Biểu đồ kiểm soát được sử dụng để xác định xem một quá trình có ổn định hay có hiệu suất dự đoán hay không. Giới hạn đặc điểm kỹ thuật trên (Upper Specification Limit USL) và Giới hạn đặc điểm kỹ thuật dưới (Lower Specification Limit LSL) là dựa trên các yêu cầu và phản ánh các giá trị tối đa và tối thiểu được phép. Giới hạn kiểm soát trên (Upper Control Limit UCL) và Giới hạn kiểm soát dưới (Lower Control Limit LCL) khác với Giới hạn đặc điểm kỹ thuật. Các giới hạn kiểm soát được xác định bằng cách sử dụng các tính toán và nguyên tắc thống kê tiêu chuẩn để cuối cùng thiết lập khả năng tự nhiên cho một quy trình ổn định. Giám đốc dự án (project manager) và các bên liên quan thích hợp có thể sử dụng các giới hạn kiểm soát được tính toán theo thống kê để xác định các điểm tại đó sẽ thực hiện hành động khắc phục (corrective action) để ngăn chặn hiệu suất nằm ngoài giới hạn kiểm soát. Biểu đồ kiểm soát có thể được sử dụng để theo dõi các loại biến đầu ra khác nhau. Mặc dù được sử dụng thường xuyên nhất để theo dõi các hoạt động lặp đi lặp lại cần thiết để sản xuất lô sản phẩm, biểu đồ kiểm soát cũng có thể được sử dụng để theo dõi chênh lệch chi phí và tiến độ, khối lượng, tần suất thay đổi phạm vi hoặc kết quả quản lý khác để giúp xác định xem các quy trình quản lý dự án có còn trong tầm kiểm soát hay không.
Trang 1Câu 6: Sử dụng biểu đồ kiểm soát và biểu đồ mật độ phân bố để tìm ra yếu tố bất thường trong các thuốc bị thu hồi (như thời điểm, nguyên nhân thu hồi, hoạt chất, nhà sản xuất…)
Biểu đồ kiểm soát theo thời gian
Tháng
Số thuốc bị
thu hồi Trung bình
GHT (3*σ) GHT (2*σ) GHT (1,5*σ)
GHD (TB-1,5*σ)<0
GHD (TB-2*σ)<0
GHD (TB-3*σ)<0
09/201
10/201
12/201
01/201
02/201
03/201
04/201
05/201
06/201
07/201
08/201
Trang 210/201
12/201
Nhận xét
Trang 3Nhìn vào biểu đồ có thể thấy số thuốc bị thu hồi theo tháng có biên độ dao động trong khoảng từ 0-39, không có điểm nào nằm ngoài giới hạn 3 lần phương sai nhưng có 2 điểm nằm trên giới hạn 1,5 lần phương sai Mặc khác, biên độ dao động của các điểm này so với hai điểm liền kề rất lớn Điều này chứng tỏ vào tháng 10/2018 và tháng 8/2019 đã có vấn đề lớn phát sinh một cách ngẫu nhiên làm cho lượng lớn thuốc bị thu hồi vào hai khoảng thời gian này.
Trang 4Biểu đồ kiểm soát theo nguyên nhân
Nguyên nhân
Số thuốc
bị thu hồi
Trung bình
GHT (3*σ)
GHT (2*σ)
GHT (1,5*σ)
GHD (TB-1,5*σ)<0
GHD (TB-2*σ)<0
GHD (TB-3*σ)<0
Có thuốc giả mạo với thuốc thật
Không đạt tính chất, định tính -
Trang 5Nhận xét
Biểu đồ cho thấy số thuốc bị thu hồi theo nguyên nhân có biên độ dao động trong khoảng từ 1-63, không có điểm nào nằm ngoài giới hạn 3 lần phương sai nhưng có 1 điểm nằm trên giới hạn 2 lần phương sai Mặc khác, biên độ dao động của các điểm này rất lớn so với các điểm khác Ngoài ra, chỉ có 2 nguyên nhân thu hồi thuốc là "Tạp chất N-nitrosodimethylamine" và "Tự
Trang 6nguyện rút" là có giá trị nằm trên đường trung bình Điều này cho thấy có 2 nguyên nhân chính khiến cho thuốc bị thu hồi trên thị trường là "Tạp chất nitrosodimethylamine" và "Tự nguyện rút" Trong đó nguyên nhân "Tạp chất N-nitrosodimethylamine" có số lượng thuốc thu hồi cao một cách bất thường, có thể xem như nguyên nhân chính khiến thuốc bị thu hồi trong giai đoạn đang khảo sát.
Biểu đồ kiểm soát theo nhà sản xuất
Tên nhà sản xuất
Số lượng
Trung bình GHT (3*σ) GHT (2*σ) GHT (1,5*σ)
GHD (TB-1,5*σ)<0
GHD (TB-2*σ)<0
GHD (TB-3*σ)<0
Aspen Bad Oldesloe GmbH (Gemany)
Berlin Pharmaceutical Industry Co Ltd
Trang 7Flamingo Pharmaceuticals Ltd (India) 1 2.12 8.70 6.51 5.41 0.00 0.00 0.00
GlaxoSmithKline Manufacturing S.p.A
MSD International GmbH (singapore
Trang 8SAVI 2 2.12 8.70 6.51 5.41 0.00 0.00 0.00 Schering Do Brasil , Quimica E
Xepa-Soul Pattinson (Malaysia) Sdn Bhd
Y.S.P Industries (M) Sdn Bhd
Trang 9Nhận xét
Trang 10Dựa vào biểu đồ cho thấy số thuốc bị thu hồi theo công ty có biên độ dao động trong khoảng từ 1-16, có một điểm bất thường nằm ngoài giới hạn 3 lần phương sai trong khi những điểm khác chỉ dao động quanh giá trị trung bình và điều nhỏ hơn 1,5 lần phương sai Biên độ dao động của điểm bất thường này lại rất lớn so với các điểm khác Điều này cho thấy trong khoảng giai đoạn khảo sát thì công ty OPV có số lượng thuốc bị thu hồi cao một cách rất bất thường so với những công ty khác.
Biểu đồ kiểm soát theo hoạt chất
Tên hoạt chất
Số lượng thu hồi
Trung bình
GHT (3*σ)
GHT (2*σ)
GHT (1,5*σ)
GHD (TB-1,5*σ)<0
GHD (TB-2*σ)<0
GHD (TB-3*σ)<0
Betamethason ;
Carboxymetylcellulose natri 0,5
Trang 11Fexofenadin 7 3.28 25.01 17.77 14.15 0.00 0.00 0.00
Trang 12Nhận xét
Trang 13Nhìn vào biểu đồ có thể thấy số thuốc bị thu hồi theo hoạt chất có biên độ dao động khá rộng trong khoảng từ 1-40, Phần lớn các số lượng thu hồi của các hoạt chất đêu nằm dưới đường trung bình, chỉ có 4/32 điểm nằm trên đường trung bình và trong 4 điểm này chỉ có 1 điểm bất thường nằm ngoài giới hạn 3 lần phương sai, các điểm khác đều nằm trong giới hạn 1,5 lần phương sai Mặc khác, biên độ dao động của điểm bất thường này rất lớn Điều đó cho thấy trong giai đoạn này có sự gia tăng bất thường của các thuốc bị thu hồi có chứa hoạt chất Valsartan và cần xem xét nguyên nhân cũng như cách khác phục bất thường này.
Nhận xét chung
Xét từ nguyên nhân thu hồi, thời điểm thu hồi, nhà sản xuất, hoạt chất thu hồi, xét các yếu tố tăng vọt, ta thấy yếu tố bất thường
là do nhiễm tạp chất nitrosodimetylamine vào nguyên liệu sản xuất các thuốc valsartan và sản phẩm kết hợp chứa valsartan, và nhiễm tạp này vào thành phẩm thuốc ranitidin nên những công ty có sản xuất hoạt chất này cũng có các lô thuốc bị thu hồi (công ty OPV), các công ty khác có sản xuất thành phẩm hoạt chất valsartan cũng có số lượng thuốc thu hồi tăng cao hơn đường trung bình trên biểu đồ (Công ty Pymepharco, công ty Stada) đồng thời cũng trùng với thời điểm số lượng thuốc bị thu hồi tăng vọt Bên cạnh đó hoạt chất fexofenadin và ranitidin cũng có số lượng thuốc thu hồi tăng hơn mức trung bình trên biểu
đồ, fexofenadin là do nhà sản xuất thu hồi tự nguyện, còn ranitidin cũng do thành phẩm có tạp nitrosodimetylamine nhưng không vượt ngoài biểu đồ kiểm soát vì độ lệch khá lớn và cỡ mẫu nhỏ do số lượng thuốc thu hồi tương đối ít Vì vậy, tạp chất nitrosodimetylamine trong nguyên liệu, trong thành phẩm là yếu tố bất thường cần được chú trọng loại bỏ đầu tiên do tạp chất này có khả năng gây ung thư Việc kiểm soát tạp này nên bắt đầu từ khâu chọn nhà cung cấp mua nguyên liệu, nguồn gốc nguyên liệu để sản xuất, khâu kiểm nghiệm nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất, trong quá trình sản xuất nên chú trọng nguồn nước vì tạp này có thể lẫn vào thành phẩm