1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

42 1,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Transistor hiệu ứng trường
Trường học Đại Học Kỹ Thuật
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần chính của một MOSFET có cấu trúc như hai bản cực của một tụ điện: một bản kim loại ở phía trên được nối với chân ra gọi là chân Cổng [Gate] G, bản cực phía dưới là phiến đế làm bằn

Trang 1

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

CHƯƠNG 3 TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

Transistor hiệu ứng trường gọi tắt là FETs [Fiel-Effect Transistors] bao gồm hai loại chính đó là: Transistor hiệu ứng trường có cấu trúc cổng bằng bán dẫn-oxide-kim loai, gọi tắt là MOSFET [Metal-Oxide-Semiconductor FET], và transistor hiệu ứng trường có cấu trúc cổng bằng tiếp

giáp pn, thường gọi là JFET [Junction FET] Transistor MOSFET đã trở thành một trong những

dụng cụ bán dẫn quan trọng nhất trong việc thiết kế chế tạo các mạch tích hợp (ICs) do tính ổn định nhiệt và nhiều đặc tính thông dụng tuyệt vời khác của nó Cả MOSFET và JFET đều dẫn

điện theo các kênh dẫn, nên mỗi loại đều có ở dạng kênh dẫn bằng bán dẫn n hoặc p, gọi là MOSFET kênh n (gọi tắt là NMOS), MOSFET kênh p (gọi tắt là PMOS) và JFET kênh n và JFET kênh p tương ứng Ngoài ra, đối với MOSFET dựa theo nguyên tắc hình thành kênh dẫn

mà có MOSFET cảm ứng kênh hay tăng cường kênh; giàu kênh (kênh không có sẵn) và MOSFET nghèo kênh (kênh có sẵn)

3.1 CẤU TRÚC CƠ BẢN CỦA MOSFET

Cấu tạo cơ bản và ký hiệu mạch của MOSFET kênh n được cho ở hình 3.1

Phần chính của một MOSFET có cấu trúc như hai bản cực của một tụ điện: một bản kim loại ở

phía trên được nối với chân ra gọi là chân Cổng [Gate] G, bản cực phía dưới là phiến đế làm

bằng vật liệu bán dẫn Si tạp dạng p, đôi khi

đế được nối với cực nguồn ở bên trong MOS (MOS ba chân), nhưng phần lớn, cực đế được lấy ra bằng một chân thứ tư có tên là

chân Đế [Bode] B, (có khi còn gọi là cực SS

[Substrate]) để có thể cho phép điều khiển bởi mức điện thể của nó từ bên ngoài

Lớp điện môi của tụ chính là lớp cách điện rất mỏng di ôxit Silicon (SiO2), do cấu trúc như vậy nên Cổng - Đế được gọi là cấu trúc của tụ MOS [Metal-Oxide-Semiconductor]

Các chân Nguồn [Source] S và Máng [Drain] D, là các chân được nối với các vùng bán dẫn tạp dạng n + đặt bên trong phiến đế, gọi là vùng Nguồn và vùng Máng tương ứng Đối với một dụng

cụ bán dẫn kênh n, thì dòng điện được hình thành bằng các điện tử và vùng Nguồn và Máng

được cấu tạo bởi các vùng pha tạp đậm n +

(vào khoảng 1020 cm-3) để có thể tiếp xúc tốt với kênh dẫn Người ta dùng phương pháp cấy ion để tạo ra vùng Nguồn và Máng sau khi cấu trúc Cổng đã được xác lập sao cho hai vùng này thẳng hàng với vùng Cổng, và

để sự hình thành kênh dẫn được liên tục cần phải có sự chồng lấn giữa vùng Cổng với vùng Nguồn và Cổng với Máng ở hai đầu kênh dẫn Do cấu tạo của dụng cụ có tính đối xứng nên Nguồn và Máng có thể thay thế lẫn nhau Vùng bán dẫn giữa hai vùng Nguồn và Máng ngay phía dưới Cổng được gọi là vùng

kênh Khoảng cách giữa hai tiếp giáp pn

(vùng Nguồn-Đế và vùng Máng-Đế) là chiều

dài hiệu dụng của kênh L và W là chiều rộng

của kênh Vùng đế là một bán dẫn tạp kiểu ngược lại với hai vùng Nguồn và Máng (thường ở mức pha tạp loãng hơn) để đảm bảo cách ly giữa hai vùng Lớp ôxit (SiO2) được tạo ra bằng cách gia nhiệt ở nhiệt độ cao để có các đặc tính bề mặt chung tốt nhất Vật liệu làm Cổng thông dụng nhất là kim

Trang 2

loại hoặc polysilicon Khi chiều dài kênh dẫn bằng 0,3µm, thì các thông số điển hình là: chiều dày của lớp ôxit ≈ 10µm, mức pha tạp của vùng đế là ≈ 3x1017cm-3, độ dày tiếp giáp pn giữa

Máng-Đế và Nguồn-Đế là ≈ 0,2µm Đối với mỗi loại kênh dẫn, thì mức ngưỡng của điện áp cổng phải thích hợp để có thể làm biến đổi kênh dẫn Nếu kênh dẫn biến mất tại điện áp cổng bằng 0 (tức là kênh dẫn thường hở - normally OFF) thì MOSFET được gọi là dụng cụ tăng cường kênh do điện áp cổng cần phải có cho sự “tăng cường” [enhance] hay làm giàu kênh dẫn, (hình 3.1a, b, c) Nếu kênh là có sẵn tại điện áp cổng bằng 0 (tức thường kín - ON), thì MOSFET được gọi là dụng cụ nghèo kênh vì điện áp cổng cần cho việc “làm suy kiệt” [deplete] hay làm nghèo kênh dẫn, (hình 3.1d)

Các điện áp và dòng điện của MOSFET kênh n cũng đã được xác định rõ trên hình 3.1b Dòng Máng i D , dòng Nguồn i S , dòng Cổng i G , và dòng đế i B được xác định với chiều dương của dòng

được chỉ rõ cho một transistor MOSFET kênh n Các điện áp giữa các cực quan trọng là điện áp Cổng-Nguồn: v GS = v G - v S , điện áp Máng-Nguồn: v DS = v D - v S , và điện áp Nguồn-Đế: v SB =

v S - v B Tất cả các điện áp này đều có giá trị ≥ 0 trong chế độ hoạt động thông thường của N MOSFET

Chú ý rằng: các vùng Nguồn và Máng tạo thành tiếp

giáp pn với vùng Đế Hai tiếp giáp này luôn luôn

được giữ ở điều kiện phân cực ngược để có sự cách ly giữa các tiếp giáp của transistor MOS Vì vậy, điện áp

Đế phải nhỏ hơn hoặc bằng với điện áp ở các cực

Nguồn và Máng để đảm bảo cho các tiếp giáp pn được phân cực ngược một cách thích hơp, tức: i B 0

Ngoài ra, Cổng phải là một bản cực kim loại để có tiếp xúc mặt nhưng vẫn được cách điện với vùng kênh qua lớp SiO2, hay nói cách khác là không có kết nối điện trực tiếp giữa cực Cổng và kênh dẫn ở MOSFET, nên MOSFET là một dụng cụ có trở kháng

vào rất cao, bởi vì dòng Cổng rất nhỏ, i G 0 ở cấu

hình phân cực dc Vì lý do này mà đôi khi MOSFET còn có tên gọi là FET có cổng cách ly hay IGFET [Insulated-Gate FET]

3.2 NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC VÀ ĐẶC TUYẾN CỦA NMOS KIỂU TĂNG CƯỜNG.

a) Các đặc tính của tụ MOS

Như đã nói ở cấu tạo, trung tâm của MOSFET thực chất là có cấu trúc của tụ MOS, được vẽ ở hình 3.2a, trong đó điện cực phía trên của tụ được hình thành bởi một bản kim loại, chẳng hạn như nhôm hoặc một chất có cấu trúc đa tinh thể được pha tạp đậm đặc (đa tinh thể Si), điện cực này xem như cực Cổng (G) Một lớp cách điện mỏng thương bằng di-ôxit Si sẽ cách ly cổng bằng kim loại với đế là một vùng bán dẫn mà tính năng của nó như một điện cực thứ hai của tụ MOS Diôxit Si là một chất cách điện chất lượng cao, rất ổn định và dễ dàng được tạo thành bởi sự ô-xy hóa bằng nhiệt thanh đế Silicon Khả năng để tạo thành một chất cách điện chất lượng cao là một trong những

lý do cơ bản mà Silicon trở thành vật liệu bán dẫn chủ yếu trong công nghệ chế tạo dụng cụ bán dẫn hiện

nay Vùng bán dẫn làm đế có thể là n hay p như ở

hình 3.2a

Nguyên lý làm việc của tụ MOS là bản chất nguyên tắc hoạt động của MOSFET Lớp bán dẫn tạo thành điện cực phía dưới của tụ có điện trở suất lớn do số

Trang 3

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

lượng các lỗ trống và điện tử trong vùng đế được hạn chế (pha tạp loãng), điện dung của tụ có

cấu trúc như trên là một hàm phi tuyến của điện áp v G Hình 3.2(b, c, d) mô tả các trạng thái tức thời ở vùng bán dẫn làm đế, phía dưới điện cực Cổng theo ba giá trị điện áp phân cực khác nhau

- Vùng Tích lũy

Trạng thái của tụ MOS khi đặt điện áp phân cực âm lớn lên cực Cổng so với cực Đế được cho ở hình 3.2b Lượng điện tích âm lớn trên bản kim loại sẽ cân bằng bởi các lỗ trống được thu hút đến bề mặt phẳng chung giữa lớp bán dẫn đế và lớp di ôxit Si, trực tiếp ngay phía dưới bản cực Cổng

Đối với trạng thái phân cực này, mật độ lỗ trống tại bề mặt vượt trội hơn so với mật độ lỗ trống

hiện có trong đế bán dẫn p ban đầu và ta có thể xem rằng bề mặt như ở vùng tích lũy lỗ trống

Lớp tích lũy cực kỳ mỏng, tồn tại chủ yếu như một dải điện tích trực tiếp ngay phía dưới cực Cổng

- Vùng Nghèo

Khi tăng dần điện áp đặt trên Cổng Ban đầu, các lỗ trống sẽ bị đẩy ra khỏi bề mặt của đế bán

dẫn p gần sát với lớp ôxit Si, làm cho mật độ lỗ trống ở gần bề mặt giảm dần thấp hơn mức các

hạt tải đa số được thiết lập bởi mức pha tạp của thanh đế như mô tả ở hình 3.2c Trạng thái này được gọi là sự làm nghèo và chế độ làm việc này của tụ MOS được gọi là chế độ nghèo Vùng ngay phía dưới bản cực Cổng bằng kim loại bị suy kiệt các hạt tải điện tự do theo cách thức như

vậy được gọi là vùng nghèo, vùng này có trạng thái gần như lớp tiếp xúc của diode tiếp giáp pn

Ở hình 3.2c, điện tích dương trên cực Cổng sẽ được cân bằng bởi điện tích âm của các nguyên tử acceptor đã bị ion hóa trong vùng nghèo Độ rộng của vùng nghèo có thể thay đổi từ một vài phần mười micron đến vài trăm micron tùy thuộc vào điện áp phân cực đặt vào và mức pha tạp ở vùng bán dẫn dùng làm đế của MOSFET

- Vùng Đảo

Khi tăng điện áp trên bản cực phía trên của tụ hơn nữa, các điện tử sẽ được thu hút đến bề mặt chung của lớp bán dẫn đế và lớp di-ôxit Silicon Tại một giá trị điện áp nào đó, mật độ điện tử tại bề mặt sẽ vượt trội hơn mật độ lỗ trống Ở điện áp này, bề mặt đã được đảo cực tính từ bán

dẫn tạp dạng p của đế bán dẫn ban đầu thành một lớp đảo bán dẫn tạp dạng n, hay gọi là vùng

đảo, trực tiếp ngay phía dưới bản cực G của tụ Vùng đảo này là một lớp rất mỏng, tồn tại chủ

yếu như một dải điện tích trực tiếp ngay phía dưới vùng Cổng Mật độ cao của các điện tử ở lớp đảo là được cung cấp bởi các quá trình phát sinh cặp điện tử-lỗ trống trong phạm vi lớp nghèo

Điện tích dương ở bản cực Cổng sẽ được cân bằng với tổng điện tích âm trong lớp đảo cộng với điện tích âm của các ion acceptor trong vùng nghèo Giá trị điện áp mà tại đó hình thành bề mặt lớp đảo đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong các transistor hiệu ứng trường và điện áp

này được gọi là điện áp Ngưỡng V TN

b) Sự hình thành kênh dẫn ở transistor NMOS kiểu tăng cường kênh

Trước khi xây dựng biểu thức cho quan hệ

dòng-áp của transistor NMOS, ta hãy khảo sát một NMOS được cho ở hình 3.3 Theo hình vẽ, cực Nguồn, cực Máng và cực Đế của NMOSFET đều được nối đất chung Đối với một điện áp Cổng-

Nguồn, v GS = V GS thấp hơn nhiều so với điện áp

Ngưỡng V TN, như ở hình 3.3a, thì sẽ có các tiếp

giáp pn đối nghịch nhau tồn tại giữa Nguồn và

Máng, nên chỉ có một dòng điện rò rất nhỏ có thể

chảy giữa hai điện cực đó Khi tăng V GS lên gần bằng nhưng vẫn thấp hơn điện áp Ngưỡng, thì một vùng nghèo sẽ hình thành ngay phía dưới

Trang 4

vùng Cổng, và vùng Nghèo này sẽ kết hợp với các vùng nghèo của Nguồn và Máng như đã chỉ ở

hình 3.3b Trong vùng nghèo không có các hạt tải điện tự do, nên vẫn không thể có dòng điện

xuất hiện giữa cực Nguồn và Máng Tuy nhiên, cuối cùng khi điện áp Cổng-Kênh tăng lên vượt

quá giá trị điện áp Ngưỡng V TN, như ở hình 3.3c, thì các điện tử chảy vào từ vùng Nguồn, Máng

và Đế để hình thành nên một lớp đảo kết nối vùng n + Nguồn với vùng n + Máng, tức là có một

điện trở kết nối tồn tại giữa các cực Nguồn và Máng Nếu đặt vào giữa hai cực Máng và Nguồn

một điện áp dương thì các điện tử trong kênh sẽ trôi trong điện trường và tạo nên dòng điện qua

các cực Máng và Nguồn Dòng trong transistor NMOS luôn luôn chảy vào ở cực Máng, qua

kênh dẫn và ra ở cực Nguồn Cực Cổng được cách ly với kênh dẫn, nên sẽ không có dòng cổng

dc và ta có: i G = 0 Các tiếp giáp pn giữa vùng máng với vùng đế, vùng nguồn với vùng đế (và

cũng được tạo ra giữa vùng kênh dẫn với vùng đế) phải luôn luôn được phân cực nghịch để đảm

bảo chắc chắn là chỉ có một dòng rò do phân cực nghịch nhỏ để có thể được bỏ qua Như vậy, ta

có thể xem rằng i B =0 Đối với một MOSFET như ở hình 3.3a, một kênh dẫn được cảm ứng nhờ

điện áp đặt vào Cổng để có sự dẫn điện xảy ra Điện áp Cổng sẽ “tăng cường” độ dẫn điện của

kênh dẫn, nên MOSFET loại này có tên gọi là loại dụng cụ hoạt động ở chế độ tăng cường

c) Đặc tuyến i-v của transistor NMOS ở vùng tuyến tính

Để xác định biểu thức về quan hệ của dòng điện chảy qua các cực của transistor NMOS theo các

điện áp đặt vào các cực, ta có thể xem rằng dòng i G và i B đều bằng 0 (đã xét ở trên)

Vì vậy, dòng điện vào ở cực Máng phải bằng với dòng điện chảy ra ở cực Nguồn nên ta có:

i S = i D = i DS (3.1)

Biểu thức cho dòng Máng-Nguồn i DS có thể được viết bằng cách xem xét dòng điện tích chảy

trong kênh dẫn ở hình 3.4 Điện tích của điện tử trên một đơn vị độ dài (gọi là điện tích đường)

tại một điểm bất kỳ trong kênh dẫn sẽ bằng:

( ox TN)

'' ox '

V v WC

Q =− − C/ cm, đối với điều kiện v ox V TN (3.2) Trong đó: " ox ox

ox ε / T

C = , là điện dung của lớp ôxit trên một đơn vị diện tích (F/ cm2)

εox là điện môi của lớp ôxít (F/ cm) [Đối với dioxide Si, thì εox = 3,9ε0 , khi đó: điện

môi của không khí ε0 = 8,854x10-14 F/ cm]

T ox là độ dày của lớp ôxit (cm)

Điện áp v ox là điện áp đặt ngang qua lớp ôxít, và nó sẽ tùy thuộc vào vị trí trong kênh dẫn:

v ox = v GS - v(x) (3.3) trong đó v(x) là điện áp tại điểm x nào đó

trong kênh dẫn so với nguồn Hãy lưu ý

rằng v ox phải vượt quá giá trị V TN để tồn

tại lớp đảo, như vậy Q’ sẽ bằng 0 cho đến khi v ox > V TN

Tại vị trí đầu cực Nguồn của kênh dẫn, v ox

= v GS , và v ox sẽ giảm xuống đến giá trị v ox

= v GS - v DS tại vị trí đầu cực Máng của kênh dẫn

Dòng trôi của điện tử tại một điểm bất kỳ trong kênh được cho bởi tích của điện tích

trên một đơn vị độ dài nhân với vận tốc v x

:

i(x) = Q’(x) v x (x) (3.4) Điện tích đường Q’ được cho bởi biểu

thức (3.2), và vận tốc trôi v x của điện tử trong kênh dẫn được xác định theo độ linh động của điện tử và điện trường đặt ngang qua kênh dẫn:

i =− n " ox GS − − TN (3.6)

Trang 5

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

hoặc i ( x ) dx =−µ n C " ox W(v GSv ( x )V TN)dv ( x ) (3.7)

Điện áp đặt trên các cực của NMOS là v(0) = 0 và v(L) = v DS , nên ta có thể tính tích phân (3.7)

theo chiều dài của kênh từ 0 đến L:

0

DS v

"

ox

n C W v v ( x ) V dv ( x ) µ

dx ) x (

Bởi vì không có sự suy hao về dòng điện khi chảy qua kênh dẫn, nên dòng điện trong kênh dẫn

phải bằng cùng một giá trị i DS tại mọi điểm x trong kênh, nghĩa là i(x) = - i DS, và (3.8) sẽ được

suy ra như sau:

DS DS TN GS

"

ox n

2

v V v W C µ L

"

ox n

2

v V v L

W C µ

µ được giữ cố định do nhà sản xuất quyết định Để tiện cho các mục đích thiết kế và

phân tích mạch, biểu thức (3.10) thường được viết ở dạng như sau:

DS DS TN GS '

n

2

v V v L

W K

n µ C

K =

TN GS n

2

v V v K

K n = ' n (3.11) Các thông số K và n K được gọi là các thông số hỗ dẫn, và cả hai đều có đơn vị là A/V ' n 2

Biểu thức (3.11) là biểu thức kinh điển của dòng Máng-Nguồn cho transistor NMOS hoạt động

ở vùng tuyến tính, mà trong đó một kênh dẫn điện trở sẽ kết nối trực tiếp vùng Nguồn và vùng

Máng Sự kết nối bằng điện trở sẽ có sau khi điện áp đặt ngang qua lớp ôxít vượt quá giá trị điện

áp Ngưỡng tại mọi điểm trong kênh dẫn, nghĩa là:

v GS - v(x) V TN với điều kiện: 0 x L (3.12) Điện áp trong kênh dẫn sẽ lớn nhất tại phía đầu vùng Máng, khi đó v(L) = v DS Vì vậy, các biểu

thức (3.10) và (3.11) chỉ hợp lý khi có điều kiện:

v GS - V TN v DS (3.13)

Tóm lại, đối với NMOS làm việc ở vùng tuyến tính, ta có:

DS DS TN GS '

n

2

v V v L

W K

v V v WC

i DS " ox GS TN DS n DS

(3.15) Khi điện áp Máng-Nguồn có giá trị nhỏ, thì số hạng thứ nhất sẽ biểu diễn đại lượng điện tích trung bình trên một đơn vị độ dài trong kênh

dẫn, bởi vì điện áp kênh dẫn trung bình v(x) =

v DS / 2 Số hạng thứ hai sẽ tượng trưng cho vận

tốc trôi trong kênh dẫn, mà khi đó điện trường

trung bình sẽ bằng với điện áp v DS đặt ngang

qua kênh dẫn chia cho độ dài kênh L Đặc tuyến i-v ở vùng tuyến tính được tạo ra từ

biểu thức (3.14) cho ở hình 3.5 đối với trường

hợp V TN = 1V và K n = 250 µA/V2 Các đặc tuyến ở hình 3.5 là một phần đặc tuyến ra của transistor NMOS Đặc tuyến ra

Trang 6

của một dụng cụ bân dẫn 3 cực lă đồ thị của dòng điện chảy qua lối ra của linh kiện mă trong

trường hợp năy lă dòng Mâng như lă một hăm số của điện âp đặt ngang qua lối ra mă ở đđy lă

điện âp Mâng-Nguồn

Họ câc đặc tuyến sẽ được tạo ra, với mỗi đường đặc tuyến tương ứng với một giâ trị khâc nhau của điện âp Cổng -Nguồn tức lă điện âp ở cổng lối văo

Câc đặc tuyến ở hình 3.5, thể hiện một họ câc

đường thẳng có dạng gần giống nhau, vì lý do

đó nín vùng lăm việc có tín gọi lă vùng tuyến tính, tuy nhiín cóthể có đặc tuyến hơi

cong, cụ thể lă đường đặc tuyến ứng với V GS

= 2V

Đối với điện âp Mâng-Nguồn rất bĩ, chẳng

hạn: v DS « v GS - V TN, thì biểu thức (3.14) có thể rút gọn thănh:

( GS TN) DS

"

ox n

L

W C µ

Dòng i DS chảy qua câc cực của MOSFET lúc

năy tỷ lệ thuận thuận với điện âp v DS đặt trín

MOSFET FET lăm việc rất giống với một điện trở nối giữa câc cực Nguồn vă Mâng, nhưng giâ trị của điện trở được điều khiển bởi điện âp Cổng -Nguồn

Điện trở của FET lăm việc ở vùng tuyến tính, gần gốc tọa độ, được gọi lă điện trở mở [on-

resistance] R ON, có thể được xâc định xuất phât từ biểu thức (3.14), ta có:

( GS TN)

' n 1

Q điểm tại 0 DS v DS

DS ON

V V L

W K

1 v

i R

Tại những điểm gần sât với gốc tọa độ, câc đặc tuyến i-v của MOSFET thực chất lă câc đường

thẳng, tức lă đặc tuyến phải được xĩt với điều kiện v DS « v GS - V TN, tuy nhiín theo hình 3.5 thì

hình như độ tuyến tính bắt đầu bị vi phạm đối với đặc tuyến thấp nhất, khi đó V GS - V TN = 2-1 =

1V (gần bằng với câc giâ trị của V DS), nín lúc năy ta phải hiểu rằng vùng tuyến tính chỉ đúng với

câc giâ trị của v DS thấp hơn 0,1 đến 0,2V Đối với những đặc tuyến ứng với V GS lớn, thì đặc

tuyến V-A thể hiện độ tuyến tính rất cao trong suốt câc giâ trị của V DS ở hình 3.5, chẳng hạn,

Trang 7

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

đường đặc tuyến ứng vơi V GS = 5V

d) Sự bão hòa ở đặc tuyến i-v của MOSFET

Như đã xét ở trên, biểu thức (3.14) chỉ có ý nghĩa với điều kiện có một kênh dẫn kết nối trực tiếp giữa vùng Nguồn và vùng Máng Ta xét hiện tượng xảy ra trong MOSFET khi tăng điện áp Máng-Nguồn lên trên giá trị giới hạn ở biểu thức (3.14) như mô tả ở hình 3.6 Với ba giá trị điện

áp Máng-Nguồn khác nhau và giữ cố định điện áp Cổng-Nguồn Ở hình 3.6a, MOSFET làm

việc ở vùng tuyến tính, với v DS < v GS - V TN như đã được xét ở trên Khi tăng giá trị v DS lên thành

v DS = v GS - V TN, hình 3.6b thì kênh dẫn bắt đầu biến mất tại đầu mút của kênh ở phía vùng máng

Hình 3.6c mô tả trạng thái kênh dẫn theo giá trị v DS lớn hơn Vùng kênh dẫn đã bị biến mất, hay

nói cách khác là đã bị thắt kênh [pinched off] bắt đầu tại phía vùng máng của kênh dẫn, làm cho

vùng kênh điện trở ngắn lại Chú ý: Nếu nhìn thoáng qua thì có thể dễ nhầm lẫn cho rằng, dòng qua MOSFET sẽ bằng 0, tuy nhiên trong trường hợp này dòng qua MOSFET là ≠ 0 Như mô tả

ở hình 3.7, điện áp tại điểm thắt kênh trong kênh dẫn sẽ luôn luôn bằng:

v GS - v(x po ) = V TN hay: v(x po ) = v GS - V TN (3.18)

Điện áp này cũng vẫn là điện áp đặt ngang qua phần đảo của kênh, làm cho các điện tử sẽ vẫn trôi trong kênh dẫn từ trái qua phải Khi các điện tử di chuyển tới điểm thắt, chúng sẽ được phóng thích vào vùng nghèo giữa đầu cuối của kênh và vùng máng, lúc này điện trường trong vùng nghèo sẽ cuốn các điện tử vào vùng máng Ngay khi kênh dẫn được thắt, sụt áp qua vùng kênh đảo là không đổi Vì vậy, dòng máng sẽ trở thành hằng số, và MOSFET chuyển vào làm việc ở vùng bão hòa Vùng này cũng thường được gọi là vùng thắt kênh Ước lược biểu thức

(3.14) với v DS = v GS - V TN, rút ra dòng màng-nguồn của NMOS làm việc ở vùng bão hòa:

( )2

TN GS

' n

L

W 2

K

i = − Đối với: v DS ≥ v GS - V TN ≥ 0 (3.19)

Đây là biểu thức dòng máng của transistor NMOS làm việc ở vùng bão hòa Dòng máng phụ

thuộc vào bình phương của số hạng (v GS - V TN), nhưng lại độc lập với điện áp máng-nguồn Trị

số của v DS để transistor làm việc ở vùng bão hòa được gọi bằng tên riêng là v DSAT xác định bởi biểu thức:

v DSAT = v GS - V TN (3.20)

V DSAT cũng được xem như điện áp bão hòa, hay điện áp thắt

Biểu thức (3.19), có thể được thể hiện tương tự như biểu thức (3.15):

V v WC

i DS " ox GS TN n GS TN (3.21)

Vùng kênh đã bị biến đổi (đảo) có điện áp v GS - V TN đặt ngang qua nó, như ở hình 3.7 Vì vậy, số hạng thứ nhất của (3.21) tương ứng với giá trị điện tích trung bình trong lớp đảo, và số hạng thứ

hai là giá trị vận tốc của các điện tử trôi trong điện trường bằng (v GS - V TN )/ L

Hình 3.8a, là toàn bộ họ đặc tuyến ra của một transistor NMOS có V TN = 1V và K n = 25 µA/V2,

mà trong đó vị trí các điểm thắt kênh được xác định bởi v DS = V DSAT Phía bên trái của các vị trí

-6 2

Trang 8

điểm thắt kênh là trạng thái của transistor làm việc ở vùng tuyến tính, và phía phải của các điểm

thắt là vùng bão hòa Khi v GS ≤ V TN = 1V, transistor sẽ ngưng dẫn và dòng máng bằng 0 Khi

tăng điện áp Cổng ở vùng bão hòa, thì khoảng cách giữa các đặc tuyến dòng máng sẽ giãn ra do bản chất luật bình phương của biểu thức (3.19)

Hình 3.8b, là một đặc tuyến ra cụ thể đối với điện áp Cổng-Nguồn, V GS = 3V, đặc tuyến này biểu diễn các biểu thức quan hệ dòng-áp của NMOS ở vùng tuyến tính và vùng bão hòa Biểu thức ở

vùng tuyến tính (3.14) được miêu tả bởi đường parabola ở hình 3.8b, và khi điều kiện: V DS > V GS

- V TN = 2V, thì đặc tuyến là đường thẳng nằm ngang, tức NMOS bắt đầu chuyển vào vùng có

dòng i DS bão hòa theo phương trình (3.19) Điểm

thắt kênh là điểm giao nhau giữa hai đường biểu diễn của hai phương trình (3.14) và (3.19)

e) Tổng hợp nguyên lý làm việc và các phương trình cơ bản của NMOS kiểu tăng cường

Như đã xét ở trên, do không tồn tại kênh dẫn giữa

hai vùng máng và nguồn khi ít nhất điện áp V GS = 0V, nên với một điện áp V DS dương nào đó và cực đế B được nối trực tiếp với cực nguồn, thì thực tế là sẽ có hai tiếp giáp pn phân cực ngược giữa hai vùng pha tạp n và sẽ không có dòng

chảy giữa hai vùng máng và nguồn

Khi cả hai điện áp V DS và V GS được thiết lập tại điện áp dương nào đó (lớn hơn 0V), tức là thiết lập điện áp dương tại máng và cổng so với nguồn Điện áp dương tại cổng sẽ đẩy các lỗ trống

(do các điện tích cùng dấu đẩy nhau) vào sâu trong đế p suốt theo diện tích phủ của lớp SiO2, tạo

ra một vùng nghèo không có các lỗ trống gấn lớp cách ly bằng SiO2 Tuy nhiên, các điện tử

trong đế p (các hạt tải điện thiểu số của vật liệu bán dẫn tạp p) sẽ được thu hút đến bán cực cổng

dương và tích lũy lại thành vùng gần sát với bề mặt của lớp ôxít Lớp SiO2 với phẩm chất cách điện rất tốt của nó sẽ ngăn cản các hạt tải mang điện tích âm hấp thụ ở cực cổng Nên khi tăng

V GS thì sự tích lũy các điện tử gần sát bề mặt của lớp SiO2 sẽ tăng lên, tạo ra một vùng kênh n

để có thể truyền dẫn một dòng điện đáng kể giữa Máng và Nguồn

Ứng với trị số V GS mà kênh dẫn bắt đầu được hình thành dẫn đến sự tăng nhiều ở dòng máng

được gọi là điện áp ngưỡng V TN , (hay còn gọi là V GS (Th) trong các sổ tay tra cứu các dụng cụ bán dẫn)

Do kênh dẫn không tồn tại và được “tăng cường” bằng việc áp dụng một điện áp Cổng-Nguồn

có giá trị dương, nên MOSFET được gọi là MOSFET kiểu tăng cường

Khi V GS tăng lên vượt qua mức ngưỡng thì mật độ các hạt tải điện tự do trong kênh dẫn được tạo

thành sẽ tăng lên, dẫn đến mức dòng máng qua kênh cũng tăng lên, nhưng nếu giữ V GS không

đổi và tăng V DS thì dòng máng sẽ tăng lên đến mức bão hòa, tức là lúc này dòng máng I DS không tăng do quá trình thắt kênh, kênh dẫn bắt đầu hẹp nhất tại phía đầu vùng máng của kênh dẫn tạo thành (xem hình 3.6b) Áp dụng định luật Kirchhoff’s theo áp đối với các điện áp đầu cực của MOSFET ta có:

V DG = V DS - V GS (3.22)

Nếu V GS được giữ cố định tại một trị số nào đó, chẳng hạn 8V và tăng V DS từ 2 đến 5V, thì điện

áp V DG [theo biểu thức (3.22)] sẽ giảm xuống từ -6V xuống -3V, và điện áp cổng sẽ trở nên dương thấp hơn so với máng Sự giảm xuống ở điện áp cổng-máng sẽ dẫn đến làm giảm lực hấp dẫn các hạt tải điện tự do (các điện tử) ngay tại vùng kênh dẫn tạo thành ở phía đầu cực máng, gây nên sự giảm xuống về độ rộng hiệu dụng của kênh Cuối cùng kênh dẫn sẽ giảm xuống đến

điểm thắt kênh và trạng thái bão hòa sẽ được thiết lập Nói cách khác khi tăng hơn nữa ở V DS tại

giá trị không đổi của V GS sẽ không ảnh hưởng đến mức bão hòa của I DS cho đến khi điều kiện

đánh thủng xảy ra

Trang 9

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

Có thể lấy ví dụ như họ đặc tuyển máng cụ thể cho MOSFET kênh n như ở hình 3.8a ở trên, với

V GS = 5V, trạng thái bão hòa xảy ra tại mức V DS = 4V Trong thực tế mức bão hòa đối với V DS liên quan với mức điện áp V GS đặt vào bằng biểu thức (3.20): V DSAT = V GS - V TN

Như vậy, rõ ràng là đối với một giá trị không đổi của V TN , khi mức V GS cao hơn thì sẽ có mức

bão hòa của V DS cao hơn Khi giá trị của V GS = V TN = 1V, thì dòng máng sẽ giảm xuống 0 mA

Vì vậy, thông thường đối với các giá trị của V GS thấp hơn so với mức điện áp ngưỡng, thì dòng máng ở một MOSFET kiểu tăng cường sẽ bằng 0 mA, tức là MOSFET ở trạng thái chắc chắn

ngắt Khi mức V GS tăng lên từ giá trị V TN đến giá trị 5V, thì sẽ dẫn đến mức bão hòa của dòng I DS

cũng tăng lên từ mức 0 µA lên mức 200 µA

Một đặc tuyến i-v khác, dùng để phân tích dc của MOSFET kiểu tăng cường được gọi là đặc

tuyến truyền đạt [transfer characteristic] biểu diễn quan hệ giữa dòng máng theo điện áp nguồn, khi cố định điện áp máng-nguồn Đặc tuyến truyền đạt có thể được xác định đơn giản theo phương pháp đồ thị như ở hình 3.9, trong đó đặc tuyến truyền đạt được suy ra từ đặc tuyến dòng máng, để mô tả quá trình chuyển tiếp từ mức dòng-áp này đến mức dòng-áp khác Dòng

cổng-máng bằng 0mA đối với V GS ≤ V TN và sẽ tăng lên khi V GS > V TN như được xác định bởi phương trình (3.19) Lưu ý rằng, khi xác định các điểm trên đặc tuyến truyền đạt từ đặc tuyến dòng máng, chỉ được vẽ theo các mức dòng bão hòa

Như vây, toàn bộ các quan hệ dòng-áp của transistor NMOS có thể tóm tắt như sau:

Đối với tất cả các vùng ta đều có:

L

W C µ

2

v V v K

( )2

TN GS n

2

K

i = − Đối với: v DS ≥ v GS - V TN ≥ 0 (3.26)

f) Transistor PMOS kiểu tăng cường

Các transistor MOSFET kênh p (transistor PMOS) kiểu tăng cường có cấu tạo như ở hình 3.10,

một cách chính xác là PMOS có cấu tạo bằng các vùng bán dẫn tạp ngược với transistor NMOS, nhưng nguyên lý hoạt động của PMOS về cơ bản giống như NMOS, ngoại trừ các cực tính điện

áp và chiều dòng điện trên các cực của PMOS là ngược lại Cần phải đặt điện áp âm trên cực

cổng so với cực nguồn (v GS < 0 hay v SG > 0) để thu hút các lỗ trống nhằm tạo ra một lớp đảo

bằng bán dẫn p trong vùng kênh Trước hết, để có sự dẫn điện ở transistor PMOS kiểu tăng

cường thì điện áp cổng-nguồn cần phải âm nhiều so với điện áp ngưỡng của PMOS, được ký

Trang 10

hiệu là V TP

Để giữ cho các tiếp giáp nguồn-đế và máng-đế được phân cực ngược thì v SB và v DB cũng phải

thấp hơn 0 Yêu cầu này được thỏa mãn bằng cách đặt điện áp v SD ≥ 0 (v DS ≤ 0)

Các đặc tuyến ra và đặc tuyến truyền đạt của PMOS kiểu tăng cường cho ở hình 3.11

Khi điện áp v GS ≥ V TP = -2V (tức là: v DS ≤ - V TP = +2V), thì transistor ngắt Dòng máng sẽ tăng

theo các giá trị dương của v GS

Các biểu thức dòng máng của transistor PMOS cũng tương tự như ở NMOS, trừ chiều dòng

máng là ngược lại và các giá trị của v SG , v SD và v BS bây giờ là dương

Các biểu thức quan hệ dòng-áp của transistor PMOS được tóm lược như sau:

Đối với tất cả các vùng ta đều có:

L

W C µ

2

v V v K

( )2

TP SG p

2

K

i = + Đối với: v SD ≥ v SG + V TP ≥ 0 (3.30)

Trong các biểu thức trên có sự khác nhau ở thông số quan trọng giữa hai loại NMOS và PMOS

là K p và K n Ở các dụng cụ PMOS, các hạt tải điện trong kênh dẫn là các lỗ trống, và dòng điện

là tỷ lệ thuận với độ linh động của lỗ trống µp Độ linh động điển hình của lỗ trống chỉ bằng 40%

độ linh động của điện tử, vì vậy đối với các điều kiện điện áp đã cho, thì dụng cụ PMOS sẽ chỉ

dẫn điện bằng 40% dòng điện của dụng cụ NMOS

g) Điện dung trong các transistor MOSFET

Trong tất cả các dụng cụ bán dẫn đều có điện dung nội, các điện dung này sẽ hạn chế dụng cụ

làm việc ở tấn số cao Trong các ứng dụng ở mạch số, các điện dung này làm cho tốc độ chuyển

mạch của mạch giảm nhiều, các điện dung cũng sẽ hạn chế về mặt tần số mà mạch khuyếch đại

C GC =C " ox WL (3.31)

Ở chế độ tuyến tính, C GC được phân chia

Trang 11

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

thành hai phần như nhau: điện dung cổng-nguồn C GS và điện dung cổng-máng C G , mỗi điện

dung bao gồm một nửa giá trị điện dung cổng-kênh cộng với giá trị điện dung chồng lấn giữa

vùng cổng-nguồn hay vùng cổng-máng

Điện dung chồng lấn [overlap capacitance] '

OL

C thường được quy định như điện dung của lớp ô

xít trên một đơn vị độ rộng kênh dẫn Các giá trị điện dung không tuyến tính của tiếp giáp pn

được rút ra bởi các điện dung nguồn-đế và máng-đế, C SB và C DB tùy vào chế độ làm việc của

transistor NMOSFET

Các điện dung của transistor NMOS hoạt động ở chế độ bão hòa

Khi MOSFET làm việc ở chế độ bão hòa, hình (b), môt phần kênh dẫn sẽ biến mất khi điện áp máng-nguồn vượt qua điểm thắt kênh Lúc này, giá trị của các điện dung cổng-kênh và máng-kênh sẽ là:

C C W C " OX( )WL

3 2 '

C GS = OL '

C GD =C ' OL W (3.33) Ngoài ra, còn có một điện dung nhỏ C GB

xuất hiện giữa cực cổng và cực đế như hình (c)

Từ các biểu thức trên, rõ ràng là các điện dung của MOSFET phụ thuộc vào chế độ làm việc của transistor và là một hàm phi tuyến theo điện áp đặt vào các cực của MOSFET Các điện dung này sẽ được xem xét trong các

mạch số và tương tự

h) Các thông số của một NMOS kiểu tăng cường

Hình 3.12 là trang các thông số kỹ thuật của một MOSFET kiểu tăng cường kênh n, mang số

hiệu 2N 4531 của hãng Motorola (Mỹ); dạng vỏ và nhận biết các chân, được cho ở hình nhỏ bên

cạnh các thông số làm việc cực đại, dòng máng lớn nhất là 30 mA dc Mức dòng I DSS ở trạng thái

“ngắt” [off] là 10nA (ở điều kiện đo là V DS = 10V và V GS = 0V) để có thể so sánh với dải

miliampere đối với MOSFET kiểu nghèo và JFET (xét sau)

Trang 12

Điện áp ngưỡng được cho bởi ký hiệu V GS(Th) và thường có giá trị trong khoảng từ 1V đến 5V,

tùy thuộc vào từng MOSFET cụ thể Với mức dòng điển hình I D(on) (trong trường hợp này là

3mA, ≡ mức dòng dẫn bão hòa) được quy định tại một mức cụ thể của V GS(Th) ( ở đây là 10V),

nên ta có thể xác định được thông số K n theo (3.26) Nói cách khác, khi V GS = 10V, I D = 3mA,

thì với các giá trị đã cho của V GS(Th), I D(on), và V GS(on)

sẽ cho phép xác định K n từ biểu thức (3.26) và sẽ

tính được các giá trị các điểm tương ứng trên đặc tuyến truyền đạt

Ví dụ 3.1: Sử dụng các dữ liệu đã cho ở trang số liệu

kỹ thuật hình 3.12 và điện áp ngưỡng trung bình

) Th ( GT ) on ( GS

) on ( D

49

10 x 6 V 3 V 10

mA 3 x 2 V

V

I 2 K

Trang 13

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

GS 3 2

TN GS

n

2

K

10; 12; và 14V, I D sẽ là 1,525; 3 (đã được xác định ở trang số liệu); 4,94; và 7,38mA tương ứng

Đặc tuyến truyền đạt được vẽ như ở hình 3.13

3.3 MOSFET KIỂU NGHÈO

Như đã xét ở phần đầu của chương, ngoài MOSFET kiểu tăng cường còn có MOSFET kiểu nghèo [Depletion-type MOSFET hay có thể gọi tắt là DE MOS]

Đối với cấu tạo của NMOS kiểu nghèo hay kênh có sẵn (đã được thảo luận ở phần 3.1), khi điện

áp cổng-nguồn bằng 0V (bằng cách nối tắt cực nguồn với cực cổng) và đặt trên hai cực máng và

nguồn một điện áp V DS > 0V, thì điện áp dương tại cực máng sẽ thu hút các điện tử tự do trong

kênh dẫn n, tức là có dòng điện chảy qua kênh dẫn Trong thực tế, dòng tạo thành khi V GS = 0V thường được gọi là I DSS như mô tả ở đặc tuyến hình 3.14 Khi thiết lập trên cực cổng một điện áp

âm, chẳng hạn V GS =−1 V, thì điện thế âm tại cổng sẽ có khuynh hướng đẩy các điện tử về phía

đế bán dẫn tạp-p (đẩy các điện tích cùng dấu) và thu hút các lỗ trống từ đế bán dẫn p (kéo các

điện tích ngược dấu) như ở hình 3.15 Tùy thuộc vào giá trị của điện áp phân cực âm được thiết

lập bởi V GS mà mức độ tái hợp giữa điện tử và lỗ trống sẽ xảy ra và như vậy sẽ làm giảm số

lượng các điện tử tự do trong kênh dẫn n cần cho sự dẫn điện Điện áp phân cực âm lớn hơn, thì

tỷ lệ tái hợp sẽ cao hơn Mức dòng máng tạo thành vì vậy sẽ giảm xuống khi tăng điện áp phân

cực âm cho V GS như đặc tuyến truyền đạt ở hình 3.14 Chẳng hạn như khi: V GS = - 1V; - 2V;

; cho đến mức thắt là: - 6V, thì mức dòng máng trên đặc tuyến sẽ giảm dần về 0mA (ngắt) Đối

với các giá trị của V GS dương, thì điện áp dương tại cổng sẽ kéo thêm các điện tử (các hạt tải

điện tự do) từ đế bán dẫn-p nhờ có dòng rò ngược và sự phát sinh các hạt tải điện mới thông qua

sự va chạm tạo thành giữa các hạt tích điện khi được gia tốc

Khi điện áp cổng-nguồn tiếp tục tăng lên theo chiều dương, thì dòng máng sẽ tăng lên theo tốc

độ rất nhanh (hình 3.14) Khoảng cách theo chiều dọc giữa hai giá trị V GS = 0V và V GS = +1V

của đặc tuyến truyền đạt chỉ rõ mức dòng tăng lên nhiều khi thay đỗi V GS trong khoảng 1V Vì

sự tăng dòng máng rất nhanh, nên khi sử dụng DMOS, cần phải tránh cho DMOS làm việc có dòng máng lớn nhất, vì dòng máng có thể vượt quá với một điện áp cổng dương., ví dụ như đối

với DMOS cho ở hình 3.14, khi đặt một điện áp V GS = +4V sẽ cho dòng máng là 22,2mA, có khả

năng vượt quá các thông số làm việc lớn nhất (dòng hoặc công suất) của dụng cụ Như vậy, việc

áp dụng điện áp cổng-nguồn dương, đã “tăng cường” mức độ các hạt tải điện tự do trong kênh

dẫn lên nhiều so với mức hạt tải điện tự do tại V GS = 0V Vì lý do này mà vùng tương ứng với

các điện áp cổng dương trên các đặc tuyến dòng máng và truyền đạt thường được xem như vùng tăng cường, còn vùng tương ứng giữa mức dòng ngắt (I DS = 0) và mức dòng bão hòa (I DS = I DSS)

được coi như vùng nghèo

Quan hệ dòng-áp ở MOSFET kiểu nghèo tương tự như MOSFET kiểu tăng cường Giá trị điện

áp V TN (còn được gọi là điện áp thắt [pinch-off voltage] VP) tương ứng với dòng máng bằng 0,

kênh dẫn hoàn toàn biến mất hay nói cách khác là kênh dẫn bị thắt hoàn toàn Giá trị I DSS là mức

Trang 14

dòng máng bão hòa tại V GS = 0V Mức dòng bão hòa có thể xác định từ biểu thức dòng máng

bão hòa, mà điện áp ngưỡng V TN đã được thay bằng điện áp thắt VP:

P

GS 2

P n 2 P GS n DS

V

v 1 V 2

K V

v 2

DS

V

v 1 I

i = ⎜⎜⎝⎛ − ⎟⎟⎠⎞ (3.35)

Trong đó thông số I DSS được xác định bởi:

2 P n

V

I 2

K = (3.36) Các biểu thức mô tả quan hệ dòng-áp đều đúng cho cả vùng tăng cường và vùng nghèo, nhưng

cần phải xác định dấu thích hợp cho V GS của DMOS hoạt động ở chế độ tăng cường kênh và nghèo kênh

Ví dụ 3.2: Hãy vẽ đặc tuyến truyền đạt của một MOSFET kiểu nghèo có I DSS = 10mA và V P = 4V

-Giải: Để vẽ đặc tuyến truyền đạt với các thông số đã cho ở trên, trước hết ta hãy xác định các điểm đặc biệt trên đặc tuyến như sau:

Tại giá trị V GS = 0V, ta có: I D = I DSS = 10mA

Tại giá trị V GS = V P = - 4V, thì I D = 0

Với V GS = V P /2 = -4V/2 = -2V, I D = I DSS/4 = 2,5mA

và tại giá trị I D = I DSS /2, ta có V GS = 0,3VP = - 1,2V

Trước khi vẽ vùng ứng với V GS dương, ta hãy nhớ rằng I D tăng rất nhanh theo các giá trị dương

của V GS , nên ở đây ta sẽ thử chọn V GS = +1V, ta có:

mA 63 , 15 mA

V 1 1 mA 10 V

V 1

I

I

2 2

P

GS DSS

Đặc tuyến truyền đạt được vẽ như ở hình 3.16

b) MOSFET kiểu nghèo kênh-p

Cấu trúc của DE MOS p, nói một cách chính xác là ngược với cấu trúc của DE MOS

kênh-n kênh-như đã được xét ở hìkênh-nh 3.1d Tức là, có thakênh-nh đế bákênh-n dẫkênh-n-kênh-n và kêkênh-nh dẫkênh-n lắp sẵkênh-n bằkênh-ng vùkênh-ng bákênh-n dẫn-p Các cực vẫn được xác định như đối với DE MOS kênh-n, nhưng tất cả cực tính của điện

áp và chiều dòng điện là ngược lại như mô tả ở hình 3.17a

Đặc tuyến dòng máng có dạng như ở hình 3.17c, nhưng V DS có giá trị âm hay V SD , I D có giá trị dương như đã được chỉ rõ trên đặc tuyến (vì chiều dòng điện đã được xác định là ngược lại) Để đơn giản cho việc vẽ đặc tuyến ở góc phần tư thứ nhất, ta có thể hiểu các giá trị của áp và dòng

là: - V DS = V SD và - I DS = I SD tức cũng chính là dòng I D như đã được quy ước

Trang 15

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

Đặc tuyến truyền đạt của DE MOS kênh-p có dạng như hình 3.17b Dòng máng sẽ tăng lên từ điểm ngắt tại V GS = V P trong vùng các giá trị V GS dương đến I DSS và sau đó tiếp tục tăng khi tăng

dần các giá trị âm của V GS Phương trình dòng-áp đã xét ở MOSFET trên vẫn có thể áp dụng

được cho DE MOS kênh-p, nhưng cần phải viết dấu chính xác cho cả V GS và V P trong các

phương trình Ký hiệu mạch của DEMOS kênh-p cho ở hình 3.17d

c) Các thông số của transistor DE MOS:

Các thông số của một DE MOS kênh-n ba cực mang số hiệu 2N3797 do hãng Motorola (Mỹ)

sản xuất cho ở hình 3.18

Qua cấu trúc và nguyên tắc hoạt động của các loại transistor MOSFET đã xét ở trên, thể hiện rõ tính đối xứng của các dụng cụ MOS Cực đóng vai trò như cực nguồn, thực tế được xác định bởi các điện áp ngoài đặt vào Dòng điện có thể chảy qua kênh dẫn theo cả hai chiều, tùy thuộc vào

điện áp đặt vào Đối với các transistor NMOS, vùng n + mà tại đó được kết nối với mức điện áp

cao hơn sẽ là cực máng và vùng n + còn lại được nối với mức điện áp thấp hơn sẽ là cực nguồn

Đối với các transistor PMOS, vùng p + mà tại đó được kết nối với mức điện áp thấp hơn sẽ là cực

máng và vùng p + còn lại được nối với mức điện áp cao hơn sẽ là cực nguồn Trong công nghệ chế tạo các dụng cụ bán dẫn, tính đối xứng rất hữu ích trong một số ứng dụng, cụ thể là trong các bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên động (DRAM) [Dynamic Random-Access Memory]

Bảng 3.1 sẽ tóm tắt các giá trị điện áp ngưỡng cho cả bốn loại transistor NMOS và PMOS

BẢNG 3.1: Đặc tính của các transistor MOS

Kiểu tăng cường V TN > 0 V TP < 0

Trang 16

3.4 TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG CỔNG TIẾP GIÁP – JFET

Transistor hiệu ứng trường cổng tiếp giáp, gọi tắt là JFET [Junction Field-Effect Transistor] là

một kiểu khác của transistor hiệu ứng trường có thể được tạo thành mà không cần phải có lớp ô

xít cách ly với cực cổng bằng cách sử dụng các tiếp giáp pn Phần sau của tên gọi cũng như đối

với MOSFET cho biết nguyên tắc làm việc của dụng cụ là được điều khiển bằng điện trường

Phần trước của tên gọi chỉ cực cổng của dụng cụ sẽ được tạo thành bởi tiếp giáp pn với đế Do

vậy, JFET cũng còn được gọi là JUGFET

Trang 17

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

Cấu tạo cắt ngang và ký hiệu mạch của JFET kênh n được cho ở hình 3.19, bao gồm một kênh

hẹp bằng vật liệu bán dẫn n, (có nồng độ pha tạp thấp hơn vùng cổng) mà hai đầu được nối với

hai điện cực bằng kim loại gọi là cực nguồn (S) và máng (D) như ở MOSFET Trong phạm vi

vùng kênh dẫn là hai vùng vật liệu bán dẫn p

sẽ tạo thành cực cổng (G) của JFET

Không giống như MOSFET, ở đây không có

sự cách ly để tách rời vùng cổng với kênh dẫn,

mà thay vào đó là cổng được kết nối điện với

kênh dẫn thông qua hai tiếp giáp pn

Ở JFET kênh n, dòng điện chảy vào kênh dẫn

tại cực máng và ra tại cực nguồn Điện trở vùng kênh dẫn sẽ được điều khiển bằng sự thay đổi độ rộng vật lý của kênh thông qua sự điều biến của vùng nghèo bao quanh các tiếp

giáp pn giữa cổng và kênh dẫn Ở vùng tuyến

tính, JFET có thể xem đơn giản như một điện trở được điều khiển bằng điện áp mà điện trở kênh dẫn của nó được xác định bởi:

W

L t

ρ

R CH = (3.37) Trong đó: ρ - là điện trở suất của vùng kênh;

L - là độ dài kênh; W - là độ rộng của kênh dẫn giữa các vùng nghèo của tiếp giáp pn; t - là

độ dày của kênh dẫn

Khi có điện áp đặt vào giữa máng và nguồn, thì điện trở kênh dẫn sẽ xác định dòng điện thông qua định luật Ohm

Khi không có điện áp phân cực đặt vào (như ở hình 3.19), thì sẽ có một vùng kênh dẫn điện trở tồn tại kết nối vùng máng và nguồn Việc

áp dụng một điện áp phân cực ngược lên các tiếp giáp cổng-kênh sẽ làm cho vùng nghèo được mở rộng hơn, tức là làm giảm độ rộng hiệu dụng của kênh dẫn và dòng qua kênh dẫn

sẽ giảm xuống Vì vậy, JFET thuộc về các dụng cụ kiểu nghèo, có nghĩa là cần phải có điện áp đặt vào cổng để chuyển JFET về ngưng dẫn

a) JFET khi chỉ có điện áp phân cực cổng

Hình 3.20a, mô tả trạng thái của JFET với điện áp bằng 0V trên cực máng và nguồn v GS = 0V

Lúc này độ rộng của kênh là W

Trong suốt chế độ làm việc thông thường, một điện áp phân cực ngược cần phải được duy trì

qua các tiếp giáp pn để đảm bảo sự cách ly giữa cổng và kênh Yêu cầu để có phân cực ngược sẽ

Trang 18

nữa, về thực chất không ảnh hưởng đến bản chất bên trong của JFET ở hình 3.20c, nhưng v GS

phải không được vượt quá điện áp đánh thủng Ζener của tiếp giáp cổng-kênh

b) Trạng thái kênh dẫn của JFET khi có điện áp cung cấp ở cực máng-nguồn

Khi tăng giá trị của điện áp máng-nguồn và cố định giá trị của v GS, ta thấy rằng: đối với một giá trị nhỏ của điện áp máng-nguồn, như cho ở hình 3.21a, thì sẽ có một kênh điện trở kết nối giữa máng và nguồn, JFET làm việc ở vùng tuyến tính và dòng máng sẽ phụ thuộc vào điện áp

máng-nguồn v DS Với giả thiết i G ≈ 0, dòng vào tại cực máng và ra ở cực nguồn như ở MOSFET Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng điện áp phân cực ngược qua các tiếp giáp cổng-kênh tại đầu kênh dẫn phía cực máng sẽ lớn hơn so với điện áp đầu kênh dẫn phía cực nguồn, và như vậy vùng nghèo sẽ rộng hơn tại đầu kênh dẫn phía cực máng của JFET so với đầu kênh dẫn phía cực nguồn

Đối với các giá trị của v DS lớn hơn, thì vùng nghèo tại phía cực máng sẽ trở nên rộng hơn và tiếp tục mở rộng cho đến khi kênh dẫn thắt lại gần cực máng như ở hình 3.21b Việc thắt kênh xảy ra trước hết tại:

v GS - v DSP = V P hay: v DSP = v GS - v P (3.38) Trong đó, vDSP là giá trị của điện áp máng cần có để kênh dẫn vừa được thắt Khi kênh dẫn của JFET thắt lại, thì dòng máng sẽ bão hòa, vẫn giống như đối với MOSFET Các điện tử được gia tốc qua kênh dẫn, được phóng thích vào vùng nghèo, và được cuốn vào vùng máng bởi điện trường

Hình 3.21c, là trạng thái của JFET đối với các giá trị lớn hơn nữa của vDS Điểm thắt sẽ di chuyển tiến về phía cực nguồn, thu ngắn chiều dài của vùng kênh điện trở Như vậy, JFET chịu

sự điều biến độ dài kênh tương tự như ở MOSFET

Hình 3.20b, là trạng thái của JFET khi v GS đã được giảm xuống đến một giá trị âm, làm tăng độ rộng vùng nghèo, tức là làm tăng điện trở của vùng kênh dẫn vì độ rộng của kênh dẫn lúc này đã

giảm xuống, với W ’ < W Do tiếp giáp cổng-kênh được phân cực ngược, dòng cổng sẽ bằng dòng bão hòa ngược của tiếp giáp pn, thường là một giá trị rất nhỏ nên ở đây ta có thể xem i G ≈ 0 Đối

với các giá trị của v GS âm hơn, thì độ rộng kênh dẫn sẽ tiếp tục giảm xuống, làm cho điện trở của vùng kênh tiếp tục tăng lên Cuối cùng, sẽ đạt đến trạng thái của JFET như ở hình 3.20c, tức là

điện áp cổng-kênh đạt đến giá trị điện áp thắt [pinch-off voltage] v GS = V P Điện áp thắt V P là giá trị (âm) của điện áp cổng-nguồn tương ứng tại thời điểm vùng kênh dẫn biến mất hoàn toàn

Kênh dẫn sẽ trở nên thắt lại khi hai vùng nghèo của hai tiếp giáp pn kết hợp với nhau tại trung tâm của kênh dẫn Lúc này, điện trở của vùng kênh sẽ trở nên vô cùng lớn Nếu tăng v GS âm hơn

nữa, về thực chất không ảnh hưởng đến bản chất bên trong của JFET ở hình 3.20c, nhưng v GS

phải không được vượt quá điện áp đánh thủng Ζener của tiếp giáp cổng-kênh

Trang 19

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

b) Trạng thái kênh dẫn của JFET khi có điện áp cung cấp vào cực máng-nguồn

Khi tăng giá trị của điện áp máng-nguồn và cố

định giá trị của v GS, ta thấy rằng: đối với một giá trị nhỏ của điện áp máng-nguồn, như cho ở hình 3.21a, thì vẫn có một kênh điện trở kết nối giữa máng và nguồn, JFET làm việc ở vùng tuyến tính và dòng máng sẽ phụ thuộc vào điện

Đối với các giá trị của v DS lớn hơn, thì vùng nghèo tại phía cực máng sẽ trở nên rộng hơn và tiếp tục mở rộng cho đến khi kênh dẫn thắt lại

gần cực má

ng như

ở hìn

h 3.21b

Việ

c thắt kênh xảy ra trước hết tại:

v GS - v DSP = V P hay: v DSP = v GS - V P (3.38)

Trong đó, v DSP là giá trị của điện áp máng cần có để

kênh dẫn vừa được thắt

Khi kênh dẫn của JFET thắt lại, thì dòng máng sẽ

bão hòa, vẫn giống như đối với MOSFET Các điện

tử được gia tốc qua kênh dẫn, được phóng thích vào

vùng nghèo, và được cuốn vào vùng máng bởi điện

trường giữa máng và nguồn

Hình 3.21c, là trạng thái kênh dẫn của JFET đối với các giá trị lớn hơn nữa của v DS Điểm thắt sẽ

di chuyển tiến về phía vùng nguồn, thu ngắn chiều dài của vùng kênh điện trở Như vậy, JFET

chịu sự điều biến độ dài kênh tương tự như ở MOSFET

c) Họ đặc tuyến i-v của JFET kênh-n

Mặc dù cấu tạo của JFET khác rất nhiều so với MOSFET, nhưng họ đặc tuyến i-v của JFET hầu

như giống với họ đặc tuyến của MOSFET, do vậy ở đây ta có thể dựa vào sự tương tự này và dễ

dàng nhận được các phương trình của JFET Tuy nhiên, dẫu cho có sự tương đương về mô tả

toán học thì các phương trình của JFET thường được viết hơi khác so với các phương trình của

MOSFET Ta có thể khảo sát các phương trình này bắt đầu với các biểu thức i-v cho vùng bão

hòa của MOSFET, mà trong đó điện áp ngưỡng V TN sẽ được thay thế bằng điện áp thắt V P, ta có:

P

GS 2

P n 2 P GS n DS

V

v 1 V 2

K V

v 2 K

i = − = − ⎜⎜⎝⎛ − ⎟⎟⎠⎞ (3.39)

Trang 20

hoặc có thể viết:

2

P

GS DSS

DS

V

v 1 I

i = ⎜⎜⎝⎛ − ⎟⎟⎠⎞ Đối với: v DS v GS - V P ≥ 0 (3.40)

trong đó thông số I DSS được xác định bởi biểu thức:

2

P n

DSS n

V

I 2

K = (3.41)

Điện áp thắt V P có giá trị điển hình trong khoảng từ 0V đến - 25V, nên I DSS có giá trị trong khoảng:

10- 5 A ≤ IDSS ≤ 100A

Dựa vào phương trình (3.40), ta có thể xác định được đặc tuyến truyền đạt của một JFET làm

việc ở vùng thắt kênh (hoặc bão hòa) như ở hình 3.22 I DSS là dòng điện chảy trong JFET khi v GS

= 0, và sẽ tương ứng với dòng điện lớn nhất chảy trong JFET ở các trạng thái làm việc định mức

vì tiếp giáp cổng luôn luôn được giữ phân cực ngược với v GS ≤ 0

Toàn bộ họ đặc tuyến i-v của một JFET kênh-n cho ở hình 3.23 Trong đó, dòng máng sẽ giảm

từ giá trị lớn nhất I DSS xuống 0 khi v GS thay đổi từ 0 đến giá trị âm của điện áp thắt V P

Vùng tuyến tính của JFET cũng được thể hiện ở họ đặc tuyến ra (hình 3.23)

Khi v DS ≤ v GS - V P , ta có thể nhận được biểu thức cho vùng tuyến tính của JFET bằng cách dùng phương trình ở vùng tuyến tính của MOSFET Thay thế các giá trị của K n và V TN trong biểu thức (3.25), ta có:

DS DS P GS 2 P

DSS

2

v V v V

I 2

Ở các tài liệu tra cứu thông số linh kiện, điện áp thắt V P thường được cho ở dạng V GS (off) Vùng

bên phải của đường đứt nét biểu diễn vị trí các điểm thắt của hình 3.23 là vùng làm việc được sử dụng nhiều trong các bộ khuyếch đại tuyến tính (tức các bộ khuyếch đại có độ méo tín hiệu nhỏ nhất) và thường được xem như vùng có dòng điện không đổi, vùng bão hòa hoặc vùng khuyếch đại tuyến tính

Vùng điện trở được điều khiển bằng điện áp là vùng bên trái vị trí của các điểm thắt kênh ở hình 3.23 được gọi là vùng thuần trở [ohmic region] hay là vùng điện trở được điều khiển bằng điện

áp Ở vùng này, JFET có thể đóng vai trò thực sự như một điện trở biến đổi, tức là điện trở của JFET được điều khiển bằng điện áp cổng-nguồn đặt vào

Theo hình 3.23, ta thấy rằng: độ dốc của mỗi đặc tuyến chính là điện trở của JFET giữa máng và

nguồn khi v DS < V P là một hàm số của điện áp V GS Khi v GS càng âm thì độ dốc của đặc tuyến càng nằm ngang tương ứng với mức điện trở tăng lên Giá trị điện trở đó được tính theo điện áp

v GS đặt vào theo biểu thức sau:

Trang 21

BIÊN SOẠN DQB, B/M ĐTVT-ĐHKT CHƯƠNG 3: TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG

P GS

0 D

V / V 1

r r

= (3.43)

trong đó: r 0 là giá trị điện trở ứng với V GS = 0V và r D là giá trị điện trở tại một mức cụ thể của

V GS Đối với một JFET kênh-n có r 0 bằng 10kΩ (VGS = 0V, V P = - 6V), biểu thức (3.43) sẽ cho

r D = 40 kΩ tại giá trị VGS = - 3V

e) JFET kênh-p

JFET kênh-p được chế tạo bằng cách đảo lại các cực tính của các vùng bán dẫn tạp n và p ở hình

3.19, như được mô tả trong hình 3.24 Cũng như đối với PMOSFET, chiều dòng điện trong kênh

dẫn là ngược với chiều dòng trong kênh dẫn của JFET kênh-n, và các cực tính của các điện áp

phân cực khi làm việc là ngược lại

* Tóm lại, JFET làm việc dựa trên sự phân cực ngược tiếp giáp pn giữa cổng và kênh dẫn Điều

này sẽ hình thành nên vùng nghèo bao quanh kênh dẫn

Nếu giữa hai cực máng và nguồn được đặt một điện áp thì sẽ có dòng điện chảy qua kênh dẫn,

và với điện áp phân cực ngược trên tiếp giáp cổng-kênh nên dòng cổng chỉ là dòng rò ngược rất nhỏ, có thể bỏ qua Điện áp phân cực ngược cổng-kênh cũng sẽ đẩy các hạt tải đa số trong kênh dẫn bị vào vùng cổng, vì vậy sẽ làm tăng kích thước của vùng nghèo, dẫn đến làm giảm tiết diện cắt ngang của kênh dẫn và như vậy làm giảm độ dẫn điện của kênh dẫn Khi điện áp trên tiếp giáp cổng-kênh càng phân cực ngược hơn nữa thì độ rộng hiệu dụng của kênh dẫn càng giảm cho đến khi dòng máng-nguồn chảy qua kênh dẫn ngưng hoàn toàn Chế độ làm việc này của JFET tương đối giống với MOSFET kiểu nghèo nên JFET cũng được phân cực tương tự như một MOSFET kiểu nghèo Hơn nữa, trong các mạch sử dụng JFET phải được thiết kế sao cho đảm bảo diode cổng-kênh luôn luôn được phân cực ngược Điều này không liên quan đối với MOSFET

Các điện dung cổng-nguồn và cổng-máng của JFET được xác định bởi điện dung vùng nghèo

của các tiếp giáp pn phân cực ngược, tức là phụ thuộc vào điện áp phân cực ngược như đã được xét ở phần điện dung tiếp giáp pn phân cực ngược ở chương II

Các phương trình mô tả quan hệ dòng-áp của JFET kênh-n và kênh-p được tóm tắt như sau:

JFET kênh-n i G 0 Khi v GS 0 (V P < 0) (3.44) Vùng ngắt:

0

i DS = Điều kiện v GSV P (3.45)

Vùng tuyến tính:

DS DS P GS 2 P

DSS

2

v V v V

I 2

DS

V

v 1 I

i = ⎜⎜⎝⎛ − ⎟⎟⎠⎞ Điều kiện v DSv GSV P0 (3.47)

JFET kênh-p i G 0 Khi v SG 0 (V P > 0) (3.48) Vùng ngắt:

Ngày đăng: 26/10/2013, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình phân cực dc. Vì lý do này mà đôi khi MOSFET  còn có tên gọi là FET có cổng cách ly hay IGFET  [Insulated-Gate FET] - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình ph ân cực dc. Vì lý do này mà đôi khi MOSFET còn có tên gọi là FET có cổng cách ly hay IGFET [Insulated-Gate FET] (Trang 2)
Hình 3.6c mô tả trạng thái kênh dẫn theo giá trị v DS  lớn hơn. Vùng kênh dẫn đã bị biến mất, hay  nói cách khác là đã bị thắt kênh [pinched off] bắt đầu tại phía vùng máng của kênh dẫn, làm cho  vùng kênh điện trở ngắn lại - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.6c mô tả trạng thái kênh dẫn theo giá trị v DS lớn hơn. Vùng kênh dẫn đã bị biến mất, hay nói cách khác là đã bị thắt kênh [pinched off] bắt đầu tại phía vùng máng của kênh dẫn, làm cho vùng kênh điện trở ngắn lại (Trang 7)
Hình 3.8b, là một đặc tuyến ra cụ thể đối với điện áp Cổng-Nguồn, V GS  = 3V, đặc tuyến này biểu  diễn các biểu thức quan hệ dòng-áp của NMOS ở vùng tuyến tính và vùng bão hòa - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.8b là một đặc tuyến ra cụ thể đối với điện áp Cổng-Nguồn, V GS = 3V, đặc tuyến này biểu diễn các biểu thức quan hệ dòng-áp của NMOS ở vùng tuyến tính và vùng bão hòa (Trang 8)
Hình 3.12 là trang các thông số kỹ thuật của một MOSFET kiểu tăng cường kênh n, mang số  hiệu 2N 4531 của hãng Motorola (Mỹ); dạng vỏ và nhận biết các chân, được cho ở hình nhỏ bên  cạnh các thông số làm việc cực đại, dòng máng lớn nhất là 30 mA dc - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.12 là trang các thông số kỹ thuật của một MOSFET kiểu tăng cường kênh n, mang số hiệu 2N 4531 của hãng Motorola (Mỹ); dạng vỏ và nhận biết các chân, được cho ở hình nhỏ bên cạnh các thông số làm việc cực đại, dòng máng lớn nhất là 30 mA dc (Trang 11)
Bảng 3.1 sẽ tóm tắt các giá trị điện áp ngưỡng cho cả bốn loại transistor NMOS và PMOS - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Bảng 3.1 sẽ tóm tắt các giá trị điện áp ngưỡng cho cả bốn loại transistor NMOS và PMOS (Trang 15)
Hình 3.20a, mô tả trạng thái của JFET với điện áp bằng 0V trên cực máng và nguồn v GS  = 0V - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.20a mô tả trạng thái của JFET với điện áp bằng 0V trên cực máng và nguồn v GS = 0V (Trang 17)
Hình 3.21c, là trạng thái kênh dẫn của JFET đối với các giá trị lớn hơn nữa của v DS - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.21c là trạng thái kênh dẫn của JFET đối với các giá trị lớn hơn nữa của v DS (Trang 19)
Hình 3.26 là mạch tương  đương của FET. - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.26 là mạch tương đương của FET (Trang 23)
Đồ thị ở hình 3.31 giúp ta thấy được ý nghĩa của đường tải để lưu ý rằng khi điện áp đặt ngang  qua FET cộng với  điện áp ngang qua R L  phải bằng với  điện áp nguồn cung cấp  V DD , khoảng  cách từ điểm 0 đến V DS(A)  tương  ứng với điện áp đặt ngang qua - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
th ị ở hình 3.31 giúp ta thấy được ý nghĩa của đường tải để lưu ý rằng khi điện áp đặt ngang qua FET cộng với điện áp ngang qua R L phải bằng với điện áp nguồn cung cấp V DD , khoảng cách từ điểm 0 đến V DS(A) tương ứng với điện áp đặt ngang qua (Trang 25)
Hình 3.32a là mạch phân cực  đơn giản nhất cho JFET kênh-n, được gọi là mạch phân cực cố  định, nó là một trong số cấu hình phân cực cho FET có thể  được giải trực tiếp bằng cách dùng  phương pháp tính trực tiếp hay bằng phương pháp đồ thị - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.32a là mạch phân cực đơn giản nhất cho JFET kênh-n, được gọi là mạch phân cực cố định, nó là một trong số cấu hình phân cực cho FET có thể được giải trực tiếp bằng cách dùng phương pháp tính trực tiếp hay bằng phương pháp đồ thị (Trang 26)
Hình 3.45a, là dạng thông thường của mạch khuyếch đại vi sai thường được dùng ở các tầng vào  của các bộ khuyếch đại thuật toán - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.45a là dạng thông thường của mạch khuyếch đại vi sai thường được dùng ở các tầng vào của các bộ khuyếch đại thuật toán (Trang 37)
Hình 3.49b mô tả FET được sử dụng ở mạch song song. Ở đây điện trở nối tiếp R được chọn lớn  so với R ON  , và nhỏ so với R OFF - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.49b mô tả FET được sử dụng ở mạch song song. Ở đây điện trở nối tiếp R được chọn lớn so với R ON , và nhỏ so với R OFF (Trang 40)
Hình 3.49a là chuyển mạch nối tiếp  dùng JFET. MOSFET có thể  được sử  dụng theo cách tương tự - TRANSISTOR HIỆU ỨNG TRƯỜNG
Hình 3.49a là chuyển mạch nối tiếp dùng JFET. MOSFET có thể được sử dụng theo cách tương tự (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w