNNY trên TTCK Việt Nam” Trong nghiên cứu, tác giả đánh giá mức độ minh bạch thông tin tài chính dựa trên các đặc điểm
của thông tin đó là sự tin cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ, nhất quán và thuận
ti ện Phương pháp này sử dụng dữ liệu trên website của các DNNY, website
của sở giao dịch chứng khoán, các báo cáo của doanh nghiệp như: BCTC, báo cáo thường niên, báo cáo kiểm toán, báo cáo của Ban giám đốc để xác định chỉ
Trang 30số minh bạch thông tin tài chính Phương pháp của tác giả có ưu điểm là chỉ số minh bạch thông tin được căn cứu trên các tài liệu như báo cáo kiểm toán, số
liệu từ sở giao dịch chứng khoán… Số liệu từ các tài liệu này có độ tin cậy cao hơn so với với một số nghiên cứu khác sử dụng bảng câu hỏi khảo sát nhà đầu
tư, người sử dụng BCTC của DNNY
1.3.2 Chỉ số T&D của Standard & Poor’s
Năm 2002, tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Standard and Poor’s (S&P) lần đầu tiên đưa ra một cách thức xếp hạng tính minh bạch và công bố thông tin (Transparency and Disclosure - T&D) cho hơn 300 doanh nghiệp lớn ở các thị trường đang phát triển S&P đánh giá tính minh bạch của doanh nghiệp dựa trên các báo cáo tài chính thường niên bằng 98 câu hỏi được chia thành 3 nhóm:
- 28 câu hỏi liên quan đến minh bạch thông tin về cấu trúc sở hữu và quyền của nhà đầu tư;
- 35 câu hỏi liên quan đến minh bạch thông tin tài chính và tình hình kinh doanh doanh nghiệp;
- 35 câu hỏi liên quan đến minh bạch thông tin về cơ cấu và hoạt động
quản trị của hội đồng quản trị và ban giám đốc, bao gồm các câu hỏi liên quan đến cấu trúc của ban giám đốc, vai trò của ban giám đốc, đào tạo và khen thưởng giám đốc, phương pháp đánh giá nhà quản trị…
Bên cạnh nhiều ưu điểm trong việc xếp hạng của S&P, thì chỉ số T&D
của S&P còn một số hạn chế như: chỉ đánh giá được mức độ công bố thông tin
của các doanh nghiệp mà không thể xem xét được chất lượng thông tin đi kèm
với những công bố này Điều này dẫn đến việc đo lường tính minh bạch thông tin của các doanh nghiệp có thể có sai sót (Churchwell C 2003) Ngoài ra, về nguồn thông tin sử dụng để đánh giá, việc chỉ căn cứ vào các báo cáo được công bố thông tin ra đại chúng, mà bỏ qua một số các loại thông tin khác về
Trang 31doanh nghiệp cũng là thiếu sót của phương pháp này Ví dụ, S&P không sử
dụng các nguồn thông tin trên website của doanh nghiệp để đưa ra xếp hạng (Nguyễn Thúy Anh và cộng sự 2013)
1.3.3 Chỉ số GTI của Singapore
Năm 2009, chỉ số quản trị và minh bạch thông tin (Governance and Transparency Index - GTI) được trung tâm quản trị công ty CGIO, các học viện
và các tổ chức thuộc Trường Kinh doanh - Đại học Quốc gia Singapore phối
hợp cùng xây dựng để thay thế cho Chỉ số minh bạch thông tin công ty (CTI)
Chỉ số này được chia thành 2 nhóm chính: quản trị công ty và minh bạch thông tin với số điểm đánh giá cao nhất cho mỗi nhóm lần lượt là 75 và 25 Các điểm cơ bản đánh giá công ty dựa trên:
- Vấn đề về hội đồng quản trị và ban giám đốc (Điểm cao nhất = 35 điểm)
- Vấn đề về chính sách lương thưởng (Điểm cao nhất = 20 điểm)
- Vấn đề về kế toán và kiểm toán (Điểm cao nhất = 20 điểm)
- Vấn đề về minh bạch và mối quan hệ với nhà đầu tư (Điểm cao nhất =
25 điểm)
Bên cạnh đó, các điểm điều chỉnh bao gồm: đánh giá “chế độ đãi ngộ và
hệ thống thưởng phạt”; trong đó, các công ty có thể được cộng thêm điểm hoặc
bị trừ điểm trên tổng điểm GTI
Điểm nổi bật của phương pháp này là trên website của báo Business Times, Trung tâm Quản trị doanh nghiệp và Báo cáo tài chính Singapore (CGFR) và CPA Australia có cung cấp các hình thức mẫu để các doanh nghiệp
có thể điền thông tin và tự đánh giá điểm GTI của mình Sau đó, các doanh nghiệp có thể gửi bản tự đánh giá này cho CGFR hoặc CPA Australia chi nhánh tại Singapore và họ sẽ đưa ra những nhận xét giúp cho doanh nghiệp có thể cải thiện được chỉ số này Đây thực sự là điểm mới so với các phương pháp đánh giá minh bạch thông tin khác, bởi nó cho phép các doanh nghiệp có thể chủ
Trang 32động hơn trong việc cải thiện niềm tin đối với các nhà đầu tư Tuy nhiên, GTI
là chỉ số tổng hợp đánh giá cả tình hình quản trị công ty và minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Singapore, mà chưa có chỉ số đánh giá riêng tính minh bạch thông tin của các DNNY
1.3.4 Đo lường công bố và minh bạch thông tin theo nguyên tắc
Qu ản trị công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
Theo mục V – Công bố thông tin và Tính minh bạch trong các nguyên
tắc của OECD (2004) gồm 6 thành phần (thành phần A tới thành phần F):
(1) Thành phần A (thuộc mục V trong OECD): Công bố thông tin phải bao gồm, nhưng không hạn chế, các thông tin quan trọng về: Kết quả tài chính
và hoạt động của công ty; Mục tiêu của công ty; Sở hữu cổ phần đa số và quyền
biểu quyết; Chính sách thù lao cho thành viên HĐQT và cán bộ quản lý cấp cao, bao gồm trình độ, quy trình tuyển chọn, các vị trí đang nắm giữ tại công
ty khác và liệu họ có được HĐQT coi là độc lập hay không…
(2) Thành phần B (thuộc mục V trong OECD): Thông tin phải được chuẩn bị và công bố phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao về công bố thông tin kế toán, tài chính và phi tài chính
(3) Thành phần C (thuộc mục V trong OECD): Kiểm toán hàng năm phải được tiến hành bởi một đơn vị kiểm toán độc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao nhằm cung cấp ý kiến đánh giá độc lập và khách quan cho Hội đồng Quản
trị và các cổ đông, đảm bảo rằng các BCTC đã thể hiện một cách trung thực tình hình tài chính và hoạt động của công ty về mọi mặt chủ chốt
Thành phần này phản ánh tiêu chí sự tin cậy và trung thực trong khái
niệm về minh bạch thông tin trên BCTC được sử dụng trong luận văn
(4) Thành phần D (thuộc mục V trong OECD): Các đơn vị kiểm toán độc lập phải chịu trách nhiệm đối với cổ đông và có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên nghiệp đối với công ty
Trang 33(5) Thành phần E: Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều kiện tiếp
cận thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả cho người sử dụng
(6) Thành phần F: Khuôn khổ quản trị công ty phải được bổ sung bằng các biện pháp thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ phân tích hay tư vấn do các tổ chức phân tích, môi giới chứng khoán, định mức tín nhiệm v v cung
cấp Các phân tích, tư vấn có liên quan tới quyết định của nhà đầu tư này phải không bị ảnh hưởng bởi những xung đột lợi ích quan trọng có thể tác động đến tính trung thực của ý kiến phân tích hoặc tư vấn của họ
Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Chueng và cộng sự (2005), sử dụng
bảng khảo sát được thiết kế dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD do Hiệp hội các giám đốc Viện Thai Institute of Director (IOD)’s thực hiện đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các DNNY tại TTCK Thái Lan và Hồng Kông
1.3.5 Chỉ số IDTRS tại TTCK Đài Loan
Năm 2003, Viện Nghiên cứu Chứng khoán và Hợp đồng tương lai (Securities and Futures Institute - SFI) đã công bố Hệ thống xếp hạng mức độ công bố và minh bạch hóa thông tin (IDTRS - Information Disclosure and Transparency Ranking System) để đo lường mức độ minh bạch hóa thông tin của tất cả các DNNY trên TTCK Đài Loan Nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng
sự (2007), đã dựa trên chỉ số IDTRS để đánh giá mối quan hệ giữa mức độ minh bạch thông tin và tính tin cậy của thu nhập kế toán của các DNNY tại Đài Loan Bộ tiêu chí gồm 5 nội dung chính:
- Sự tuân thủ việc công bố thông tin bắt buộc;
- Thời hạn báo cáo;
- Công bố thông tin về dự báo tài chính;
- Công bố thông tin trong các báo cáo thường niên;
- Công bố thông tin trên website của doanh nghiệp
Trang 34Nhóm tác giả cho rằng sử dụng chỉ số ITDRS không phải là cách tốt để đánh giá sự minh bạch của thông tin tài chính
Tóm lại, có nhiều phương pháp khác nhau để đo lường mức độ minh
bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp Mỗi phương pháp có ưu điểm,
hạn chế khác nhau Tại Việt Nam hiện nay chưa có một tổ chức nào công bố bộ
chỉ số minh bạch thông tin chính thức để đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY Do đó, các tác giả khi nghiên cứu về chủ đề minh
bạch thông tin của các doanh nghiệp tại Việt Nam để lựa chọn được phương pháp đo lường phù hợp phải căn cứu vào nhiều tiêu chí khác nhau
1.4 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính có nhiều nhiều tác giả thực hiện với góc nhìn khác nhau Có tác giả xem xét ở góc độ người cung cấp thông tin, có tác giả xem xét ở góc độ người
sử dụng thông tin trên BCTC Thông qua việc tổng hợp các nghiên cứu trước,
luận văn hệ thống lại các nhân tố đã được các tác giả khám phá, kế thừa và sử
dụng cho công trình nghiên cứu trước trong những điều kiện khác nhau
1.4.1 Nhóm nhân tố đặc điểm tài chính
Nhóm nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính của doanh nghiệp bao gồm: Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, mức sinh lời, hiệu suất sử dụng tài
sản và tài sản đảm bảo
(1) Nhân tố quy mô doanh nghiệp
Nghiên cứu về nhân tố này, ở phạm vi một quốc gia, nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) trong nghiên cứu “Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kong and Thailand” Kết
quả nghiên cứu chỉ ra rằng: ở Hồng Kông, các doanh nghiệp có quy mô lớn thì
mức độ công bố và minh bạch thông tin cao hơn doanh nghiệp nhỏ Lý giải cho
Trang 35kết luận này, nhóm tác tác giả cho rằng các doanh nghiệp lớn thường có nhiều nhà đầu tư lớn hơn các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp lớn thường thu hút sự chú ý của các nhà phân tích
Cùng xem xét nhân tố quy mô doanh nghiệp như nhóm tác giả Cheung
có nghiên cứu của Bushman và công sự (2004) với tựa đề “What Determines Corporate Transparency?” thực hiện nghiên cứu trên 45 quốc gia trên toàn thế giới Nhóm tác giả cũng kết luận rằng: Doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức
độ minh bạch thông tin tài chính cao hơn doanh nghiệp nhỏ
(2) Nhân tố đòn bẩy tài chính
Trong nghiên cứu với tựa đề “Minh bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Lê
Thị Mỹ Hạnh năm 2015 Nghiên cứu sử dụng số liệu của 178 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE Tác giả kết luận: các DNNY có đòn bẩy tài chính càng cao thì mức độ minh bạch thông tin tài chính càng cao Tác giả giải thích rằng các khoản nợ của của nhiều DNNY trên TTCK chủ yếu vay từ ngân hàng Khi vay nợ thì một trong những yêu cầu quan trọng mà bộ phận tín dụng của các ngân hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải cung cấp BCTC với đầy đủ thông tin Do
vậy, các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao trong cơ cấu vốn sẽ chịu sự giám sát của các bên liên quan nhiều hơn các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu sử dụng vốn
chủ sở hữu Các chủ nợ sẽ yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin nhiều hơn
để đảm bảo lợi ích của họ Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nhất Nam (2015) với
tựa đề “Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin báo cáo tài chính của
các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE” cũng cho rằng yếu tố đòn bẩy tài chính
có ảnh hưởng thuận chiều đối với tính minh bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Tác giả cho rằng doanh nghiệp sẽ minh bạch thông tin
để đáp ứng yêu cầu của chủ nợ và giảm thiểu hành vi kiểm soát của chủ nợ, nâng
Trang 36cao vị thế của mình trong mắt chủ nợ và tiềm năng trong việc thay đổi nhà cung
cấp tín dụng để tìm được nguồn vốn tối ưu với chi phí thấp nhất
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) lại chỉ ra rằng không có mối liên hệ nào giữa đòn bẩy tài chính và mức
độ minh bạch thông tin tài chính ở cả hai thị trường Thái Lan và Hồng Kông
(3) Nhân tố mức sinh lời
Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) kết luận rằng mức sinh lời (ROA) có ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp tại Hồng Kông nhưng tại thị trường Thái Lan lại cho kết quả ngược lại Sự khác biệt này xuất phát từ đặc điểm riêng
biệt của từng thị trường TTCK Hồng Kông là một thị trường vốn phát triển
Một thị trường vốn phát triển hơn sẽ kèm theo cơ sở hạ tầng tài chính tốt hơn,
phạm vi của nhà phân tích rộng hơn, cũng như hệ thống pháp luật thực thi hiệu quả Trong khi đó, một thị trường kém phát triển hơn như Thái Lan có thể không có tất cả các cơ chế hỗ trợ cần thiết và phải dựa vào cơ chế khác nhau
để tăng mức độ công bố và minh bạch của doanh nghiệp
Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Thị Cẩm Vân (2014) với tựa đề
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các công
ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội” Tác giả sử dụng
tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) để xem xét mối quan hệ giữa mức sinh lời
với sự minh bạch thông tin Kết quả cho thấy tính minh bạch thông tin tài chính
của doanh nghiệp liên quan đến sự kỳ vọng về khả năng sinh lời trên tài sản
của doanh nghiệp
Cùng xem xét ảnh hưởng của nhân tố mức sinh lời đến tính minh bạch thông tin tài chính nhưng tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) sử dụng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Theo tác giả, doanh nghiệp có mức sinh lời cao
Trang 37sẽ sẵn sàng cung cấp thông tin nhiều hơn Các doanh nghiệp có mức sinh lời cao thường minh bạch thông tin nhằm thu hút sự quan tâm của thị trường, từ
đó giá trị cổ phiếu của họ được gia tăng Trong khi đó, doanh nghiệp có mức sinh lời thấp thường công bố ít thông tin hay công bố không rộng rãi nhằm che
giấu tình trạng hoạt động kém hiệu quả của mình
(4) Nhân tố hiệu suất sử dụng tài sản
Theo tìm hiểu của tác giả, nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhân tố hiệu
suất sử dụng tài sản đến tính minh bạch thông tin trên BCTC có bốn nghiên cứu liên quan Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu này lại khác nhau Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) kết luận rằng nhân tố hiệu suất sử dụng tài sản của các doanh nghiệp ở thị trường Thái Lan không ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp nhưng nhân tố này lại có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính các doanh nghiệp tại Hồng Kông
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho kết quả khác nhau Tác giả Lê
Thị Mỹ Hạnh (2005) và Dương Thị Cẩm Vân (2014) đều cho rằng nhân tố hiệu suất sử dụng tài sản không ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính Trong khi đó, tác giả Nguyễn Nhất Nam (2015) lại đưa ra kết luận: doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng tài sản càng cao thì càng minh bạch thông tin báo cáo tài chính Tác giả lý giải rằng: doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng tài sản cao thì mức độ công bố thông tin và minh bạch cao hơn doanh nghiệp có hiệu
suất sử dụng tài sản thấp vì các doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng tài sản cao
có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư và nhà phân tích hơn, do vậy họ sẽ công
bố thông tin nhiều hơn và thông tin minh bạch hơn
(5) Nhân tố tài sản đảm bảo
Trang 38Có hai nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của nhân tố tài sản đảm bảo đến tính minh bạch thông tin tài chính Tác giả Dương Thị Cẩm Vân (2014) kết luận rằng nhân tố tài sản đảm bảo không ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội Tuy nhiên, khi nghiên cứu trên thị trường Hồng Kông, nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) lại tìm thấy sự ảnh hưởng thuận chiều giữa nhân tố tài sản đảm bảo và mức độ công bố và minh bạch thông tin tài chính của các DNNY Lý giải cho mối quan hệ này, nhóm tác giả cho rằng các doanh nghiệp
có giá trị tài sản cố định cao thường phải minh bạch thông tin cho những người bên ngoài về việc sử dụng tài sản cố định vào dự án nào
1.4.2 Nhóm nhân tố đặc điểm quản trị công ty
(6) Nhân tố chủ thể kiểm toán
Với tài liệu tác giả thu thập được, có hai nghiên cứu xem xét ảnh hưởng
của nhân tố chủ thể kiểm toán đến tính minh bạch thông tin tài chính Cả hai tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2005) và Nguyễn Nhất Nam [8] đều có cùng kết luận:
có mối quan hệ thuận chiều giữa nhân tố chủ thể kiểm toán và tính minh bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh lý
giải rằng: Các doanh nghiệp kiểm toán lớn thường cố gắng nâng cao uy tín và
chất lượng của mình cũng như nâng cao chất lượng đánh giá của các báo cáo hàng năm bằng cách yêu cầu khách hàng công bố và minh bạch thêm thông tin Ngoài ra, doanh nghiệp kiểm toán lớn có nhiều khách hàng, ít chịu sự phụ thuộc kinh tế vào một vài khách hàng riêng biệt, khách hàng tìm đến họ chủ yếu do
uy tín mà họ đã tạo lập được trên thị trường và đối với nhà đầu tư Trong khi
đó, doanh nghiệp kiểm toán nhỏ thường chịu sự phụ thuộc kinh tế nhiều vào khách hàng, việc bị mất khách hàng sẽ gây khó khăn cho họ, do đó họ có thể không kiên quyết trong việc yêu cầu khách hàng cung cấp thêm thông tin Hơn
Trang 39nữa, tìm đến doanh nghiệp kiểm toán lớn như là một lời khẳng định với cổ đông
về tính minh bạch trong kết quả kiểm toán và độ tin cậy của thông tin tài chính
mà doanh nghiệp công bố
(7) Nhân tố mức độ sở hữu cổ đông nhà nước
Nghiên cứu của nhóm tác giả Robert Bushman, Piotroski, and Smith (2004) khi thực hiện nghiên cứu tại 45 quốc gia trên toàn thế giới Nghiên cứu kết luận rằng minh bạch thông tin tài chính cao hơn ở các quốc gia với nền kinh
tế có tỷ lệ sở hữu nhà nước thấp ở các doanh nghiệp
(8) Nhân tố mức độ sở hữu tập trung
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố mức độ sở hữu tập trung đến tính minh bạch thông tin tài chính có nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) Nhóm tác
giả kết luận: không có mối liên hệ nào giữa nhân tố mức độ sở hữu tập trung và tính minh bạch thông tin tài chính ở cả hai thị trường Thái Lan và Hồng Kông
(9) Nhân tố cơ cấu HĐQT
Tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) đo lường nhân tố cơ cấu HĐQT bằng cách tính tỷ lệ các giám đốc điều hành không tham gia vào HĐQT Kết quả chỉ
ra rằng có sự tương quan giữa nhân tố này với tính minh bạch thông tin tài chính
của các DNNY Khi mức độ độc lập của các thành viên HĐQT càng cao hay tỷ
lệ các thành viên điều hành không có trong HĐQT càng thấp thì mức độ minh
bạch càng cao Tỷ lệ các thành viên không điều hành ít tham gia vào HĐQT thì các thành viên HĐQT còn lại có xu hướng gia tăng công tác giám sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ; điều này làm tăng cường
mức độ minh bạch thông tin tài chính của các DNNY Kết luận của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) ở hai thị trường Hồng Kông và Thái Lan cũng tương đồng với kết luận của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015)
Trang 401.4.3 Đánh giá chung các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh b ạch thông tin trên BCTC
Theo thời gian, các nghiên cứu liên quan đến chủ đề: các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY nhờ kế thừa các nghiên cứu trước nên ngày càng hoàn thiện hơn về mặt nội dung, các kết
luận đưa ra có giá trị và thuyết phục hơn Các tác giả đi trước có vai trò quan trọng, họ khám phá ra các nhân tố mới làm cơ sở cho các nghiên cứu sau tiếp
tục kế thừa và xem xét các nhân tố này trong trong hoàn cảnh mới Hầu hết các nghiên cứu đều có chung kết luận rằng nhân tố quy mô doanh nghiệp có ảnh
hưởng thuận chiều đến tính minh bạch thông tin trên BCTC Ngoài ra, một số nhân tố như đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY trên TTCK Việt Nam (Lê Thị Mỹ Hạnh 2015) nhưng tại các DNNY trên TTCK Hồng Kông và Thái Lan lại cho kết quả ngược lại (Cheung và cộng sự 2005) Nhân tố tài sản đảm bảo không ảnh hưởng đến đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (Dương Thị Cẩm Vân 2014) nhưng nhân tố này lại có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các DNNY trên TTCK Hồng Kông (Cheung
và cộng sự 2005) Sự khác nhau ở một số kết quả nghiên cứu có thể là do những nguyên nhân như: nghiên cứu ở những quốc gia khác nhau có thể có một số khác biệt về văn hóa, kinh tế, luật pháp; sự khác biệt ở cỡ mẫu nghiên cứu; sự khác biệt ở các thời điểm nghiên cứu… Điều này cho thấy rằng cần phải thận
trọng khi xem xét các kết quả nghiên cứu, gắn với những điều kiện cụ thể để lý giải về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến tính minh bạch thông tin trên BCTC
của các DNNY
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả kế thừa các kết qủa nghiên cứu trước để vận dụng phù hợp với đặc điểm của các DNNY thuộc ngành hàng tiêu