1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN TRỊ TỒN KHO VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO JUST IN TIME

27 3,3K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị tồn kho và hệ thống quản lý hàng tồn kho Just In Time
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 52,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trongthời kỳ suy thoái thì giảm lượng tồn kho xuống.Trong sản xuất , tồn kho thường được phân làm 4 loại, đó là: 1 Tồn kho nguyên vật liêu/ bộ phận cấu thành 2 Tồn kho sản phẩm dở dang 3

Trang 1

QUẢN TRỊ TỒN KHO VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO JUST IN TIME

1.1 Quản trị tồn kho

1.1.1 Khái quát về hàng tồn kho

Hàng tồn kho là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất trong tổng

giá trị tài sản của một doanh nghiệp, thông thường giá trị hàng tồn khochiếm 40% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Do đó việc điều khiển , kiểm soáttốt hàng tồn kho luôn là một vấn đề cần thiết, chủ yếu trong quản trị sản xuất tácnghiệp

Bản thân vấn đề tồn kho luôn có hai mặt trái ngược nhau, với quanđiểm của người sản xuất người ta luôn tìm cách giảm phí tổn bằng cách giảm lượngtồn kho , còn với quan điểm của người tiêu thụ thì sẽ luôn mong muốn có nhiềuhàng dự trữ để không có sự thiếu hụt Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm cách xácđịnh một mức độ cân bằng giữa mức độ đầu tư cho hàng tồn kho phục vụ sản xuất

và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng một cách kịp thời đúng lúc với chi phí tốithiểu nhất

Hàng tồn kho được xem là tất cả những nguồn lực dự trữ nhằm đápứng những nhu cầu hiện tại hoặc tương lai

Hàng tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu sản phẩm dở dang, bánthành phẩm, dụng cụ phụ tùng, thành phẩm tồn kho… Tùy theo các loại hìnhdoanh nghiệp khác nhau mà dạng tồn kho nội dung hoạch định cũng như hệ thốngkiểm soát điều khiển hàng tồn kho cũng sẽ khác nhau Chúng ta có thể thấy rõ :một ngân hàng sẽ có những phương pháp tiêu chuẩn riêng để kiểm soát đánh giámức tồn quỹ về tiền mặt, một bệnh viện sẽ có những phương pháo để kiểm soátnguồn máu, thuốc men, một xí nghiệp sản xuất sẽ có phương pháp kiểm tra lượngvật liệu dự trữ, bán thành phẩm và thành phẩm

1.1.2 Phân loại tồn kho

Trang 2

Tồn kho là số lượng hàng hóa được tự tạo trong kinh doanh nhằm đáp ứngcho nhu cầu tương lai Nhu cầu này có thể là sản phẩm của công ty cũng có thể làhàng cung cấp trong quá trinh gia công Nếu công ty có quan điểm lạc quan thì họtăng mức tồn kho lên nhằm đáp ứng kịp nhu cầu dự đoán trong tương lai Trongthời kỳ suy thoái thì giảm lượng tồn kho xuống.

Trong sản xuất , tồn kho thường được phân làm 4 loại, đó là:

1) Tồn kho nguyên vật liêu/ bộ phận cấu thành

2) Tồn kho sản phẩm dở dang

3) Tồn kho sản phẩm hoàn chỉnh

4) Tồn kho các mặt hàng linh tinh phục vụ sản xuất hay dịch vụ

1.1.2.1 Nguyên vật liệu/ bộ phận cấu thành

Nguyên vật liệu và bộ phận cấu thành là những thành phần chính để sản xuất

ra sản phẩm cuối cùng Ở đây ta sẽ không đề cập đến các nguyên vật liệu dùng để

hỗ trợ sản xuất mà chỉ đề cập đến các nguyên vật liệu chính phục vụ cho quá trìnhsản xuất, cấu thành nên sản phẩm Chẳng hạn như đối với nhà máy dệt thì nguyênvật liệu chính là tơ , bông, sợi Còn đối với nhà máy sản xuất may mặc thì vật liệuchính là vải, khuy, các phụ kiện để trang trí áo

1.1.2.2 Sản phẩm dở dang

Đó là các sản phẩm đang được biến thành thành phẩm từ nguyên liệu thônhưng chưa xong, còn nằm trên đường dây sản xuất , có khi sản phẩm đã xong rồinhưng chưa bao bì đóng gói thì vẫn bị coi là dở dang, chưa xuất xưởng được Sở dĩ

có thể xảy ra tình trạng tồn kho sản phẩm dở dang là do quá trình phối kết hợpkhông nhịp nhàng ăn khớp giữa các công đoạn sản xuất Ví dụ như trong một dâychuyền may: bộ phận cắt cắt ra quá nhiều mẫu nhưng mà bộ phận may do thiếunhân công, thiếu máy may nên không thể làm hết những mẫu đã được chuyển đến

từ khâu cắt; do vậy mà một số lượng mẫu chưa kịp hoàn thành sẽ phải chuyển vàokho

1.1.2.3 Thành phẩm

Trang 3

Tồn kho thành phẩm là mọi lô hàng đã được hoàn thiện tất cả các khâu vàsẵn sàng được bán Ví dụ như một lô áo sơ mi nam của May 10, đã hoàn thiện tất

cả các khâu từ cắt may đến là và kiểm tra , đóng gói được chuyển đến các đại lýphân phối của May 10 trên toàn quốc, khi nào mà sản phẩm chưa đến được tayngười tiêu dùng, vẫn còn nằm trong kho của nhà sản xuất và phân phối thì sảnphẩm đó được coi là tồn kho ở dạng thành phẩm

1.1.2.4 Tồn kho các nguyên vật liệu phụ

Tất cả các loại mặt hàng công ty mua về không phải là thành phần của sảnphẩm nhưng lại cần thiết để phục vụ sản xuất đều gọi là các mặt hàng linh tinhphục vụ sản xuất, Văn phòng phẩm nằm trong loại này Vài chủng loại như dầu bôitrơn máy tuy có tham gia vào quá trình sản xuất nhưng không là thành phần củasản phẩm cũng được xếp vào loại này Thiết bị nâng hạ trong kho cũng là một ví

dụ

1.1.3 Các loại chi phí tồn kho

Có 3 loại chi phí tồn kho :

1.1.3.1 Chi phí mua hàng

Là chi phí cần có để mua hoặc sản xuất ra từng món hàng tồn kho Chi phínày thường được biểu hiện bằng chi phí của một đơn vị nhân với số lượng nhậnđược hoặc sản xuất ra Nhiều khi giá món hàng được hưởng giảm giá nếu ta muacùng một lúc đạt đến số lượng nào đó Thông thường chi phí mua hàng không ảnhhưởng đến việc lựa chọn các mô hình tồn kho, trừ mô hình khấu trừ theo sản lượng

1.1.3.2 Chi phí đặt hàng

Bao gồm những phí tổn trong việc tìm các nguồn cung ứng, hình thức đặthàng, thực hiện quy trình đặt hàng hỗ trợ cho các hoạt động văn phòng…Khi đơnhàng được thực hiện phí tổn đặt hàng vẫn còn tồn tại, những lúc đó chúng đượchiểu như phí tổn chuẩn bị thực hiện đơn hàng

Phí tổn chuẩn bị thực hiện đơn hàng là những chi phí cho việc chuẩn bị máymóc hay công nghệ để thực hiện đơn hàng Do đó chúng ta cần xác định thời điểm

Trang 4

và số lượng cho mỗi lần đặt hàng thật chi tiết để cố gắng tìm những biện pháp giảmbớt chi phí chuẩn bị cũng như phí tổn đặt hàng.

Trong nhiều tình huống chi phí chuẩn bị có mối quan hệ rất mật thiết đối vớithời gian chuẩn bị thực hiện đơn hàng Nếu chúng ta giảm được thời gian này làmột giải pháp hữu hiệu để giảm lượng đầu tư cho tồn kho và cải tiến được năngsuất

1.1.3.3 Chi phí tồn trữ

Trong quá trình lưu kho các loại nguyên phụ liệu, sản phẩm dở dang, thànhphẩm để giữ cho chúng đảm bảo phẩm chất để còn phục vụ cho sản xuất và tiêu thụthì bộ phận quản lý kho tàng cần áp dụng một số các biện pháp để bảo quản và lưutrữ Các hoạt động này cũng tiêu tốn của doanh nghiệp một khoản chi phí đáng kể.Chi phí này thường được tính bằng số phần trăm giá trị của món hàng Ví dụ phítồn trữ 15% /năm của món hàng tức là mỗi 1000đ giá trị món hàng nếu để trongkho một năm thì phải trả 150đ tiền tồn trữ Trong thực tế chi phí tồn trữ tiêu biểuthường vào khoảng 15% đến 30% mỗi năm

Những loại chi phí có liên quan đến việc tồn trữ hay hoạt động thực hiện tồnkho này có thể thống kê theo bảng dưới đây :

Bảng 1.1 Tỷ lệ các loại chi phí tồn kho

Nhóm chi phí Tỷ lệ với giá trị tồn kho

Trang 5

1 Chi phí về nhà cửa hoặc kho tàng

- Tiền thuê hoặc khấu hao nhà cửa

- Chi phí hoạt động kho vận hàng không

- Thuế nhà đất

- Bảo hiểm nhà cửa , kho hàng

2 Chi phí sử dụng thiết bị, phương tiện

- Tiền thuê hoặc khấu hao thiết bị dụng cụ

- Năng lượng

- Chi phí vận hành thiết bị

3 Chi phí về nhân lực cho hoạt động giám

sát quản lý

4 phí tổn cho việc đầu tư vào hàng tồn kho:

- phí tổn cho việc vay mượn

- thuế đánh vào hàng tồn kho

- bảo hiểm cho hàng tồn kho

5 Thiệt hại của hàng tồn kho do mất mát hư

1.1.4 Chức năng quản trị tồn kho

Trang 6

Thực hiện tốt chức năng liên kết nhằm đảm bảo sản xuất liên tục, tránh sựthiếu hụt gây lãng phí trong sản xuất.

1.1.4.2 Chức năng ngăn ngừa tác động của lạm phát

Một doanh nghiệp nếu biết trước tình hình tăng giá nguyên vật liệu hay hànghóa, họ có thể dự trữ tồn kho để tiết kiệm chi phí Như vậy tồn kho sẽ là một hoạtđộng đầu tư tốt, lẽ dĩ nhiên khi thực hiện hoạt động tồn khi chúng ta phải xem xétđến chi phí và rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tiến hành tồn kho

1.1.4.3 Chức năng khấu trừ theo số lượng

Một chức năng khá quan trọng của quản trị tồn kho là khấu trừ theo sốlượng Rất nhiều nhà cung ứng sẵn sàng chấp nhận khấu trừ cho những đơn hàng

có số lượng lớn Việc mua hàng với số lượng lớn có thể đưa đến việc giảm phí tổnsản xuất, tuy nhiên mua hàng với số lượng lớn sẽ chịu chi phí tồn trữ cao do đótrong quản trị hàng tồn kho người ta cần phải xác định một lượng hàng tối ưu đểhưởng các giá khấu trừ, mà dự bị tồn trữ tăng không đáng kể

1.1.5 Các biện pháp quản trị hàng tồn kho

1.1.5.1 Hệ thống tồn kho

Hệ thống tồn kho là tập hợp các thủ tục hoặc các chính sách tác nghiệp màviệc thu nhập hoặc duy trì tồn kho được căn cứ vào đấy Có hai loại hệ thống tồnkho cơ bản:

- Hệ thống xem lại liên tục

Trang 7

định” (fixed order size systems - FOSS) hoặc “ số lượng đặt hàng kinh tế”( economic order quantity - EOQ).

Hệ thống xem lại định kỳ có nhiều tiếp cận Cứ sau mỗi quãng thời gian nhấtđịnh, như tuần hoặc tháng, người ta kiểm tra lại mức tồn kho và tiến hành đặt hàng.Qui mô đặt hàng là số lượng cần để đưa mức tồn kho lên đến một mức đã xác địnhtrước, và do đó nó thay đổi tùy theo từng giai đoạn Người ta còn gọi hệ thống xemlại định kỳ là “ hệ thống lượng đặt hàng cách quãng” ( fixed order interval systems– FOIS) hoặc “ hệ thống đặt hàng kinh tế cách quãng” ( economic order intervalsystems – EOI)

1.1.5.2 Quản trị tồn kho ABC

Năm 1906 nhà kinh tế người Ý Vilfredo Pareto quan sát thấy là trong mộtnhóm có nhiều món thì chỉ có một số nhỏ món có giá trị đáng kể mà thôi Trongthời gian đó ông đang nghiên cứu về việc một số ít người trong xã hội lại có thunhập nhiều nhất Ta cũng có thể thấy là trong một sản phẩm bất kì chỉ có một số bộphận là có giá thành rất cao, hoặc trong các tổ chức tự nguyện, chỉ một số ít ngườiđảm đương phần lớn các công việc Qui luật một số ít quan trọng có thể được ápdụng có quản trị tồn kho

Trong tồn kho, một số ít món hàng thường có giá trị đo bằng đơn vị tiền tệchiếm phần lớn trong tổng giá trị tồn kho toàn bộ Do đó nên ta có thể tập trungtích cực vào việc kiểm tra một số ít chủng loại mặt hàng này Trong công tác tồnkho, người ta phân các món hàng ra làm ba hạng: A,B và C

Kỹ thuật phân tích ABC phân tổng số loại hàng tồn kho thành 3 nhóm:A,B,C dựa vào giá trị hàng năm của chúng

Giá trị hàng năm này được xác định bằng cách lấy tích 2 thừa số: Nhu cầuhàng năm của loại hàng tồn kho và phí tổn cho mỗi đơn vị hàng tồn kho và tínhtheo từng loại hàng

Tiêu chuẩn cụ thể của từng nhóm hàng tồn kho được xác định như sau:

Trang 8

- Nhóm A: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm cao nhất,chúng có giá trị từ 70 – 80% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về mặt sốlượng chúng chỉ chiếm 15% tổng số hàng tồn kho.

- Nhóm B: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm ở mứctrung bình, chúng có giá trị 15%- 25% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng vềsản lượng chúng chiếm khoảng 30%

- Nhóm C: Bao gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, giá trị hàngnăm chỉ chiếm khoảng 5% tổng giá trị các loại hàng tồn kho, tuy nhiên số lượngchúng chiếm khoảng 55% so với tổng số loại hàng tồn kho

Bằng đồ thị chúng ta có thể biểu diễn tiêu chuẩn của các nhóm hàng tồn khotheo kỹ thuật phân tích ABC như sau:

Hình 1.2 – Mô tả tiêu chuẩn ABC

Trang 9

Nhóm A

Ngoài việc dựa vào giá trị hàng năm của chúng để phân nhóm người ta cònxét đến các tiêu chuẩn khác như:

- Những thay đổi về kỹ thuật dự đoán

- Vấn đề cung ứng

- Chất lượng hàng tồn kho

- Giá cả của các loại hàng tồn kho

Những tiêu chuẩn này có thể làm thay đổi vị trí các hàng tồn kho Việc phânnhóm hàng tồn kho là cơ sở để đề ra các chính sách hoạt động kiểm soát riêng biệtnhững loại hàng tồn kho

Trang 10

Kỹ thuật phân tích ABC có những tác dụng như sau trong công tác quản trịtồn kho:

- Các nguồn tiềm lực dùng mua hàng nhóm A cần phải cao hơn nhiều sovới nhóm C, do đó cần có sự ưu tiên đầu tư thích đáng

- Các loại hàng thuộc nhóm A cần có một sự kiểm soát tồn kho chặt chẽ

về hiện vật, việc thiết lập những báo cáo chính xác về hàng tồn kho thuộc nhóm Aphải thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo khả năng an toàn trong sản xuất

- Trong dự báo nhu cầu vật tư chúng ta có thể áp dụng các phương pháp

dự báo khác nhau cho các nhóm hàng khác nhau Nhóm A cần được dự báo cẩnthận hơn các nhóm khác

- Nhờ có kỹ thuật phân tích ABC trình độ của nhân viên giữ kho sẽkhông ngừng được nâng lên , do họ thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm toáncủa từng nhóm hàng

Tóm lại kỹ thuật phân tích ABC sẽ cho chúng những kết quả tốt hơn trong

dự báo, kiểm soát hiện vật đảm bảo tính khả thi của nguồn cung ứng, tối ưu hóalượng dự trữ hàng tồn kho

1.2 Khái quát về mô hình Just in time ( JIT)

1.2.1 Giới thiệu về mô hình Just in time

Hệ thống quản lý hàng tồn kho “Just In Time” được phát triển bởi công tyToyota Nhật bản vào những năm 90 nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong quản lýhàng tồn kho trong các nhà máy sản xuất Mô hình này thực sự đã tỏ ra rất hiệu quảđối với không chỉ riêng mình Toyota mà còn cả đối với các nhà máy sản xuất lớntrên thế giới Để tìm hiểu JIT trong hệ thống sản xuất Toyota, trước hết cần phânbiệt được hai khái niệm sản xuất truyền thống là tinh xảo (craft) và đại trà (mass)

 Sản xuất tinh xảo thường sử dụng các công nhân cực kỳ lành nghề cùngvới những công cụ đơn giản nhưng linh hoạt (đặc biệt trong các ngành nghề thủcông) để tạo ra từng sản phẩm theo ý khách hàng Chất lượng của hình thức sản

Trang 11

xuất này có lẽ khỏi cần phải bàn, tuy nhiên giá thành dẫn tới giá bán rất cao là yếu

tố làm thu hẹp thị trường Cũng vì thế mà sản xuất đại trà đã ra đời, đánh dấu mộtbước phát triển trong sản xuất đầu thế kỷ 20

 Sản xuất đại trà sử dụng công nhân có tay nghề bậc trung vận hành cácmáy công nghiệp đơn năng, tạo ra các sản phẩm được tiêu chuẩn hoá với số lượngrất lớn Vì giá trị máy móc cũng như chi phí tái thiết kế rất đắt tiền nên nhà sảnxuất đại trà luôn cố gắng giữ các tiêu chuẩn thiết kế sản phẩm càng lâu càng tốt.Kết quả là giá thành kéo theo giá bán giảm Tuy nhiên tác phong công nghiệp làmcho công nhân nhàm chán và mất động lực làm việc

Toyota Motor đã kết hợp 2 phương thức sản xuất tinh xảo và đạitrà, loại bỏ các yếu điểm về giá thành và sự chặt chẽ công nghiệp, cho ra đời mộtphương thức sản xuất mới với đội ngũ công nhân có tay nghề cao được trang bị hệthống máy móc linh hoạt, đa năng, có khả năng sản xuất với nhiều mức công suất.Phương thức này được đánh giá là sử dụng ít nhân lực hơn, ít diện tích hơn, tạo ra

ít phế phẩm hơn, và sản xuất được nhiều loại sản phẩm hơn hình thức sản xuất đạitrà

Hệ thống quản lý hàng tồn kho là một phần của quá trình quản lý sản xuấtnhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và chi phí sản xuất bằng cách loại bỏbớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí Nghĩa là doanh nghiệp chỉ sảnxuất một số lượng đúng bằng số lượng mà công đoạn tiếp theo cần đến Các nguồnnguyên vật liệu và hàng hóa cần thiết trong quá trình sản xuất và phân phối được

dự báo và lên kế hoạch chi tiết sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngaysau khi quy trình hiện thời chấm dứt

Hệ thống quản lý hàng tồn kho được dựa trên ý tưởng là thay vì tốn chi phícho việc dự trữ hàng hóa thì các nhà sản xuất có thể cung cấp chính xác số lượngcần thiết vào chính xác cả về thời điểm giao hàng và số lượng cần giao

Trang 12

“Just In Time” nhằm mục đích giảm đi chi phí không cần thiết giữa các côngđoạn Trong các giai đoạn sản xuất nguyên liệu được đáp ứng đầy đủ và chính xácvào lúc cần thiết ,không có tình trạng tồn trữ và thiếu hụt nguyên vật liệu Mỗicông đoạn sản xuất sẽ sản xuất ra số lượng cần thiết và hệ thồng chỉ sản xuất ra cácsản phẩm mà khách hàng muốn Qua đó không có hạng mục nào sản xuất ra thànhphẩm mà không có đầu ra phải tồn kho và không có nhân công, thiết bị nào phải chờ đợi vì không có NVL để sản xuất.

Nói cách khác, JIT là hệ thống sản xuất trong đó các luồng nguyên vật liệu,hàng hoá và sản phẩm truyền vận trong quá trình sản xuất và phân phối được lập kếhoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi quytrình hiện thời chấm dứt Qua đó, không có hạng mục nào rơi vào tình trạng đểkhông, chờ xử lý, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vậnhành

Các dây truyền lắp ráp của hãng Ford đã áp dụng JIT từ những năm 30 Cầnnói thêm rằng Ford là người đi đầu trong việc áp dựng các dây truyền sản xuất Tuynhiên, phải đến những năm 1970, quy trình sản xuất theo mô hình JIT mới đượchoàn thiện và được Toyota Motors áp dụng Trong công cuộc công nghiệp hoá sauĐại chiến thế giới thứ 2, nước Nhật thực hiện chiến lược nhập khẩu công nghệnhằm tránh gánh nặng chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và tập trung vàoviệc cải thiện quy trình sản xuất (kaizen) Mục tiêu của chiến lược này là nâng caochất lượng và độ tin cậy của sản phẩm Eiji Toyoda và Taiichi Ohno của ToyotaMotor đã phát triển một khái niệm hệ thống sản xuất mới, mà ngày nay được gọi là

Hệ thống SX Toyota Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nước Nhật có được ngày hômnay xuất phát từ nền tảng sản xuất dựa trên hệ thống tuyệt với đó

Nền tảng của hệ thống sản xuất Toyota dựa trên khả năng duy trì liên tụcdòng sản phẩm trong các nhà máy nhằm thích ứng linh hoạt với các thay đổi củathị trường, chính là khái niệm JIT sau này Dư thừa tồn kho và lao động được hạn

Trang 13

chế tối đa, qua đó tăng năng suất và giảm chi phí Bên cạnh đó, mặc dù khả nănggiảm thiểu chi phí là yêu cầu hàng đầu của hệ thống, Toyota đã đưa ra 3 mục tiêuphụ nhằm đạt được mục tiêu chính yếu đó:

- Kiểm soát chất lượng: giúp cho hệ thống thích ứng hàng tháng hay thậmchí hàng ngày với sự thay đổi của thị trường về số lượng và độ đa dạng

- Bảo đảm chất lượng: đảm bảo mỗi quy trình chỉ tạo ra các đơn vị sản phẩmtốt cho các quy trình tiếp theo

- Tôn trọng con người: vì nguồn nhân lực phải chịu nhiều sức ép dưới nỗ lựcgiảm thiểu chi phí

Trong quy trình lắp ráp ô tô, các linh kiện phải được các quy trình khác cungcấp đúng lúc với đúng số lượng cần thiết Từ đó, tồn kho sẽ giảm đáng kể kéo theoviệc giảm diện tích kho hàng Kết quả là chi phí cho kho bãi được triệt tiêu, tăng tỷsuất hoàn vốn Tuy nhiên, trong một ngành công nghiệp phức tạp như ngành ô tô,việc áp dụng JIT vào tất cả các quy trình là điều rất kho khăn Toyota Motor đãthực hiện theo hướng ngược lại, tức là công nhân của quy trình sau sẽ tự động lấycác linh kiện cần thiết với số lượng cần thiết tại từng quy trình trước đó Và nhưvậy, những gì mà công nhân quy trình trước phải làm là sản xuất cho đủ số linhkiện đã được lấy đi

Sau Nhật, JIT được 2 chuyên gia TQM (Total Quality Manufacturing) làDeming và Juran phát triển ở Bắc Mỹ Từ đó mô hình JIT lan rộng trên khắp thếgiới JIT là một triết lý sản xuất với mục tiêu triệt tiêu tất cả các nguồn gây hao phí,bao gồm cả tồn kho không cần thiết và phế liệu sản xuất

1.2.2 Các đặc trưng của JIT

1.2.2.1 Mức độ sản xuất đều và cố định

Ngày đăng: 24/10/2013, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Một doanh nghiệp nếu biết trước tình hình tăng giá nguyên vật liệu hay hàng hóa, họ có thể dự trữ tồn kho để tiết kiệm chi phí - QUẢN TRỊ TỒN KHO VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO JUST IN TIME
t doanh nghiệp nếu biết trước tình hình tăng giá nguyên vật liệu hay hàng hóa, họ có thể dự trữ tồn kho để tiết kiệm chi phí (Trang 5)
Hình 1. 3- Mô hình “ Ngôi nhà sản xuất” của Toyota - QUẢN TRỊ TỒN KHO VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO JUST IN TIME
Hình 1. 3- Mô hình “ Ngôi nhà sản xuất” của Toyota (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w