1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

ĐỀ CƯƠNG ôn tập CÔNG NGHỆ sửa CHỮA

26 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là đề cương ôn thi công nghệ sửa chữa tàu thủy đã được biên soạn đầy đủ tất cả các câu hỏi dùng trong thi kết thúc môn học công nghệ sửa chữa tàu thủy. Các bạn chỉ việc tải về và học theo như file đã được soạn sẵn

Trang 1

Page 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CÔNG NGHỆ SỬA CHỮA

Câu 1: Trình bày các dạng sửa chữa và thời gian sửa chữa ?

Căn cứ vào mức độ hư hỏng và thời gian khai thác, ta có thể phân làm bốn loại sửa chữa sau:

1 Sửa chữa định kỳ

2 Sửa chữa thường xuyên

3 Sửa chữa đột xuất

4 Sửa chữa phục hồi - hoán cải

Hệ thống sửa chữa định kỳ theo kế hoạch là toàn bộ các biện pháp về tổ chức và

kỹ thuật liên quan đến việc phục vụ và sửa chữa tàu Những biện pháp này mang tính chất phòng ngừa và được tiến hành theo một kế hoạch định trước

Thực chất của hệ thống sửa chữa định kỳ theo kế hoạch là sau một thời gian khai thác nhất định cần tiến hành khảo sát tình trạng kỹ thuật của các thiết bị máy móc, các

cơ cấu thân tàu, sau đó tiến hành sửa chữa các hư hỏng đó, đưa tình trạng kỹ thuật của chúng trở lại bình thường để khai thác có hiệu quả con tàu trong thời gian tới

Hệ thống sửa chữa định kỳ theo kế hoạch cho phép ta có thời gian chuẩn bị về nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, chuẩn bị về nhân lực và nguồn vốn sửa chữa Mục đích của sửa chữa thường xuyên( hàng năm) là sửa chữa những hư hỏng nhỏ sau một năm khai thác để đảm bảo sự hoạt động bình thường của các thiết bị nói riêng của con tàu nói chung cho năm kế hoạch kế tiếp

Mục đích của sửa chữa lớn( sửa chữa định kỳ) là sau một số năm khai thác nhất định cần phải phục hồi và nâng cao tình trạng kỹ thuật của các thiết bị máy móc và của các cơ cấu thân tàu Việc sửa chữa định kỳ là điều kiện bắt buộc và phải chịu sự giám sát, kiểm tra của cơ quan đăng kiểm Thời gian giữa hai lần sửa chữa định kỳ phụ thuộc vào từng loại tàu,vào vùng hoạt động của tàu

Đối với những tàu bị hư hỏng nặng, bị đắm lâu năm mới trục vớt,với những tàu

đã quá cũ hoặc những tàu không phù hợp với yêu cầu khai thác hiện tại mà cần phải khôi phục hoán cải để đưa vào sử dụng thì dạng sửa chữa này gọi là sửa chữa phục hồi hoán cải Cơ quan quản lý tàu lập luận chứng khả thi để trình duyệt và phải được

cơ quan Đăng kiểm chấp nhận

Trang 2

Page 2

Câu 2 Công tác chuẩn bị đưa tàu vào sửa chữa?

- Chủ tàu, nhà máy chuẩn bị trc 1 số công việc cần cho sc

- Thuyền trg chuẩn bị các hạng mục cần sửa chữa:

+ Nội dung công việc

+ Xem xét sc có trùng vào đợt ktra nào hay ko: ktra trung gian, hàng năm, quý, nếu trùng thì làm luôn -> giảm đc chi phí, thời gian,

+ Các loại giấy tờ cần chuẩn bị: thay mới, cấp lại,

+ Ktra máy, trục chân vịt, tb lái

+ NHững hạng mục theo yêu cầu cty, yêu cầu của đăng kiểm

+ Xem lại vật tư, phụ tùng

+ 1 số hạng mục khác cần sc cho đợt lên đà này

- Họp tàu: Các bên liên quan họp lại để triển khai công tác, bộ phận an toàn sỹ quan tàu và bên nhà máy sc

- Phổ biến các bước lên đà -> phân công công việc cho các bộ phận, mỗi nhóm mỗi

ng 1 việc trong tg lên đà:

- Thuyền trg chịu trách nhiệm chung

- Đại phó giám sát an toàn khu vực sc: tôn vỏ, thiết bị, két, sơn tàu, các thiết bọ liên quan đến tb hàng hải,

- Máy trg giám sát khu vực : buồng máy -> báo cáo cho thuyền trg về tình hình máy tàu, hệ động lực chân vịt,

- Máy phó: giám sát các thiết bị lái chân vịt, bánh lại; van thông biển; đèn, hệ thống tín hiệu,

- Chuẩn bị đưa tàu lên đà

- Liên hệ vs bên bộ phận đà của nhà máy -> để biết yc mớn nc và hiệu số mớn nc cho phép khi tàu lên đà

- Cân bằng tàu và chỉnh mớn nc,

- Làm nhẹ tối đa tàu và giảm mặt thoáng chất loảng trong các khoang, két

- Vệ sinh dọn dẹp các két, khu vực liên quan đến công tác hàn , sơn

- Chuẩn bị các hồ sơ bản vẽ liên quan đến sc hay thay thế tôn vỏ

- Làm trc 1 số hạng mục: bảo dưỡng tb GMDSS, tb cứu sinh, tb cứu hỏa, CMS trc khi vào đà

- Chuẩn bị phg tiện tiếp nhận điện nc

- Chuẩn bị các báo cáo liên quan đến lần lên đà gần nhất

- Chuẩn bị các báo cáo và giấy tờ tàu của lần đăng kiểm gần nhất

- Tổ chức họp ngay khi tàu đến

- Xác nhận bổ sung các hạng mục sau khi khảo sát thực tế

- Thống nhất tiến độ sửa chữa các hạng mục, lịch làm việc

Trang 3

Page 3

- Dán địa chỉ liên lạc của các bộ phận, ng có liên quan ở phòng làm việc

Câu 3 Trình bày phương pháp đưa tàu vào Ụ nổi để sửa chữa ?

Trước khi đưa tàu lên ụ, thuyền trưởng phải thông báo cho nhà máy các thông số chủ yếu của tàu như chiều chìm mũi, chiều chìm đuôi, chiều dài, chiều rộng, chiều cao mạn, lượng chứa nước của tàu khi không tải và những điều đặc biệt về tuyến hình

vỏ bao, phần ngâm nước, sự bố trí các phần nhô ra khỏi tôn bao của tàu

Trên cơ sở các thông báo của chủ tàu, nhà máy tiến hành thiết kế bố trí các đế kê trên sàn ụ, chuẩn bị và kiểm tra khả năng hoạt động của các thiết bị trên ụ

Chiều sâu dầm ụ được tính theo công thức:

Td = Tt + hđk + hph + ∆T (m)

Trong đó:

• Tt - là chiều dầm lớn nhất của tàu khi vào ụ

• hđk - là chiều cao đế kê tại mặt phẳng dọc thân tàu( hđk = 0,8 ÷ 1,0m)

• hph - là chiều cao pông tông của ụ

• ∆T là độ dự trữ, tức là khoảng cách giữa đáy tàu( hoặc ky tàu) với mép trên của đế kê, thường ∆ T ≥ 200 ÷ 300 mm

Chiều chìm và lượng chiếm nước của tàu trước khi đưa vào ụ phải đạt đến mức tối thiểu Độ chúi của tàu cho phép 0,8 ÷1,0 m, độ nghiêng ngang của tàu cho phép 0,5o Toàn bộ nhiên liệu trên tàu phải được bơm sang phương tiện khác Đối với tàu dầu phải được rửa các khoang chứa hàng, các van của đường ống vệ sinh phải được khoá lại

Để đưa tàu vào ụ người ta dùng một hoặc hai tàu lai để kéo( đẩy) tàu vào gần cửa

ụ, đưa mũi tàu vào ụ trước Dùng 2 dây căng kéo hai bên mạn tàu đến các tời đặt trên boong của thành ụ và hai bên dây chỉnh đuôi tàu khi kéo tàu vào lòng ụ Ở phía đầu ụ người ta căng một dây ngang qua 2 thành ụ và thả dọi tại vị trí tâm tàu đúng theo yêu cầu( theo chiều rộng và chiều dọc)

Trong quá trình bơm nước để làm nổi ụ ta luôn luôn điều chỉnh 4 dây căng để tàu không bị lệch khỏi vị trí cần thiết

Khi độ hở giữa ky tàu và đế kê ∆T = 150 - 200 mm thì dừng bơm nước ra để tiến hành kiểm tra vị trí của tàu và ụ Độ xê dịch của tàu so với yêu cầu không được vượt quá 30 - 50 mm theo chiều ngang và 100 - 150 mm theo chiều dọc

Khi đã đạt được yêu cầu trên ta lập tức cho chạy bơm nước với công suất tối đa để nhanh chóng làm nổi ụ và tàu

Trang 4

Page 4

Sau khi ụ và tàu đã nổi hoàn toàn ta phải kiểm tra sự tiếp xúc giữa các đế kê và tôn bao của tàu Nếu đế kê nào chưa tiếp xúc với tôn bao của tàu thì ta dùng nêm gỗ để điều chỉnh chiều cao nêm

Công việc cuối cùng là tiến hành lắp đặt các cầu thang lên ụ, các cầu thang từ thành ụ sang boong tàu, lắp đặt các hàng rào ngăn cách, chuẩn bị các dàn giáo phục vụ cho khảo sát và sửa chữa tàu

Hình Đưa tàu vào ụ nổi

Cââu 4 Phương pháp sửa chữa mối hàn ?

- Các PP sửa chữa mối hàn đc xđ theo đặc điểm khuyết tật

- Việc đục ra hay thay thế 1 đoạn đg chỉ th khi trên đg hàn co vết nứt

- Việc phục hôi toàn bộ hay 1 phần đg hàn = PP hàn đắp đc th khi mối hàn bị gỉ sâu vào kim loại chính

- Hình dáng mép hàn cần gia công phụ thuộc vào hình dáng tiết diện ngang cuûa mối nối đó

- Nếu chiều rộng mép lớn thì ta dùng chùm que hàn để hàn đắp với điều kiện là lg kim loại chính bị nóng chảy là ít nhất

- Theo luật đối vs các mối hàn cạnh bị mòn gỉ ko quá 10%, nếu vượt quá thì ta hàn đắp

- Tăng cg khả năng chống gỉ của mối hàn bằng cách chọn hình dáng, kt mối hàn phù hợp vs thuốc hàn ổn định, giảm hàm lg manga và silic ở các lần hàn trên cùng( nếu hàn nhiều lớp)

- Trong qtrinh hàn đắp cần phải đảm bảo sự chuyển tiếp đồng đều, từ từ tới kim loại chính

Trang 5

Sợ đồ nguyên ký làm việc của phương pháp bóng âm được thể hiện trên hình

Các sĩng âm từ bộ phận phát sẽ đi qua chi tiết cần kiểm tra và được thu lại tại bộ phận thu( 4 )

Nếu trong chi tiết khơng cĩ khuyết tật gì thì các sĩng âm khơng bị khúc xạ lại mà

đi thẳng đến tới bộ phận thu (4) Nhưng nếu trong chi tiết cĩ khuyết tật thì khi sĩng

Trang 6

Page 6

âm lan truyền đến đó, một phần lớn sóng âm sẽ bị khúc xạ và trên bộ phận thu sóng

âm (4) sẽ có một khoảng tối (tức là sóng âm không đến được ) Như vậy qua bộ phận máy ghi dao động và bộ phận khuếch đại ta có thể dễ dàng biết trong chi tiết có

khuyết tật hay không

Trên hình 20 là sơ đồ nguyên lý dùng siêu âm để xác định khuyết tật bên trong hay

để đo chiều dầy chi tiết bằng phương pháp xung dội

Theo sơ đồ này máy tạo dao động siêu âm và máy thu được nối với nhau Trong một chu kỳ, thời gian đầu máy phát (còn gọi là mỏ tìm hay que thăm dò) sẽ làm việc như một bộ tạo dao động và thời gian còn lại của chu kỳ nó sẽ làm việc như một máy thu

Khi máy siêu âm đi vào bề mặt của chi tiết thì một phần sẽ bị phản xạ lại và trong ống của máy ghi dao động (14) sẽ có tín hiệu đầu (11) Sóng siêu âm sẽ lan truyền qua chi tiết và khi đến mặt bên kia của chi tiết thì sóng siêu âm sẽ bị phản xạ lại và đi vào

bộ phận thu (4) và trên ống của ghi dao động sẽ có tín hiệu đáy (13)

Dựa vào khoảng cách giữa tín hiệu đầu và tín hiệu đáy ta có thể biết được chiều dầy chi tiết

Nếu trong chi tiết có khuyết tật thì khi sóng siêu âm tới đó, một phần sẽ bị phản xạ lại và trong ống của máy ghi dao động sẽ có tín hiệu giữa (12)

Câu 6 Trình bày nội dung phương pháp kiểm tra bằng tia Rơnghen (hình vẽ minh hoạ)?

Trang 7

Page 7

Phương pháp này dựa vào khả năng đi qua vật liệu của các tia Rơnghen và tia Gamma Các tia này khi đi qua vật liệu sẽ bị hấp thụ một phần Mức độ hấp thụ các tia này phụ thuộc vào loại vật liệu, dựa vào chiều dày vật liệu mà các tia đó đi qua Độ đậm đặc càng lớn, chiều càng lớn thì mức độ hấp thụ càng cao

Xác định bằng phương pháp chiếu tia nhờ thiết bị chiếu và phim chụp (phim

Rơnghen ) Nếu thay vào phim Rơnghen ta để màn ảnh phát quang thì ta sẽ thấy vệt sáng hoặc mờ (hình)

Khi thực hiện phương pháp này phải đảm bảo thật an toàn cho người thợ, cần có biện pháp để kiểm tra hiện tượng nhiễu xạ cho công nhân

Câu 7 Trình bày nội dung phương pháp kiểm tra bằng bột từ tính để kiểm tra sự điền đầy của kim loại (hình vẽ minh hoạ)?

Phương pháp dùng bột từ tính: Phương pháp này dựa trên cơ sở của sự thay đổi vị trí các đường sức trong chi tiết bị nhiễm từ nếu như trong chi tiết đó có khuyết tật (rỗ, nứt, dắt xỉ) Các đường sức sẽ bị uốn cong tại nơi có khuyết tật và tạo điểm cực từ tính

Ta rắc lên bề mặt chi tiết khu vực cần kiểm tra một ít bột sắt( thể khô ) hoặc tưới lên một ít dung dịch chứa bột sắt ( thể ướt ), sau đó cho chi tiết nhiễm từ Các bột sắt hoặc dung dịch đó sẽ được sắp xếp bình thường, cách đều nhau nếu trong chi tiết không có khuyết tật Nhưng nếu trong chi tiết có khuyết tật thì các bột sắt sẽ được sắp xếp theo các đường sức vòng qua khu vực có khuyết tật, tức lỡ khoảng cách các

đường sức sẽ thay đổi, chỗ dầy, chỗ thưa (Hình)

Trang 8

Phương pháp này tuy đơn giản, dễ thực hiện, giá thành rẻ và có thể thực hiện trên suốt chiều dài đường hàn nhưng phương pháp này chỉ phát hiện được các vết nứt xuyên suốt Với các vết nứt xuyên suốt nhưng kích thước quá nhỏ thì cũng khó phát hiện được

b Phương pháp chân không

Về phía khó tiếp xúc của mối hàn ta quét một lớp nước xà phòng, sau đó ta đặt một hộp tạo chân không (hình 24) Khoảng chân không là một bộ khung chữ Π

bằng cao su và một tấm kính đậy kín phía trên Dùng vít để nén tấm kính cho chặt Ta hút hết không khí trong hộp để tạo chân không trong hộp

Trang 9

Page 9

Áp suất bên ngoài lớn, áp suất trong khoang nhỏ nên nếu mối hàn có vết nứt xuyên suốt thì bọt xà phòng sẽ xuất hiện và qua tấm kính trong ta dễ dàng nhận biết Với phương pháp chân không này ta có thể phát hiện đối với các vết nứt có kích thước rất nhỏ Nhưng ta chi có thể tiến hành kiểm tra ở một số vị trí đường hàn chứ không thể thực hiện trên suốt chiều dài đường hàn như phương pháp thẩm thấu

Câu 9 Trình bày ngắn gọn các phương pháp xác định khuyết tật của kết cấu thân tàu (hình vẽ minh họa)?

1.Phương pháp quan sát:

Các phương pháp này chủ yếu để phát hiện các khuyết tật trên bề mặt chi tiết Bằng mắt thường hoặc kính lúp ,kính hiển vi , thước đo biến dạng hay máy đo biến dạng, ta có thể phát hiện các khuyết tật của chi tiết Việc quan sát bằng mắt thường không thể cho ta các kết luận chính xác.Để dễ thấy ta có thể rứa bề mặt chi tiết bằng axit

Để phát hiện các khuyết tật trên bề mặt phía trong của ống ,của các lỗ khoét sâu ta dùng các thiết bị chiếu sáng và có thể ghi lại các khuyết tật Người ta dùng ống quang học để phát hiện các khuyết tật cách người theo dõi khoảng 7.5m với đường kính khuyết tật là 30 ÷ 60 mm Nhờ các máy đo biến dạng, ta có thể xác định độ gồ ghề của bề mặt , trên cơ sớ đó sẽ đánh giá đúng độ bóng của nó

2 Đo độ mài mòn bằng phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này được sử dụng trong các trường hợp khi cần thiết có được biểu đồ mài mòn trên khắp bề mặt của chi tiết

Nếu trên bề mặt chi tiết ta khoan một lỗ có chiều sâu và hình

dáng kích thước nhất định thì sau một thời gian làm việc của chi tiết , theo sự thay đổi của lỗ khoan đó ta có thể xác định được giá trị mài mòn bề

Trang 10

Page 10

mặt tại điểm đó Kích thước của lỗ khoan phái nhỏ để không ảnh

hưởng đến độ bền của chi tiết

Việc khoan hoặc in dấu trên bề mặt chi tiết thường bằng hình tháp vuông kim cương với góc ở đỉnh là 1360 Dấu trên bề mặt chi tiết có thể có hình bán nguyệt

3 Đo độ mài mòn nhờ các chất đồng vị phóng xạ

Bằng các phương pháp trên , chúng ta có thể xác định được các khuyết tật , vị trí của chúng , kích thứoc của chúng ,nhưng chí ở mức độ gần đúng So sánh các kết quả thu được ,ta mới đánh giá được tốc độ mài mòn Ngoài ra , khi áp dụng các phương pháp trên , các chi tiế phái ngừng hoạt động

Nhờ các chất đồng vị phóng xạ ,ta có thể nghiên cứu sự mài mòn của các chi tiết , tốc độ mài mòncủa chúng , có thể nhận biết được các số liệu về lượng kim loại bị mài mòn trong quả trình làm việc của chi tiết

Bản chất của phương pháp này là đưa vào bề mặt của chi tiết một lượng chất đồng vị phóng xạ mà ta gọi là “vật xác nhận”

Câu 10 Phương pháp nhiệt sửa chữa biến dạng của tơn bao (hình vẽ minh họa)?

Việc nắn các kết cấu tôn mỏng thường sử dụng phương pháp nhiệt Bản chất của phương pháp này là đoạn được nung nóng của tấm trong quá trình dãn nở nhiệt gặpt phải sự tác động ngựơc chiều về phía kim loại không nung nóng và sự tác động đó tăng theo chiều ngang ,giảm theo chiều dọc,tức là trong mặt phẳng của tấm trong quá trình nguội các vết lồi lõm bị giảm đi do đoạn đã nung nóng khi nguội sẽ kéo phần không được nung nóng của tấm

- Việc nung nĩng nên hướng từ cạnh vết lồi lõm vào đỉnh vết lồi lõm Việc nung nĩng đc thực hiện theo các vết đốm trịn hoặc theo dải nhờ đền oxy-axetylen, nhiệt độ nung 750-800o C, các đốm cĩ ĐK 30-40 mm và dải dọc theo canhjn dài của vết lõm

- Trình tự nung từ chỗ cĩ độ cứng lớn đến chỗ cĩ độ cứng ít hơn

- Khoảng cách tâm các vết nung 70-80 mm

- Dùng mỏ cắt đơi để tăng tốc độ cắt

- Nung tấm tơn theo dải cĩ chiều rộng 20-30 mm để tăng năng suất

- Việc nung dải tiếp chỉ đc th khi dải nung trc đố nguội hồn tồn

- Dùng PP làm nguội nhân tạo gắn ống dẫn khí trực tiếp đến mỏ cắt để rút ngắn quá trình nắn

Trang 11

Page 11

Câu 11 Phường pháp sửa chữa kết cấu hư hỏng (hình vẽ minh họa)?

Trong một số trường hợp ta chỉ cần sửa chữa cơ cấu, không cần thay thế tôn bao Bởi vì cơ cấu có thể bị mòn bục có thể bị cong vênh hoặc có thể không đảm bảo độ bền cần phải thay thế cơ cấu khoẻ hơn, hoặc thay một cơ cấu có hình dạng khác so với ban đầu, hoặc chỉ cần gia cường cho cơ cấu khoẻ hơn

Để thay thế cơ cấu ta phải cắt bỏ cơ cấu cũ Vết cắt phải nằm ở thân cơ cấu để không làm hư hỏng tôn bao tại khu vực đó Mối nối đối đầu của cơ cấu cũ và mới có thể vuông góc với tôn bao hoặc nghiêng so với tôn bao một góc 45o ( hình 1 )

Hình 1 Việc thay thế các cơ cấu rất đơn giản, nếu cơ cấu cũ và cơ cấu mới có cùng một kích thước, cùng loại

Trong trường hợp này ta chỉ cần dùng đèn cắt để cắt bỏ cơ cấu bị hỏng, sau đó sửa lại tôn bao vùng nối với cơ cấu bị cắt bỏ, gia công lại đầu nối của cơ cấu và gia công đoạn cơ cấu mới Sau đó lắp ráp và hàn đoạn cơ cấu thay mới vào vị trí Khi hàn ta phải hàn cơ cấu với tôn bao sau đó hàn nối cơ cấu Với cơ cấu có chiều cao lớn thì nên hàn mép tự do của cơ cấu trước rồi mới hàn bản thành cơ cấu

Trang 12

Page 12

Trong nhiều trường hợp do không có cơ cấu cùng loại hoặc cần phải thay bằng cơ cấu khoẻ hơn thay bằng cơ cấu khác loại thì phải chọn phương án chuyển tiếp giữa đầu cơ cấu cũ và đầu cơ cấu mới ( hình 2 )

Hình 2

a Khi mối nối hai cơ cấu hình T với L có cùng chiều cao

b Khi mối nối hai cơ cấu hình T với L có cùng chiều cao

c Khi nối hai cơ cấu hình thép mỏ G có chiều cao khác nhau ( với chiều cao

không quá 90 mm)

d Khi nối hai cơ cấu hình thép mỏ G có chiều cao từ 100 – 240 mm

Trong một số trường hợp ta không thể hàn nối tôn thành của cơ cấu với nhau (do không gian quá chật hẹp) để đảm bảo độ bền của mối nối ta tiến hành hàn ốp lên bề mặt mép tự do của cơ cấu tại vị trí mối nối một tấm tôn( hình 3)

Trang 13

Page 13

Kích thước của tấm tơn ốp phụ thuộc vào chiều rộng của bản mép tự do của cơ cấu Tấm gia cường được hàn viền xung quanh xuống cơ cấu( hình 3 )

Nếu cần thay thế nhiều cơ cấu trong một khu vực ta tiến hành thay lần lượt từng

cơ cấu Cơ cấu thứ 2 được cắt bỏ khi đã hàn hồn chỉnh tơn vỏ với cơ cấu trước Nếu thấy vùng tơn bao đảm bảo độ bền chắc, ít bị biến dạng thì ta nên lần lượt thay các cơ cấu nhưng chỉ hàn đính cơ cấu với tơn, hàn đính cơ cấu với cơ cấu Sau khi đã hồn chỉnh lắp ráp tất cả các cơ cấu ta mới tiến hành hàn chính thức Phương pháp hàn là hàn lần lượt theo từng ơ rồi lan sang các ơ khác theo 4 hướng

Trong mỗi ơ ta hàn rầm chính với tơn bao trước sau đĩ mới hàn rầm phụ với tơn bao

Cĩ trường hợp các rầm hướng chính đi liên tục, cịn các rầm hướng phụ bị gián đoạn giữa các rầm hướng chính Khi đĩ ta cĩ thể lắp đặt và hàn chính thức các râm hướng chính với tơn bao Các đoạn rầm hướng phụ sẽ lắp ráp sau Khi đĩ ta chỉ cần

độ hở một phía của đoạn rầm hướng phụ, đầu kia khơng cĩ độ hở khe hàn (hình 4) Đầu cĩ để khe hở được hàn trước, đầu khơng cĩ độ hở hàn sau

Hình 4

Câu 12 Phương pháp thay thế tơn bao hư hỏng (hình vẽ minh hoạ)?

Công tác thay thế các tôn vỏ chỉ tiến hành sau khi xác định rõ phạm

vi hư hại, các kết cấu cần thay thế vàsau khi tiến hành các biện pháp phòng ngừa hỏa hoạn và tránh tổn hại cho các trang thiết bị ở vùng xung quanh nơi công tác

Việc thay thế tôn vỏ bắt đầu từ việc tháo rỡ các tấm hư hại khỏi thân tàu Công việc tháo rỡ tiến hành theo trình tự sau:

- Đánh sạch sơn, han gỉ theo mối hàn cũ trên một dải rộng khoảng

250mm (phân bố về hai phía của mối hàn xem trên hình 1);

Ngày đăng: 16/12/2020, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w