Trình bày tình hình phát triển công nghiệp và thực trạng về công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị hiện nay. Nghiên cứu về khoa học quản lý công tác bảo dưỡng sửa chữa. Vấn đề kinh tế thiết bị và kiểm tra thiết bị. Tình hình khai thác bảo dưỡng sửa chữa ở trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên.
Trang 1Luận văn thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu khoa học quản lý trong công tác bảo dưỡng sửa chữa máy Và đối chiếu với thực tế khai thác thiết bị công nghệ cao tại trường đại học sư phạm kỹ
thuật Hưng yên Ngành: công nghệ cơ khí
đỗ hoài vũ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tạ Duy Liêm
Hà nội 2006
Trang 2thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả luận văn
Đỗ Hoài Vũ
Trang 3Chương1: Nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp và thực trạng
về công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị hiện nay
1.1 Tình hình phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2005 4 1.2 Thực trạng về công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị
2.1.1 Sự phân bổ công việc bảo dưỡng sửa chữa trong tổ chức các
2.1.2.3 Hình thức tổ chức phối hợp theo chuyên môn và đối tượng 27 2.2 Nội dung cơ bản của công tác bảo dưỡng sửa chữa 28 2.2.1 Mục đích của công tác bảo dưỡng sửa chữa 28 2.2.1.1 Duy trì họat động khai thác thường xuyên, ổn định và khai
thác tối đa năng lực kỹ thuật công nghệ của các máy móc
2.2.1.2 Cải thiện năng lực và công xuất của thiết bị máy móc 29
Trang 4sản xuất 30 2.2.2.2 Các bước xác định những công việc bảo dưỡng sửa chữa cần
lưu trữ
31
2.2.2.3 Các mô hình phân bổ công việc có thể áp dụng 32 2.2.2.4 Các công việc bảo dưỡng sửa chữa có thể hoàn thành trong
2.2.2.5 Cấu trúc và đặc điểm của một trung tâm dịch vụ kỹ thuật 38 2.3 Lãnh đạo và điều khiển hệ thống công tác bảo dưỡng sửa chữa 39 2.3.1 Phương án tổ chức lãnh đạo và điều khiển hệ thống bảo dưỡng
2.4.3 Phân xưởng bảo dưỡng sửa chữa chuyên dụng 50 2.5 Các hình thức bảo dưỡng sửa chữa có thể áp dụng 50 2.5.1 Hình thức bảo dưỡng sửa chữa định kỳ (Preventive maintenance) 50 2.5.2 Hình thức bảo dưỡng sửa chữa do sự cố (Breakdown maintenance) 52
Trang 52.6 Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho công tác quản lý bảo dưỡng 56 Chương 3: Vấn đề kinh tế thiết bị và kiểm tra thiết bị 61
3.1.4 Công tác bảo dưỡng sửa chữa và cải tiến thiết bị 63
3.2 Tác dụng của công tác bảo dưỡng sửa chữa tới các lĩnh vực bộ
3.3 Các yêu cầu bảo dưỡng sửa chữa điển hình đặt ra đối với thiết bị 64
Trang 6dưỡng sửa chữa trong quá trình vận hành khai thác thiết bị máy
4.4 Đề xuất nội dung khóa đào “Quản lý bảo dưỡng sửa chữa“ 81
Trang 7Mở đầu Một đất nước có nền kinh tế phát triển, xã hội văn minh không thể không có sự đóng góp to lớn của một nền công nghiệp tiên tiến với một hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, một đội ngũ những con người điều khiển, vận hành quản lý sản xuất, quản lý BDSC (bảo dưỡng sửa chữa) một cách khoa học được đào tạo cơ bản, toàn diện về phẩm chất đạo đức, có sự hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực lý thuyết chuyên môn, trình độ tay nghề đạt đến mức thuần thục để làm chủ được hệ thống máy móc thiết bị công nghệ, luôn duy trì sự hoạt động của chúng ở trạng thái tốt nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Đất nước ta trong vài năm gần đây, sự phát triển của các ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp cơ khí đã đạt được những bước tiến bộ đáng kể, cả
về qui mô, trình độ công nghệ và sự đa dạng về cơ cấu sản phẩm Tuy nhiên,
sự đầu tư và phát triển của các doanh nghiệp trong nước còn mất cân đối, chỉ tập trung vào các lĩnh vực, các ngành hàng có lợi trớc mắt, chưa đầu tư các lĩnh vực mang tính chiến lược ổn định và lâu dài(ví dụ: chỉ mua sắm khai thác thiết bị, không chú ý đến đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực lao động vào sản xuất
và trong công tác BDSC một cách bài bản lâu dài) Chính vì thế, ngay từ khi đi vào thiết kế các xí nghiệp công nghiệp, những người chịu trách nhiệm về vấn
đề này chưa có được một cái nhìn tổng quan, khoa học mà thực chất là năng lực quản lý cũng như năng lực chuyên môn vẫn còn nhiều hạn chế Trong quá trình vận hành của sản xuất công nghiệp, đã bộc lộ những yếu điểm cố hữu ngay từ khi thiết kế cấu trúc cho một nền công nghiệp ở tầm vĩ mô, về tỷ trọng các lĩnh vực trong sự phát triển công nghiệp đến vấn đề thiết kế cụ thể đổi với từng xí nghiệp công nghiệp
Chưa chuẩn bị tốt được nguồn nhân lực phục vụ cho các doanh nghiệp khi đi vào hoạt động, thường thiếu về số lượng, chất lượng lao động yếu kém, thậm chí vừa đi vào sản xuất vừa tuyển dụng nguồn nhân lực lao động, cho nên đã không đáp ứng ngay được với các yêu cầu thực tế của doanh nghiệp, đội ngũ
Trang 8lao động tuyển dụng còn chưa đáp ứng được yêu cầu về mọi mặt như: năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề, năng lực giao tiếp xã hội và phẩm chất nghề nghiệp
Đối với khu vực đào tạo nguồn nhân lực, chính là các trường đào tạo kỹ thuật trong hệ thống giáo dục đào tạo trên cả nước cũng không quan tâm đúng mức
đến sự phát triển về cơ cấu ngành nghề, đến các môn học và tỷ trọng của các môn học đó trong quá trình đào tạo Môn học quản lý BDSC và công tác BDSC trong các trường đào tạo kỹ thuật, một môn học rất quan trọng nhưng
đã không có chỗ đứng trong chương trình đào tạo, mà lĩnh vực bảo dưỡng sửa chữa chỉ được xem là một trong những dịch vụ tất yếu đi kèm, có chăng thì cả người học và người dạy chỉ coi đó như là môn học phụ không cần thiết nên đã
bị coi nhẹ, kể cả các trường đào tạo kỹ thuật với các cấp độ khác nhau đến các trường đào tạo về kinh tế công nghiệp và thương mại Thường thì nội dung môn học chuyên môn về công tác BDSC chỉ được giảng dạy trong các trường
kỹ thuật, trường nghề cho các đối tượng trực tiếp làm công tác BDSC máy móc thiết bị sau khi ra trường
Chúng ta biết rằng, để duy trì và nâng cao hiệu xuất sử dụng máy thì công tác
tổ chức quản lý BDSC và công việc BDSC máy móc thiết bị phải được tiến hành ngay khi đưa hệ thống máy móc thiết bị vào vận hành, trong quá trình thực hiện công việc, giữa người vận hành máy và người làm công tác BDSC thường xuyên trao đổi về chuyên môn giúp cho công tác BDSC máy móc thiết
bị làm tốt công việc của mình mà thực chất là làm kéo dài tuổi bền kinh tế mang lại hiệu quả sản xuất và kinh doanh cao cho các doanh nghiệp, trên cơ
sở đó còn đưa ra được những ý tưởng hay và cách thức đúng đắn để tiến hành cải tiến năng lực của thiết bị
Thực tế ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam cho thấy hầu hết các xí nghiệp sản xuất công nghiệp trong quá trình vận hành còn bị lúng túng trong công tác BDSC cả về tổ chức hệ thống và các vấn đề tổ chức kỹ thuật, không có được
Trang 9một sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lực lượng lao động cùng với nguồn lực tài chính,
do chưa thấy hết được vị trí và vai trò của công tác quản lý BDSC và BDSC trong họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Sự thiếu hụt đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới tuổi bền của các chi tiết máy và tuổi thọ của hệ thống thiết bị máy móc, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sản lượng, chất lượng sản phẩm và uy tín của các nhà sản xuất
Vấn đề sẽ trở nên bức xúc đối với những ai thực sự quan tâm đến lĩnh vực quản lý BDSC và việc đào tạo nguồn nhân lực lao động kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của công tác đầu tư và nền công nghiệp nước nhà vốn đã họat động nhiều năm trong cơ chế kế hoạch hóa đến nay không còn phù hợp, mà lề lối
cũ kỹ đó đã bị hằn sâu trong tiềm thức của không ít những người Việt Nam
Là một trong những người tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực lao
động kỹ thuật cho xã hội và trực tiếp theo dõi quản lý hệ thống thiết bị trong nhà trường tôi thấy đây là một trong những lĩnh vực kỹ thuật đáng được quan tâm không chỉ trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà nó phải được quan tâm trước hết ngay trong các trường đào tạo, nơi cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật nhằm giúp họ không chỉ có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực BDSC mà họ thấy được ý nghĩa to lớn của công tác quản lý BDSC ngay khi họ
đang còn là những đối tượng được đào tạo, nhằm góp thêm sức lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nước nhà Chính những lý do, những băn khoăn như trên mà tôi đã lựa chọn nội dung đề tài về “khoa học quản lý
và BDSC máy móc thiết bị” để có điều kiện tìm hiểu rõ thêm về công tác quản
lý BDSC hiện nay ở trong nước cũng như của các nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển
Hưng Yên, tháng 10 năm 2006
Trang 10Chương 1U: Nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp và thực trạng về công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị hiện nay
1.1 Tình hình phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2005
Nghiên cứu về tình hình phát triển cơ khí ở Việt Nam cho đến nay (năm 2005) ta có thể tạm thời phân chia ra làm hai giai đoạn:
1-Giai đoạn phát triển công nghiệp trong thời kỳ còn bao cấp, nền kinh tế
được điều hành và hoạt động trên cơ sở kế hoạch hóa
2-Giai đoạn phát triển công nghiệp trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong suốt những năm tồn tại của thời kỳ bao cấp, ngành công nghiệp Việt Nam nói chung và công nghiệp cơ khí nói riêng đều hoạt động theo một cơ chế thống nhất (nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa và bao cấp)
được điều hành trực tiếp từ các cơ quan quản lý cấp trên, bộ chủ quản Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong xí nghiệp đều nhận được sự chỉ đạo áp
đặt một cách thụ động từ trên xuống (Top-down), sản phẩm sản xuất của các
xí nghiệp không hẳn xuất phát từ nhu cầu thực tế của người tiêu dùng cho nên khách hàng không có điều kiện lựa chọn sản phẩm hàng hóa theo yêu cầu mà phải chấp nhận từ nguồn cung cấp Chính vì vậy đã dẫn đến tình hình sản xuất, kinh doanh của các nhà máy xí nghiệp hầu như đều ở trong tình trạng lãi giả lỗ thật Khi cần nguồn ngân sách cho các hoạt động của nhà máy như: đầu tư vốn mở rộng sản xuất, đầu tư thay đổi dây chuyền công nghệ, xin nhà nước, thay đổi số lượng sản phẩm và mặt hàng sản xuất xin sự chỉ đạo của cấp trên Trong nền sản xuất “kế hoạch hóa” đó, do nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường, nhà máy, xí nghiệp không phải lo đến việc tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra, người tiêu dùng đã phải chấp nhận sử dụng mọi loại hàng hóa với bất kỳ chất lượng và mẫu mã ra sao
Tuy nhiên trong thời kỳ nền kinh tế hoạt động dưới cơ chế quản lý hành chính bao cấp, công nghiệp cơ khí đã từng đóng vai trò và vị trí then chốt trong giai
Trang 11đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc giải phóng miền nam thống nhất đất nước
Năm 1975 đất nước chuyển sang thời bình, thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, cơ chế đó không còn phù hợp và đã tạo sức ì lớn kìm hãm sự phát triển của cả nền kinh tế nói chung, đe dọa sự tồn tại của hàng lọat các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước như: Nhà máy chế tạo máy công cụ số I, nhà máy Diesel Sông Công, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, nhà máy phụ tùng Ô tô số
I khu công nghiệp Gò Đầm Bắc Thái (nay là Thái Nguyên) vvv
Trước tình hình đó, đảng nhà nước đã có những quyết sách mới: Đổi mới toàn diện nền kinh tế, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và cùng phát triển
Bước vào thời kỳ đổi mới của đất nước, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ngành công nghiệp Cơ khí còn thiếu nhiều chính sách từ vĩ mô về đầu tư nguồn vốn, chính sách kích cầu, bảo hộ nền sản xuất trong nước cũng như đào tạo nguồn nhân lực để thúc đẩy, phát triển cho nên ngành công nghiệp chế tạo cơ khí trong nước chưa đủ mạnh, chưa đủ năng lực thúc đẩy phát triển kinh tế
để thực sự đóng vai trò chủ đạo trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Trong hơn chục năm qua ngành công nghiệp cơ khí cùng hoạt động trong cơ chế thị trường nên vốn đầu tư của nhà nước hầu như không đáng kể và vì vậy không tương xứng với việc đáp ứng các nhu cầu trang bị cho nền kinh tế quốc dân Việc đánh giá về vị trí quan trọng của ngành công nghiệp cơ khí trong sự nghiệp CNH-HĐH chưa đúng mức nên đã bị thả nổi hoàn toàn cho thị trường
và không được nhà nước bảo hộ bằng nhiều chính sách ưu đãi thích hợp như một số ngành công nghiệp khác (như điện lực, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, nông nghiệp … ) vì vậy sự sa sút và khó khăn của ngành công nghiệp chế tạo cơ khí diễn ra gay gắt ở hàng trăm doanh nghiệp cơ khí trong cả nước và đã diễn ra trong nhiều năm liền cho nên việc tháo gỡ những khó khăn đó không chỉ bằng những giải pháp ở cấp vi mô mà cần phải được giải
Trang 12quyết tích cực ở tầm vĩ mô
Nhà nước điều chỉnh chính sách, chuyển đổi cơ chế hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp, tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp, thành lập các công ty và hàng lọat các công công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn ra đời Tuy ngành công nghiệp cơ khí chế tạo đã bị đẩy vào vòng xoáy rất khắc nghiệt của cơ chế thị trường một cách vội vã thiếu sự chuẩn bị chu đáo nhưng
do có những nỗ lực lớn của toàn ngành và sự kiên định với đường lối công nghiệp hóa và hiện đại hóa mà Đảng và Nhà nước đã chọn nên ngành công nghiệp cơ khí đã thường xuyên duy trì mức độ tăng trưởng hàng năm trên 10% năm Một số doanh nghiệp cơ khí đã vươn lên tìm kiếm nguồn vốn, đầu tư thêm công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, mở rộng mặt hàng sản xuất, mở rộng và tìm kiếm thị trường
Khác với ngành công nghiệp chế tạo cơ khí, Công nghiệp Ô tô và máy động lực của Việt Nam ra đời và phát triển muộn hơn không những so với một số ngành công nghiệp trong nước mà thậm chí còn là rất chậm so với các nước trong khu vực Trước những năm 1990, ngành công nghiệp sản xuất Ô tô của Việt Nam có thể được coi là chưa có gì mà mới chỉ có các cơ sở sửa chữa trung đại tu và một số nhà máy sản xuất phụ tùng cỡ nhỏ chủ yếu do Liên Xô, Trung Quốc và một số nước Đông âu giúp ta xây dựng ở miền Bắc: Như nhà máy Ô tô Ngô Gia Tự, Ô tô 3-2, nhà máy Ô tô 19-8, nhà máy phụ tùng ô tô số
I, Nhà máy DIESEL Sông Công, nhà máy ô tô Hòa Bình …, miền nam sau khi giải phóng 1975, ta thu được một số nhà máy, cơ sở sửa chữa cũ của Mỹ và chính quyền Sài gòn Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách “đổi mới” kinh tế
và “mở cửa” thì đã có một loạt các liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài (khối FDI) ra đời và một số các cơ sở trực thuộc các tổng công ty cơ khí đã lắp ráp các loại xe con, xe khách, xe tải nhẹ và một số doanh nghiệp tư nhân cũng đã
đầu tư vào lĩnh vực lắp ráp và sản xuất ô tô Đến nay Việt Nam đang từng bước xây dựng ngành công nghiệp ô tô, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từng
Trang 13bước tiếp cận với công nghệ kỹ thuật tiên tiến và phương thức quản lí hiện đại, thu hút được số lao động đáng kể và cũng đã tạo điều kiện cho các ngành công nghệ phụ trợ phát triển
Đến năm 2005, tổng công ty công nghiệp Ô tô Việt Nam (Vinamotor) đã xây dựng qui hoạch đầu tư phát triển chương trình sản xuất lắp ráp ô tô tại của Việt Nam theo phương châm: Phát huy sức mạnh nội lực, tận dụng tối đa khả năng hiện có của các đơn vị trong tổng công ty và của toàn xã hội để đầu tư phát triển công nghiệp sản xuất ô tô Xác định lập dự án đầu tư nhanh chóng
và có trọng điểm ở một số lĩnh vực đáp ứng xu thế phát triển hiện tại và tương lai nhằm tạo ra được các sản phẩm có sức cạnh tranh cao trong đó tỷ lệ sản phẩm sản xuất trong nước phải đạt được khoảng từ 35-45% Lựa chọn được các sản phẩm phù hợp với thị trường, ít có đối thủ cạnh tranh như: xe khách,
xe buýt để sản xuất ở giai đoạn đầu để thăm dò thị trường nếu được thị trường chấp nhận sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường Việc qui hoạch đầu tư xây dựng phải gắn liền với các trung tâm kinh tế nhằm tạo thành các cụm công nghiệp chế tạo và lắp ráp ô tô có sự phân công, hợp tác chặt chẽ tạo sự thống nhất trong tổng công ty, tránh sự đầu tư chồng chéo, tạo động lực mạnh mẽ cuốn hút mọi thành phần kinh tế trong xã hội tham gia đầu tư phát triển ngành công nghiệp Ô tô Việt Nam
Tốc độ phát triển, năng lực sản xuất và khả năng cạch tranh của một số ngành công nghiệp khác như: công nghiệp tầu thủy, công nghiệp lắp máy Việt Nam
đã và đang phát huy sức mạnh nội lực, tạo nên được tên tuổi và uy tín của mình ở trong nước cũng như trên trường quốc tế
-Thực hiện các hợp đồng đóng tầu cỡ lớn (tải trọng 53,000 tấn) cho thị trường trong nước và xuất khẩu Năm 2005 tổng công ty công nghiêp tầu thủy Việt Nam (VINASHIN) đã ký hàng chục hợp đồng đóng mới tầu hàng cho các chủ tầu Anh, Đức, Nhật bản và Ba lan…
-Công nghiệp lắp máy đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn, thực
Trang 14thi các hạng mục công trình đồ sộ với mức độ phức tạp và độ chính xác cao, trong các lĩnh vực điện lực, dầu khí, các công trình giao thông, xi măng, xây dựng… đảm bảo thời gian và chất lượng các công trình tạo
được uy tín lớn cho các nhà thầu quốc tế đang thực thi các dự án đầu tư tại Việt Nam
Sự tăng nhanh về số lượng cũng như qui mô của các cơ sở sản xuất công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp cơ khí nói riêng dẫn đến sự thiếu hụt
đáng kể nguồn nhân lực cho sản xuất công nghiệp và đặc biệt là ngành công nghiệp kỹ thuật cao đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải nhanh chóng
đưa ra những đối sách kịp thời nhằm nhanh chóng cung cấp cho thị trường lao
động nguồn nhân lực đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước
1.2 Thực trạng về công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị hiện nay
Để hiểu rõ vấn đề đào tạo nguồn nhân lực lao động kỹ thuật cho đất nước trong thời kỹ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước cho thời gian tới, chúng ta điểm qua thực trạng về cơ cấu trang thiết bị máy móc và công tác quản lý BDSC và quá trình thực thi công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị trong các trường đào tạo kỹ thuật ở Việt Nam đến thời điểm hiện nay Qua kết quả điều tra về cơ cấu trang thiết bị máy móc, công tác quản lý bảo dưỡng sửa chữa các hệ thống trang thiết bị đó như sau:
Khối các trường đào tạo kỹ thuật, ví dụ:
1-Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
*Về cơ cấu trang thiết bị:
Các phòng thí nghiệm phục vụ công tác học tập, nghiên cứu cho học sinh-sinh viên gần như chua có gì
Hệ thống thiết bị giành cho đào tạo ngành cơ khí chế tạo bao gồm:
- 50 chiếc máy công cụ vạn năng các loại sản xuất từ đầu thập kỷ 70 đẫ hết khấu hao, khả năng hoạt động không còn, làm việc với hiệu xuất và chất
Trang 15- 1 thiết bị kiểm tra công xuất và mô men xoắn của đông cơ (do Italy chế tạo)
- 1 thiết bị kiểm tra độ chụm của bánh xe và thiết bị kiểm tra hệ thống phanh
ô tô (Cộng hòa liên bang Đức)
- Thiết bị kiểm cân chỉnh bơm cao áp ( Dân chủ Đức cũ)
- Hơn 10 chiếc động cơ ô tô các loại dùng làm phương tiện học tập, thực tập cho học sinh-sinh viên ngành Cơ khí động lực
*Về công tác quản lý BDSC trang thiết bị và vấn đề BDSC
Công tác quản lý BDSC và sửa chữa hệ thống thiết bị nói chung chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức, không có bộ phận chuyên môn đặc trách chịu trách nhiệm về công tác này cũng như đội quân lao động thực thi công việc BDSC Không có kế hoạch tài chính và kế hoạch kỹ thuật cụ thể hàng năm cho công tác này, công việc bảo dưỡng sửa chữa chỉ được thực hiện khi
*Về cơ cấu trang thiết bị:
Gồm 12 phòng thí nghiệm với các chuyên ngành khác nhau: như điều khiển tự
động, điện-điện tử, điện ô tô, tự động hóa phục vụ học sinh-sinh viên học tập nghiên cứu
Hệ thống thiết bị đào tạo ngành cơ khí chế tạo bao gồm:
Trang 16- 29 máy phay các loại, 64 máy tiện ren vít, 12 máy mài các loại, 10 máy bào, xọc và gần 10 máy cưa, máy khoan các loại với rất nhiều chủng loại và nguồn gốc xuất xứ cũng như năm sản xuất cũng rất khác nhau
- Máy và thiết bị công nghệ cao có 1 máy tiện và 1 máy phay CNC của Nhật bản được đưa vào sử dụng năm 2003-2004 và một máy đột dập CNC
Hệ thống thiết bị ngành hàn và gia công tấm gồm: 1 máy dập trục khuỷu, 2 máy cắt đột, 2 máy búa và hơn chục chiếc máy hàn các loại MIG, TIC
*Về công tác quản lý BDSC và BDSC
Bộ phận quản lý và BDSC được phiên chế gồm 13 người với 5 kỹ sư, 1 kỹ thuật viên và 7 công nhân lành nghề
Không có kế hoạch bảo dưỡng định kỳ, chỉ thực hiện bảo dưỡng sửa chữa khi
có sự cố, nguồn kinh phí giành cho công tác BDSC rất hạn chế
3- Trường đào tạo nghề Điện Sóc sơn Hà Nội
* Về cơ cấu thiết bị máy móc
Không có các máy móc thiết bị cơ khí, 2 nhà xưởng thực hành cho chuyên ngành kỹ thuật điện
Phòng thí nghiệm có 3 phòng phục vụ cho thí nghiệm điện
*Về công tác quản lý BDSC và BDSC
Không xây dựng kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa định kỳ, chỉ thực hiện BDSC theo sự cố
Nhân lực làm công việc BDSC do giáo viên và học sinh thực hiện
4- Trường Công nhân Kỹ thuật Xi măng Việt Nam (Quận Hồng Bàng HP)
*Cơ cấu máy móc thiết bị
Gồm 2 phòng thí nghiệm Cơ-Hóa (chuyên ngành xi măng)
Máy móc thiết bị cơ khí có 2 máy tiện ren vít vạn năng, 2 máy khoan đứng và khoan cần, 1 máy cưa và 1 máy cắt liên hợp
*Về công tác quản lý BDSC và BDSC
Trang 17Không xây dựng kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa định kỳ, chỉ thực hiện BDSC theo sự cố
Nhân lực làm công việc BDSC do giáo viên và học sinh thực hiện
Tóm lại: Qua khảo sát về hiện trạng các trang thiết bị và công tác quản lý BDSC của một số trường khu vực đồng bằng bắc bộ như: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, trường Đại học công nghiệp Hà Nội, trường Công nhân Kỹ thuật xi măng (Hải phòng), trường đào tạo nghề Điện Sóc Sơn Hà Nội, ta thấy rằng hệ thống máy móc thiết bị tại các cơ sở này đều đã quá cũ nát, dàn trải với quá nhiều chủng loại, nguồn gốc xuất xứ rất khác nhau ngay cả trong một đơn vị, loại trừ một số máy thiết bị công nghệ cao mới trang bị Hầu hết tại các cơ sở đào tạo này năng lực thiết bị kỹ thuật đều không đáp ứng tốt so với nhu cầu đào tạo
Về tổ chức hệ thống: Không có được những bộ phận độc lập chịu trách nhiệm
tổ chức lập kế hoạch theo dõi quá trình hoạt động và công tác bảo dưỡng sửa chữa hệ thống thiết bị máy móc cho từng cơ sở một cách khoa học, hệ thống
và nếu có chỉ là kiêm nhiệm chịu sự quản lý trực tiếp của phòng hành chính
Đội quân trực tiếp làm công tác BDSC máy móc thiết bị không có trình độ kiến thức chuyên môn sâu và kỹ năng nghề chưa đạt được mức độ thuần thục
để giải quyết những sự cố hỏng hóc thường xuyên xảy ra
Nói chung, công tác quản lý bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị rất ít được quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo, không nói rằng đã bị lãng quên hay nói đúng hơn công tác này được phó thác toàn bộ cho bộ phận sử dụng máy Không có bộ phận quản lý BDSC hiện hữu trong đơn vị có đủ năng lực và trình độ cần thiết để sửa chữa, phục hồi hệ thống máy móc thiết bị của đơn vị
Khối doanh nghiệp được tiến hành khảo sát tại một số công ty xí nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, trên cơ sở đó ta có thể đánh giá một cách tỗng quát được về công tác quản lý bảo dưỡng sửa chữa thiết bị tại Việt Nam:
Trang 181- Nhà máy Cơ khí Thiên ân
*Máy móc trang thiết bị và sản phẩm chính của nhà máy
Nhà máy được trang bị một hệ thống thiết bị hoàn chỉnh sản xuất ống thép Inox vuông, tròn với các kích cỡ khác nhau Từ dây truyền cắt xẻ thép tạo kích thước cho phù hợp với từng loại ống Inox vuông, tròn vuông, với 3 dây truyền cuốn ống và hàn tự động và hệ thống các dây truyền đánh bóng sản phẩm hoàn chỉnh họat động liên tục
*Công tác quản lý BDSC hệ thống thiết bị của nhà máy
Công ty không có được kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa phòng ngừa, chưa có kế hoạch cấp kinh phí cho công tác BDSC Thường thì chỉ tiến hành công việc BDSC khi có sự cố xảy ra hoặc khi công việc nhàn rỗi
Đội quan lao động trong lĩnh vực này bao gồm 5 người, trong đó không có kỹ sư, vừa BDSC vừa chế tạo một số những chi tiết thay thế đơn giản
Tại công ty thép Việt ý, khi mới đưa dây truyền cán thép vào vận hành cũng
đã tiến hành lập kế hoạch bảo trì hệ thống hàng năm, do một nhóm chuyên gia trong lĩnh vực tự động hóa của trường Đại học Bách khoa Hà Nội thực hiện hàng năm với một hợp đồng khoảng 50,000,000 đồng/năm Đến thời điểm này
kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa hàng năm không còn duy trì nữa, nó chỉ được tiến hành khi xảy ra sự cố bất thường Bởi vì hiện nay toàn bộ chi phí cho các hoạt động của nhà máy được khoán trong giá thành sản phẩm, công tác bảo
Trang 19dưỡng sửa chữa phòng ngừa sự cố hỏng hóc xảy ra trong quá trình sản xuất không được coi trọng và lại rơi vào tình trạng sửa chữa và bảo trì sự cố
3-Nhà Máy Z131 thuộc tổng cục công nghiệp quốc phòng
Nhà máy Z131 một đơn vị sản xuất thuộc tổng cụ công nghiệp quốc phòng, hiện đang sở hữu hàng trăm máy công cụ vạn năng và hàng chục máy dụng cụ công nghệ cao của nhiều hãng sản xuất khác nhau Sản phẩm chủ yếu của công ty phục vụ công nghiệp quốc phòng và một số sản phẩm dân dụng khác
Bộ phận bảo dưỡng sửa chữa tại đây cũng được thành lập với hai nhóm: trong
đó một nhóm bảo dưỡng phần cơ, một nhóm bảo dưỡng sửa chữa phần điện
Đội quân làm công tác bảo dưỡng sửa chữa tại đây cũng chỉ thực thi công việc khi máy hỏng bất thường Nguồn kinh phí cho công tác này cũng không được quan tâm đúng mức
4- Công ty chế tạo phụ tùng Ô tô Xe máy DETCH
Đây là một trong những công ty trách nhiện hữu hạn được thành lập trong thời
kỳ kinh tế mở, hệ thống thiết bị của nhà máy được đầu tư với chất lượng thấp Các công cụ vạn năng hầu hết là các máy đã qua sử dụng, lạc hậu, cũ nát Máy
và dụng cụ công nghệ cao chỉ có vài ba chiếc máy tiện, phay và máy cắt dây
do Trung Quốc sản xuất, hệ thống dây truyền lắp ráp đơn giản, chất lượng sản phẩm sản xuất ra với chất lượng thấp kém, giá rẻ
*Công tác BDSC của công ty do một nhóm công nhân trình độ thấp đảm nhiệm, chủ yếu là sửa chữa bảo dưỡng khi có sự cố, không lập được kế hoạch cho BDSC phòng ngừa, nguồn kinh phí eo hẹp và không có kế hoạch tài chính cho công tác này
Như vậy là hầu hết các doanh nghiệp sản xuất cơ khí tại Việt Nam, chưa xây dựng được một đội ngũ những con người làm việc trong lĩnh vực quản lý bảo trì hệ thống thiết bị, một chiến lược bảo dưỡng sửa chữa ngay trong từng cơ sở
và chưa có được một đội ngũ những con người lao động có đủ năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề và khả năng hợp tác xã hội tốt để giải quyết
Trang 20những vấn để nảy sinh trong quá trình làm việc nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, với những sản phẩm cơ điện tử như ngày nay
Tóm lại: Qua khảo sát thực tế tại một số cơ sở nêu trên ta thấy, kể cả khu vực
đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật và các cơ sở sử dụng và sở hữu các máy móc trang thiết bị kỹ thuật, công tác quản lý bảo dưỡng sửa chữa và việc bảo dưỡng máy móc thiết bị đã không được quan tâm đúng mức trên cả hai phương diện: nhận thức về tính chất quan trọng và kế hoạch tài chính từ cấp vĩ mô đến cấp
vi mô, mặc dù đến nay các doanh nghiệp đó không còn hoạt động theo cơ chế
cũ Vẫn không có được một kế hoạch BDSC phù hợp và có khoa học, cả về tổ chức hệ thống, tổ chức kỹ thuật và kế hoạch tài chính, chỉ làm công việc này chỉ khi có sự cố hỏng hóc trong quá trình sản xuất mà không xây dựng được
kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa phòng ngừa để tránh những sự hỏng hóc bất thường xẩy ra làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất cả về chất lượng và giá thành Có lẽ sự ảnh hưởng quá lâu của cơ chế quản lý hành chính, bao cấp đã hằn sâu trong suy nghĩ, tồn tại trong hành động của mỗi chúng ta
mà chưa thể thay đổi được một sớm, một chiều mặc dù ngành công nghiệp cơ khí đã có nhiều khởi sắc
Khác với các doanh nghiệp trong nước, Công ty Honda Việt Nam, một doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của nước ngoài đang hoạt động rất có hiệu quả tại thị trường Việt Nam Tại đây đã trang bị hàng trăm máy và các trung tâm gia công CNC hoạt động liên tục 24/24 giờ hàng ngày với sản lượng sản phẩm hàng ngàn chiếc xe máy/ngày Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, họ cố gắng tận dụng tối đa năng lực hoạt động của hệ thống thiết bị và mong muốn nhanh chóng thu hồi vốn và mang lại lợi nhuận cao nhanh nhất Chính vì vậy mà họ đã đề cao vai trò của công tác quản lý BDSC và BDSC, hoạt động này được tổ chức chặt chẽ và tương đối qui mô Phòng kỹ thuật của nhà máy nắm giữ toàn bộ hệ thống thiết bị và duy trì mọi hoạt động sản xuất của nhà máy với hàng trăm cán bộ kỹ thuật và công nhân
Trang 21vừa biên chế và vừa biên chế tạm thời theo mùa vụ Phòng kỹ thuật của nhà máy hoạt động dưới sự điều hành của một phó trưởng phòng người Việt bên cạnh sự tư vấn giám của một trưởng phòng người Nhật Bản Phòng kỹ thuật,
họ đảm nhiệm toàn bộ các lĩnh vực hoạt động từ nguồn động lực cung cấp cho nhà máy hoạt động như điện, nước và khí nén đến các hoạt động bảo vệ môi trường và bảo dưỡng nhà xưởng đặc biệt là bộ phận BDSC duy trì hoạt động của các máy móc chế tạo cơ khí cả về cơ và điện Trong phòng kỹ thuật được biên chế phân xưởng cơ khí chế tạo phục vụ cho việc chế tạo các chi tiết thay thế đơn giản đáp ứng nhanh cho công tác BDSC của nhà máy Qua nghiên cứu sơ đồ tổ chức phòng kỹ thuật của công ty Honda ta thấy:
-Bộ phận động lực được phân chia thành hai nhóm chuyên môn, nhóm áp lực
và nhóm vận hành điện, cả hai nhóm này dưới sự quản lý điều hành của trưởng bộ phận (xưởng trưởng) cùng với hai trợ lý của hai tổ chuyên môn Hai
đốc công cùng với hai tốp thực thi các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn
được giao Để hoàn thành được tốt công việc và đỡ lãng phí nhân lực, ở đây người ta đã bố trí khoảng 25 đến 35% lực lượng lượng lao động tạm thời mang tính chất mùa vụ
-Hoạt động về môi trường cũng đã được Công ty hết sức quan tâm Công tác bảo vệ môi trường và việc bảo dưỡng nhà xưởng đã được sắp xếp thành một bộ phận hoạt động độc lập dưới sự điều hành và giám sát của phòng kỹ thuật với một trợ lý trưởng bộ phận, một trợ lý và một đốc công phụ trách một tốp công nhân Toàn bộ hệ thống nước thải công nghiệp trong nhà máy đều được sử lý sạch trước khi thải ra ngoài môi trường
-Công tác quản lý bảo dưỡng hệ thống thiết bị gia công cơ khí (bao gồm các thiết bị hàn dập, đánh bóng, tạo phôi, gia công, lắp ráp và kiểm tra) đặc biệt
được coi trọng Bộ phận bảo dưỡng sửa chữa do xưởng trưởng quản lý điều hành và giám sát phải chịu trách nhiệm trước phòng kỹ thuật của công ty
Trang 22Bộ phận bảo dưỡng sửa chữa được chia ra hai tổ: Bảo dưỡng sửa chữa Cơ và bảo dưỡng sửa chữa Điện, mỗi tổ chuyên môn có hai trợ lý theo dõi quản lý các hoạt động của nhóm chuyên môn hẹp
Ví dụ: Nhóm công nghệ hàn dập (PR-WE) và nhóm dây truyền lắp AE) khung lắp ráp động cơ do một đốc công lãnh đạo cả hai tổ AE và tổ AF Nhóm công nghệ đánh bóng – sơn (PO-PA) bao gồm cả đánh bóng và sơn nhựa, sơn kim loại được bố trí một đốc công cùng tốp công nhân thực thi nhiệm vụ
ráp(AF Nhóm máy, thiết bị gia công cơ khí và công nghệ tạo phôi (công nghệ đúc)
do một đốc công cùng với hai nhóm công nhân đảm nhiệm Bên cạnh các phân xưởng chuyên môn còn có sự hoạt động của một phân xưởng cơ khí trực tiếp sản xuất các chi tiết phụ tùng mau mòn chóng hỏng đơn giản để thay thế nhằm giảm thời gian chờ đợi hoặc giảm thời gian lưu kho bãi và tất nhiên giá thành cũng sẽ giảm rất nhiều
Qua xem xét sơ đồ tổ chức bố trí nhân lực phòng kỹ thuật của công ty Honda Việt Nam ta thấy: ở đây họ đã bố trí một kết cấu tổ chức theo nhóm chuyên môn hẹp, bằng cách này việc giải quyết công việc không bị đùn đẩy, bình thường các công việc được giải quyết theo nhóm chuyên môn, trong trường hợp không thể giải quyết công việc độc lập được thì cần có sự phối hợp giữa các bộ phận với nhau hoặc có thể liên kết với các công ty khác khi cần thiết Với hình thức tổ chức như trên lãnh đạo cấp trên không phải giải quyết quá nhiều công việc, mọi công việc được cán bộ cấp dưới giám sát sử lý và báo cáo với lãnh đạo cấp trên
Công tác BDSC được lập kế hoạch hàng năm, cho nên họ đã hòan toàn chủ
động được kế hoạch, bảo trì phòng ngừa cho toàn bộ hệ thống thiết bị máy móc của công ty, với những chi tiết phụ tùng thay thế cần thiết, chủ động được
kế hoạch về nhân lực với khoản kinh phí thỏa đáng và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO Mạng lưới thực hiện công tác BDSC trong công ty theo nhóm
Trang 23chuyên môn Các công việc phức tạp không giải quyết được trong nội bộ công
ty sẽ mời chuyên gia từ các hãng cung cấp thiết bị sang Chính vì vậy mà họ mới có khả năng khai thác tốt năng lực thiết bị công nghệ đảm bảo được tính kinh tế của thiết bị
Có thể nhận thấy rằng: trong các doanh nghiệp cơ khí của Việt Nam công tác BDSC đối các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thấy hết ý nghĩa và tầm quan trọng của nó trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của từng xí nghiệp, từ công tác tổ chức, xây dựng kế hoạch đến việc tính toán và xác định nguồn tài chính thích đáng cho công tác này Qua đây chúng ta nhận thấy rõ ràng là mảng kiến thức và công việc BDSC của Việt Nam còn quá thờ ơ và xem nhẹ
mà không nói rằng quá yếu kém, các nhà hoạch định chính sách cần phải thấy
được vai trò quan trọng và cấp thiết về công tác quản lý BDSC thiết bị máy móc ở việt nam để đưa ra được những kế hoạch, những quyết sách về chiến lược đào tạo con người trong lĩnh vực này, xây dựng và hình thành mạng lưới quản lý BDSC mang tầm quốc gia và khu vực nhất là lĩnh vực công nghệ cao, nếu không hàng loạt những thiết bị máy móc trị giá nhiều tỷ đồng được nhập
về nhanh chóng sẽ trở thành những đống sắt vụn hoặc phải chi trả quá nhiều tiền cho công tác bảo dưỡng sửa chữa vì phải thường xuyên thuê chuyên gia nước ngoài
Vai trò của công tác bảo dưỡng sửa chữa thiết bị: Công tác BDSC thiết bị
đóng vai trò rất quan trọng, vì khi đảm bảo tốt công tác này sẽ giữ cho các máy móc luôn ở trạng thái hoạt động tốt đảm bảo khai thác được tối đa thời gian sống của máy móc thiết bị đồng thời luôn cho ta sản lượng sản phẩm cao nhất, chất lượng tốt nhất và do đó giá thành được hạ nhất
Làm tốt công tác bảo dưỡng sửa chữa sẽ tránh được tối đã sự hỏng hóc bất thường trong quá trình sản xuất
Giảm tối đa thời gian dừng máy do sự cố bất thường trong quá trình vận hành khai thác thiết bị
Trang 24Chương 2U: Nghiên cứu về Khoa học quản lý công tác bảo dưỡng sửa chữa
2.1 Tổ chức hệ thống bảo dưỡng sửa chữa
ở nước ta trong những năm nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa, trong mỗi xí nghiệp, nhà máy đều cơ cấu lên một đội ngũ đông đảo những người lao động làm nhiệm vụ BDSC máy móc thiết bị tại những nhà máy xí nghiệp đó nhằm duy trì hoạt động cho hệ thống thiết bị máy móc tạo
ra của cải vật chất cho xã hội Trong thời điểm hiện nay nền kinh tế nước ta đã
và đang chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường cho nên cơ cấu tổ chức
cũ xưa trở nên hoạt động kém hiệu quả Đã đến lúc chúng ta cần thiết phải xem xét để xây dựng theo tuyến một hệ thống với các cấp độ khác nhau trong công tác BDSC để đảm bảo cho công tác bảo dưỡng sửa chữa tiến hành thuận lợi, nhanh gọn và hiệu quả nhất
+Xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn quốc gia mang tính pháp qui trong công tác bảo dưỡng sửa chữa
+Tạo nên một sự hợp tác rộng rãi trong nội bộ ngành, liên ngành trong công tác bảo dưỡng sửa chữa
+Tổ chức đội quân lao động trong lĩnh vực sửa chữa với một qui mô đủ lớn, trong một tổ chức chặt chẽ, thù lao thỏa đáng nhằm khai thác tốt năng lực tư duy, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của họ (đến nay thường thì người sản xuất vẫn phải làm việc đó) Đây chỉ là một trong những hoạt động nghề nghiệp đơn phương và cục bộ, chưa có hệ thống, chưa thấy được tính quan trọng của công tác bảo dưỡng sửa chữa Có như vậy chúng ta mới có thể khai thác triệt để được năng lực của thiết bị và đạt được hiệu quả tốt nhất về tính kinh tế của thiết bị
2.1.1 Sự phân bổ công việc bảo dưỡng SC trong tổ chức các doanh nghiệp
Sự phân bổ công việc bảo dưỡng sửa chữa trong tổ chức của một doanh nghiệp có thể được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào
Trang 25điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp đó như: Qui mô hoạt động của xí nghiệp, những đặc thù của doanh nghiệp Các hình thức tổ chức điển hình trong công tác BDSC bao gồm:
2.1.1.1 Tổ chức mạng lưới BDSC theo các tuyến
Trang 26Trong hình thức tổ chức hoạt động theo các tuyến, thì mỗi bộ phận chỉ
được xếp dưới một bộ phận bên trên Nhìn chung, người ta xuất phát từ chỗ mọi bộ phận có liên quan và mọi thông tin chỉ được đi theo một chiều từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên theo đó công tác bảo trì phải được vận hành theo một tuyến (bằng con đường “dịch vụ”) Hai bộ phận được bố trí ngang nhau phải cùng làm công việc bảo trì thông qua một bộ phận kế cận bên trên
Ưu điểm của cấu trúc tổ chức theo tuyến: Cấu trúc tổ chức rõ ràng, việc điều
tiết công việc rõ ràng khi bố trí quyền hạn và trách nhiệm
Nhược điểm của cấu trúc tổ chức theo tuyến: Đường truyền lệnh thực thi
nhiệm vụ kéo dài vòng vèo, cấp trên phải làm việc căng thẳng
Hình thức cấu trúc tổ chức theo tuyến thường thấy xuất hiện ở những xí nghiệp có qui mô nhỏ và trung bình, trong đó các chức năng như mua sắm, sử dụng máy móc và sửa chữa bảo dưỡng đều nằm trong tay các bộ phận quản lý hoặc có thể được thực hiện bởi một tổ, đội nhỏ bởi vì công việc ở đây không cần phải đi qua một con đường bảo trì kéo dài
2.1.1.2 Tổ chức theo các tuyến có bộ phận tham mưu
Với hình thức tổ chức theo tuyến có bộ phận tham mưu thì những bộ phận tư vấn được bố trí như những vị trí theo tuyến thuần túy Những bộ phận tham mưu này không có một thứ bậc về quyền lực Các bộ phận tham mưu của công việc bảo dưỡng sửa chữa thường chỉ có nhiệm vụ lập kế hoạch lâu dài cho công tác bảo dưỡng sửa chữa như:
Đưa ra được những chiến lược bảo trì cho từng thiết bị gia công riêng
lẻ hiện có trong công ty
Dự trù những khoản kinh phí cho công tác bảo dưỡng sửa chữa hàng năm cho các thiết bị và cho toàn bộ công ty
Tìm kiếm nguồn nhân lực kỹ thuật cần thiết phù hợp với yêu cầu của công tác bảo dưỡng sửa chữa
Trang 27Tổ chức theo tuyến có bộ phận tham mưu
Hình 2.2
Ưu điểm của cấu trúc tổ chức theo tuyến có bộ phận tham mưu:
-Có thể chất tải tốt hơn các thiết bị yêu cầu cho công tác BDSC
-Là chỗ dựa để thống nhất các công việc BDSC về phương pháp và kỹ thuật -Có thể chuyên môn hóa theo nhiệm vụ trong bộ phận tham mưu
-Giảm tải tối đa cho lãnh đạo cấp trên vì các nhiệm vụ quản lý và kế hoạch BDSC đã có bộ phận tham mưu đảm nhận
Nhược điểm của cấu trúc tổ chức theo tuyến có bộ phận tham mưu:
-Thường khó giới hạn được chính xác phạm vi nhiệm vụ và trách nhiệm giữa
bộ phận tham mưu và lãnh đạo tuyến
-Bộ phận tham mưu phải làm việc căng thẳng
Trang 28-Khó điều phối về thời gian và các công việc cụ thể giữa tham mưu và lãnh
đạo tuyến
Tổ chức việc bảo dưỡng sửa chữa theo hệ thống tuyến tham mưu chỉ phát huy hiệu quả tốt đối với các doanh nghiệp cỡ trung bình và cỡ lớn bởi trang bị và hoạt động của các bộ phận tham mưu luôn đi kèm theo những tiêu hao không nhỏ
2.1.1.3 Tổ chức theo ma trận
Mỗi chương trình sản xuất khác nhau dựa trên cơ sở của một qui mô xí nghiệp tối thiểu thích hợp sẽ cần đến hình thức tổ chức truyền thống, một dạng tổ chức theo ma trận Đó là một hệ thống nhiều tuyến liên hệ, trong đó các bộ phận thực hiện công việc bảo dưỡng sửa chữa thuộc về cả khu vực trung tâm bảo trì theo tuyến nằm ngang (đứng trên phương diện trang thiết bị) cũng như thuộc về cả khu vực nhóm máy sản xuất theo tuyến thẳng đứng (xét trên phương diện đối tượng mặt hàng)
Để loại trừ khả năng do bộ phận có chức năng kép như vậy dễ dẫn đến những
sự chỉ đạo mâu thuẫn, đòi hỏi phải hạn chế một cách chi tiết những thang bậc quyền hạn hoặc phải có những cơ chế khác nhau thường xuyên tự điều phối
Về cơ bản nhiệm vụ của khu vực nằm ngang (vùng trung tâm) là phải giải thích công việc cần được tiến hành như thế nào (xét về phương diện đối tượng), còn vùng thẳng đứng thì quyết định cái gì cần được thực hiện
Hình 2.3 dưới đây mô tả cấu trúc cơ bản của hình thức tổ chức theo ma trận với các công việc sửa chữa bảo dưỡng cũng như ưu nhược điểm của hình thức thức tổ chức BDSC theo ma trận
Việc phân bổ công tác BDSC trong hình thức tổ chức theo ma trận thông thường chỉ thấy xuất hiện ở những doanh nghiệp có qui mô lớn Tại đây mỗi một đội bảo dưỡng sửa chữa chỉ đảm nhiệm một phạm vi nhỏ những biện pháp chính trong thanh tra, sửa chữa và bảo dưỡng, họ có thể chỉ được giành cho một nhóm sản phẩm (một bộ phận sản xuất)
Trang 30-Có những mâu thuẫn do có các vị trí cấp dưới trùng lập
-Chi phí cho công tác tổ quản lí tương đối cao
2.1.2 Tổ chức cấu trúc trong công tác bảo dưỡng sửa chữa
Sự phối hợp tác nghiệp của mỗi bộ phận riêng lẻ trong phạm vi của công tác bảo dưỡng sửa chữa có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Những hình thức điển hình của tổ chức cấu trúc trong bảo dưỡng sửa chữa gồm có:
*Tổ chức theo chuyên môn
*Tổ chức theo đối tượng
*Tổ chức phối hợp theo cả chuyên môn và đối tượng
Những hình thức tổ chức này cũng có thể chuyển đổi sang một hình thức tổ chức khác, như về nguyên tắc chúng được chuyển sang hình thức tổ chức theo tuyến
2.1.2.1 Tổ chức theo chuyên môn
Trong hình thức tổ chức theo chuyên môn, người ta định hướng trong lúc hình thành và biến đổi những bộ phận tại những khu vực chuyên môn cần thiết theo trình độ chuyên môn của công tác bảo dưỡng sửa chữa, những trình
Trang 31Lãnh đạo công tác bảo dưỡng sửa chữa
Lập kế hoạch
Lãnh đạo phân xưởng
Thợ Nguội máy
CC
Thợ làm
Nhưng mặt khác, sự điều phối giữa các nhóm BDSC riêng lẻ và các thợ thủ công của những ngành chuyên môn khác nhau trở nên khó khăn hơn
Nhược điểm: Khi xảy ra sự cố khó tìm ra ngay các nguyên nhân vì từng loại thợ đến kiểm tra dẫn đến sự đùn đẩy về chuyên môn Có khó khăn trong sự
điều phối phối hợp với nhau Hình thái này vẫn tồn tại khá phổ biến
Sơ đồ tổ chức cấu trúc của công tác BDSC theo nhóm chuyên môn
Trang 32
Lãnh đạo công tác bảo dưỡng sửa chữa
Bảo dưỡng
sửa chữa
nhóm A
Bảo dưỡng sửa chữa nhóm C
Bảo dưỡng sửa chữa nhóm B
2.1.2.2 Cấu trúc tổ chức theo đối tượng
Trong công việc bảo dưỡng sửa chữa, những người thợ bảo dưỡng sửa chữa thuộc những nghề nghiệp khác nhau phải phối hợp tác nghiệp và do trong các bộ phận bảo dưỡng sửa chữa phân tán chỉ có những đơn vị tổ chức nhỏ đa phần trong khi hình thành và bố trí sắp đặt các nhóm bảo dưỡng sửa chữa riêng lẻ người ta giành ưu tiên cho hình thức tổ chức theo đối tượng Trong nguyên tắc tổ chức theo đối tượng, mỗi người thợ thuộc các chuyên ngành khác nhau được phiên chế, tập hợp thành những nhóm thợ giỏi, những
đơn vị bảo dưỡng sửa chữa khác nhau phù hợp với yêu cầu công tác BDSC Khi đó, những nhóm thợ giỏi này, những đơn vị bảo dưỡng sửa chữa này được giao phó đảm nhiệm cho một vùng gia công khép kín hoặc một khu vực thiết
bị
Cấu trúc tổ chức theo đối tượng
Trang 33Hình 2.5 trên đây trình bày ví dụ về hình thức tổ chức theo đối tượng của công tác BDSC
Trong hình thức tổ chức này có thể giảm thiểu được sự trì trệ trong công việc các thành viên trong nhóm phải có tinh thần trách nhiệm cao đối công việc mà nhóm phải đảm nhiệm, hợp tác bàn bạc nghiêm túc để giải quyết những vướng mắc và giảm thời gian thông tuyến Tuy nhiên những điều kiện của một nhóm
được tập hợp lại một cách hỗn hợp gồm những thợ bảo dưỡng sửa chữa sẽ đặt
ra những đòi hỏi cao hơn
Các công việc bảo dưỡng sửa chữa tùy thuộc vào đặc tính nhiệm vụ mà có thể chia thành “công tác bảo dưỡng sửa chữa” và công tác “thanh tra khảo nghiệm” Đặc biệt ở những đơn vị tổ chức lớn hơn, theo hình mẫu của hệ thống tổ chức –tuyến tham mưu có thể bố trí những bộ phận tham mưu cho những nhiệm vụ như : lập kế hoạch, phân tích lao động, chuẩn bị công việc và kiểm tra tính kinh tế Những bộ phận tham mưu này có nhiệm vụ thiết lập tổ chức và định ra kế hoạch một cách có mục đích nhằm phục vụ cho quá trình hợp lí hóa của công tác bảo dưỡng sửa chữa Chúng không có thang bậc bố trí
về quyền hạn mà chỉ có chức năng tư vấn nhằm giải tỏa bớt gánh nặng của những người trong khu vực bảo dưỡng sửa chữa, khiến cho họ có điều kiện tập trung vào nhiệm vụ lãnh đạo một cách mạnh mẽ hơn
2.1.2.3 Hình thức tổ chức phối hợp theo chuyên môn và đối tượng
Trong hình thức tổ chức này, các bộ phận của công tác bảo dưỡng sửa chữa được hình thành theo cả trình độ chuyên môn yêu cầu cũng như theo phạm vi trang thiết bị cần chăm nom bảo trì
Sơ đồ tổ chức phối hợp theo chuyên môn và đối tượng (trang sau)
Trang 34Hình 2.6 đưa ra ví dụ về cấu trúc tổ chức phối hợp theo chuyên môn và theo
đối tượng
2.2 Nội dung cơ bản của công tác bảo dưỡng sửa chữa
2.2.1 Mục đích của công tác bảo dưỡng sửa chữa
2.2.1.1 Duy trì hoạt động khai thác thường xuyên, ổn định và khai thác tối đa năng lực kỹ thuật công nghệ của các máy móc thiết bị
Khi đầu tư máy móc trang thiết bị công nghệ vào một lĩnh vực sản xuất nào đó đều phải dựa trên những toan tính về lợi ích kinh tế và hiệu quả khai thác tối đa năng lực kỹ thuật và khả năng công nghệ của các máy móc thiết bị
đó nhằm nhanh chóng thu hồi vốn, quay vòng nguồn vốn để tái đầu tư và mở rộng sản xuất Trong thời đại hiện nay, do có sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ cho nên sẽ nhanh chóng đẩy một thế hệ trang thiết bị công nghệ trở thành lạc hậu nếu như thời gian khai thác không được hiệu quả
bị kéo dài Vì vậy công tác BDSC không thể không được quan tâm đúng mức,
có hiệu quả, kịp thời
Mục đích của công tác bảo dưỡng sửa chữa nhằm duy trì cho thiết bị máy móc luôn ở trạng thái hoạt động tốt để có được sản lượng cao nhất, sản phẩm tạo ra
đạt chất lượng tốt nhất và sự chi phí là nhỏ nhất
Lãnh đạo công tác bảo dưỡng sửa chữa
đất đai, nhà xưởng
Hình 2.6
Trang 35Thực hiện tốt công tác bảo dưỡng sửa chữa nhằm tránh được tối đa những hỏng hóc có thể xảy ra trong quá trình sản xuất Giữ cho thời gian phải ngừng sản xuất do hỏng hóc thiết bị máy móc là ngắn nhất
Việc bảo dưỡng sửa chữa đúng theo qui định (theo các hướng dẫn của các thẻ liên quan) sẽ làm giảm được nguy cơ phải can thiệp tức thì trong thời gian máy đang hoạt động
2.2.1.2 Cải thiện năng lực và công xuất của thiết bị máy móc
Giai đoạn đầu khi mới đưa máy móc thiết bị vào khai thác thì tiềm năng
sử dụng chúng đạt 100% Trong giai đoạn này, khí máy móc thiết bị đạt tới mức độ ổn định cho phép, nên tận dụng tối năng lực và công xuất kéo dài thời gian hoạt động hữu ích Cái thiện năng lực kỹ thuật công nghệ và công xuất của thiết bị máy móc được thực hiện thông qua công tác BDSC nhằm loại trừ
được các nhiễu loạn chủ yếu như:
-Mất mát thời gian dừng máy do các thiết bị bị ngừng hoạt động một cách ngẫu nhiên
-Mất thời gian dừng máy do các quá trình hiệu chỉnh và điều chỉnh máy, ví dụ khi đổi dao cụ, đổi khuôn ép )
-Mất thời gian do máy chạy không hoặc dừng đột biến, do các lỗi cảm biến hoặc lỗi tập trung
-Tốc độ hoạt động của máy móc thiết bị hạn chế bởi các mất mát xuất hiện do sai lệch giữa thời gian chu kỳ thực tế với thời gian chu kỳ hoạch
định
-Sản phẩm sản xuất ra bị phế phẩm nảy sinh trong quá trình sản xuất và
do vậy phải sử lí lại sau đó
-Các mất mát xuất hiện trong khoảng thời gian từ khi khởi động đến khi
ổn định quá trình hoạt động của hệ thống thiết bị
2.2.1.3 Cải thiện thường xuyên, liên tục về tính kinh tế của thiết bị
Thông qua công tác BDSC, trên cơ sở phân tích những vấn đề phát hiện
Trang 36được cùng với những ý kiến tham vấn của đội ngũ những người thợ vận hành máy, có thể đưa ra được các phương án cải tiến hệ thống máy móc thiết bị trên cơ sở hệ thống thiết bị hiện hữu, những bất hợp lí trong cơ chế hoạt động và những ý tưởng nảy sinh trong quá trình thực thi nhiệm vụ như tăng cường mức cơ khí hóa và tự động hóa, thay đổi dạng điều khiển thiết bị Tất cả đều nhằm tăng hiệu xuất hiệu dụng của hệ thống thiết bị máy móc
2.2.2 Tổ chức kỹ thuật trong công tác bảo dưỡng sửa chữa
2.2.2.1 Các bước của công tác BDSC (TPM-Total Productive Maintenance)
Làm sạch máy móc thiết bị và hệ thống công nghệ là thực hiện công tác bảo dưỡng, thiết bị cần được đưa vào hoạt động trong tình trạng xuất phát tối
ưu:
-Làm sạch bụi bẩn trên toàn máy, tại các vị trí, cơ cấu thực hiện các chức năng chuyển động không được, không thể che chắn kín khít -Điều chỉnh (hiệu chỉnh) chuẩn xác chế độ làm việc của máy móc thiết
để phát triển các kế hoạch sửa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị hàng ngày hoặc theo chu kỳ thời gian xác định trong các tài liệu hướng dẫn sử dụng máy hay trên các sơ đồ chỉ dẫn
Rèn luyện kỹ năng bảo dưỡng sửa chữa và kiểm định, điều đó có nghĩa là rèn
Trang 37luyện khả năng nhận biết về các hỏng hóc nhỏ thường xảy ra nhờ vào sự hỗ trợ của các danh mục thống kê sự cố
Bảo dưỡng sửa chữa kết nối với sản xuất; Tự kiểm tra thiết bị thông qua nhân lực sản xuất, đưa ra và sử dụng các kỹ năng kiểm định để tự kiểm tra
Tự tổ chức nơi làm việc; Tiêu chuẩn hóa các nhiệm vụ chung và thực hiện một
hệ thống theo dõi thiết bị một cách kinh tế bao gồm các công việc:
-Làm sạch, kiểm tra và bôi trơn hệ thống
-Sắp đặt các vị trí làm việc một cách trật tự, có khoa học
-Tập hợp được đầy đủ các dữ liệu cần thiết phục vụ cho công tác BDSC -Sử dụng các dưỡng mẫu, thước chuẩn và các dụng cụ hiệu quả
Đội lao động tự đảm bảo trách nhiệm bằng việc tiếp tục phát triển những qui
định cơ bản, thường xuyên tổng hợp số liệu và phân tích chúng (ví dụ như thời gian trung bình máy chạy không có nhiễu và thời gian sửa chữa trung bình) Thường xuyên thực hiện các biện pháp cải thiện thiết bị
2.2.2.2 Các bước xác định những công việc bảo dưỡng sửa chữa cần lưu trữ
Thành lập một đội lao động hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực quản lí công tác bảo dưỡng sửa chữa máy móc và các thiết bị công nghiệp Theo dõi và tổng hợp các công việc BDSC riêng lẻ cho từng vùng làm việc theo tiêu chí:
-Trình độ kỹ thuật năng lực chuyên môn cần thiết để giải quyểt công việc cụ thể trong từng vùng làm việc
-Mức độ tiêu hao lao động cần thiết trong quá trình thực thi nhiệm vụ -Xem xét đến tính thường xuyên liên tục trong việc thực hiện nhiệm vụ -Quan tâm đến các yêu cầu về vấn đề an toàn trong trong công tác bảo dưỡng sửa chữa
Tổng hợp các điều kiện sản xuất theo:
-Công việc tiến hành
-Trình độ của nhân lực
Trang 38-Tiêu hao lao động
Phân tích lựa chọn các phương án khác nhau, ví dụ:
-Tiếp thu các công việc bảo dưỡng sửa chữa thông qua người trực tiếp
đứng máy sản xuất
-Tiếp nhận các nhân lực cần thiết phù hợp vào khu vực sản xuất
-Phân bố nhân lực bảo dưỡng sửa chữa tại các vị trí trọng điểm
Đánh giá các phương án đã lựa chọn, phân tích ưu nhược điểm đưa ra phương
Trang 39Trong đó:
-Mô hình mẫu thứ nhất, trong khu vực sản xuất bên cạnh những thợ
đứng máy là tốp thợ điều chỉnh máy, như vậy người thợ đứng máy chỉ có nhiệm vụ thao tác vận hành máy như tháo lắp phôi và bấm cho máy chạy, kiểm tra sơ bộ sản phẩm gia công và khi phát hiện những sai lệch về độ chính xác của chi tiết có nhiệm vụ báo cáo với thợ điều chỉnh máy sử lý
Bộ phận bảo dưỡng sửa chữa được bố trí một đôi ngũ một nhóm các thợ chuyên môn khác nhau túc trực để can thiệp kịp thời khi có sự cố
-Mô hình mấu thứ hai, trong khu vực sản xuất chỉ bố trí duy nhất một
đội thợ đứng máy trực tiếp tham gia công việc sản xuất Bộ phận bảo dưỡng sửa chữa bố trí xưởng khu vực và xưởng trung tâm Xưởng khu vực bao gồm các chuyên ngành khác nhau như: chuyên ngành máy công cụ, xây dựng, nhà xưởng Xưởng trung tâm đảm nhiệm các công việc như: lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa và công tác hạch toán kinh tế của xí nghiệp
Nghiên cứu hai mô hình phân bổ công việc này có một kết cấu tổ chức rất cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả
-Mô hình mẫu thứ ba, khu vực sản xuất được sắp xếp bao gồm thợ đứng máy sản xuất và xưởng khu vực Bộ phận sửa chữa chỉ bao gồm xưởng trung tâm Trong mẫu mô hình này, công tác bảo dưỡng sửa chữa đạt năng xuất cao hơn, đã cho việc BDSC vào thợ điều chỉnh máy, thay dầu máy
-Mô hình mẫu thứ tư, bộ phận sản xuất được bố trí bao gồm nhóm các thợ sản xuất và xưởng khu vực Bộ phận bảo dưỡng sửa chữa được cài đặt vào cùng với nhóm sản xuất
Hai mô hình mẫu này đòi hỏi ở khu vực sản xuất một yêu cầu nặng nền hơn trong việc tổ chức sản xuất, quản lý và điều hành công việc
Trang 40
2.2.2.4 Các công việc bảo dưỡng sửa chữa có thể hoàn thành trong quá trình sản xuất
Nhiều thiết bị máy móc khi chế tạo đã được nhà chế tạo đưa ra những chỉ dẫn cụ thể mang tính pháp qui bằng sơ đồ những công việc, những vị trí cần thiết cần được quan tâm trong quá trình vận hành, khai thác những máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ đó nhằm làm tăng thời gian hoạt động hữu ích cũng như tăng tuổi thọ của hệ thống, những công việc này cũng có thể
được thực hiện một cách dễ dàng bởi người công nhân vận hành máy trong quá trình sản xuất như:
-Làm sạch nguồn dầu bôi trơn theo chương trình bôi trơn
-Nạp đầy chất bôi trơn và dung dịch trơn nguội đúng chủng loại, đủ khối lượng vào hệ thống bôi trơn trung tâm và vào bể dung dịch trơn nguội
-Thay dầu, đổ thêm dầu, bôi dầu theo đúng chu trình thời gian chỉ định -Luôn có ý thức giữ gìn bảo quản máy móc, thiết bị dụng cụ gọn gàng sạch sẽ
-Thường xuyên ghi lại những chỉ dẫn về lỗi biểu thị ở âm thanh, ở phần quang học phát hiện được trong quá trình khai thác vận hành máy -Đánh giá các văn bản lỗi xuất hiện trên bảng điều khiển máy và đánh giá các văn bản lỗi trên máy tính PC
-Mô tả được các lỗi và mô tả nguyên nhân gây nhiễu trong quá trình vận hành và sử dụng máy
-Thay thế các phần tử đơn giản, kiểm tra xiết chặt các ốc vít
-Giúp các thợ bảo dưỡng sửa chữa trong công việc tự bảo dưỡng
Ví dụ: Một ví dụ cụ thể về công tác bảo dưỡng sửa chữa có thể được thực hiện một cách dễ dàng bởi người thợ khai thác vận hành máy
Khi khai thác vận hành một chiếc máy hoặc hệ thống thiết bị nào đó, người thợ vận hành không chỉ được tìm hiểu kỹ lưỡng về đặc tính kỹ thuật, khả năng