Bài giảng Kinh tế vĩ mô - Bài 6: Lạm phát cung cấp các kiến thức về khái niệm và đo lường lạm phát; các nguyên nhân của lạm phát; tác động của lạm phát.
Trang 1Bài 6: Lạm phát
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 Giáo trình Kinh tế học - Tập II – NXB Kinh tế Quốc dân, 2012
Chủ biên PGS.TS Vũ Kim Dung và PGS.TS Nguyễn Văn Công
2 Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Giáo trình Nguyên lý kinh tế học vĩ mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012
3 Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Bài tập Nguyên lý kinh tế vĩ
mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012
Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Khái niệm và đo lường lạm phát
Các nguyên nhân của lạm phát
Tác động của lạm phát
Mục tiêu
Giúp học viên nhận biết được bản chất của hiện tượng lạm phát;
Giúp học viên nhận biết được nguyên nhân gây lạm phát;
Giúp học viên nhận biết được tác động của lạm phát;
Trang 2Bài 6: Lạm phát
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2011 theo Tổng cục thống kê là 18,1% Lạm phát là gì, nó có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của người dân Việt Nam? Nguyên nhân nào gây ra lạm phát?
1 Để giải quyết các câu hỏi trên, cần làm rõ: bản chất của lạm phát; cách thức
đo lường lạm phát; tác động của lạm phát
2 Tất cả những vấn đề trên được nghiên cứu trong bài học này
Trang 3Bài 6: Lạm phát
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không
nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch
vụ hơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định
Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt
giá, thì thu nhập thực tế, tức là sức mua của thu nhập
bằng tiền sẽ giảm Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên
hay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào
điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải
chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm
giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay
không Người dân vẫn có thể trở nên khá giả hơn khi
thu nhập bằng tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá
Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm
phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát Chúng ta sẽ xét một tình huống như được mô tả trong Bảng 6.1 Trong mỗi trường hợp, chúng ta giả thiết chỉ có một cú sốc xuất hiện vào thời kỳ 3 mà trước đó mức giá được
ổn định ở mức 100 Trong trường hợp thứ nhất, mức giá tăng 100% trong thời kỳ 3, sau
đó giảm 50% trong thời kỳ 4 và lại ổn định trong các thời kỳ tiếp theo Như vậy, từ thời
kỳ 4 giá cả trở lại mức ban đầu giống như trước khi cú sốc tác động đến nền kinh tế Trong trường hợp thứ hai, mức giá tăng 100% trong thời kỳ 3, sau đó ổn định trong các thời kỳ tiếp theo Vấn đề trở nên phức tạp hơn trong trường hợp thứ ba, khi mức giá tăng 50% trong thời kỳ 3, sau đó tăng chậm lại trong các thời kỳ tiếp theo do mọi người điều chỉnh một phần theo sai số dự báo về lạm phát Trong trường hợp này mức giá chung tăng liên tục và gây ra lạm phát kéo dài nhưng giảm dần theo thời gian
Trường hợp 1 Trường hợp 2 Trường hợp 3 Thời
kỳ Mức
giá Lạm phát
Mức giá
Lạm phát Mức giá Lạm phát
1 100 100 100
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua
của đồng tiền
Trang 4Bài 6: Lạm phát
Trong thực tế, việc phân biệt được các sự kiện chỉ xảy ra một lần nhưng có ảnh hưởng kéo dài với sự gia tăng liên tục được lặp lại của mức giá trong mỗi thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô Chính phủ thường chỉ điều chỉnh chính sách trước các cú sốc kéo dài, còn các mất cân đối tạm thời thường để thị trường tự giải quyết
Trường hợp ngược lại của lạm phát là giảm phát, diễn ra khi mức giá chung liên tục
giảm Khi đó, sức mua của đồng nội tệ liên tục tăng
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo công thức sau:
t t 1 t
t 1
100%
P
Trong đó:
t : tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quí, hoặc năm)
P t : mức giá của thời kỳ t
P t-1 : mức giá của thời kỳ trước đó
Rõ ràng là để tính được tỷ lệ lạm phát, trước hết các nhà thống kê phải quyết định sử dụng chỉ số giá nào để phản ánh mức giá Như chúng ta đã biết từ bài học trước, người
ta thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP (D) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo
lường mức giá chung Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống, thì rõ ràng chỉ số giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn Trong thực tế, các
số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở CPI
Điều gì gây ra lạm phát là một câu hỏi phổ biến, song các nhà kinh tế vẫn còn những bất đồng Có nhiều lý thuyết giải thích về nguyên nhân gây ra lạm phát mà dưới đây chúng ta sẽ giới thiệu những lý thuyết chính
Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên Thực ra đây cũng là một cách định nghĩa về lạm phát dựa vào nguyên nhân gây ra lạm phát: lạm phát được coi là do sự tồn tại của một mức cầu quá cao Theo lý thuyết này nguyên nhân của tình trạng dư cầu được giải thích do nền kinh
tế chi tiêu nhiều hơn năng lực sản xuất Tuy nhiên để cho định nghĩa này có sức thuyết phục thì cần phải giải thích tại sao chi tiêu lại liên tục lớn hơn mức sản xuất Chúng ta
sẽ lần lượt xem xét các thành tố của tổng cầu
Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu
dùng và đầu tư Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu
dùng, giá cả của những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và ngược lại Tương tự, lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu tư: sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư và do đó đẩy mức giá tăng lên
Trang 5Bài 6: Lạm phát
Trong nhiều trường hợp, lạm phát thường bắt nguồn từ sự gia tăng quá mức trong các chương trình chi tiêu của chính phủ Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng Ngược lại, khi chính phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng, hoặc các công trình đầu
tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm
Hình 6.1 Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu Tuy nhiên, hàng xuất khẩu tác động
tới lạm phát trong nước theo một cách khác: khi nhu cầu xuất khẩu tăng, lượng còn lại để
cung ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước Ngoài ra, nhu cầu
xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát, đặc biệt trong chế độ tỷ giá
hối đoái cố định, vì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng lượng tiền cung ứng Tình hình ngược lại sẽ xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn nước ngoài chảy vào giảm do nền kinh tế thế giới hay trong khu vực lâm vào suy thoái
Trong đồ thị tổng cung - tổng cầu, lạm phát do cầu kéo xuất hiện khi có sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu Như minh họa trong hình 6.1, sự gia tăng của một thành tố nào đó của tổng cầu sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải Do đường tổng cung dốc lên trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn
và thất nghiệp thấp hơn, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với lạm phát Rõ ràng lạm phát do cầu kéo sẽ không phải là vấn đề mà thực ra còn cần thiết và có lợi cho nền kinh
tế nếu như nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa sử dụng như trong trường hợp đường
tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1: lạm phát sẽ khá thấp trong khi sản lượng và việc
làm sẽ tăng đáng kể Ngược lại, lạm phát do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề thực sự nếu như toàn bộ nguồn lực đã sử dụng hết và đường tổng cung trở nên rất dốc như trong
trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD1 đến AD2 Khi đó, sự gia tăng tổng cầu
chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng lên rất ít
Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát cũng có thể xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế Trong đồ thị tổng cung - tổng cầu, một cú sốc như vậy sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên và sang bên trái Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ
mô trong nền kinh tế đều biến động theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất nghiệp và lạm phát đều tăng Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát đi kèm suy thoái (stagflation)
Ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện Vòng xoáy đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chính phủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách mở rộng tiền tệ
B
A
AD 1
AS 1
P
P 2
AD 2
Trang 6Bài 6: Lạm phát
Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu, các loại lệ phí bắt buộc) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, vì chúng tác động trực tiếp tới giá
cả hàng hoá Nếu so sánh với các nước phát triển là những nước có tỷ lệ thuế trực thu cao, chúng ta có thể nhận định rằng ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu từ thuế, thì thay đổi thuế gián thu dường như
có tác động mạnh hơn tới lạm phát
Hình 6.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Đối với các nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá của chúng (có thể do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nước Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thế giới hay đồng nội tệ giảm giá mạnh trên thị trường tài chính quốc tế, thì chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ
Những yếu tố nêu trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có thể gây ra tác động tổng hợp, làm cho lạm phát có thể tăng tốc Nếu chính phủ phản ứng quá mạnh thông qua các chính sách thích ứng, thì lạm phát có thể trở nên không kiểm soát được, như tình hình của nhiều nước công nghiệp trong thập niên 1970 và đầu thập niên 1980
Lạm phát ỳ
Trong các nền kinh tế hiện đại trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có xu hướng ổn định theo thời gian Hàng năm, mức giá tăng lên theo một tỷ lệ khá ổn định Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ Đây là loại lạm phát hoàn toàn được dự tính trước Mọi người đã biết trước và tính đến khi thỏa thuận về
các biến danh nghĩa được thanh toán trong tương lai
Hình 6.3 Lạm phát ỳ
Lạm phát ỳ xuất hiện là do lạm phát trong quá khứ ảnh hưởng đến kỳ vọng về lạm phát trong tương lai và kỳ vọng này tác động đến tiền lương và giá cả mà mọi người
AD0
AS1
AS0
P
E1
AD 2
AD 1
AD 0
E2
AS 2
AS 1
AS 0
P
E1
Trang 7Bài 6: Lạm phát
ấn định Vào thời kỳ lạm phát cao của những năm 1970 ở Mỹ, R Solow đã nắm bắt chính xác khái niệm lạm phát ỳ và kết luận “Vì sao đồng tiền của chúng ta (nước Mỹ) lại mất giá? Có lẽ chúng ta có lạm phát đơn giản là do chúng ta dự kiến lạm phát và chúng ta dự kiến lạm phát vì chúng ta có nó”
Hình 6.3 cho thấy lạm phát ỳ xảy ra như thế nào Cả đường tổng cung và đường tổng cầu cùng dịch chuyển lên trên với tốc độ như nhau Sản lượng luôn được duy trì ở
mức tự nhiên, trong khi mức giá tăng với một tỷ lệ ổn định theo thời gian
6.2.2 Trong dài hạn: cách tiếp cận tiền tệ về lạm phát
Lý thuyết tiền tệ là cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của hiện tượng lạm phát Tư tưởng cơ bản của các nhà tiền tệ là luận điểm cho rằng lạm phát về cơ bản
là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên, nhiều tác giả khác, ví dụ như Friedman đã đi xa hơn và
đề ra một hình thái mạnh hơn của chủ nghĩa tiền tệ
Họ đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa
cung tiền và lạm phát: "Lạm phát ở đâu và bao giờ
cũng là hiện tượng tiền tệ và nó chỉ có thể xuất
hiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng"1
Thực ra, kết luận này dựa trên hai điều Thứ nhất,
các nhà tiền tệ cho rằng lạm phát gây ra bởi sự dư
thừa tổng cầu so với tổng cung, và nguyên nhân của
sự dư cầu này là do có quá nhiều tiền trong lưu thông Nếu cách giải thích này đúng về mặt lịch sử, thì nó khẳng định rằng lạm phát gây ra bởi sức ép từ phía cầu, chứ không
phải từ phía cung Thứ hai, các nhà tiền tệ giả thiết rằng mối quan hệ nhân quả bắt
nguồn từ cung ứng tiền đến mức giá, chứ không phải ngược lại là giá cả tăng lên làm tăng lượng tiền cung ứng Để hiểu mối quan hệ đó chúng ta phải xem xét cơ chế lan truyền Với giả thiết về thị trường cân bằng, và bắt đầu từ vị trí cân bằng trên thị trường tiền tệ, khi đó sự gia tăng trong cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trên thị trường tiền tệ Để thiết lập trạng thái cân bằng, một phần của số tiền dư thừa được dùng để mua hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, vì số lượng hàng hoá và dịch vụ được qui định bởi các nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế, do đó xuất hiện dư cầu trên thị trường hàng hoá Điều này, đến lượt nó sẽ gây áp lực làm giá cả tăng lên để thiết lập trạng thái cân bằng mới trên thị trường hàng hoá Trong mô hình tổng cung - tổng cầu, sự gia tăng cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu và làm tăng mức giá do đường tổng cung thẳng đứng trong dài hạn Điểm khởi đầu cho lý thuyết số lượng là quan sát cho thấy dân cư giữ tiền chủ yếu để
mua hàng hóa và dịch vụ Giả sử Y là mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra trong một năm và P là giá của một đơn vị sản lượng điển hình, khi đó số đồng được trao đổi trong năm bằng P.Y Vì tiền trao tay khi giao dịch, chúng ta có thể sử dụng thông tin này
1
Friedman, M (1970) 'The Counter-Revolution in Monetary Theory', Institute of Economic Affair,
Accasioanl Paper, No 33
Thừa tổng cầu so với tổng cung
Trang 8Bài 6: Lạm phát
để dự đoán số lần mà một tờ giấy bạc điển hình trao tay trong năm Nếu chúng ta ký
hiệu V là tốc độ chu chuyển, tức là số lần trung bình mà một tờ giấy bạc điển hình được
sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ trong một năm, và M là cung tiền, thì số đơn vị tiền tệ trao đổi trong năm cần phải bằng M.V Do vậy, chúng ta có đồng nhất thức:
M.V = P.Y
Đó là phương trình số lượng, bởi vì nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng tiền cung
ứng (M) và GDP danh nghĩa (P.Y) Phương trình số lượng cho thấy sự gia tăng lượng
tiền trong nền kinh tế phải được phản ánh ở một trong ba biến số khác: mức giá phải tăng, sản lượng phải tăng, hoặc tốc độ chu chuyển tiền tệ phải giảm
Nhìn chung, tốc độ chu chuyển tiền tệ tương đối ổn định theo thời gian Khi đó, lạm
phát (P tăng) chỉ có thể xảy ra khi lượng tiền cung ứng (M) tăng nhanh hơn sản lượng (Y): tốc độ tăng cung tiền càng cao thì tỷ lệ lạm phát càng cao (khi các nhân tố khác
không thay đổi) Đồng thời, các biện pháp chính sách mà một nước cần thực hiện để giảm lạm phát chính là cắt giảm tốc độ cung ứng tiền tệ Như vậy, theo quan điểm này, chính sách tiền tệ sẽ là chính sách then chốt nhằm kiểm soát lạm phát; và chính sách tài khoá cũng có thể ảnh hưởng đến lạm phát bởi vì thâm hụt ngân sách của chính phủ có xu hướng làm tăng cung tiền
Hình 6.4 Tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng cung tiền (M2) hàng năm ở Việt Nam, 1987-2010
Hình 6.4 sử dụng số liệu tăng tiền và tỷ lệ lạm phát hàng năm ở Việt Nam từ năm
1987 đến năm 2010 Số liệu này xác minh mối tương quan dương giữa tỷ lệ tăng tiền
và tỷ lệ lạm phát Những năm Việt Nam có tỷ lệ tăng cung tiền cao có xu hướng đi kèm với lạm phát cao, còn những năm có tỷ lệ tăng cung tiền thấp có xu hướng đi kèm với lạm phát thấp
6.3.1 Chi phí của lạm phát
Tại sao người dân lại không thích lạm phát? Nếu như thu nhập danh nghĩa luôn tăng cùng với mức giá, thì thu nhập thực tế giữ nguyên không thay đổi Song điều này thường khó xảy ra Tính chất của lạm phát có ảnh hưởng quan trọng đến tổn thất mà lạm phát gây ra cho xã hội Theo tính chất người ta phân biệt lạm phát được dự tính trước và lạm phát không được dự tính trước
Trang 9Bài 6: Lạm phát
Đối với lạm phát được dự tính trước
Lạm phát hoàn toàn được dự tính trước là trường hợp lạm phát xảy ra đúng như dự tính từ trước của các tác nhân kinh tế Trong trường hợp này, mọi khoản vay, tiền lương cũng như hợp đồng về các biến danh nghĩa khác nhìn chung được điều chỉnh thích ứng với tốc độ trượt giá Loại lạm phát này gây ra những tổn thất gì cho xã hội?
Thứ nhất, lạm phát hoạt động giống như một loại thuế đánh vào những người giữ tiền
và được gọi là thuế lạm phát Tuy nhiên chúng ta cần thận trọng phân biệt thuế lạm
phát với thuế đúc tiền Như chúng ta đã biết thâm hụt
ngân sách xảy ra khi chính phủ chi nhiều hơn thu nhập từ
thuế Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng đi vay hoặc
in tiền Tương tự như thuế, tiền mới phát hành cũng là
một nguồn thu của chính phủ bởi vì chi phí phát hành
tiền mới rất nhỏ, trong khi chính phủ có thể sử dụng số
tiền đó để mua hàng hóa và dịch vụ Thu nhập mà chính
phủ nhận được bằng cách in tiền được gọi là thuế đúc tiền
Tuy nhiên, một số người phải trả cho khoản thu nhập đó của chính phủ Thực ra, khi in
tiền mới, chính phủ đã đánh thuế lạm phát Lượng tiền được cung ứng nhiều hơn
thường gây ra lạm phát và do đó làm giảm giá trị của những đồng tiền đang lưu hành
Có một điều chúng ta cần nhận thức đúng là bản thân thuế không phải là chi phí đối với xã hội, nó chỉ là sự chuyển giao nguồn lực từ các hộ gia đình sang cho chính phủ Nhưng kinh tế học vi mô lại chỉ ra rằng hầu hết các loại thuế đều làm cho mọi người
có động cơ thay đổi hành vi để tránh thuế và gây biến dạng các kích thích này làm cho
xã hội bị tổn thất Giống như các loại thuế khác, thuế lạm phát cũng gây ra tổn thất cho xã hội bởi vì mọi người lãng phí nguồn lực khan hiếm khi tìm cách tránh thuế Lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa, và do đó làm giảm cầu tiền Nếu bình quân mọi người giữ ít tiền hơn, họ cần đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền Sự bất
tiện của việc giữ ít tiền hơn tạo nên chi phí mòn giày, vì việc đến ngân hàng nhiều hơn
làm cho “giày” của bạn chóng mòn hơn Tuy nhiên, không nên hiểu khoản chi phí này theo nghĩa đen của nó: chi phí thực tế mà bạn bỏ ra để giữ ít tiền hơn không chỉ ở chỗ giày của bạn nhanh mòn, mà là thời gian và sự tiện lợi mà bạn phải hy sinh khi giữ ít tiền hơn – cái mà bạn không phải trả khi không có lạm phát
Thứ hai, lạm phát gây ra chi phí thực đơn Đó là những chi phí phát sinh do các
doanh nghiệp có thể phải gửi các catalog mới cho khách hàng, phân phối bảng giá mới cho nhân viên bán hàng của mình, các hiệu ăn cũng phải thay đổi thực đơn mới, khi giá cả thay đổi Việc này đôi khi cũng tốn kém
Thứ ba, lạm phát có thể tạo ra những thay đổi không mong muốn trong giá tương
đối Giả sử một doanh nghiệp có phát hành catalog chỉ thay đổi giá cả mỗi năm
một lần do phát sinh chi phí liên quan đến việc in và phân phối catalog, và giả sử các doanh nghiệp khác thay đổi giá cả thường xuyên hơn Nếu trong năm các doanh nghiệp khác tăng giá bán cho các sản phẩm của họ, thì giá tương đối của sản phẩm do doanh nghiệp phát hành catalog sẽ giảm Như chúng ta đã biết kinh tế vi
mô nhấn mạnh đến vai trò của giá tương đối trong việc phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả Trong chừng mực mà lạm phát gây ra sự thay đổi giá cả không
Thuế lạm phát
Trang 10Bài 6: Lạm phát
đều và do đó làm méo mó giá tương đối, thì sức mạnh của thị trường tự do sẽ bị hạn chế Sự phân bổ sai lệch này cũng cần được hiểu là nội dung truyền đạt thông tin của giá cả bị suy yếu
Thứ tư, lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân thường trái
với ý định của những người làm luật Trên thực tế, luật thuế thường không tính đến tác động của lạm phát, và do vậy khi thu nhập danh nghĩa tăng, mọi người sẽ phải nộp mức thuế cao hơn, ngay cả khi thu nhập thực tế của họ không thay đổi và do vậy làm giảm thu nhập khả dụng của họ Điều này không khuyến khích mọi người làm nhiều, làm tốt và làm hiệu quả
Lạm phát có ảnh hưởng chủ yếu đến hai loại thuế đánh vào thu nhập từ tiết kiệm:
vốn danh nghĩa là đối tượng chịu thuế Giả sử bạn mua một cổ phiếu giá 20 đồng và bán nó với giá 50 đồng Nếu mức giá tăng gấp đôi trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó, thì bạn chỉ thu được một khoản lãi về vốn thực tế là 10 đồng (bởi vì thực ra bạn phải bán cổ phiếu với giá 40 đồng thì mới hòa vốn), nhưng bạn phải đóng thuế trên khoản thu nhập danh nghĩa là 30 đồng, vì luật thuế không tính đến lạm phát
o Tiền lãi danh nghĩa cũng bị đánh thuế, cho dù một phần tiền lãi danh nghĩa đơn
thuần chỉ để bù đắp lạm phát Khi chính phủ đánh thuế theo một tỷ lệ phần trăm cố định của tiền lãi danh nghĩa, thì tiền lãi
suất thực tế sau thuế vẫn giảm trong điều kiện
có lạm phát ngay cả khi lãi suất danh nghĩa được điều chỉnh hoàn hảo theo lạm phát Chẳng hạn, chính phủ đánh thuế 30% thu nhập từ tiền lãi Nếu ban đầu, lãi suất danh nghĩa là 10% và
tỷ lệ lạm phát là 5%, thì lãi suất thực tế trước thuế là 5% và lãi suất thực tế sau thuế là 2% [=(1-0,3)10% - 5%] Sau đó, giả
sử tỷ lệ lạm phát tăng lên 10% và lãi suất danh nghĩa được điều chỉnh hoàn toàn theo lạm phát lên 15% để duy trì lãi suất thực tế trước thuế không thay đổi Tuy nhiên, bây giờ lãi suất thực tế sau thuế giảm xuống chỉ còn 0,5 % [=(1-0,3)15% - 10%]
Bởi vì thuế đánh trên lãi vốn danh nghĩa và tiền lãi danh nghĩa, cho nên lạm phát làm giảm lợi tức thực tế sau thuế cho các khoản tiết kiệm và vì vậy lạm phát không khuyến khích tiết kiệm và không có lợi cho tăng trưởng kinh tế Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách đưa lạm phát ra khỏi hệ thống thuế hoặc áp dụng chỉ số trượt giá trong hệ thống thuế sao cho thuế chỉ còn đánh vào thu nhập thực tế
Cuối cùng, lạm phát gây ra sự nhầm lẫn và bất tiện Hãy tưởng tượng rằng chúng
ta tiến hành thăm dò ý kiến và đặt ra cho mọi người câu hỏi sau: “Hiện tại 1 m bằng 100 cm Theo bạn, năm tới 1 m nên có độ dài bao nhiêu?” Giả sử mọi người đều trả lời một cách nghiêm túc, thì chắn chắn họ sẽ nói với chúng ta là độ dài của
1 m năm tới vẫn nên bằng 100 cm Cách làm khác chỉ phức tạp hoá vấn đề một cách không cần thiết