1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình quản lý tức thời (jit just in time management) trong công tác tổ chức thi công công trình thủy lợi

119 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài việc để các văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng, thì cần phát huytính sáng tạo trong nhiều lĩnh vực của ngành như: áp dụng khoa học công nghệ, đổimới tư duy...Có thể nói

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan “Ứng dụng mô hình quản lí tức thời (JIT-Just in time management) trong công tác tổ chức thi công công trình thủy lợi ” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong Luận văn đạt được là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất cứ công trình nào.

GIẢ LUẬN VĂN

Trần Minh Nhật

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sỹ, tôi đã được sự giúp

đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của bạn bè, các thầy cô giáo với những kiến thức khoahọc, cũng như kiến thức xã hội

Tôi xin chân thành cảm ơn với lòng thành kính tới PGS.TS Đinh Tuấn Hải đã hết lòngchỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu, để tôi hoàn thànhđược luận văn này

Đồng thời, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo đã giảng dạy, hướng dẫn tôitrong suốt quá trình học tập và những đóng góp quý báu trong suốt quá trình làm Luậnvăn của mình

Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thiện luận văn với năng lực của mình, nhưng chắc chắnkhông thể tránh khỏi thiếu sót hoặc có phần nghiên cứu chưa sâu Rất mong các sựgóp ý và chỉ bảo của các thầy, cô

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Minh Nhật

ii

Trang 4

M C ỤC LỤCC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN .ii

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2

6 Kết quả dự kiến đạt được 3

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÀ MÔ HÌNH QUẢN LÍ TỨC THỜI JIT - JUST IN TIME MANAGEMENT 4

1.1 Giới thiệu chung về hoạt động xây dựng tại Việt Nam 4

1.1.1 Tổng quan về ngành xây dựng tại Việt Nam 4

1.1.2 Khái quát về xây dựng công trình thủy lợi 6

1.1.3 Khái niệm và nội dung của tổ chức thi công công trình 11

1.1.4 Đặc điểm thi công xây dựng công trình thủy lợi 13

1.2 Giới thiệu về mô hình quản lí tức thời JIT – Just in Time Management 15

1.2.1 Khái niệm 15

1.2.2 Nguồn gốc của mô hình quản lí tức thời JIT– Just in Time Management 17

1.2.3 Bản chất của mô hình quản lí tức thời JIT– Just in Time Management 21

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu và áp dụng trong nước và quốc tế về mô hình quản lí tức thời JIT – Just in Time Management 22

Trang 5

1.3.1 Công tác nghiên cứu về mô hình quản lí tức thời JIT – Just in Time

Management trên thế giới .22

1.3.2 Công tác nghiên cứu về các yếu tố cơ bản trong mô hình quản lí tức thời JIT – Just in Time Management .29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA MÔ HÌNH JIT - JUST IN TIME MANAGERMENT TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC THI CÔNG CÔNG TRÌNH 35

2.1 Cơ sở khoa học của mô hình JIT-Just in Time Managerment trong công tác tổ chức thi công trong xây dựng 35

2.1.1 Những yếu tố chính cấu thành khái niệm JIT – Just in Time Management 35

2.1.2 Các yếu tố dẫn đến việc nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi công khi áp dụng mô hình JIT 44

2.1.3 Điều kiện áp dụng mô hình JIT trong công tác tổ chức thi công công trình 46

2.2 Cơ sở thực tiễn của của mô hình JIT trong công tác tổ chức thi công trong xây dựng .48

2.3 Khả năng áp dụng mô hình JIT trong công tác tổ chức thi công xây dựng tại Việt Nam .52

2.3.1 Kanban –card - hệ thống kểm soát sản xuất Kaban trong JIT và hệ thống kéo (Pull system) 52

2.3.2 Tổ chức lao động và bố trí mặt bằng trong JIT 55

2.3.3 Quản lý Kaizen (cải tiến liên tục) 57

2.3.4 Quan hệ JIT và các mô hình khác .59

2.3.5 Khả năng áp dụng mô hình JIT trong công tác tổ chức thi công công trình thủy lợi .63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TỔ CHỨC THI CÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI KHI ÁP DỤNG MÔ HÌNH JIT 65

3.1 .Đánh giá chung về mô hình quản lý tức thời .65

Trang 6

3.1.1 Những ưu điểm .65

Trang 7

3.2.3 Biện pháp áp dụng khái niệm hệ thống kéo trong mô hình JIT nhằm hợp lý hóa công tác cung ứng vật tư trên công trường 73

3.3 Đề xuất áp dụng khái niệm hệ thống kéo trong mô hình JIT nhằm cung ứng vữa

Bê tông cho công trường xây dựng 753.4 Đề xuất tổ chức thực hiện JIT trong thực tế 77

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1-1: Công trình hồ chứa nước Cửa Đạt 10

Hình 1-2: Khái niệm mô hình quản lí tức thời JIT 15

Hình 1-3 : Dây chuyền sản xuất của Toyota .24

Hình 2-1: Các yếu tố cơ bản trong mô hình JIT 37

Hình 2-2 : Hệ thống kéo 42

Hình 2-3 : Hệ thống kểm soát sản xuất Kaban trong JIT 52

Hình 2-4: Thẻ Kanban trong thực tế 53

Hình 2-5 : Hệ thống kéo (Pull system) trong JIT 53

Hình 2-6: Các bước cải tiến liên tục trong JIT 58

Hình 2-7: Mối quan hệ giữa JIT và MRP 59

Hình 2-8 : Hệ thống MRP 61

Hình 3-1 : Công tác cung ứng vật liệu trên công trường xây dựng .70

Hình 3-2 Áp dụng hệ thống "kéo" trong công tác cung ứng vật tư trên công trường xây dựng .72

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1-1: Báo cáo kết quả tình hình tài chính của tập đoàn Toyota năm 2006 24Bảng 1-2: Bảng tổng kết số liệu điều tra về các hãng xe ở Việt Nam 25Bảng 2-1 : So sánh nguyên tắc “kéo” và nguyên tắc “đẩy” 43

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian gần đây hội nhập quốc tế đang trở thành xu thế tất yếu không thể thiếutrong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và Việt Nam cũng không phải làngoại lệ Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta, vấn đề quantrọng nhất là chiến lược phát triển nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam cần phù hợp vớithông lệ Quốc tế

Ngành xây dựng ở nước ta là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân

vì vậy các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển ngành xây dựng đang rất đượcquan tâm

Thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành các văn bản và đi vào thực hiệncác luật có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý đầu tư và xây dựng ở Việt Namnhư Luật xây dựng 50 /2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014, Luật đầu tư67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014, Luật doanh nghiệp 68/2014/QH13 ngày

26 tháng 01 năm 2014 , Luật quy hoạch đô thị ngày 17 tháng 06 năm 2009, Luật đấuthầu 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013 , cùng với các Nghị định , Thông tư

và các văn bản hướng dẫn đã đóng góp hoàn thiện và khắc phục những hạn chế khithực hiện theo cơ chế cũ

Ngoài việc để các văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đúng, thì cần phát huytính sáng tạo trong nhiều lĩnh vực của ngành như: áp dụng khoa học công nghệ, đổimới tư duy Có thể nói, công tác tổ chức thi công công trình là yếu tố quan trọng giúptiến hành thi công công trình một cách nhịp nhàng, rút ngắn được thời gian thi công,nâng cao năng suất thi công, giúp làm giảm giá thành công trình Tối ưu hóa đượccông tác tổ chức thi công công trình sẽ giúp chúng ta giám sự lãng phí, không chỉ làcông sức, mà còn là những khoản đầu tư tài chính và các hoạt động khác chỉ làm tăngchi phí công trình mà không mang lại hiệu quả

Với tinh thần trên, đặt ra trong thực tiễn và nhận thức được tầm quan trọng của việc tối

ưu hóa công tác tổ chức thi công, học viên lựa chọn đề tài :“Ứng dụng mô hình quản lí tức thời (JIT-Just in time management) trong công tác tổ chức thi công công trình thủy

Trang 12

2 Mục đích của đề tài

a Phân tích và đánh giá thực trạng công tác tổ chức thi công trong thi công xây dựngcông trình thủy lợi bằng việc vận dụng lý thuyết về tổ chức thi công vào trong quátrình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình

b Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức thi công trong quátrình thi công xây dựng các công trình thủy lợi

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu về các dự án xây dựng công trình thủy lợi ở Việt Nam để từ đó:

- Hệ thống hóa một số vấn đề tổ chức thi công trên các công trường thi công xâydựng công trình

- Quan điểm lý luận về áp dụng mô hình quản lí tức thời (JIT-Just in timemanagement) trong công tác tổ chức thi công công trình thủy lợi

- Đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi công trong thi công cáccông trình xây dựng nước nhà để có thể áp dụng vào thực tiễn với mục đích đóng gópthiết thực cho quá trình thi công công trình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình tổ chức thi công trên các công trườngthi công công trình thủy lợi, các vấn đề xâu chuỗi trong quá trình tổ chức thi côngcũng như nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức thi công trên các công trường xâydựng công trình thủy lợi ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các dự án đầu tư xây dựng thủy lợi điển hình đangthực hiện tại Việt Nam Phân tích tổng hợp, đánh giá mô hình quản lí tức thời vàocông tác tổ chức thi công khi thực hiện dự án, biện pháp nhằm tối ưu hóa công tác tổchức thi công công trình

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Tiếp cận các Nghị định, Thông tư, Luật xây dựng của nhà nước

Trang 13

- Tiếp cận các thông tin dự án, thông tin về công trường,

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp điều tra, thu thập và xử lý thông tin liên quan

Trang 14

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÀ MÔ HÌNH QUẢN LÍ TỨC THỜI JIT - JUST IN TIME MANAGEMENT

1.1 Giới thiệu chung về hoạt động xây dựng tại Việt Nam.

1.1.1 Tổng quan về ngành xây dựng tại Việt

Nam.

Trên thế giới, ngành xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là bộ phậnkhông thể thiếu của nền kinh tế quốc dân Ở nhiều nước trên thế giới, trong bảng xếphạng các ngành tạo nguồn thu chủ yếu và sử dụng nhiều lao động của nền kinh tế taluôn thấy có tên ngành xây dựng

Ở Việt Nam cũng vậy Những số liệu thống kê chính thức trong nhiều năm đã chophép chúng ta cùng hình dung ra các nét cơ bản nhất của ngành xây dựng

Theo “ Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến ngành xây dựng này 15/1/2016”

- Giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2015: [1]

+ Theo giá hiện hành: đạt khoảng 974,4 nghìn tỷ đồng (tăng 11,4% so với năm 2014;tăng 75,7% so với năm 2010);

+ Tính theo giá so sánh 2010: đạt khoảng 777,5 nghìn tỷ đồng (tăng 11,2% sovới năm 2014; tăng 40,2% so với năm 2010)

- Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 35,7% (tăng 1,2% so với năm 2014 và tăng5,2% so với năm 2010)

- Tỷ lệ phủ kín quy hoạch: Quy hoạch chung đạt 100%, (tăng 7% so với năm 2010),quy hoạch phân khu đạt 72% (tăng 2% so với năm 2014; tăng 27% so với năm 2010),quy hoạch chi tiết 1/500 đạt khoảng 33% (tăng khoảng 3% so với năm 2014, tăng 13%

so với năm 2010), quy hoạch xây dựng nông thôn đạt 98,2% (tăng 3,3% so với năm2014; tăng 71,8% so với năm 2010);

Trang 15

nội địa khoảng 56,5 triệu tấn (tăng 11,1% so với 2014), xuất khẩu khoảng 16,3 triệutấn (giảm 17,3% so với 2014)

Ngành xây dựng đã huy động mọi nguồn vốn cho việc đầu tư phát triển các khu đô thịmới nhằm tạo bước đột phá trong việc giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở cho nhândân đô thị Số lượng các dự án nhà ở đô thị tăng nhanh với hơn 1500 dự án được triểnkhai, Hiện cả nước có khoảng hơn 890 triệu m2 nhà ở trong đó đô thị có khoảng 260triệu m2, bình quân mỗi năm tăng thêm 58 triệu m2 trong những năm gần đây Côngnghiệp vật liệu xây dựng cũng đang hướng mạnh tới sản xuất các sản phẩm có chấtlượng và hàm lượng khoa học công nghệ cao thay thế các sản phẩm nhập khẩu và tăngxuất khẩu Tốc độ tăng trưởng của ngành vật liệu xây dựng đạt 17%/năm, cao hơn tốc

độ tăng trưởng chung của các ngành công nghiệp trên cả nước Nhiều sản phẩm cóchất lượng cao như xi măng, gạch ceramic, granit nhân tạo, sứ vệ sinh, kính xây dựng

đã phần lớn chiếm lĩnh thị trường xây dựng trong nước và được xuất khẩu tới hơn 100nước trên thế giới

Bằng nỗ lực tiếp cận công nghệ mới và nâng cao chất lượn nguồn nhân lực, các doanhnghiệp xây dựng Việt Nam đã tự đảm đương hoặc nhận thầu hầu hết các công trìnhquan trọng của quốc gia, nhiều công trình của các dự án đầu tư nước ngoài tại ViệtNam hoặc của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài Có thể kể đến các công trình lớn nhưthủy điện Sơn La, nhà máy lọc dàu Dung Quất, dự án nhiệt điện Cà Mau, thủy điệnBuôn Lốp, cầu Thủ Thiêm

Cùng với đó là việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng ban hànhcác văn bản pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngành Trong nhữngnăm gần đây Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ đã thông qua hàng loạt nhữngLuật , Nghị định, Nghị quyết, Thông tư liên quan đến các vấn đề liên quan đến ngànhxây dựng như: Luật xây dựng năm 2014, Luật đấu thầu 2013, Luật đất đai 2013, Nghịđịnh số 32/2015/NĐ-CP về quản lí chi phí đầu tư xây dựng, Thông tư số 01/2015/TT-BXD về hướng dẫn xây dựng đơn giá trong quản lí chi phí đầu tư xây dựng Các vănbản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách được ban hành với những quan điểm, tư

Trang 16

dân và xã hội đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao, từng bước đi vào cuộc sống và pháthuy tác dụng, góp phần tích cực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước các lĩnhvực thuộc ngành xây dựng.

1.1.2 Khái quát về xây dựng công trình thủy lợi.

Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học côngnghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường,phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Ngoài ra, thủy lợi còn có tác dụng chống lại sự cốkết đất Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thốngnày có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới đất của một khuvực cụ thể

Công trình thủy lợi là các công trình được xây dựng cho các mục đích sử dụng nguồnnước, phòng chống thủy tai Đặc điểm để phân biệt công trình thủy lợi và các côngtrình xây dựng khác là chịu sự tác động trực tiếp của nước dưới các hình thức khácnhau ( tác động cơ học và các tác động hóa lí sinh học )

Các điều tra khảo cổ học đã xác định có công trình thủy lợi ở L ư ỡng Hà và Ai Cập vào khoảng thi ê n niên k ỷ 6 TCN, lúa mạch được trồng ở các khu vực có lượng mưa không

Trang 17

TCN), người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các hồ tự nhiên của đảoốc Fa i y u m l àm hồ

Trang 18

chứa để cung cấp nước trong mùa khô, vì nước hồ này dâng lên trong mùa lũ hàngnăm của s ô ng Nin.

Các công trình thủy lợi được xây dựng ở Ba Tư cổ đại vào khoảng năm 800 TCN, làmột trong số những phương pháp thủy lợi cổ nhất từng được biết đến mà ngày nay vẫncòn sử dụng Ngày nay chúng được tìm thấy ở châu Á, Trung Đông và Bắc Phi Hệthống nào bao gồm mạng lưới giống như giếng đứng và các ống dẫn hơi nghiênghướng vào mặt của các vách đá và các đồi dốc để khai thác nước ngầm Noria, mộtguồng nước được gắn các bình bằng đất sét xung quanh được vận hành bởi năng lượngcủa dòng nước, lần đầu tiên được đưa vào sử dụng trong thời gian này bởi nhữngngười La Mã đến định cư ở Bắc Phi Vào năm 150 TCN, các bình được lắp các vancho phép nước chảy vào êm hơn khi chúng chịu tác động của lực nước

Các công trình thủy lợi của S r i La n ka cổ đại sớm nhất được định tuổi vào khoảng 300TCN vào thời vua Pa n dukabh a y a và tiếp tục phát triển liên tục đến 1000 năm sau đó,

là một trong những hệ thống thủy lợi phức tạp nhất trong thế giới cổ đại Ng ư ời Sinhal

là những người đầu tiên xây các bể chứa để trữ nước Do những ưu thế về kỹ thuật của

họ trong lĩnh vực này, họ thường được gọi là 'bậc thầy về thủy lợi' Hầu hết các hệthống thủy lợi này vẫn tồn tại mà không bị phá hủy cho đến ngày nay ở Anurad h apura

và Polo n naruwa do những kỹ thuật tiên tiến và chính xác của họ Hệ thống này đãđược hồi phục rộng rãi và mở rộng vào thời vua Parakr a m a Bahu ( 1153 – 1186 TCN)

Các kỹ sư th ủ y l ự c đ ầu tiên của u ngTr Q uốc là Tôn Thúc Ngao (t hế kỷ 6 TCN) vàothời Xuân Thu và â y MônT Báo ( thế kỷ 5 TCN) vào thời Chiến Q uốc, cả hai đã xâydựng các dự án thủy lợi lớn Ở vùng Tứ X u y ê n thuộc n ư ớc Tần, hệ t hống t h ủ y l ợi Đ ô Giang Y ển đ ược xây dựng vào năm 256 TCN để tưới cho một vùng nông nghiệp rộnglớn mà ngày nay vẫn còn được sử dụng để cung cấp nước Vào thế kỷ 2, dưới thời nhàHán, người Trung Quốc cũng sử dụng b ơ m ch u y ề n để đưa nước từ thấp lên cao.Chúng được vận hành bởi bàn chân có bàn đạp với các g u ồng n ư ớc hoặc bằng sức kéocủa trâu, bò Nước được dùng cho các cô n g trình công cộng c ung cấp nước cho cáckhu dân cư đô thị và các khu vườn của cung điện, nhưng hầu hết được dẫn vào các

Trang 19

Máy đo mưa đầu tiên trên thế giới ở Triều Tiên là uryanggye (tiếng Tri ề u Tiên: 우 우 우 ), được phát hiện vào năm 1441 Người phát minh là J a ng Yeong-sil, một kỹ

sư Triều Tiên vào thời nhà Triều Tiên, th eo chỉ vụ của vua Tông NóThế được lắp đặttrong các bồn chứa như là một phần của hệ thống thủy lợi trên toàn quốc để đo và thuthập lượng mưa phục vụ cho nông nghiệp Với công cụ này, các nhà quy hoạch vànông dân có thể có được nhiều thông tin hơn trong công việc của mình

Qua thời gian, các hệ thống công trình thủy lợi ngày càng được phát triển cả về quy

mô lẫn độ tinh vi, thậm chí nhiều công trình tồn tại qua nhiều thế kỷ mà đến nay vẫncòn giá trị sử dụng Tiêu biểu có thể kể đến :

+ Công trình thủy lợi Đô Giang Yển tại Trung Quốc, công trình này được xây dựngvào năm 256 TCN để tưới cho một vùng nông nghiệp rộng lớn mà đến nay vẫn cònđược sử dụng để cấp nước tưới

+ Đập Tam Hiệp tại Trung Quốc – đây là nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới vớicông suất 22.000 MW, đập cao 181m và hồ chứa dài 610km

+ Công trình thủy điện Itaipu nằm tại biên giới Brazil và Paragway với công suất phátđiện 14.000 MW , dài 7.235m

+ Công trình Guri thuộc Venezuela có công suất phát điện 10.235 MW, dài 7.426m vàcao 126m

+ Công trình Tacurui tại Brazil – đây là công trình bê tông trọng lực có đập chính cao78m, dài 6,9 Km và tổng chiều dài lên đến 12.515m

Ở Việt nam năm 1945, đất nước vừa độc lập, trước muôn vàn khó khăn, Chính phủ đãban hành các sắc lệnh về bảo vệ đê điều, hộ đê phòng lụt; bảo vệ quản lý hệ thốngnông giang, mở rộng diện tích tưới Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

“Tất cả cho tiền tuyến” thủy lợi được coi là biện pháp hàng đầu để bảo vệ và phát triểnsản xuất nông nghiệp Từ năm 1952, thực dân Pháp đã phá hoại các công trình thủy

Trang 20

thủy lợi Đồng Cam… đứng trước thách thức, nhân dân ta kiên trì làm thủy lợi nhỏ,khôi phục dần những công trình bị phá hoại, góp phần vào chiến thắng năm 1954.

Miền Bắc được giải phóng, thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong phục hồi, phát triểnkinh tế, làm hậu phương cho kháng chiến miền Nam Phục hồi các công trình lớn bị hưhỏng, phát triển mạnh tiểu thủy nông, tăng cường củng cố đê điều, như: Khai thôngcống Liên Mạc, xây lại cống Trung Lương, khởi công xây dựng thủy điện Thác Bà,Bàn Thạch, các hồ Đại Lải, Suối Hai, trạm bơm Trịnh Xá, Đan Hoài, Nam Nghệ An,khởi công xây dựng hệ thống Bắc Hưng Hải, Ngũ Huyện Khê Đến năm 1957, vụChiêm tưới 603.816 ha, vụ Mùa 685.512 ha Năm 1959 xúc tiến kế hoạch trị thủy vàkhai thác sông Hồng Giai đoạn 1961 - 1975, tập trung hoàn chỉnh thủy nông, quyhoạch bậc thang các lưu vực sông Nhiều công trình thủy lợi (CTTL), hệ thống côngtrình thủy lợi (HTCTTL) lớn được tập trung đầu tư giai đoạn này như: Hồ Núi Cốc,các cống Long Tửu, Phủ Lý, Neo, Bá Thủy, trạm bơm Như Quỳnh, La Khê, Nam sông

Mã, Cốc Thành, Cổ Đam, Hữu Bị, hệ thống thủy lợi Nậm Rốm, các khu chậm lũ, phân

lũ Tam Nông - Thanh Thủy, khu Vân Cốc, cải tạo Đập Đáy, khởi công hồ Kẻ Gỗ.Năm 1970, các công trình Đồng Mô - Ngải Sơn, các bậc thang sông Lô, sông Đà cũngđược triển khai nghiên cứu

Trong khoảng 10 năm trở lại đây (2005 - 2015), nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước,

sự đóng góp công sức, tiền bạc của nhân dân trong suốt nhiều thập kỷ qua, Việt Nam

là một trong số ít các quốc gia trong khu vực có hệ thống thủy lợi tương đổi hoànchỉnh phục vụ tốt SX nông nghiệp

Theo tổng hợp của Tổng cục Thủy lợi, hiện nay cả nước hiện có 6.648 hồ chứa cácloại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênhmương, 25.958 km đê các loại Trong đó, có 904 hệ thống thủy lợi quy mô vừa và lớn,phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên Công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng thúcđẩy phát triển KT-XH, nhất là phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái

Ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ, đầu tư nhiều HTCTTL lớn phục vụ đa mục tiêu, như các

Trang 21

Điểm, cải tạo hệ thống cấp nước sông Tích, nâng cấp các hệ thống thủy lợi Bắc Nam

Hà, Bắc Hưng Hải, Bắc Nghệ An, Bắc Đuống, Nam Thái bình, hệ thống công trìnhsông Đáy… Đầu tư xây dựng nhiều trạm bơm tiêu lớn, một số công trình tiêu biểunhư: Hệ thống công trình đầu mối thủy lợi Cửa Đạt có chiều cao 119m được thiết kế,thi công theo công nghệ đập đá đổ bê tông bản mặt, hồ có dung tích 1,45 tỷ m3 vớinhiệm vụ giảm lũ cho hạ du, tưới 87.000 ha, tạo nguồn nước sinh hoạt cho 2,5 triệudân, cấp nước với lưu lượng 8 m3/s cho sản xuất công nghiệp, phát điện với công suấtlắp máy 97 MW; hồ Tả Trạch phục vụ chống lũ cho Thành phố Huế, cấp nước sinhhoạt, công nghiệp, tưới, đẩy mặn, cải thiện môi trường, nuôi trồng thủy sản, phát điện

Hình 1-1: Công trình hồ chứa nước Cửa Đạt.[2]

Việc đầu tư phát triển thủy lợi đã mang lại nhiều hiệu quả to lớn cho đất nước ta như :Tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác, năng suất,sản lượng lúa để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu Các công trình thủy lợi đãgóp phần, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước như vùng Bắc Nam

Hà, Nam Yên Dũng; vùng Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười Phát triển thuỷ lợi

đã tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi nhưlúa, ngô ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, cao su và cà phê ởmiền Đông nam Bộ, Tây Nguyên, chè ở Trung du và miền núi Bắc Bộ Nuôi trồngthủy sản phát triển bền vững tại những vùng có hệ thống thủy lợi bảo đảm nguồn cấp

Trang 22

Phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai (lũ lụt, úng, hạn, sạt lở ), bảo vệ tínhmạng, sản xuất, cơ sở hạ tầng, hạn chế dịch bệnh:Hệ thống đê biển ở Bắc Bộ và BắcTrung Bộ có thể ngăn mặn và triều tần suất 10% gặp bão cấp 9 Hệ thống đê Trung Bộ,

bờ bao đồng bằng Sông Cửu Long chống được lũ sớm và lũ tiểu mãn để bảo vệ sảnxuất vụ Hè Thu và Đông Xuân Các công trình hồ chứa lớn và vừa ở thượng du đãtừng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du Các côngtrình chống lũ ở ĐBSH vẫn được duy tu, củng cố.Hàng năm các công trình thuỷ lợibảo đảm cấp 5-6

tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác:Cấp nướcsinh hoạt cho đồng bằng, trung du miền núi Đến nay khoảng 70-75% số dân nôngthôn đã được cấp nước hợp vệ sinh với mức cấp 60 l/ngày đêm.Cấp nước cho các khucông nghiệp, các làng nghề, bến cảng.Các hồ thuỷ lợi đã trở thành các điểm du lịchhấp dẫn du khách trong nước và quốc tế như: Đại Lải, Đồng Mô - Ngải Sơn, hồ XuânHương, Dầu Tiếng

Góp phần lớn vào xây dựng nông thôn mới: thủy lợi là biện pháp hết sức hiệu quả đảmbảo an toàn lương thực tại chỗ, ổn định xã hội, xoá đói giảm nghèo nhất là tại các vùngsâu, vùng xa, biên giới

Góp phần phát triển nguồn điện: hàng loạt công trình thuỷ điện vừa và nhỏ do ngànhThuỷ lợi đầu tư xây dựng Sơ đồ khai thác thuỷ năng trên các sông do ngành Thuỷ lợi

đề xuất trong quy hoạch đóng vai trò quan trọng để ngành Điện triển khai chuẩn bị đầu

tư, xây dựng nhanh và hiệu quả hơn

Góp phần cải tạo môi trường: các công trình thủy lợi đã góp phần làm tăng độ ẩm,điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước, phòngchống cháy rừng

Công trình thuỷ lợi kết hợp giao thông, quốc phòng, chỉnh trang đô thị, phát triển cơ

sở hạ tầng nông thôn; nhiều trạm bơm phục vụ nông nghiệp góp phần đảm bảo tiêuthoát nước cho các đô thị và khu công nghiệp lớn

Trang 23

1.1.3 Khái niệm và nội dung của tổ chức thi công công trình

Trang 24

Tổ chức thi công là một môn khoa học nhằm mô phỏng các biện pháp kĩ thuật thi công

đã được nghiên cứu thành chương trình, thành mô hình theo dạng tổ chức và quản lí Giúp các chuyên gia xây dựng nắm vững các công việc cần tiến hành trước khi và khitriển khai các bản vẽ kiến trúc ,kết cấu, nền móng thành các công trình thật tại côngtrường Biết cách quản lí, nhân lực, vật lực, máy móc, tiền bạc theo từng giai đoạn thicông Biết cách giải quyết các vấn đề bất trắc thường xảy ra trên công trường để tiến

độ liên tục và cuối cùng là hoàn thành với công trình với chất lượng cao , giá thành hạ

và làm trong thời hạn quy định.[3]

Công tác tổ chức thi công xây dựng bao gồm : tổ chức xây lắp, tổ chức công ứng vậttư- kĩ thuật và vận tải cơ giới hoa xây lắp, tổ chức lao động, lập kế hoạch tác nghiệp,điều độ sản xuất và tổ chức kiểm tra chất lượng xây lắp

Nội dung tổ chức thi công nhằm giải quyết hai vấn đề chính:

- Phương pháp lập tiến độ thi công : tức là cách mô phỏng trình tự trước sau các côngviệc, mối quan hệ ràng buộc với các công việc với nhau, nhu cầu vật tư, nhân lực, máymóc để thi công Thời gian hoàn thành từng công việc và toàn bộ, cách cân đối sắp xêpthời gian sao cho tiến hành song song, kết hợp, bảo đảm kĩ thuật hợp lý, nhân lực máymóc điều hòa, năng suất lao động cao và hoàn thành tiến độ trong thời gian quy địnhvới giá thành hạ

- Thiết kế mặt bằng : nghĩa là nghiên cứu các nguyên tắc lập tổng bình đồ công trình ,các cách vận chuyển và đường xá công trường, các dạng cung ứng vật liệu, và các khobãi công trường

Tổng mặt bằng công trường là mặt bằng thi công xây dựng, trong đó ngoài những nhàcửa công trình vĩnh cửu còn phải trình bày nhà cửa, lán trại, các kho bãi, trạm điệnnước, cống rãnh, đường xá tạm, các xưởng gia công, trạm thi công máy móc thi công,trạm cơ khí sửa chữa, và những công trình tạm khác phục vụ thi công và sinh hoạt củacông nhân

Trang 25

Cung ứng và kho bãi công trường là nghiên cứu việc đảm bảo cung cấp vật liệu xâydựng, các thiết bị đúng chất lượng, đủ số lượng và kịp thời hạn, nghiên cứu việc cấtchứa, bảo quản và phát hàng cho các đơn vị thi công.

1.1.4 Đặc điểm thi công xây dựng công trình thủy lợi.

Công trình thuỷ lợi, thuỷ điện được xây dựng trong điều kiện tự nhiên, điều kiện kỹthuật phức tạp, sản phẩm của nó mang tính chất đơn chiếc, được xây dựng theo các chỉtiêu, tiêu chí bắt buộc với kinh phí được ấn định (giá trúng thầu), đòi hỏi chất lượng vàthời gian thi công nghiêm ngặt Cho nên mục tiêu được đặt ra cho các nhà kinh doanhxây dựng phải thực hiện đó là chất lượng tốt, giá thành hạ, tiến độ đạt, an toàn cao.Trong bốn mục tiêu trên đứng về góc độ kinh doanh thì mục tiêu giảm chi phí xâydựng và chất lượng sản phẩm là quan trọng nhất, nó mang ý nghĩa phát triển bềnvững, đồng thời cũng là mục tiêu sống còn của đơn vị kinh doanh Cả bốn mục tiêuđều liên quan với nhau và là cơ sở tạo nên thương hiệu của đơn vị thi công và hiệuquả đầu tư khi xây dựng các công trình Thuỷ lợi, thuỷ điện

Để thực hiện các mục tiêu trên, công tác tổ chức, quản lý trên công trường đóng vaitrò rất quan trọng bởi vì nó có các đặc điểm sau:

- Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc,được xây dựng theo đơn đặt hàng (theo đồ

án thiết kế) của chủ đầu tư

- Điều kiện tự nhiên phức tạp, luôn luôn chi phối tác động đến quá trình thi công côngtrình Công tác thi công công trình thuỷlợi tiến hành trên lòng sông suối, địa hình chậthẹp, mấp mô, địa chất xấu và chịu ảnh hưởng của nước mưa, ngầm, thấm do đó thicông rất khó khăn

- Quy mô công trình lớn, khối lượng nhiều, điều kiện kỹ thuật yêu cầu cao và phứctạp, đôi khi lại phân tán trên hiện trường rộng, kinh phí đầu tư lớn

Ví dụ: CTTL Phú Ninh công tác đất riêng công trình đập đất đầu mối V = 2,5 106 m3

Trang 26

CTTL Sông Đà đập đất đổ : 27 106 m3

Trang 27

CTTL Âu tàu Sông Đà : 2,2 106 m3 bêtông

-Thời gian xây dựng công trình kéo dài nhiều năm, nhưng phải đảm bảo các điều kiệnhoạt động bình thường ở hạ du như: giao thông thuỷ, cấp nước cho nông nghiệp, chosinh hoạt…Đặc biệt phải đảm bảo an toàn trong công tác phòng chống lũ

- Phần lớn các công trình nằm ở vùng xa đô thị, xa khu dân cư, nên điều kiện sinhhoạt trên công trường gặp nhiều khó khăn

-Trong một công trường thường có nhiều đơn vị tham gia, nhiều lĩnh vực chuyênmôn khác nhau

- Công trường thường diễn ra trên phạm vi rộng, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiềungười dân, nên mang tính chất xã hội cao

Tính chất của việc thi công công trình thủy lợi:

-Tính phức tạp : Thi công trong điều kiện khó khăn Liên quan đến nhiều bộ môn khoahọc kĩ thuật, nhiều ngành kinh tế quốc dân, nhiều địa phương , nhiều người Phải đảmbảo lợi dụng tổng hợp và tiến hành thi công trên khô

-Tính khẩn trương : Do chất lượng đòi hỏi cao, khối lượng lớn , thi công điều kiện khókhăn, trong tình trạng thiếu vật tư trang thiết bị, và yêu cầu đưa công trình vào sử dụngsớm do đó phải khẩn trương

-Tính khoa học : Trong thiết kế phải đảm bảo vững chắc, thỏa mãn các yêu cầu củanhiệm vụ thiết kế, tiện lợi cho quản lí khai thác Trong thi công phải sử dụng các loạivật tư máy móc nhân lực và phải xử lí các vấn đề kĩ thuật

-Tính quần chúng : Công tác thi công công trình thủy lợi yêu cầu khối lượng lớn phạm

vi xây dựng rộng nên phải sử dụng lượng lao động lớn vì vậy Đảng đưa ra chủ trương:

“ Phải kết hợp chặt chẽ giữa công trình hạng nhỏ do nhân dân làm với công trình hạngvừa và hạng lớn do nhà nước hoặc nhân dân cùng làm’ Do vậy công tác thi công

Trang 28

Tất cả những đặc điểm và tính chất trên đòi hỏi phải có những giải pháp hợp lý trongcông tác tổ chức, quản lý để đảm bảo chất lượng, giảm giá thành xây dựng và thựchiện đúng tiến độ đặt ra khi thi công các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện.

1.2 Giới thiệu về mô hình quản lí tức thời JIT – Just in Time Management

1.2.1 Khái niệm

Just-In-Time (JIT) được gói gọn trong một câu: "Đúng sản phẩm với đúng số lượngtại đúng nơi vào đúng thời điểm" Trong sản xuất hay dịch vụ, mỗi công đoạn của quytrình sản xuất ra một số lượng đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theocần tới Các quy trình không tạo ra giá trị gia tăng phải bỏ Điều này cũng đúng vớigiai đoạn cuối cùng của quy trình sản xuất, tức là hệ thống chỉ sản xuất ra những cái

mà khách hàng muốn.Nói cách khác, JIT là hệ thống sản xuất trong đó các luồngnguyên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm truyền vận trong quá trình sản xuất và phânphối được lập kế hoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiệnngay khi quy trình hiện thời chấm dứt Qua đó, không có hạng mục nào rơi vào tìnhtrạng để không, chờ xử lý, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vàovận hành [4]

Hình 1-2: Khái niệm mô hình quản lí tức thời JIT.

Trang 29

Just-in-Time (JIT) Còn được gọi là Sản xuất "Pull", sản xuất Pull chủ `của các côngđoạn sau, nên mỗi phân xưởng chỉ sản xuất theo yêu cầu của công đoạn kế tiếp.

JIT là một bộ nguyên tắc, các công cụ kĩ thuật cho phép một công ty sản xuất và phânphối sản phẩm theo từng lô nhỏ, trong thời gian ngắn, đáp ứng nhu cầu cụ thể củakhách hàng Nói một các đơn giản just in time là giao đúng sản phẩm, đúng thời gianvới đúng số lượng thế mạnh của JIT là nó cho đáp ứng được việc vận chuyển hànghàng ngày theo yêu cầu của khách hàng, chính là những gì mà Toyota cần Thepreceding process must always do what the subsequent process says (công đoạn trướcluôn luôn phải thực hiện những gì mà công đoạn sau yêu cầu) đó chính là thuật ngữ có

ý nghĩa nhất trong Just in time [5]

JIT chính là công cụ mà doanh nghiệp sử dụng nhằm cung cấp cho khách hàng ở cuốiquy trình đúng cái mà họ cần, đúng thời điểm và đúng số lượng mà họ mong muốn

bổ xung nguyên vật liệu phụ theo yêu cầu chính là nguyên tắc chủ đạo trong JIT(Jeffrey K.Liker)

Như đã xem xét ở trên đã có nhiều định nghĩa, trên nhiều cách tiếp cận khác nhaunhưng chúng đều có đặc điểm chung: Just in time (vừa đúng lúc) : nó như là một chiết

lý trong sản xuất dựa trên nền tảng cốt lõi loại bỏ lãng phí và cải tiến liên tục, nâng caonăng suất.Nó cũng được coi như một phương pháp tiếp cận với mục tiêu của sản xuất

là đúng chủng loại đúng nơi và đúng lúc (just in time: kịp thời) lãng phí chính gây rabơỉ bất cứ hoạt động nào làm tăng thêm chi phí mà không tạo ra giá trị Ví dụ sự dichuyển không cần thiết của nguyên vật liệu, tông kho quá mức, hay áp dụng nhữngphương thức sản xuất sai lầm taọ ra các sản phẩm phải sửa chữa lại sau này Jit (cũngđược hiểu như là sản xuất tinh gọn hay, phương pháp sản xuất không tồn kho) làmtăng lợi nhuận và tái đầu tư bằng cách giảm thiểu mức tồn kho, (tăng số chu kì tồn kholên), giảm thiểu sự biến đổi và nâng cao chất lượng sản phẩm giảm thời giam chếttrong sản xuất và phân phối và giảm các chi phí khác (ví dụ các chi phí có liên quanđến vận hành và hỏng hóc các thiết bị) Trong hệ thống JIT sử dụng quá mức khảnăng được sử dụng thay vì tồn kho quá mức để đối mặt với các vấn đề có thể xảy ra

Trang 30

JIT cũng được nghiên cứu để áp dụng vào ngành xây dựng sau khi đã áp dụng kháthành công với các ngành sản xuất Một số ví dụ của việc áp dụng thành công kháiniệm JIT là sử dụng bê tông tươi hay là thi công lắp ghép…

1.2.2 Nguồn gốc của mô hình quản lí tức thời JIT– Just in Time Management.

JIT bắt nguồn từ Nhật Bản Sự ra đời của nó giống như sự nhận ra một kĩ thuật, mộtchiếc lý, một phương thức tiến hành công việc nó gắn với sự hoạt động và phát triểncủa tập đoàn Toyota ban đầu JIT được biết đến như là hệ thống TPS (ToyotaProduction System), cần nhấn mạnh ở đây rằng – JIT là một phương thức nhìn nhậnmột hệ thống sản xuất, nó có những đặc trưng khác biệt với những quan niệm đã tồntại trong những mô hình sản xuất truyền thống trước nó

Trong tập đoàn Toyota Taiichi Ohno được ví như một người cha người đã tạo raphương thức hoạt động của tập đoàn nổi tiếng này Giai đoạn đầu tiên của hệ thống sảnxuất này được bắt nguồn từ chính hoàn cảnh lịch sử của nó, những hoàn cảnh màToyota phải đỗi mặt Sau đại chiến thế giới thứ II chủ tịch của Toyota nói rằng: “ Phảiđuổi kịp Mỹ trong vòng 3 năm hoặc nền công nghiệp ôtô của chúng ta sẽ bị giết chết.” Trong thời gian đó một công nhân trong doanh nghiệp ôtô Mỹ làm việc bằng 9 côngnhân Nhật Taiichi Ohno đã tiến hành kiểm nghiệm nền công nghiệp Mỹ và ông pháthiện ra rằng các nhà sản xuất Mỹ có được các lợi thế nhờ qui mô -một quan điểmtruyền thống khi cho rằng sẽ là tốt nhất nếu như sản xuất theo lô lớn (ví dụ như cáckiểu xe cụ thể, các bộ phận cấu thành cụ thể.) trước khi chuyển đến những sản phẩmkhác, những thành phần khác Và họ cũng giành lợi thế kinh tế nhờ qui mô trong đặthàng và lưu kho nguyên vật liệu, phụ tùng cần thiết cho dây truyền sản xuất xe ôtô

Ohno đã cảm thấy rằng những phương thức như vậy sẽ chẳng thể vận dụng tốt trên đấtNhật –nhu cầu trong nước thường thấp hơn, và các đoạn thị trường trong nứơc cần một

hệ thống sản xuất với quy mô nhỏ hơn nhưng phải đa dạng về chủng loại

Trang 31

Theo như hệ thống sản xuất mà Ohno thiết lập dựa trên nguyên tắc loại bỏ lãng phí.Trong hệ thống nguồn lãng phí cuả mình Ohno loại bỏ chúng như sau:

Trang 32

- Just in time : vật liệu, phụ tùng chỉ xuất hiện trong quá trình sản xuất chỉ khi cần.

- Autonomation: (đánh vần từ này một cách chính xác –có thể bạn chưa gặp từ nàytrước đâu) tự động hoá hệ thống sản xuất vì vậy bao gồm :sự giám sát của con ngườichỉ cần đến khi mà một khuyết điểm được phát hiện một cách tự động và rồi thì hệthống sẽ ngừng lại, quá trình sẽ không được tiếp tục nếu như vấn đề chưa được giảiquyết

Trong hệ thống tồn kho (inventory-stock) được đánh giá như một sự lãng phí khôngcần thiết cho và điều này cũng tương tự như việc phải đối mặt với sai lỗi

Ohno cho rằng lãng phí bao gồm lãng phí thời gian, nguồn lực, và nguyên vật liệu.Ông định rõ các nguồn lực lãng phí mà ông cho rằng phải được loại bỏ đó là:

- Sản xuất quá mức: sản xuất quá số lượng nhu cầu cần thiết

- Thời gian chờ: lãng phí gắn với thời gian mà một công nhân phải chờ đợi một côngnhân khác để chuyển đến cho mình thứ mà anh ấy muốn trong công việc của anh (ví

dụ như (rất thường xuất hiện trong các hệ thống sản xuất dây truyền liên tục)

- Vận chuyển không cần thiết

- Thời gian trễ : (thời gian quá trình) thời gian vận hành quá mức không cần thiết vậnhành trên một máy

- Tồn kho quá mức : lãng phí liên quan đến duy trì tồn kho

- Những sai lỗi

Trong khoảng thời gian mà giá bán ôtô được tính bằng giá thành cộng với lãi và kinhphí (chi phí quản lý và bán hàng) Tuy nhiên trên đất Nhật nhu cầu thấp điều này cónghĩa là các nhà sản xuất phải đối mặt với giá của đối thủ Chính vì thế mà làm thế nào

để một doanh nghiệp có thể tăng thêm lợi nhuận ? rõ ràng là phải giảm giá thành, giảm

Trang 33

chi phí Và như vậy hệ thống sản xuất Toyota tập chung chủ yếu vào việc giảm chiphí.

Trang 34

Với mục tiêu giảm thiểu chi phí của mình Toyota bắt đầu định mức- bình chuẩn hoá,loại bỏ sự không cân bằng trong luồng các khoản mục Có thể lấy ví dụ như nếu mộtkhách hàng yêu cầu 100 sản phẩm cần lắp ráp trong vòng 25 ngày làm việc của mộttháng sau đó thì 4 chiếc sẽ được lắp ráp mỗi ngày, và cứ 2h hoàn thành một chiếctrong 8h làm việc trong ngày Bình chuần hoá cũng được áp dụng cho luồng sản phẩmhoàn thành ra khỏi nhà máy và dòng nguyên vật liệu đầu vào nhà máy.

Toyota đã thayđổi cách bố trí các nhà máy sản xuất Đầu tiên tất cả các máy có cùngkích cỡ ví dụ như máy ép (presses) sẽ được bố trí cùng khu vực trong nhà máy Điềunày có nghĩa rằng các phụ tùng, nguyên vật liệu phải được vận chuyển lên xuống vàchúng cũng cần phải sử lý qua hàng loạt các máy móc khác Để loại bỏ lãng phí vậnchuyển từ máy này sang máy khác ta có thể gộp chúng lại với nhau khi đó thì các sảnphẩm dở dang, thiết bị, phụ tùng có thể di chuyển thông xuốt dễ dàng từ máy này sangmáy kia Điều này cũng có nghĩa là đội ngũ công nhân phải trở nên thành thạo hơnkhông phải chỉ trên một máy

Trong khi ngày nay chúng ta đang nghĩ rằng người Nhật có mối quan hệ hài hoà giữađội ngũ quản lý và công nhân lao động, họ cùng hợp táclàm việc với nhau vì mục tiêuchung Nhưng sự thật là trước đây giá trị này không tồn tại Trong giai đoạn hậuWW2, lấy ví dụ trong năm 1950 Nhật Bản lâm vào một cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn năm 1950 Toyota có một cuộc đình công năm 1950, năm 1953 nhà sản xuất Nissanphải trải qua một cuộc đình công của công nhân kéo dài trong 4 tháng phải đóng cửakhông cho công nhân vào sử dụng các hàng dào dây thép gai để ngăn chặn công nhânkhỏi nơi làm việc

Cuộc tranh cãi kết thúc bằng thông tin về công ty từ công đoàn, định dạng trước đóbằng các thành viên trong bộ phận kế toán của công ty Những công nhân tham giabiểu tình tham gia công đoàn mới này nhận được một khoản cho thời gian tham giađình công

Trang 35

Một sức mạnh tài chính đâỳ sáng tạo để dời khỏi công đoàn cũ trong suốt thời gian dàitranh chấp, một slogan của công đoàn mới này là “ những ai thực sự yêu quý côngđoàn này thì người đó yêu qúy công ty của họ.

Để giúp lực lượng lao động của mình có thể thích nghi với những đởi khác về môitrường làm việc sản xuất Ohno đã tổ chức một cuộc đua giữa các đội tương tự nhưnhau có sử dụng gậy truyền tay như người ta vẫn sử dụng nó trong đường chạy tiếpsức trong thể thao : đội nào biết kết hợp, khai thác sức mạnh tập thể độiđó sẽ giànhchiến thắng Và trong nội bộ doanh nghiệp sự sắp xếp lại này, công nhân sẽ đượckhuyến khích để tự họ suy nghĩ về chính họ như giống như những thành viên của mộtđội - truyền qua tay những thanh gậy (những bán thành phẩm) giữa các thành viên vớimục tiêu vươn tới vạch kết thúc một cách phù hợp nhất

Nếu một công nhân vẫn cờ (vắng mặt) và sẽ có người khác có thể giúp đỡ anh ấy, cóthể điều hành máy cho anh ta và kết quả cuối cùng của cả đội sẽ không bị ảnh hưởng

gì cả

Để có được phương thức kiểm soát sự sản xuất (luồng sản phẩm) trong môi trườngmới này Toyota sử dụng thẻ báo –kanban Tất cả sự chuỷển động sung quanh nhà máyđược kiểm soát bởi thẻ Kanban Thêm vào đó do Kanban có thể định lượng một cáchchính xác, không có sai lỗi nào có thể bỏ qua Như vậy có thể thấy được tầm quantrọng của tự động kiểm lỗi hệ thống phải phát hiện và nhấn mạnh những sai lỗi vì vậynhững vấn đề gây nên sai lỗi có thể được giải quyết

Ohno đã viết chỉ có Toyota là công ty duy nhất có thể nghiên cứu áp dụng Kanbantrong quy mô công ty vào những năm 1962 Mười năm sau đó họ lần đầu tiên họ bắttay cho ra đời hệ thống sản xuất mới của họ Mặc dầu vậy, rõ ràng rằng phương pháptiếp cận truyền thống về hệ thống sản xuất của Toyota có rất nhiều điều để học hỏisong nó bộc lộ nhiều nhược điểm.đây minh hoạ cho thời gian cần đuợc tiến hành thànhcông hệ thống JIT trong quy mô lớn Hơn thế nữa bạn có thể phản ánh thời gian quản

lý, những cố gắng, chi phí mà được dùng vào thi hành và phát triển hệ thống JIT của

Trang 36

Với sự ngưỡng mộ của thế giới phương Tây, Nhưng Jit chỉ thực sự tác động vào sảnxuất trong những thập niên 1970s và 1980Và thậm chí nó tồn tại dưới rất nhiều cái tênkhác nhau, ví dụ như : Hewlett Packard gọi nó với cái tên “ không tồn kho” (stocklessproduction) Những sự tiếp thu như vậy của nền công nghiệp phương Tây được dựatrên những phân tích chính thức được tiến hành trong các hệ thống sản xuất của NhậtBản Những cuốn sách viết về Jit do chính tác giả của chúng biên soạn về chi tiết sựphát triển của JIT được chỉ được lưu hành ở các nước phương tây từ những năm 80 trởlại đây.

Những tài liệu, các cuộc nghiên cứu các hội thảo có liên qua đên Just in time phát triểnnhanh về số lượng và chất lượng điều này cho thấy rằng mức độquan tâm của thế giớiđến JIT ngày càng cao

1.2.3 Bản chất của mô hình quản lí tức thời JIT– Just in Time

Management.

Bản chất của mô hình Just-In-Time (JIT) được gói gọn trong một câu: "đúng sản phẩmvới đúng số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm" Trong sản xuất hay dịch vụ, mỗicông đoạn của quy trình sản xuất ra một số lượng đúng bằng số lượng mà công đoạnsản xuất tiếp theo cần tới Các quy trình không tạo ra giá trị gia tăng phải bỏ Điều nàycũng đúng với giai đoạn cuối cùng của quy trình sản xuất, tức là hệ thống chỉ sản xuất

ra cái mà khách hàng muốn Nói cách khác, JIT là hệ thống sản xuất trong đó cácluồng nguyên vật liệu, hàng hoá và sản phẩm truyền vận trong quá trình sản xuất vàphân phối được lập kế hoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo có thể thựchiện ngay khi quy trình hiện thời chấm dứt Qua đó, không có hạng mục nào rơi vàotình trạng để không, chờ xử lý, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầuvào vận hành.[4]

JIT đang được áp dụng cho những quy trình sản xuất lập đi lập lại, nghĩa là sản xuấtlặp đi lặp lại cùng loại sản phẩm và thành phần cấu tạo nào đó Ví dụ như những dâychuyển sản xuất như xe hơi, trang thiết bị điện tử, dệt may, … Theo đó, các công việc

Trang 37

và các nguyên vật liệu có liên quan sẽ được nối kết với nhau trong một quy trình sảnxuất Điều này nghĩa là hệ thống JIT sẽ khác nhau tại các giai đoạn sản xuất khác

Trang 38

nhau Ngành công nghiệp sản xuất xe hơi là một ví dụ điển hình cho JIT: các nhà cungcấp lốp xe, các bộ phận động cơ và bảng táplô sẽ ứng dụng kỹ thuật JIT để phân phốisản phẩm của mình vào các giai đoạn khác nhau của quy trình sản xuất Với ngành xâydựng thì khái niệm JIT cũng đã được đưa vào áp dụng ở một số công đoạn nhất định,tuy rằng chưa phải là quá phổ biến.

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu và áp dụng trong nước và quốc tế về mô hình quản lí tức thời JIT – Just in Time Management

1.3.1 Công tác nghiên cứu về mô hình quản lí tức thời JIT – Just in Time Management trên thế giới.

1.3.1.1 Sự thành công của Toyota –TPS.

Cuối năm 50, nền kinh tế Nhật Bản gượng dậy từ đống tro tàn, người dân dành dụm đểmua ôtô riêng, những chiếc xe tiện dụng và giá cả hợp lý Chiếc xe đầu tiên củaToyota mang tên Toyota Publica họ đã tiến hành nghiên cứu và cho xuất sưởng xe mớiToyota Crow và Toyota Corolla Cuối năm 1960 mẫu mã những chiếc xe phong phúhơn nhiều : Toyota 2000GT thay cho hai mẫu xe trên

Năm 1966, Toyota Motor hợp tác với Hino, một nhà sản xuất xe hơi của Nhật Bản,năm 1967lại bắt tay với Daihatsu Motor và tạo ra những bước tiến mạnh mẽ hơn nữa

về công nghệ Từ thập niên 70 trở đi họ JIT xuất hiện trong các xưởng sản xuất củaToyota và sau đó phát triển thành Big JIT hay Lean Production thực sự là bước ngoặtcho tập đoàn này với sự ra đời của ba dòng xe mới Celia, Sprinter, và Carana Năm

1972 chiếc xe thứ 10 triệu được xuất sưởng Năm 1978 Tercel và Mark II ra đời đãchiếm được sự ủng hộ của người tiêu dùng vào những năm 1980 mẫu Creamy ra đời

Năm 1983 kí kết hợp tác với General Motor, cuộc xâm lấn thị trường Mỹ thực sự bắtđầu năm 1984 Toyota sản xuất những chiếc xe đầu tiên trên đất Mỹ tại NammyGergetown.năm 1986 chiếc ôtô thứ 50 triêụ được bán trên thị trường Năm 1988 đánhdấu một bước phát triển quan trọng của Toyota Corporation chiếc xe Lexus lịch lãm ra

Trang 39

chỉ những thương hiệu nổi tiếng đến từ Âu Mỹ mới đáp ứng được thị hiếu của những “ông chủ”

Năm 1999 chiếc xe thứ 100 triệu được sản xuất

Hiện nay trên thị trường có đến 45% xe hơi thương hiệu Toyota được sản xuất ngoàinước Nhật Bản Toyota đã xuất hiện ở mọi nơi trên khắp Châu lục, kể cả Châu Phi

Năm 2005, Theo số liệu điều tra thị trường Hoa Kỳ một đất nước được coi là cườngquốc công nghệ sản xuất ôtô, nhưng chơ trêu thay, người tiêu dùng lại thích nhữngchiếc ôtô “made in Japan” hơn, họ đặc biệt ưu ái với thương hiệu “Toyota” Tạp chíForbes đã công bố danh sách những chiếc xe hơi được giới danh nhân yêu thích nhất :Lexus Model RX của Toyota BMW của Đức, cũng trong năm này tạp chíConsumerReport trưng cầu ý kiến của hơn một triệu người dân Mỹ kết quả là 31 mẫu

xe được lựa chọn được cho là bền và tiện dụng nhất trong đó có tới 29 mẫu xe củaNhật, Toyota chiếm 15 mẫu cũng nói thêm, trong danh sách 42 mẫu“những chiếc xenhanh hỏng nhât” được bình chọn bời người tiêu dùng Mỹ thì có tới 22 xe từ Mỹ, 20

xe từ châu Âu, 4 mẫu xe từ Nhật.Những chiếc xe bền nhất phải kể đến Toyota Echo,Toyota Prius, …Toyota Land Cruiser là chiếc xe địa hình đựơc người Mỹ ưu chuộngnhất trong khi Toyota gặt hái được những thành công to lớn thì năm 2005, đầu 2006lại là thời điểm tồi tệ nhất của Ford Motor, tập đoàn ôtô hùng mạnh thứ 2 trên đất Mỹsau GM, Ford bắt buộc phải đóng cửa 5 nhà máy, giảm biên chế gần 7500 công nhân

Trong năm nay rất có thể Toyota sẽ vươn lên dành vị trí đứng đầu thị trường ôtô, vượtlên GM, theo những thông tin mới nhất GM cũng phải đóng một số nhà máy trongnước trong khi đó Toyota lại tăng số lượng các nhà máy của mình ở nước ngoài (LiênBang Nga, ) mua công ty Daihatsu, Hino Theo thông tin từ Reuters và Itar-Tass, 7tháng đầu năm 2006, thị phần của GM, Ford, Daimler Chrysler ở Mỹ mất khoảng54.4% cuối năm 2006 GM phải thu hẹp 8%

Trang 40

Cách đây không lâu, số liệu thống kê cho hay Toyota đã vượt quá đối thủ cạnh tranhcủa mình là Ford, giới chuyên môn đánh giá là năm nay Toyota hoàn toàn có khả năngbắt kịp và vượt GM.

Ngày đăng: 30/12/2019, 11:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8] Vũ Thị Khuyên. “Ứng dụng mô hình quản lý hàng tồn kho JIT vào các doanh nghiệp dệt may Việt Nam”. Luận văn thạc sĩ. Học viện Ngân Hàng, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng mô hình quản lý hàng tồn kho JIT vào các doanh nghiệp dệtmay Việt Nam
[1] Bộ xây dựng. (2016) . Hội nghị trực tuyến ngành Xây dựng 2015 Khác
[2] Thảo Nguyên. Thắng cảnh xứ Thanh đẹp ngỡ ngàng nhìn từ trên cao. Người làm báo Thanh Hóa. Ngày 17/05/2016 Khác
[3] Ngô Văn Dũng , Phan Hồng Sáng . (2008). Thi công các công trình thủy lợi. Nhà xuất bản Đại học bách khoa Đà Nẵng Khác
[4] Lê Nguyễn Trường Giang. (2010). Khái niệm q uản lý sản xu ấ t t ứ c thời (Just in Ti m e - JIT) Khác
[5] Taiichi Ohno.(1988). Toyota Production System: Beyond Large-Scale Production Khác
[6] Huỳnh Thị Thúy Giang. (2010). Quản trị tài chính của tập đoàn Toyota. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khác
[7] Jeffrey K.Liker . (2004) .Phương thức Toyota : 14 Nguyên lí quản lí quản trị nổi tiếng của Toyota Khác
[12] Hiroyuki Hirano. (1989) .JIT Implementation Manual. CRC Press, Taylor & Francis Group Khác
[13] Jean-Baptiste Waldner.(1992) . Manufacturing Resource Planning (or MRP2) Khác
[14] Low Sui Pheng and Choong Joo Chuan. (2001). Just-in-Time Management of Precast Concrete Components. Journal of Construction Engineering and Management Khác
[15] Trần Hoàng Giang. (2010]. Quản trị cung ứng trong doang nghiệp. Chương 5 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w