1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình tài chính quốc tế

136 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhu cầu của thị tr ường tiêu thụ, khoa học kỹ thuật, nguyên vật liệu…Mức độ tham gia phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân,

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế, giữa các nước với nhau và với các tổ chức tài chính quốc tế Tài chính quốc tế liên quan đến những chiều hướng vận động mang tính toàn cầu của thị trường và các định chế, công

cụ cho đến việc ban hành các chính sách xuất phát từ nhu cầu của thị trường tài chính Trong chương này, chúng ta sẽ tập trung vào các nội dung chính như sau:

- Sự hình thành và phát triển của tài chính quốc tế

- Khái niệm, đặc điểm của tài chính quốc tế

- Vai trò của tài chính quốc tế

- Nội dung của hoạt động tài chính quốc tế

1.1 Sự hình thành và phát triển của tài chính quốc tế

1.1.1 Cơ sở hình thành quan hệ tài chính quốc tế

Lịch sử nghiên cứu cho thấy: Sự xuất hiện và phát triển của các quan hệ tài chính quốc tế bắt nguồn từ xuất hiện và phát triển của các quan hệ quốc tế và quan hệ chính trị giữa các quốc gia trong cộng đồng với nhau

Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế, giữa các nước với nhau và với các tổ chức tài chính quốc tế Có thể hiểu một cách khái quát như sau: tài chính quốc tế là sự vận động tiền tệ giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự của các quốc gia Trong mỗi quốc gia, tài chính quốc tế là một bộ phận cấu thành của toàn

bộ hoạt động tài chính của quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế và các chính sách của nhà nước trong quan hệ với cộng đồng quốc tế

Tài chính quốc tế xuất hiện và hoạt động dựa trên hai cơ sở sau:

- Quan hệ quốc tế giữa các quốc gia về kinh tế, văn hóa, xã hội…

- Nhờ có sự xuất hiện của tiền tệ và tiền tệ thực hiện được chức năng tiền tệ thế giới

Quá trình hợp tác quốc tế được thực hiện trên cơ sở phân công lao động quốc tế

Mà phân công lao động quốc tế được thể hiện như một hình thức đặc biệt của phân công lao động theo lãnh thổ Việc tham gia vào phân công lao động quốc tế của mỗi quốc gia bắt nguồn từ yêu cầu phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nhằm giải quyết các

Trang 2

nhu cầu của thị tr ường tiêu thụ, khoa học kỹ thuật, nguyên vật liệu…Mức độ tham gia phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của nền kinh

tế quốc dân, các yếu tố về tự nhiên, chế độ chính trị - xã hội, chính sách đối ngoại của Nhà nước…

Thông qua hợp tác quốc tế chúng ta có thể kết hợp các yếu tố trong nước với các yếu tố quốc tế, từ đó có thể khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước, phát huy những lợi thế cơ bản của nguồn lực trong nước và tận dụng

ưu thế của nguồn lực ngoài nước trong phân công lao động quốc tế và trao đổi quốc tế Trong hoạt động kinh tế quốc tế thị trường quốc tế trực tiếp hướng dẫn các nhà sản xuất kinh doanh trong việc sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới, thị hiếu của khách hàng nước ngoài, nhập khẩu những sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, lựa chọn các bạn hàng, đối tác ký kết hợp đồng…

Trong các hoạt động kinh tế, thì thương mại quốc tế giữ một vai trò hết sức quan trọng Thông qua thương mại quốc tế, các luồng hàng hoá, dịch vụ được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác và kéo theo đó là sự di chuyển ngược chiều các luồng tiền vốn giữa các quốc gia Sự di chuyển các luồng tiền giữa các quốc gia là nét đặc trưng của sự vận động của các nguồn tài chính trong hoạt động tài chính quốc tế và là biểu hiện của quan hệ tài chính quốc tế

Mặt khác, hoạt động tài chính quốc tế biểu hiện ra thành các hoạt động thu chi bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã hội Trong phạm vi một quốc gia, đồng tiền trong nước được sử dụng làm phương tiện thanh toán chính thức cho mọi giao dịch đã giúp thực hiện các hoạt động thu chi bằng tiền để xử lý các quan hệ tài chính gắn liền với các hoạt động kinh tế - xã hội của các chủ thể Các quốc gia có đồng tiền riêng khác nhau với sức mua không giống nhau Từ đó nảy sinh việc thanh toán cho các hoạt động và giao dịch giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau Trong quá trình phát triển của xã hội loài người kể từ khi xuất hiện tiền tệ và đòi hỏi của việc thanh toán quốc tế đã xuất hiện nhiều phương thức khác nhau trong việc xử lý mối quan hệ giữa các đồng tiền quốc gia và xác định phương tiện dùng trong thanh toán quốc tế Sự phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế trải qua nhiều chế độ khác nhau như: hệ thống lưỡng kim bản vị, hệ thống bản vị cổ điển và hệ thống Bretton Woods Trong quá trình xác định phương tiện dùng trong thanh toán quốc tế và xử lý mối quan hệ giữa các đồng

Trang 3

tiền quốc gia, các quốc gia khác nhau có thể lựa chọn các chế độ tỷ giá khác nhau Để thực hiện các hoạt động thu chi bằng tiền giữa các quốc gia đòi hỏi cần phải lựa chọn được phương tiện dùng trong thanh toán quốc tế làm cơ sở cho việc xác định tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia để thực hiện cho việc thanh toán các giao dịch quốc

tế

1.1.2 Khái quát quá trình phát triển của tài chính quốc tế

Có thể thấy rằng: các quan hệ tài chính quốc tế đã ra đời và phát triển từ những hình thức giản đơn đến những hình thức phức tạp, đa dạng gắn liền với những điều kiện khách quan của sự phát triển xã hội của mỗi quốc gia và đời sống quốc tế trên khía cạnh kinh tế và chính trị Kể từ khi nền kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển,

sự hợp tác và phân công lao động quốc tế càng trở nên sâu sắc Phân công lao động diễn ra trên một phạm vi ngày càng rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực với tốc độ nhanh Cùng với sự phát triển phân công lao động, sự hợp tác quốc tế cũng ngày càng

đa dạng và phong phú, ngoài thương mại quốc tế còn có hợp tác ở lĩnh vực sản xuất, khoa học kỹ thuật, văn hóa, chính trị Hệ quả tất yếu của sự phân công và hợp tác quốc

tế không những làm cho sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nước tăng mà còn làm cho trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ quốc tế phát triển

Như vậy, Tài chính quốc tế xuất hiện đầu tiên là gắn với thương mại quốc tế giữa các quốc gia, do yêu cầu của thương mại mà đã làm xuất hiện tiền tệ quốc tế, dùng tiền vàng làm trung gian trao đổi thanh toán Từ những hình thức sơ khai ban đầu của tài chính quốc tế là việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia, cống nộp vàng bạc, châu báu giữa nước này và nước khác đã xuất hiện từ thời chiếm hữu nô lệ gắn liền với nhà nước chủ nô Khái quát về sự phát triển tất yếu của tài chính quốc tế là do những nguyên nhân chủ yếu sau:

- Sự phát triển tất yếu của thương mại quốc tế

Sự xuất hiện của thương mại quốc tế đã có từ lâu nhưng nó chỉ thực sự phát triển kể từ thế kỷ 16 và ngày càng diễn ra với quy mô rộng lớn hơn Điều này xuất phát từ nguyên lý cơ bản: khi thương mại quốc tế phát triển sẽ thúc đẩy sự chuyên môn hóa sản xuất, dịch vụ tại các nước dựa trên lợi thế so sánh (về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên…) mà chuyên môn hóa lại dẫn đến tăng năng suất lao động, làm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế trên quy mô lớn thuộc các lĩnh vực, các quốc gia tham gia vào quá trình phân công và hợp tác quốc tế đó Ví dụ: các nước

Trang 4

vùng Trung Đông như: Ả rập Xê út, Irắc… có nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú, vì

thế các nước này tập trung chủ yếu vào việc khai thác dầu mỏ đem xuất khẩu cho các

nước khác thu ngoại tệ và nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng từ thị trường các nước có

thế mạnh về sản xuất hàng tiêu dùng như: Mỹ, Đức, Thái Lan… Hơn nữa, thương mại

quốc tế phát triển còn do có sự khác nhau về sở thích tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch

vụ khác nhau của người dân Chẳng hạn, ở Việt Nam, người ta vẫn ưa chuộng dùng xe

ô tô của hãng Toyota Nhật Bản hơn là xe ô tô sản xuất từ các nước khác… Thử tưởng

tượng, nếu bắt buộc mọi người Việt Nam chúng ta chỉ được tiêu dùng những hàng hóa

dịch vụ trong nước mà không được tiếp cận, thưởng thức hàng hóa nước ngoài với

chất lượng, kiểu dáng đa dạng thì chắc chắn người Việt Nam chúng ta sẽ nghèo nàn cả

về phương diện vật chất và tinh thần Do vậy, khi thương mại quốc tế phát triển vượt

ra khỏi phạm vi quốc gia, sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho tất cả các nước tham gia tích

cực vào quá trình hội nhập thương mại quốc tế đó Cùng với sự phát triển của thương

mại quốc tế, tất yếu sẽ kéo theo sự hợp tác, phát triển đan xen ở lĩnh vực sản xuất,

khoa học kỹ thuật, văn hóa, chính trị… giữa các nước với nhau Ngày nay, hầu hết các

quốc gia trên thế giới đều tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế song phương, đa

phương nhằm khai thác tối đa những lợi ích trong các mối quan hệ kinh tế này Khi các mối quan hệ kinh tế quốc tế trên đây phát triển và mở rộng, sẽ làm nẩy

sinh các quan hệ tài chính quốc tế Cụ thể: đồng tiền thanh toán quốc tế không đơn

thuần được tính toán dựa vào đồng tiền riêng của từng quốc gia một cách chủ quan nữa

mà đã có sự tương tác, gắn bó chặt chẽ trong mối tương quan sức mua giữa đồng tiền

các nước (có mối quan hệ giao dịch với nhau), hình thành nên công cụ tỷ giá hối đoái

Thông qua công cụ này mà quyền lợi và nghĩa vụ về thanh toán hoặc phân phối giữa

các nước với nhau, giữa chủ thể kinh tế trong nước với nước ngoài được tiến hành

thông suốt Từ đó, tạo ra các dòng chảy tiền tệ (hay tài chính) đa phương phản ánh tình

trạng cán cân thương mại, dịch vụ quốc tế của một nước

Cho đến thế kỷ XIX, tài chính quốc tế xuất hiện với hình thái mới đó là tín dụng và

đầu tư quốc tế Tín dụng quốc tế đã trở thành một trong những đòn bẩy mạnh mẽ nhất

của tích luỹ tư bản nguyên thuỷ Với sự phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ, kinh

tế thị trường và những diễn biến phức tạp của cục diện chính trị thế giới, thái độ tiếp

cận của các chính phủ trong quan hệ quốc tế, những hình thức mới của quan hệ tài

Trang 5

chính quốc tế đã xuất hiện như: đầu tư quốc tế trực tiếp và đầu tư quốc tế gián tiếp với

đa dạng các hình thức hoạt động

- Sự dịch chuyển tất yếu của vốn đầu tư quốc tế từ nơi thừa đến nơi thiếu

Đầu thế kỷ 20, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1945), hầu hết các nước đều có xu hướng mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế, bên cạnh đó là tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước Thực tế cũng đã chỉ ra rằng: có một nhóm các nước công nghiệp phát triển (như: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản…) lại thừa vốn so với nhu cầu sản xuất chật hẹp trong nước, hay một số tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB… cũng cũng đã được thành lập để hỗ trợ vốn cho yêu cầu đầu tư phát triển của các quốc gia kém phát triển hơn Các nước phát triển và tổ chức tài chính trên đây đã nỗ lực đẩy mạnh chính sách đầu tư vốn sang các nước khác, nhằm mở rộng thị trường đầu tư vốn và tối đa hóa lợi nhuận, trong khi đó, phần lớn các nước trên thế giới còn lại, đặc biệt là các nước đang phát triển như: Trung quốc, Việt Nam, Thái Lan… thì nguồn vốn trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư thiết yếu, cho nên rất cần thu hút nguồn vốn từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế cho sự phát triển của nền kinh tế Đặc biệt sang đầu thế kỷ 21, dòng chảy vốn đầu tư quốc tế đã trở lên đa dạng, phong phú hơn với đặc trưng là: một nước vừa có thể là nước tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài lớn, vừa có thề là nước có số vốn đầu tư

ra nước ngoài khổng lồ Điển hình là: Mỹ, Anh, Trung quốc… Như vậy, tất yếu diễn

ra sự dịch chuyển vốn đầu tư quốc tế từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nước này sang nước khác và ngược lại nhằm tận dụng các lợi thế về lao động, công nghệ, thị trường… tức

là làm xuất hiện và phát triển tài chính quốc tế lên tầm cao mới

Cho đến nay, các luồng vốn đầu tư quốc tế đã và đang dịch chuyển với quy mô ngày càng lớn giữa các nước, các khu vực thông qua các hình thức đầu tư rất đa dạng như: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment- FDI); vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường vốn; vốn vay của các định chế tài chính quốc tế, ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Oficial Development Assistance - ODA )…

Từ những phân tích trên cho thấy: tài chính quốc tế ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển tất yếu của các mối quan hệ kinh tế quốc tế mà trung tâm là thương mại quốc tế và sự dịch chuyển của vốn đầu tư quốc tế Cũng chính từ đó mà tài chính quốc tế có những đặc điểm riêng xét trên tổng thể hệ thống tài chính, đó là: làm xuất

Trang 6

hiện các công cụ, phương tiện, phạm trù của riêng mình như: tỷ giá hối đoái, ngoại hối, thị trường ngoại hối… gắn liền với cán cân thanh toán quốc tế của một nước mà bất kỳ quốc gia nào cũng đang tìm cách cải thiện, cân đối trong chiến lược phát triển

nền kinh tế đất nước hội nhập quốc tế ngày nay

1.2 Khái niệm, đặc điểm của tài chính quốc tế

1.2.1 Khái niệm về tài chính quốc tế

1.2.1.1 Quan niệm về tài chính quốc tế

Có hai quan niệm về tài chính quốc tế như sau:

a Quan niệm thứ nhất (Đứng trên phạm vi quốc gia để xem xét)

- Hoạt động tài chính =Hoạt động tài chính nội địa +Hoạt động tài chính quốc tế Trong đó:

Hoạt động tài chính quốc tế = Hoạt động tài chính đối ngoại + Hoạt động tài chính thuần tuý giữa các quốc gia với nhau (Đó là hoạt động tài chính của tổ chức quốc tế

và hoạt động tài chính của công ty đa quốc gia)

b Quan niệm thứ hai (Đứng trên phạm vi toàn cầu để xem xét)

- Hoạt động tài chính bao gồm Hoạt động tài chính quốc gia và Hoạt động tài chính chung quốc tế

Trong đó:

Hoạt động tài chính quốc gia bao gồm Hoạt động tài chính đối nội và Hoạt động tài chính đối ngoại

Hoạt động tài chính quốc tế chỉ bao gồm phần hoạt động tài chính thuần tuý

1.2.1.2 Khái niệm về tài chính quốc tế

Tài chính quốc tế là sự di chuyển tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với các quan

hệ kinh tế, văn hoá, chính trị, ngoại giao, quân sự giưã các quốc gia…giữa các chủ thể của các quốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ

ở mỗi chủ thể nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong các quan hệ quốc tế

1.2.2 Đặc điểm của tài chính quốc tế

1.2.2.1 Đặc điểm về phạm vi, môi trường hoạt động của các nguồn tài chính trong lĩnh vực tài chính quốc tế

Trang 7

- Diễn ra trong phạm vi rộng lớn giữa các quốc gia với rất nhiều chủ thể tham gia,

nhiều đồng tiền của các quốc gia khác nhau, bị chi phối bởi nhiều yếu tố bao gồm: + Rủi ro tỷ giá hối đoái: Do ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau mà tỷ giá hối đoái luôn có sự biến động và tác động rất lớn đến lợi ích của các chủ thể tham gia trong quan hệ tài chính quốc tế ở các lĩnh vực khác nhau

+ Rủi ro chính trị: Rủi ro này rất đa dạng và phức tạp bao gồm các thay đổi ngoài

dự kiến về hạn ngạch, thuế, cơ chế quản lý ngoại hối, Rủi ro này thường bắt nguồn

từ những biến động về chính trị-xã hội của các quốc gia như sự thay đổi về thể chế, cải cách kinh tế, từ đó Chính phủ các nước sẽ thay đổi chính sách quản lý quốc gia mình sao cho phù hợp với xu thế chung của thế giới Do vậy, trong hoạt động tài chính quốc

tế, các chủ thể trong 1 quốc gia không những cần nắm vững các chính sách kinh tế, pháp luật của quốc gia mình mà còn phải hiểu và nắm vững các chính sách, pháp luật của quốc gia mà mình có quan hệ hợp tác

1.2.2.2 Đặc điểm về xu hướng phát triển trong lĩnh vực tài chính quốc

tế

- Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của tài chính quốc tế đã tạo ta cơ hội cho các nhà đầu tư, các Chính phủ, tổ chức tài chính quốc tế huy động vốn và đầu tư vốn dưới nhiều hình thức khác nhau, tại các quốc gia khác nhau với nhiều đồng tiền khác nhau làm cho quan hệ tài chính quốc tế trở nên đa dạng và phức tạp

- Sự hình thành và hoạt động với phạm vi ngày càng mở rộng giữa các quốc gia tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu Với xu hướng này, đòi hỏi các chủ thể tham gia trong thị trường này phải am hiểu về nhiều vấn đề và lĩnh vực khác nhau như: các hình thức cho vay và đi vay trong thị trường tài chính quốc tế, các biện pháp sử dụng và quản lý nguồn vốn trong đầu tư tài chính hiệu quả, các công cụ được sử dụng để phòng ngừa và hạn chế rủi ro hối đoái có hiệu quả, ngoài ra cũng cần nắm rõ cơ chế hoạt động của các tổ chức tài chính-tín dụng quốc tế để đạt được hiệu quả cao nhất khi tham gia giao dịch trên thị trường này

1.3 Vai trò của tài chính quốc tế

Là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước

Trang 8

Trong điều kiện nền kinh tế mang tính toàn cầu hoá cao độ, tính liên phụ thuộc nền kinh tế các nước ngày càng tăng lên, không một quốc gia nào tự mình giải quyết được mọi vấn đề nếu không mở rộng giao lưu kinh tế với các nước khác Đặc biệt đối với các nước nghèo và chậm phát triển Việc tiến hành hoạt động tài chính quốc tế tất yếu dẫn đến sự di chuyển các nguồn tài chính từ quốc gia này sang quốc gia khác Hay nói cách khác thông qua hoạt động tài chính quốc tế, các nguồn tài chính được phân phối lại trên phạm vi thế giới Sự phân phối có tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, do vậy đòi hỏi mỗi một quốc gia nên cân nhắc trên cả khía cạnh sử dụng các nguồn lực trong nước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế, trên cả khía cạnh khai thác và sử dụng các nguồn lực ngoài nước phục

vụ cho sự phát triển của quốc gia mình.Các nguồn lực có thể di chuyển thông qua các hình thức như sau: vay nợ quốc tế, đầu tư quốc tế trực tiếp, tham gia vào thị trường vốn quốc tế…Không chỉ có sự vận động cuả các nguồn vốn mà các quốc gia có thể tranh thủ được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, giải quyết được các vấn đề thị trường, lao động…

Ngày nay, khu vực hoá và quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trở thành xu thế mang tính thời đại Mở rộng đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Việc mở rộng hợp tác quốc tế nhằm mục đích kết hợp các yếu tố trong n ước với các yếu tố ngoài nước và khai thác có hiệu quả các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việc mở rộng các quan hệ tài chính quốc tế thông qua các hình thức như hoạt động tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế trực tiếp,tham gia vào thị trường tiền tệ…góp phần thúc đầy

mở rộng và phát triển các hoạt động kinh tế quốc tế, từ đó góp phần thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hoà nhập vào nền kinh tế thế giới

Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính

Việc mở rộng và phát triển các hoạt động tài chính quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển các nguồn tài chính ra khỏi phạm vi của một quốc gia, với một phạm vi rộng hơn và môi trường khác hơn đó là trên bình diện quốc tế Trong môi trường đó các nhà đầu tư có thể lựa chọn môi trường và lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài

có lợi nhuận cao hơn đầu tư ở trong nước

Sự đầu tư có thể dưới hình thức hoạt động xuất khẩu, đầu tư quốc tế trực tiếp ra nước ngoài, tham gia vào thị trường tài chính quốc tế… Bên cạnh đó, các chủ thể kinh

Trang 9

tế - xã hội của mỗi quốc gia bao gồm cả các chính phủ có thể vay vốn của các chủ thể thuộc quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế để trang trải các nhu cầu chi tiêu của mình thông qua các hình thức của quan hệ tài chính quốc tế, đặc biệt là hình thức tín dụng quốc tế… Như vậy, với sự mở rộng và phát triển của tài chính quốc tế các nguồn tài chính có thể được di chuyển từ nơi này sang nơi khác một cách thuận lợi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể của các quốc gia có nguồn tài chính để giải quyết những khó khăn tạm thời về nguồn tài chính và nâng cao hiệu quả của các nguồn lực tài chính được đưa vào sử dụng

1.4 Nội dung của hoạt động tài chính quốc tế

1.4.1 Các quan hệ tiền tệ

- Các quan hệ thanh toán quốc tế

Thanh toán được hiểu là các quan hệ trả tiền đối ứng với các luồng hàng hóa dịch

vụ Thanh toán quốc tế gắn liền với các hoạt động thương mại quốc tế, nước xuất khẩu

sẽ có luồng hàng hóa, dịch vụ chảy ra thì có ngoại tệ chảy vào Ngược lại, đối với nước nhập khẩu thì có luồng hàng hóa đi vào và luồng ngoại tệ chảy ra Thanh toán quốc tế cũng gắn liền với du lịch quốc tế, hợp tác lao động quốc tế, các quan hệ quốc

tế về quân sự, văn hóa, xã hội, chính trị và ngoại giao…Thanh toán có thể được thực hiện dưới hình thức trực tiếp, có thể thông qua ngân hàng và qua các đối tác khác

- Các quan hệ đầu tư quốc tế: Là việc di chuyển vốn ra ngoài phạm vi biên giới để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh kiếm lời Bao gồm:

+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài

+ Đầu tư quốc tế gián tiếp

- Tín dụng quốc tế

Tín dụng quốc tế là một hình thức của đầu tư quốc tế gián tiếp Trong quan hệ tín dụng quốc tế, chủ thể có nguồn t ài chính đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay đã được hai bên thỏa thuận Thực chất của tín dụng quốc tế là các hoạt động vay và cho vay đối với nước ngoài

Chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng quốc tế là tất cả các chủ thể kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và các tổ chức quốc tế, mà chủ yếu là các tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế Bao gồm:

+ Tín dụng thương mại: là quan hê tín dụng phát sinh trên cơ sở mua bán trao đổi hàng, cung ứng dịch vụ giữa các nhà xuất nhập khẩu với nhau theo hợp đồng

Trang 10

mua bán ngoại thương Thực chất tín dụng thương mại là hình thức mua bán chịu quốc tế giữa các nước với nhau, được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong mua bán hàng hóa xuất nhập khẩu Tín dụng thương mại được thực hiện dưới các hình thức sau:

 Tín dụng hương mại cấp cho nhà xuất khẩu: Nhà nhập khẩu cung cấp tín dụng dưới hình thức ứng trước tiền hàng cho nhà xuất khẩu, trong trường hợp giá trị hợp đồng lớn, thời gian sản xuất dài, nhà xuất khẩu thiếu vốn nên ứng trước tiền hàng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà nhập khẩu thực hiện hợp đồng và giao hàng đúng hạn Khoản tiền ứng trước được xem là khoản tín dụng, thường chiếm 20%-50% giá trị của hợp đồng Trong trường hợp thời gian ứng trước dài thì phải tính lãi Khoản tiền ứng trước được xem là khoản tiền đặt cọc mang tính chất là khoản đảm bảo và được xem là điều kiện để hai bên thực hiện đúng như hợp đồng đã ký kết, thường chiếm khoảng 10%-15% giá trị hợp đồng và thời gian ứng trước tương đối ngắn thì không tính lãi Số tiền ứng trước được hoàn trả bằng cách khấu trừ dần sau mỗi chuyến giao hàng theo những cách sau đây:

Khấu trừ theo tỷ lệ cố định sau mỗi chuyến giao hàng

Khấu trừ theo tỷ lệ tăng dần sau mỗi chuyến giao hàng

Khấu trừ một lần vào chuyến giao hàng cuối cùng

Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho nhà xuất khẩu nên có lợi cho nhà xuất khẩu nhưng thực tế trong một số trường hợp nhà nhập khẩu không có sự bảo đảm

an toàn cho số tiền đã ứng trước nếu như nhà xuất khẩu giao hàng kém chất lượng, không đúng hạn, thiếu trọng lượng, Do đó, hình thức này ít được sử dụng trong quan hệ ngoại thương và chỉ áp dụng trong trường hợp nhà xuất khẩu đáng tin cậy hay đối với những loại hàng hóa quý hiếm, thật sự khan hiếm và cần thiết

 Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu

Đây là loại tín dụng do nhà xuất khẩu cấp cho nhà nhập khẩu bằng các hình thức cụ thể như sau:

+ Tín dụng mở tài khoản: Trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết, nhà xuất khẩu mở tài khoản sau mỗi lần giao hàng ghi nợ cho nhà nhập khẩu, định kỳ nhà nhập khẩu thanh toán nợ cho nhà xuất khẩu

Đây là hình thức tín dụng do nhà xuất khẩu tài trợ cho nhà nhập khẩu tuy nhiên trong những trường hợp nhà nhập khẩu thanh toán chậm hay bị phá sản

Trang 11

không đủ khả năng thanh toán thì nhà xuất khẩu sẽ bị ứ đọng vốn nên hình thức này chỉ áp dụng được trong điều kiện hai bên thường xuyên giao dịch và có mối quan hệ tốt với nhau trong kinh doanh, điều kiện thị trường hối đoái ổn định

+ Tín dụng chấp nhận hối phiếu:Nhà xuất khẩu sau khi giao hàng, ký phát hối phiếu trả chậm đòi tiền nhà nhập khẩu Nhà nhập khẩu có nghĩa vụ ký chấp nhận hối phiếu, cam kết đảm bảo thanh toán hối phiếu đúng hạn, điều này có nghĩa

là chấp nhận nợ đối với nhà xuất khẩu Thực chất đây là hình thức mua bán chịu hàng hóa trên cơ sở là hối phiếu Nhà nhập khẩu đến hạn phải có nghĩa vụ là thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu hay người cầm hối phiếu

 Tín dụng của người môi giới cấp cho các nhà xuất nhập khẩu

Đây là một trong những hình thức của tín dụng thương mại trong đó những người môi giới cấp trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu khi có nhu cầu về vốn Thực chất nguồn vốn này là của ngân hàng mà người môi giới chỉ là trung gian, những người môi giới này hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp dưới hình thức các công ty độc lập, bằng nguồn vốn tự có của mình và nguồn vốn của ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ liên quan về tín dụng như: chiết khấu hối phiếu, cầm cố chứng từ, do sự am hiểu về thị trường và có trình dộ nghiệp vụ cao, quan hệ rộng rãi với khách hàng nên những người môi giới này đóng vai trò quan trọng trong quan hệ tín dụng

+ Tín dụng ngân hàng:

Là quan hệ tín dụng mà các ngân hàng cung cấp vốn cho các nhà xuất nhập khẩu, đa số là các khoản tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới các hình thức như sau:

 Tín dụng ngân hàng cấp cho nhà xuất khẩu

Các ngân hàng thương mại cho nhà xuất khẩu vay dưới hình thức chiết khấu hối phiếu chưa đến hạn thanh toán, điều này có nghĩa là ngân hàng mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán và hối phiếu đó thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, khi dến hạn ngân hàng sẽ thu hồi nợ Căn cứ vào thời gian chiết khấu và lãi suất chiết khấu, ngân hàng cung cấp giá trị tín dụng bằng giá trị hối phiếu trừ đi lợi tức chiết khấu ngân hàng được hưởng Hình thức này được áp dụng một cách rộng rãi và là một trong những nghiệp vụ tín dụng chủ yếu của ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, ngân hàng còn hco vay dưới hình thức nhà

Trang 12

xuất khẩu cầm cố hối phiếu chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng sẽ thông báo và xác nhận có thể cho nhà xuất khẩu vay khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hợp lệ và hoàn chỉnh

 Tín dụng ngân hàng cấp cho nhà nhập khẩu

Các ngân hàng cho nhà nhập khẩu vay để thanh toán hàng nhập khẩu dưới hình thức chấp nhận để ngân hàng thay mặt nhà nhập khẩu ký chấp nhận hối phiếu Theo đó, hình thức tín dụng này là hình thức tài trợ cho nhà nhập khẩu, đảm bảo khả năng thanh toán hối phiếu khi đến hạn thanh toán Khi thực hiện nghiệp vụ ngân hàng chỉ ký tên, chấp nhận, không cần xuất vốn và thu lệ phí Khi đến hạn, ngân hàng có nhiệm vụ thanh toán hối phiếu sau khi đã đòi tiền nhà nhập khẩu Trường hợp nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán hoặc thanh toán chậm thì coi như ngân hàng cấp một khoản tín dụng cho nhà nhập khẩu, nếu nhà nhập khẩu bị phá sản thì ngân hàng phải gánh chịu mọi rủi ro Ngân hàng cũng có thể cho vay dưới hình thức bảo lãnh hối phiếu, cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán hợp lệ

+ Tín dụng Nhà nước:

Tín dụng Nhà nước phản ánh quan hệ tín dụng giữa chính phủ của một quốc gia với chủ thể ở các quốc gia khác Như vậy, quan hệ tín dụng nhà nước có thể phát sinh giữa chính phủ các nước với nhau hoặc giữa chính phủ các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế trên cơ sở các hiệp định vay vốn đã được ký kết hoặc giữa chính phủ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài Căn cứ vào thời hạn, tín dụng nhà nước bao gồm các loại sau:

Tín dụng ngắn hạn:có thời hạn trong vòng một năm Tín dụng này hình thành trong trường hợp ký kết hiệp định thanh toán, hai bên giao hàng và cuối năm kết toán tài khoản

Tín dụng trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Mục đích của loại

cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản dài hạn của doanh nghiệp hoặc

cá nhân

Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào dự án đầu tư

Trang 13

Hình thức này bao gồm ODA không hoàn lại là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn lại cho nhà tài trợ; ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi) là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc; ODA vay hỗn hợp là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng trong đó yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc

Các phương thức cơ bản cung cấp ODA gồm có: hỗ trợ dự án, hỗ trợ ngành, hỗ trợ chương trình, hỗ trợ ngân sách ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ Nhìn chung, nguồn vốn ODA là một hình thức đầu tư quốc tế gián tiếp, là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho kênh huy động vốn ở trong nước Chính vì vậy, Nhà nước cần có chiến lược khai thác nguồn vốn này từ các chnh1 phủ và các tổ chức liên chính phủ

+ Vay thương mại nước ngoài của Chính phủ:

Tùy theo nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, chính phủ có thể huy động nguồn vốn vay thương mại nước ngoài thông qua các hình thức vay trực tiếp như vay tài chính, vay tín dụng xuất khẩu, phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế hoặc hình thức phù hợp khác, trong khuôn khổ hạn mức vay thương mại hàng năm Nguồn vay thương mại nước ngoài của chính phủ chỉ được sử dụng cho các mục đích: cho vay lại đối với chương trình, dự án đầu tư phát triển trọng điểm của Nhà nước có nhu cầu nhập khẩu thiết bị, công nghệ, có khả năng hoàn vốn trực tiếp và trả được nợ vay; hoặc để đảo nợ nước ngoài của chính phủ theo nguyên tắc đảm bảo có lợi và với chi phí thấp nhất cho ngân sách

1.4.2 Các quỹ thuộc tài chính quốc tế

Trang 14

Là những lượng tiền nhất định phản ánh điểm dừng t ương đối của sự vận động các luồng tiền tệ gắn với một mục đích nào đó

Có ba loại quỹ đó là:

- Các quỹ tiền tệ trực thuộc các chủ thể quốc gia

- Các quỹ tiền tệ gắn với các chủ thể quốc tế

- Các quỹ tiền tệ thuộc công ty đa quốc gia: vốn kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận của các công ty đa quốc gia…

1.4.3 Các chủ thể thuộc tài chính quốc tế

- Các tổ chức kinh tế

Các tổ chức kinh tế quốc gia tham gia hoạt động tài chính quốc tế dưới hình thức đầu tư ra nước ngoài (đầu tư quốc tế) và thương mại quốc tế Đầu t ư ra nước ngoài của cá tổ chức kinh tế có thể là đầu tư nước ngoài trực tiếp, có thể là đầu tư nước ngoài gián tiếp dưới hình thức tín dụng quốc tế hoặc đầu tư chứng khoán quốc tế

- Các trung gian tài chính của ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán…

Ngân hàng thương mại tham gia hoạt động tài chính quốc tế với những nội dung như: tín dụng quốc tế (ngân hàng thương mại chủ yếu đóng vai trò là người cho vay quốc tế), đầu tư quốc tế (ngân hàng thương mại có thể thực hiện đầu tư quốc tế trực tiếp dưới hình thức đầu tư liên doanh, liên kết với ngân hàng thương mại của các quốc gia khác,có thể thực hiện đầu tư gián tiếp quốc tế dưới hình thức đầu tư chứng khoán quốc tế), thực hiện các dịch vụ như chuyển tiền quốc tế, dịch

vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ tư vấn, bảo lãnh…

- Hoạt động tài chính của chính phủ

Các chính phủ tham gia hoạt động tài chính quốc tế với các nội dung sau: Viện trợ quốc tế không hoàn lại, tín dụng nhà nước quốc tế (nhà nước xuất hiện với tư cách là người đi vay dưới hình thức đàm phán vay hỗ trợ phát triển chính thức hoặc dưới hình thức phát hành trái phiếu quốc tế, nhà nước cũng có thể xuất hiện với tư cách là người cho vay bằng nguồn ngân sách nhà nước) Thu thu thuế quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới của nước chủ

nhà

Trang 15

- Hoạt động tài chính của các định chế tài chính quốc tế: chủ thể là các tổ chức quốc tế Trong đó:

+ Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund: IMF):Thúc đẩy sự hợp tác

tiền tệ quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và tăng trưởng thương mại quốc tế một cách cân đối; tăng cường ổn định tỷ giá; hỗ trợ cho việc thành lập hệ thống thanh toán đa phương; cho các nước hội viên tạm thời sử dụng các nguồn vốn chung của Quỹ với những đảm bảo thích hợp, rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ

mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế của các nước hội viên

+ Ngân hàng thế giới (The World Bank) nhằm hỗ trợ sự phát triển và nâng cao mức sống của người dân tại các quốc gia thành viên Hội đồng thống đốc bầu ra Ban

giám đốc điều hành hỗ trợ công việc Hội đồng thống đốc tại WB Ban giám đốc điều hành họp ít nhất 2 lần một tuần để giám sát các hoạt động của WB, bao gồm phê duyệt các khoản vay và bảo lãnh, các chính sách mới, ngân sách quản trị, chiến lược hỗ trợ các quốc gia, các quyết định tài chính và vay vốn Các hoạt động hàng ngày của WB đặt dưới sự chỉ đạo và quản lý của Chủ tịch, Ban giám đốc điều hành và các phó chủ tịch phụ trách theo khu vực

+ Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): Mục tiêu hoạt động của ADB nhằm

cung cấp các khoản vay và đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở các nước thành viên đang phát triển, cung cấp các khoản hỗ trợ kỹ thuật, thúc đẩy đầu tư bằng vốn tư nhân và công cho mục đích phát triển, hỗ trợ các nước hội viên đang phát triển

trong việc lập kế hoạch và xây dựng chính sách

- Các tổ chức quốc tế toàn cầu và khu vực

Trang 16

C U H I N T P CHƯƠNG 1:

Câu 1: Tại sao phải nghiên cứu TCQT?

Câu 2: Phân tích lợi ích và rủi ro khi tham gia thị trường TCQT

Câu 03: Trình bày quá trình hình thành và phát triển của quan hệ tài chính quốc tế? Câu 04: Trình bày các quỹ của tài chính quốc tế?

Câu 05: Các chủ thể của quan hệ tài chính quốc tế?

Câu 6: Trình bày nội dung cơ bản của Incoterms 2000?

Câu 7: Trình bày nội dung của tín dụng thương mại?

Câu 8: Trình bày nội dung của tín dụng ngân hàng?

Câu 9: Trình bày nội dung của tín dụng Nhà nước?

Câu 10: So sánh tín dụng thương mại và tín dụng nhà nước?

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1

[1] Dương Đăng Chinh (2002), Tổng quan về Tài chính quốc tế và môn học Tài chính quốc tế, Nhà xuất bản Tài chính

[2] Vũ Văn Hóa, Lê Văn Hưng (2009), Giáo trình Tài chính quốc tế, Trường Đại học

kinh doanh và công nghệ Hà nội, Nhà xuất bản Tài chính

[3] Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Định, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Nguyễn Thị Liên

Hoa, Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Tài chính quốc tế, Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí

Minh – Nhà xuất bản Thống kê

[4] Nguyễn Văn Tiến (2001), Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở, Học

viện Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê

[5] Nguyễn Văn Tiến (2010), Giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện Ngân hàng, Nhà

xuất bản Thống kê

Trang 17

CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để cân

đối cung cầu về vốn trong nền kinh tế là thị trường tài chính Trong chương này, chúng

ta sẽ tập trung vào các nội dung chính như sau:

- Khái quát thị trường tài chính quốc tế

- Thị trường tiền tệ quốc tế

- Thị trường vốn quốc tế

2.1 Khái quát thị trường tài chính quốc tế

Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện và tồn tại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết mẫu thuận giữa nhu cầu và khả năng cung ứng vốn lớn trong nền kinh tế phát triển Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn Mâu thuẫn này ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn Khi kinh tế hàng hóa phát triển cao, nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạt hơn nảy sinh và phát triển, góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuất hiện các công cụ huy động vốn như trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu của chính phủ Đó

là những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán Và từ đó xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau các loại chứng khoán Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để cân đối cung cầu về vốn trong

nền kinh tế là thị trường tài chính Do đó, cơ sở khách quan cho sự ra đời của thị

trường tài chính là sự giải quyết mẫu thuẫn giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công cụ tài chính đặc biệt là các loại chứng khoán, làm nảy sinh nhu cầu mua bán, chuyển nhượng chứng khoán giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh

tế Chính sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ mà đỉnh cao của nó là kinh

tế thị trường làm nảy sinh một loại thị trường mới là thị trường tài chính Do đó, có thể

kết luận:

Trang 18

Thị trường tài chính hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh

tế thị trường Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những chủ thể cần nguồn tài chính và những người có khả năng cung ứng nguồn tài chính - Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các hoạt động về phát hành và mua bán lại các chứng khoán cũng phát triển, hình thành một thị trường riêng nhằm làm cho cung

cầu nguồn tài chính gặp nhau dễ dàng và thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính

2.1.1 Sự hình thành và quá trình phát triển của thị trường tài chính quốc tế

Tài chính quốc tế là tổng thể các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với

sự di chuyển các nguồn lực tài chính giữa các quốc gia với nhau Sự hình thành và phát triển của tài chính quốc tế chủ yếu dựa trên cơ sở của sự phát triển các mối quan

hệ kinh tế quốc tế, cụ thể như:

Sự phân công lao động và hợp tác quốc tế:

 Kể từ khi nền kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển, sự hợp tác và phân công lao động quốc tế càng trở nên sâu sắc Phân công lao động diễn ra trên một phạm

vi ngày càng rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực với tốc độ nhanh Cùng với sự phát triển phân công lao động, sự hợp tác quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phong phú, ngoài thương mại quốc tế còn có hợp tác ở lĩnh vực sản xuất, khoa học kỹ thuật, văn hóa, chính trị Hệ quả tất yếu của sự phân công và hợp tác quốc tế không những làm cho sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nước tăng mà còn làm cho trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ quốc tế phát triển Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thương mại và dịch vụ quốc tế trở thành hoạt động tất yếu và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tăng cường mở rộng các quan hệ kinh tế song phương cũng như đa phương nhằm khai thác tối đa những lợi ích trong các mối quan hệ kinh tế này

 Trên cơ sở phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế làm nảy sinh những quyền lợi và nghĩa vụ về tiền tệ của nước này đối với nước khác Từ đó tạo ra nguồn chảy tài chính đa phương và hình thành nên cán cân thương mại dịch vụ quốc tế giữa các quốc gia Đồng thời, gắn liền với sự vận động của tiền tệ trong mối tương quan so sánh sức mua của chúng, phạm trù tỷ giá hối đoái đã hình thành trong hệ thống tài chính quốc

tế

Sự phát triển các hoạt động đầu tư quốc tế:

Trang 19

- Bước vào đầu thế kỷ 20, cùng với việc tạo ra các mối quan hệ kinh tế quốc tế, các nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, do nguồn tiết kiệm trong nước thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu vốn, cần phải thu hút nguồn vốn nước ngoài để tạo ra cú hích cho sự phát triển kinh tế Trong khi đó các quốc gia thừa vốn cũng nỗ lực đẩy mạnh chính sách xuất khẩu vốn (đầu tư vốn) nhằm mở rộng đầu tư và thu lợi nhuận tối

đa

- Trong xu hướng đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế quốc tế, các luồng vốn đầu tư quốc tế đã và đang phát triển theo một hệ thống bao gồm các hình thức đầu tư: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment- FDI), vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán, vốn cho vay của các tổ chức kinh

tế tài chính quốc tế và ngân hàng nước ngoài như Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund- IMF), ngân hàng thế giới (World Bank) hay nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (official development assistance- ODA)

Có thể nói, sự phát triển các hình thức đầu tư quốc tế đã làm cho hoạt động tài chính quốc tế được nâng lên ở tầm cao hơn, kết hợp hoạt động thu chi thương mại, dịch vụ quốc tế hình thành nên cán cân thanh toán quốc tế tổng thể của một quốc gia Kết quả của cán cân này sẽ quyết định vị thế tài chính quốc tế của mỗi nước Đó cũng

là biểu hiện tình trạng phát triển kinh tế trong sự cân đối giữa kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại của một quốc gia

- Từ những phân tích trên cho thấy, tài chính quốc tế tuy ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của các mối quan hệ kinh tế và đầu tư quốc tế, nhưng đến lượt mình, nó tác động mạnh tới sự phát triển kinh tế của các nước Tài chính quốc

tế tạo điều kiện mở rộng và tăng cường hơn nữa các quan hệ trao đổi, hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy kinh tế các nước phát triển phù hợp với bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Tài chính quốc tế mở ra nhiều cơ hội cho các quốc gia phát triển kinh tế xã hội, như khai thác vốn, trao đổi kỹ thuật, công nghệ và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Tài chính quốc tế còn nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong nước

- Hoạt động tài chính quốc tế là một chuỗi vận động các luồng dịch chuyển tài chính, cho nên từ khởi đầu đến khi kết thúc, chuỗi vận động này được thực hiện thông qua kết hợp sự vận hành của các yếu tố các tổ chức tài chính bao gồm tổ chức tài chính trong nước và tổ chức tài chính quốc tế, các công cụ tài chính quốc tế bao gồm ngoại

Trang 20

tệ, vàng, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ như séc, hối phiếu, thẻ tín dụng, các chứng khoán ghi bằng ngoại tệ như trái phiếu cổ phiếu

Như vậy, điều kiện cần thiết hình thành thị trường tài chính:

- Nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ ổn định, với mức độ lạm phát có thể kiểm soát được

- Các công cụ của thị trường tài chính phải đa dạng tạo ra các phương tiện chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính

- Hình thành và phát triển hệ thống các trung gian tài chính

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức quản lý nhà nước để giám sát sự hoạt động của thị trường tài chính

- Phải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống thông tin kinh tế phục vụ cho hoạt động của thị trường tài chính

- Cần có đội ngũ các nhà kinh doanh, các nhà quản lý am hiểu thị trường tài chính và phải có đông đảo các nhà đầu tư có kiến thức, dám mạo hiểm trước những rủi

ro có thể xảy ra

2.1.2 Phân loại thị trường tài chính quốc tế

Dựa vào các tiêu thức khác nhau ta có thể phân loại thị trường tài chính như sau:

Dựa vào cách thức huy động vốn trên thị trường tài chính trên cơ sở sử dụng các công cụ tài chính ta có thị trường nợ và thị trường cổ phần

a) Thị trường công cụ nợ nợ: là thị trường trong đó người cần vốn huy động dựa trên việc phát hành các công cụ nợ (trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, ) Thực chất các công cụ nợ là thỏa thuận có tính hợp đồng trong đó người vay vốn thanh toán cho người giữ công cụ một khoản tiền cố định trong những khoản thời gian nhất định

- Công cụ nợ ngắn hạn: là công cụ nợ có thời gian đáo hạn từ 1 năm trở xuống như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, thương phiếu,

- Công cụ nợ trung hạn: là công cụ nợ có thời gian đáo hạn từ 1 năm tới 3 năm như các loại trái phiếu ngắn hạn của chính phủ và doanh nghiệp

- Công cụ nợ dài hạn: là công cụ nợ có thời gian đáo hạn từ 5 năm đến 10 năm, thậm chí 30 năm như các loại trái phiếu Chính phủ

b) Thị trường cổ phần

Là thị trường trong đó người cần vốn huy động vốn bằng cách phát hành các cổ phiếu Người nắm giữ cổ phiếu gọi là cổ đông Các cổ phiếu này là quyền được chia

Trang 21

phần trên lãi ròng và tài sản của các công ty phát hành cổ phiếu Như vậy, khác với công cụ nợ, cổ phiếu không có số lãi cố định mà cổ tức phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành

Dựa vào việc mua bán chứng khoán lần đầu chứng khoán mới và mua bán chứng khoán sau khi phát hành lần đầu người ta chia làm thị trường cấp 1 và thị trường cấp 2:

a) Thị trường cấp 1 thị trường sơ cấp: là thị trường tài chính trong đó những phát hành mới của chứng khoán được tổ chức phát hành bán cho người mua đầu tiên, thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn

b) Thị trường cấp 2 thị trường thứ cấp: là thị trường tài chính nơi diễn ra các hoạt động mua bán lại các chứng khoán được phát hành trên thị trường cấp 1 Đây là thị trường mà giá chứng khoán do tổ chức phát hành quyết định hoặc thông qua các cuộc đấu giá và giá thường được in ngay trên chứng khoán Những người bán trên thị trường này được xác định thường là Kho bạc ngân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành,

Dựa vào phương thức giao dịch trên thị trường tài chính, thị trường cấp 2 được chia làm 2 loại: Sở giao dịch và thị trường phi tập trung

Căn cứ vào bản chất, chức năng và phương thức hoạt động của các chủ thể tài chính và các công cụ tài chính giao dịch trên đó, hệ thống tài chính được phân làm 3 thị trường cơ bản: Thị trường tiền tệ và thị trường vốn:

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Sơ đồ 2.1: Cấu trúc Thị trường tài chính quốc tế

a) Thị trường tiền tệ:

Trang 22

Thị trường tiền tệ là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ tài chính ngắn hạn, thông thường dưới 1 năm như tín phiếu kho bạc, khoản vay ngắn hạn giữa các ngân hàng, thoả thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu,

2.1.3 Vai trò của thị trường tài chính quốc tế:

Thị trường tài chính là bộ phận quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hoá TTTC phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển

của một quốc gia

Thị trường tài chính đóng vai trò nòng cốt trong quá trình luân chuyển vốn từ nhà đầu tư đến nhà sản xuất Dòng vốn từ người cho vay – người tiết kiệm tới người vay – người chi tiêu qua hai con đường:

 Thứ nhất là qua kênh tài chính trực tiếp, nghĩa là người đi vay vay vốn trực tiếp

từ người cho vay thông qua việc bán chứng khoán

 Thứ hai là kênh tài chính gián tiếp, nghĩa là vốn được chuyển từ người cho vay tới người đi vay thông qua trung gian tài chính

Từ việc nghiên cứu các hoạt động của thị trường tài chính, ta thấy thị trường này có các vai trò sau đây:

 TTTC là kênh dẫn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả cho nền kinh tế: Thông qua thị trường tài chính các chủ thể cần vốn có thể huy động được vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất,… của mình Các công ty có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty; Nhà nước có thể phát hành trái phiếu Chính phủ,… để tập hợp lượng vốn cần thiết Những chủ thể tạm thời thừa vốn cũng có một kênh để đầu tư sinh lợi

Trang 23

cho phần vốn của mình Qua đó hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư,… của nền kinh

tế được thực hiện liên tục và không bị đình trệ Bên cho vay sẽ thu được phần tiền lãi, còn bên đi vay phải tìm mọi cách sinh lời từ đồng vốn đã vay nhằm trả lãi và vốn ứng trước của người cho vay và có phần tích luỹ của mình

 Là kênh đầu tư của công chúng: TTTC có thể thu hút được rất nhiều nhà đầu tư với sự đa dạng hoá các hình thức đầu tư, như vậy nhà đầu tư có thể chọn lựa cách thức đầu tư phù hợp với nhu cầu của mình Ngoài ra thị trường tài chính còn giúp cải thiện mức sống của cá nhân bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm tốt hơn (tiêu tiền trước rồi sẽ tìm nguồn tiền trả sau_thông qua các khoản vay)

 Thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của Nhà nước: Hoạt động của thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ Thông qua thị trường tài chính, việc bán cổ phần, phát hành trái phiếu ra nước ngoài đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước Ngoài ra Nhà nước có thể sử dụng các công cụ trên thị trường tài chính để tác động nhằm thực hiện và điều hành chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia…

và ngành công nghiệp ngân hàng

Thị trường tiền tệ châu Âu đóng một vai trò quan trọng trong nguồn tài trợ của quốc tế đối với các quốc gia, vì khả năng phát hành với chi phí rẻ hơn, hiệu quả hơn so với thị trường nội địa Lợi ích chính mà thị trường này mang lại là ít bị điều chỉnh, thu nhập từ thị trường này phần lớn không phải chịu thuế và việc phát hành chứng khoán mang tính linh hoạt hơn so với thị trường nội địa

Trang 24

Về loại tiền thanh toán, chủ yếu là bằng Dollar, tiếp theo là bảng Anh, Mac Đức, Yên Nhật và đơn vị tiền tệ của Châu Âu là EURO

Đặc điểm:

 Là thị trường rộng lớn các ngân hàng TW không can thiệp trực tiếp

 Không quy định dữ trữ bắt buộc và phí tiền gửi

 Là thị trường bán buôn chủ yếu là hoạt động liên ngân hàng

 Là nơi dự trữ các khoản thặng dư có tính thanh khoản cao

 Nghiệp vụ nhận tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi khả nhượng

 Nghiệp vụ tạo tiền cuả Eurobank

 Nghiệp vụ cho vay

2.2.2 Thị trường ngoại hối

 Thị trường ngoại hối (Forex, FX, hoặc thị trường tiền tệ) là một thị trường phi tập trung toàn cầu cho việc trao đổi các loại tiền tệ Những người tham gia chính trong thị trường này là các ngân hàng quốc tế lớn Các trung tâm tài chính khắp thế giới giữ chức năng như các neo của trao đổi giữa một loạt các loại người mua và người bán khác nhau suốt ngày đêm, ngoại trừ những ngày cuối tuần EBS và Reuters' dealing

3000 là hai nền tảng trao đổi FX liên ngân hàng chính Thị trường ngoại hối xác định giá trị tương đối của các tiền tệ khác nhau

 Thị trường ngoại hối hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách cho phép chuyển đổi tiền tệ (Ví dụ, nó cho phép một doanh nghiệp tại Hoa Kỳ nhập khẩu hàng hóa từ các nước thành viên Liên minh châu Âu, đặc biệt là các thành viên Khu vực đồng tiền chung châu Âu, và trả bằng đồng Euro, mặc dù thu nhập của doanh nghiệp đó là bằng đôla Mỹ Nó cũng hỗ trợ đầu cơ trực tiếp trong giá trị của các tiền

tệ, và carry trade, một dạng đầu cơ dựa trên sự chênh lệch lãi suất giữa hai loại tiền tệ.)

 Trong một nghiệp vụ ngoại hối thông thường, một bên mua một lượng của một loại tiền tệ này bằng cách trả một lượng của một loại tiền tệ khác Thị trường ngoại hối hiện đại bắt đầu hình thành trong thập niên 1970 sau ba thập kỷ của những hạn chế chính phủ đối với các nghiệp vụ ngoại hối (hệ thống quản lý tiền tệ Bretton Woods đã thiết lập các quy tắc cho quan hệ thương mại và tài chính giữa các quốc gia công nghiệp lớn trên thế giới sau chiến tranh thế giới II), khi các quốc gia dần dần chuyển

Trang 25

sang chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi từ chế độ tỷ giá hối đoái trước đó, được cố định theo hệ thống Bretton Woods

Thị trường ngoại hối là độc đáo vì những đặc điểm sau:

 Khối lượng giao dịch khổng lồ của nó đại diện cho các lớp tài sản lớn nhất thế giới dẫn đến tính thanh khoản cao;

 Hoạt động liên tục của nó: 24 giờ một ngày, ngoại trừ những ngày cuối tuần, tức là, giao dịch từ 20:15 GMT ngày Chủ nhật cho đến 22:00 GMT thứ Sáu;

 Sự đa dạng của các yếu tố có ảnh hưởng đến các tỷ giá hối đoái;

 Các biên của lợi nhuận tương đối là thấp so với các thị trường thu nhập

cố định khác; và

 Sử dụng đòn bẩy để tăng các biên lợi nhuận và tổn thất và đối với quy

mô tài khoản

Vai trò của thị trường ngoại hối

Cọ sát cung và cầu về ngoại tệ, thoả mãn nhu cầu khác nhau về ngoại tệ đáp ứng nhu cầu về khả năng thanh toán, hạn chế rủi ro trong các hoạt động kinh doanh ngoại

tệ và bằng ngoại tệ

Cơ sở hình thành và điều tiết tỷ giá

Công cụ điều tiết sự di chuyển của các luồng vốn ngắn hạn bằng ngoại tệ

Các nghiệp vụ chủ yếu trên FX:

- Nghiệp vụ mua bán giao ngay (Spot Exchange): trong nghiệp vụ này, các đồng tiền được trao đổi để thanh toán trong vòng hai ngày làm việc sau khi giao dịch được thực hiện Tỷ giá giao ngay được niêm yết theo kiểu Mỹ hoặc Châu Âu Chênh lệch giá mua bán là khoảng cách giữa giá mua và giá bán của một đồng tiền Sự chênh lệch này bù đắp cho những chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch và phòng ngừa rủi ro

tỷ giá

- Nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn (Forward): là một thỏa thuận trao đổi tiền tệ vào một ngày tương lai với một tỷ giá đã được thỏa thuận từ trước Trong nghiệp vụ này, các hợp đồng kỳ hạn do các ngân hàng phát hành và trao đổi giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng cũng như với các khách hàng của khách hàng

Trang 26

- Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối (Swap): là giao dịch mà doanh nghiệp thực hiện đồng thời hai giao dịch, một giao dịch giao ngay để mua (hoặc bán) một lượng ngoại

tệ và một giao dịch kì hạn để bán (hoặc mua) chính lượng ngoại tệ đó trong tương lai

Tỉ giá giao dịch, lượng ngoại tệ giao dịch và kì hạn thanh toán được xác định tại thời điểm kí kết hợp đồng

- Nghiệp vụ tiền tệ tương lai (Future): là các giao dịch mua/bán ngoại tệ theo tỷ giá được xác định vào ngày giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào 1 thời điểm trong tương lai theo thoả thuận Trong nghiệp vụ này được cố định ngay về tỷ giá, tránh được rủi ro nếu tỷ giá biến động trong tương lai, tránh được rủi ro khan hiếm ngoại tệ trên thị trường

- Nghiệp vụ quyền chọn (Option): nghiệp vụ này cho phép người nắm giữ quyền nhưng không bắt buộc mua (quyền chọn mua) hoặc bán (quyền chọn bán) các đồng tiền Nghiệp vụ này rất hữu ích cho các công ty và các cá nhân sử dụng như là một công cụ để phòng ngừa rủi ro

 Đặc trưng của thị trường vốn với mục đích đầu tư phát triển dài hạn

 Tham gia vào thị trường vốn quốc tế: Chính phủ các nước, các công ty đa quốc gia, các ngân hàng thương mại lớn và các tổ chức quốc tế

Cấu trúc và hoạt động

- Bao gồm thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu quốc tế

- Hoạt động của thị trường vốn quốc tế bao gồm tại các trung tâm tài chính quốc

tế lớn trên thế giới được hình thành từ việc quốc tế hoá thị trường vốn của một số nước

có nền tài chính mạnh hoặc một số nước có vị thế kinh tế chính trị đặc biệt

2.3.1 Thị trường trái phiếu nước ngoài

2.3.1.1 Khái niệm

Trang 27

Là thị trường mua bán trái phiếu do người không cư trú (chính phủ, các công ty nước ngoài) phát hành tại một nước ghi bằng đồng tiền nước đó để thu hút vốn từ các nhà đầu tư nội địa

2.3.1.2 Thị trường chào bán công khai:

Trái phiếu được đăng ký và giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán - phải thoả mãn các điều kiện nhất định (chất lượng hay tín nhiệm, bảo lãnh, v.v…)

Là kênh rất quan trọng để cung cấp vốn trung – dài hạn cho các chủ thể không cư trú có nhu cầu sử dụng vốn

2.3.1.3 Thị trường chào bán không công khai

Nhà phát hành trái phiếu không cần phải đăng ký với sở giao dịch và có thể được bán trực tiếp cho nhà đầu tư Quy mô nhỏ và số lượng các nhà đầu tư tham gia cũng ít hơn

2.3.1.4 Đặc điểm

- Đặc điểm của loại trái phiếu nước ngoài là nó được thanh toán bằng đồng tiền của nước nơi nó được phát hành Tuy nhiên, cũng có những nước mà trái phiếu có thể được phát hành bằng đồng tiền khác Trong trường hợp này, tên của trái phiếu nước ngoài sẽ khác

Ví dụ: ở Nhật, trái phiếu phát hành bằng Yen tên là Samurai, phát hành bằng USD tên là Shogun

Thị trường trái phiếu nước ngoài lớn nhất là thị trường trái phiếu Mỹ và Nhật Bản sau đó là Châu Âu và thứ ba là thị trường Kangaroo của Úc, còn lại gồm các thị trường nhỏ hơn và gần đây như PRC (Panda bonds) và Taipei, China (Formosa bonds) Trái phiếu có kỳ hạn dài nhất được phát hành ở UK (trái phiếu Bulldog) kỳ hạn 13.1 năm,

và ở EU kỳ hạn là 12.7 Trái phiếu có kỳ hạn ngắn nhất được phát hành Switzerland: 1.7 năm Hy Lạp 2.9 năm

2.3.1.5 Phân loại

Nếu phân theo chủ thể phát hành, thị trường trái phiếu nước ngoài gồm ba nhóm, trái phiếu công ty, chiếm 51,1%, trái phiếu của các tổ chức quốc tế, chiếm 28.8%, trái phiếu chính phủ chiếm 20.1% Trong đó, trái phiếu của các tổ chức quốc tế có kỳ hạn trung bình dài nhất 7 năm, sau đó là trái phiếu chính phủ trung bình 6.6 năm, trái phiếu công ty có kỳ hạn trung bình là 4.9 năm Kỳ hạn cũng tương ứng với mức điểm tín

Trang 28

dụng của từng chủ thể phát hành các tổ chức quốc tế là AAA, của chính phủ là AA, của công ty là A Đa số các trái phiếu đạt điểm AAA được phát hành ở Nhật và thị trường trái phiếu Châu Âu-76.2%, sau đó là Australia-7.5%

2.3.1.6 Các công cụ phát hành

Trái phiếu gắn với cổ phiếu: là loại trái phiếu mà người nắm giữ có khả năng chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành Khi được phát hành lần đầu, các trái phiếu này đóng vai trò như một loại trái phiếu doanh nghiệp thông thường, có mức lãi suất thấp hơn một chút Vì các trái phiếu chuyển đổi thường có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu và người nắm giữ cũng sẽ hưởng lợi từ việc tăng giá của cổ phiếu được chuyển đổi nên các công ty thường đưa ra tỉ lệ lãi suất thấp đối với các trái phiếu chuyển đổi Nếu như công ty hoạt động kém hiệu quả thì trái phiếu sẽ không có khả năng chuyển đổi, do đó các nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được khoản lợi tức nhỏ bé mà trái phiếu này mang lại Điều này là hoàn toàn bình thường bởi lợi nhuận lúc nào cũng đi kèm với rủi ro!

Trái phiếu lưỡng tệ: Là loại trái phiếu ghi bằng một loại tiền tệ, nhưng lại thanh toán tiền lãi theo một loại tiền tệ khác tại một tỷ giá hối đoái cố định Hay còn được gọi là một công cụ nợ với lãi suất và gốc được thanh toán bằng hai loại tiền tệ khác nhau Loại tiền tệ phát hành trái phiếu được gọi là đồng tiền cơ bản sẽ được các lại tiền

tệ dùng để thanh toán lãi xác định dựa trên số tiền lãi được thanh toán Những trái phiếu lưỡng tệ là những ngoại tệ có thể gây rủi ro hối đoái rất cao Nếu những người nắm giữ trái phiếu là các loại tiền tệ chủ yếu sẽ được hoàn trả với giá cao thì họ sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn, nhưng nếu ngược lại thì người đó sẽ bị thua lỗ tiền Những nhà đầu tư có thể sử dụng cách thức hoán đổi lưỡng tệ bằng cách ấn định một

tỷ giá hối đoái cố định để bù đắp rủi ro hối đoái của trái phiếu lưỡng tệ

-Ngoài ra, trái phiếu lưỡng tệ cũng là một phương án tốt cho môt công ty đa quốc gia tài trợ cho một chi nhánh nước ngoài

-Trái phiếu tiền tệ đa quốc gia

2.3.1.7 Sự tham gia vào thị trường trái phiếu quốc tế:

a Đối với chính phủ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế, các ngân hàng

và các công ty đa quốc gia lớn:

-Chủ thể phát hành phải có hệ số tín nhiệm cao

-Có khả năng quản lý và sử dụng vốn hiệu quả

Trang 29

-Ghi danh bằng ngoại tệ mạnh khả năng quản lý sử dụng kém

-Không thể tận dụng ưu thế nợ luận chuyển

2.3.1.9 Các quy trình tham gia vào thị trường trái phiếu quốc tế

- Phân khúc thị trường: trái phiếu đạt điểm đầu tư và trái phiếu có lợi suất cao- Investment Grade and High Yield Bonds Trái phiếu đạt điểm đầu tư-Investment grade bonds là trái phiếu xếp 1 trong 4 hạng đầu tiên bởi một tổ chức xếp hạng tín nhiệm có

uy tín-thường là tổ chức tín nhiệm Moody’s, Standard & Poor’s, Fitch Những trái phiếu này thường được phát hành bởi các tập đoàn lớn rất uy tín Trái phiếu có lợi suất cao-High yield bonds, hay còn gọi là junk bonds, là các trái phiếu xếp hạng sau investment grade Những trái phiếu này thường được phát hành bởi các công ty mới thành lập, hoặc những công ty có điểm tín nhiệm bị giảm Trái phiếu có lợi suất cao thường có kỳ hạn ngắn hơn trái phiếu có điểm đầu tư, thường không quá 10 năm Lọai trái phiếu này có lợi suất rất cao Phân biệt rạch ròi hai loại trái phiếu này rất quan trọng, vì một số tổ chức đầu tư không bao giờ đầu tư vào trái phiếu không đạt điểm đầu tư

Trang 30

- Thông thường, điểm tín nhiệm của trái phiếu do một công ty nào đó phát hành không thể cao hơn điểm tín nhiệm của chính phủ nước của công ty đó Điều này được gọi là Sovereign ceiling hay country ceiling Tuy nhiên những đợt phát hành trái phiếu

có tài sản đảm bảo có thể vượt qua được điểm tín nhiệm trần đó Quy trình phát hành trái phiếu công ty trên thị trường trái phiếu quốc tế

- Khi một công ty muốn phát hành trái phiếu, họ có thể chọn phát hành trái phiếu trên thị trường nội địa hoặc thị trường quốc tế Thị trường nào được lựa chọn tùy thuộc vào việc công ty được hưởng giá ở đâu tốt hơn Để phát hành trái phiếu vào thị trường nước ngoài-trái phiếu nước ngoài, công ty cần tuân thủ các điều kiện giao dịch chứng khoán ở nước đó, cũng như những điều kiện đối với nhà phát hành nội địa Còn

để phát hành trái phiếu Châu Âu thì công ty chỉ cần tìm một nhà bảo lãnh phát hành trên thị trường, thường là các ngân hàng đầu tư hoạt động trên thị trường quốc tế, như Barclays, City và Deutsche Bank, sau khi đã phân tích tình hình tài chính công ty và tình hình thị trường Công ty có thể được tư vấn bởi các ngân hàng đầu tư trong lĩnh vực này Đứng từ góc độ một giám đốc tài chính của một công ty, khi quyết định phát hành trái phiếu ra nước ngoài, cần thông qua các bước sau:

+Bước 1: Phân tích tình hình trước khi phát hành trái phiếu

 Phân tích tình hình tài chính của công ty

 Phân tích tình hình quản lí • Lựa chọn nhà tư vấn

+Bước 2: Phân tích thị trường

 Phân tích trái phiếu-rủi ro, xếp hạng tín nhiệm

 Phân tích và lựa chọn thị trường nội địa hay thị trường quốc tế

+Bước 3: Chuẩn bị giao dịch-các yếu tố cơ bản

Quyết định các yếu tố cơ bản của trái phiếu

♦ Kích cỡ Kích cỡ của đợt phát hành tùy thuộc vào điều kiện của thị trường Công

ty phát hành và nhà tư vấn cần tính toán khả năng hấp thụ của thị trường.Ở thị trường nội địa thì không nên phát hành với khối lượng lớn vì rất khó bán Ngược lại, nếu phát hành trái phiếu châu Âu, phát hành với số lượng nhỏ sẽ không đạt được mức chi phí hiệu quả Vì phí tính trên phần trăm khối lượng phát hành, với khối lượng nhỏ hơn thì phần trăm tính phí lớn hơn Thường khối lượng phát hành trên thị trường này tối thiểu

là $75 đến 100 tỷ USD, hoặc hơn

Trang 31

♦ Mệnh giá- par value or face amount Hầu hết các trái phiếu công ty Mỹ có mệnh giá là $1000 Những cuộc mua bán riêng- (thường là với các trung tâm tài chính hay công ty đa quốc gia) thường có mệnh giá lớn hơn, $1,000,000 với bội số của $100,000

♦ Kỳ hạn Ở Mỹ, kỳ hạn của trái phiếu-bond là từ trên10 năm đến 12 năm, còn từ dưới 10 năm là note-giấy nợ (tạm dịch)

+ Giấy nợ ngắn hạn: kỳ hạn tối đa 5 năm

+ Giấy nợ trung hạn hay trái phiếu trung hạn 5-12 năm + Trái phiếu dài hạn kỳ hạn trên 12 năm

+ Trái phiếu có kỳ hạn 30 năm rất hiếm có ở Mỹ lần gần đây nhất loại này được phát hành là tháng 10/2001 tuy nhiên trái phiếu này là một chuẩn quan trọng để xác định lợi suất trái phiếu mới phát hành

Quyết định loại trái phiếu

♦ Lãi suất và hình thức trả lãi

Lựa chọn các hình thức trả lãi-xem phần các công cụ của thị trường trái phiếu quốc

tế Ở Mỹ, lãi thường được trả theo kỳ 6 tháng Còn trái phiếu Châu Âu thì trả lãi hằng năm Người phát hành cần nắm rõ luật để làm theo

♦ Tiền tệ Việc lựa chọn loại tiền tệ để định giá trái phiếu thường chịu ảnh hưởng bởi thị trường, cơ cấu vốn và đặc điểm dòng tiền của công ty Điều này sẽ giúp làm giảm rủi ro tỷ giá cho công ty Tuy nhiên, không phải thị trường nào cũng đủ sâu để tiêu thụ trái phiếu định giá bằng nội tệ

• Xem xét môi trường pháp luật của nơi sắp phát hành (Local Regulatory and Legal Environment) Cần nghiên cứu các luật sau ở thị trường sắp phát hành trái phiếu Luật chứng khoán (quy trình đăng ký chào bán trái phiếu, )

+ Những yêu cầu riêng đối với từng ngành,

+ Luật doanh nghiệp, các yêu cầu và giới hạn khác

+Bước 4: Chuẩn bị giao dịch - các loại giấy tờ cần thiết[3]

 Các chứng từ liên quan đến quá trình phát hành

Trang 32

 Đăng ký và niêm yết

 Marketing

 Định giá Bán riêng hay bán cho công chúng ? (Private or Public Placement) Công ty phát hành và nhà tư vấn của mình cần đánh giá xem nên bán ra công chúng hay nên bán riêng cho các QIB(thị trường luật 144A-xem phần 1) Nếu bán cho công chúng

2.3.2 Thị trường cổ phiếu quốc tế

2.3.2.1 Khái niệm

Là những nơi mua bán cổ phiếu được phát hành bởi các công ty nước ngoài Mỗi nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán đều phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán của mình Để tránh rủi ro, các nhà đầu tư tham gia thị trường cần có chiến lược đầu tư của riêng mình dựa trên những thông tin tham khảo từ môi giới, công ty chứng khoán, báo chí, các sở giao dịch

Bảng 2.1: Minh họa về tỷ số vòng quay cổ phiếu của các thị trường (Turnover

urg LUX 0,187035 1,424449 0,314511 0,169726 0,145454 0,167427 Netherla

nds NLD 207,7564 170,0478 129,8655 98,37214 88,26934 70,84969 Norway NOR 147,8101 152,3809 140,312 90,81912 88,64816 56,28184 Portugal PRT 122,2032 82,15343 54,70847 34,55773 50,31033 41,84987 Sweden SWE 163,4129 148,375 113,9901 86,75235 96,19282 72,9978 Spain ESP 189,6859 177,7168 142,5786 110,2468 128,8705 106,3183 Cyprus CYP 23,52764 12,12348 14,62913 10,68746 10,00274 11,98095 Kuwait KWT 76,15721 83,15505 68,86291 38,79265 19,40758 23,23478 Qatar QAT 38,09905 56,13053 31,0781 17,31856 18,5787 12,16907

Trang 33

Australia AUS 110,4982 103,1084 78,77879 90,07728 93,97287 84,6531 Hong

Kong SAR,

China

HKG 89,11239 130,5404 132,7269 160,1174 157,5876 123,0824

Japan JPN 141,555 153,2309 127,0805 114,4883 108,9108 99,84933 New

Zealand NZL 46,8722 88,27396 39,4859 25,83927 29,79258 33,0099 Singapore SGP 122,012 101,5554 102,8003 82,87855 74,81344 43,30986 Bermuda BMU 6,281 4,421722 3,069806 7,264588 1,696594 2,002321 Canada CAN 84,65961 111,0543 92,40002 71,10583 74,75031 61,58473 United

Sự hợp tác hay quốc tế hoá sở giao dịch cổ phiếu của một số nước: Singapore, Canada , NYSE,…

2.3.2.3 Phân loại thị trường cổ phiếu

Căn cứ vào cấp độ giao dịch bao gồm:

 Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các CK lần đầu được phát hành qua đó huy động vốn để đưa và đầu tư

- Thị trường này cung cấp hàng hóa cho TTCK , có khả năng thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm lớn nhỏ của từng hộ dân cư vừa có khả năng thu hút nguồn vốn to lớn từ nước ngoài, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các dn, các tổ chức tài chính, chính phủ tạo thành một nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế một cách có hiệu quả, hđ of TTCK cũng làm tăng vốn cho nhà phát hành thông qua việc bán CK cho nhà đầu tư

- Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dung bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm của mình tốt hơn

- Việc mua bán CK trên TT sơ cấp thường được tiến hành thông qua trung gian đó là NH

Trang 34

- Phương thức phát hành chứng khoán : phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng

- Thị trường này hoạt động không liên tục

 Thị trường thứ cấp: - Là thị trường mua đi bán lại các loại CK đã được phát hành lần đầu ở thị trường sơ cấp

- Thị trường thứ cấp tạo đk dễ dàng để bán những CK đã phát hành ở thị trường sơ cấp TT thứ cấp này làm cho các CK có tính lỏng hơn, tính lỏng này làm cho CK được

ưa chuộng và sẽ làm cho các tổ chức dễ dàng hơn cho các tổ chức phát hành bán chúng

- Việc mua bán trên TT thứ cấp được tiến hành thông qua các công ty môi giới

- Thị trường thứ cấp được tổ chức theo 2 cách: Thị trường tập trung, TT phi tập trung,

TT thứ 3 là thị trường trong đó hđ giao dịch mua bán được thực hiện thông qua hệ thống đấu giá của Sở giao dịch và hệ thống máy tính của thị trường OTC

- Thị trường này huy động liên tục các CK được mua đi bán lại làm tăng khả năng thanh khoản cho CK

Căn cứ vào phương thức tổ chức:

 Thị trường cổ phiếu niêm yết:

 Thị trường OTC: Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị trường được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định như thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung), mà dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin Thị trường OTC không có một không gian giao dịch tập trung Thị trường này thường được các CTCK cùng nhau duy trì, việc giao dịch và thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại và Internet với sự trợ giúp của các thiết bị đầu cuối

Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC thường thấp hơn thị trường giao dịch tập trung, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, song cũng có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn

Trang 35

 Thị trường UPCOM (Việt Nam) UPCOM (Unlisted Public Company Market) là tên gọi của thị trường giao dịch chứng khoán của các công ty đại chúng chưa niêm yết được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội UPCOM là sơ khai của thị trường OTC, có thể được xem là một trung gian giữa thị trường OTC và thị trường niêm yết Nó có phần giống với thị trường OTC nhưng được quản lý tập trung và chính thức

 Thị trường “chợ đen”

Căn cứ vào tính chất giao dịch:

 Thị trường tìm kiếm trực tiếp

 Thị trường môi giới

 Thị trường đấu giá

Bảng 2.2: Vốn hóa thị trường của một số quốc gia

Trang 36

(Nguồn: Standard & Poor's, Global Stock Markets Factbook and supplemental S&P data)

2.3.2.4 Ưu thế khi tham gia thị trường cổ phiếu quốc tế

- Tăng khả năng gọi vốn đầu cho các công ty ở các nước khác nhau, do vậy tận dụng lợi thế về cổ đông, quy mô đồng thời hạn chế rủi ro

- Đa dạng hoá quyền sở hữu, nâng cao vị thế và uy tín cho các công ty

- Người ta có thể có hàng trăm cách để đầu tư, muốn chọn được cách tốt nhất thì nhà đầu tư trước hết phải tìm được thông tin cơ bản về các công cụ tài chính mà

họ đang xem xét Trong thị trường chứng khoán cổ phiếu quốc tế là công cụ tài chính thường được sử dụng nhất, thường được buôn bán nhiều nhất do tính đại chúng và lượng thông tin nhiều Cổ phiếu là một chứng thư, chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần hay cổ phiếu là một giấy chứng nhận việc đầu tư vốn của một chủ thể vào một công ty cổ phần Các cổ đông không phải là chủ nợ của công ty mà là người hùn vốn của công ty hoạt dộng, là người chủ sở hữu một phần của công ty Cổ phiếu có thể nhiều loại tùy thuộc vào đơn vị phát hành như: Cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu biểu quyết, cổ phiếu phổ thông,

Trang 37

- Thứ nhất: Thị trường cổ phiếu quốc tế của Việt Nam mặc dù cũng non trẻ

nhưng nó cũng góp phần rất lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Và được các chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao và được coi là thị trường đầy tiềm năng Bên cạnh đó thì chính phủ Việt Nam cùng đó và đang rất quan tâm đến thị trường cổ phiếu quốc tế ở Việt Nam

- Thứ hai: Làn sóng tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần

Vấn đề tăng cường nội lực tài chính Sức mạnh từ nội lực sẽ là nguồn gốc để tăng trưởng một cách bền vững chứ không phải dụa vào nguồn lực từ bên ngoài Điều

đó cho thấy các nhà đầu tư đạt niềm tin tương đối lớn vào các thị trường cổ phiếu quốc tế trong và ngoài nhà nước

- Thứ ba: Quá trình nhảy vào các ngân hàng nước ngoài vào thị trường vốn ở

Việt Nam Ngân hàng nhà nước quyết định sở hữu tối đa đối với các ngân hàng ở nước ngoài góp vốn vào thị trường ở Việt Nam

Qua đó, ta có thể thấy được khả năng huy động vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường cổ phiếu quốc tế mà cụ thể ở đay là thông qua việc mua cổ phiếu để trở thành cổ đông Tuy nhiên ở đây chúng ta phải lưu ý là việc huy động vốn đầu tư nước ngoài phải hết sức phòng tránh việc thôn tính của các ngân hàng nước ngoài đối với các ngân hàng trong nước Từ đó có thể làm đảo lộn thị trường tài chính ở Việt Nam, tránh một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng Hơn nữa, hầu hết các Ngân hàng ở việt Nam còn non trẻ, chưa có kinh nghiệm trong việc quản lý và

sử dụng vốn một cách hiệu quả từ các nguồn vốn có thể huy động được Từ đó mới thấy hết được tầm quan trọng của thị trường cổ phiếu quốc tế trong và ngoài nhà nước

2.3.2.5 Các nghiệp vụ đẩu tƣ cổ phiếu quốc tế

Các nghiệp vụ đầu tư trên thị trường OTC: Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị trường được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định như thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung), mà dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin Thị trường OTC không có một không gian giao dịch tập trung Thị trường này thường được các CTCK cùng nhau duy trì, việc giao dịch và thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại và Internet với sự trợ giúp của các thiết bị đầu cuối

Trang 38

Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC thường thấp hơn thị trường giao dịch tập trung, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, song cũng có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn

Ngoài ra còn có các nghiệp vụ đầu tư tại sở giao dịch chứng khoán

C U H I N T P CHƯƠNG 2

Câu 1: Phân tích vai trò của thị trường TCQT

Câu 2: Nêu sự giống và khác nhau giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu

Câu 3: Trình bày những ưu thế khi tham gia thị trường cổ phiếu quốc tế

Câu 4: Trình bày các nghiệp vụ đẩu tư cổ phiếu quốc tế

Câu 5: Trình bày nội dung cơ bản về thị trường OTC? Cho ví dụ minh họa

Câu 6: Các nghiệp vụ đầu tư trên thị trường OTC? Cho ví dụ minh họa

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2

[1] Dương Đăng Chinh (2002), Tổng quan về Tài chính quốc tế và môn học Tài chính quốc tế, Nhà xuất bản Tài chính

[2] Vũ Văn Hóa, Lê Văn Hưng (2009), Giáo trình Tài chính quốc tế, Trường Đại học

kinh doanh và công nghệ Hà nội, Nhà xuất bản Tài chính

[3] Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Định, Nguyễn Thị Ngọc Trang, Nguyễn Thị Liên

Hoa, Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Tài chính quốc tế, Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí

Minh – Nhà xuất bản Thống kê

[4] Nguyễn Văn Tiến (2001), Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở, Học

viện Ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê

[5] Nguyễn Văn Tiến (2010), Giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện Ngân hàng, Nhà

xuất bản Thống kê

Trang 39

CHƯƠNG 3: CHU CHUYỂN VỐN QUỐC TẾ

Trên thực tế, các giao dịch phát sinh từ kinh doanh quốc tế có thể khiến cho tiền luân chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác Trong chương này chúng ta sẽ tập trung thảo luận về các nội dung chính như sau:

- Các vấn đề cơ bản về cán cân thanh toán

- Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai

- Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vốn

- Các tổ chức giám sát việc chu chuyển vốn quốc tế

3.1 Cán cân thanh toán

vị vàng của một nước, khi ấy, cán cân thanh toán chỉ là một bảng thống kê đơn giản về giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá của một nước Sau đó, nó dần dần được bổ sung cho đầy đủ, hoàn chỉnh và có phần phức tạp hơn, phản ánh tổng hợp, toàn bộ những trao đổi về giá trị hàng hoá, dịch vụ, thu nhập, vốn giữa các tổ chức và người cư trú của một nước với các tổ chức và người không cư trú của các nước khác trên thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ 2, năm 1945, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã có hướng dẫn thống nhất về mẫu biểu, hình thức, nội dung và nguyên tắc ghi chép các số liệu trên Bảng cán cân thanh toán quốc tế và yêu cầu các nước thành viên trong tổ chức này phải có nghĩa vụ thực hiện Cụ thể: năm 1948, trong quy chế của IMF quy định rõ: IMF có quyền yêu cầu các nước hội viên cung cấp, xây dựng cán cân thanh toán quốc

tế Vì thế, tất cả các nước hội viên đã tuân thủ thực hiện việc thống kê Bảng cân đối thanh toán của nước mình theo đúng mẫu biểu, hình thức, nội dung và nguyên tắc ghi chép số liệu do IMF quy định

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm cán cân thanh toán quốc tế như sau:

Trang 40

Cán cân thanh toán là bảng báo cáo tổng hợp về các giao dịch kinh tế quốc tế của các cư dân trong quốc gia này với các cư dân của quốc gia khác trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Nói một cách khái quát, cán cân thanh toán là bảng ghi nhận các luồng di chuyển tiền tệ, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư vào và ra của một quốc gia

3.1.2 Nội dung của cán cân thanh toán

Cán cân thanh toán thực chất là bảng báo cáo thực chi tiền tệ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Có hai loại giao dịch chủ yếu liên quan đến cán cân thanh toán: giao dịch tài sản thực hay tài sản hữu hình và giao dịch tài sản chính hay tài sản

3.1.3 Các nguyên tắc kế toán trong cán cân thanh toán

Cán cân thanh toán áp dụng kỹ thuật ghi sổ kép của kế toán Ghi sổ kép là một phương pháp kế toán trong đó các giao dịch phát sinh phải tạo ra đồng thời một khoản ghi có và ghi nợ bằng nhau Khi vận dụng nguyên tắc này cần lưu ý một số nội dung sau đây:

Ghi nợ và ghi có trên cán cân thanh toán

Để ghi chép vào cán cân thanh toán, các giao dịch quốc tế được phân loại thành giao dịch ghi có và giao dịch ghi nợ Giao dịch ghi có là các giao dịch liên quan đến việc nhận tiền thanh toán từ người nước ngoài Các giao dịch này bao gồm xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; nhận viện trợ và chuyển dịch vốn vào từ nước ngoài Các giao dịch ghi có được ghi nhận trên cán cân thanh toán với dấu cộng (+)

Với các giao dịch ghi nợ là các giao dịch liên quan đến việc chi trả tiền cho nước ngoài bao gồm nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ; viện trợ cho nước ngoài, tặng quà và chuyển dịch vốn ra nước ngoài Trái với các giao dịch ghi có, các giao dịch ghi nợ được ghi nhận trên cán cân thanh toán với dấu trừ (-)

Trong các giao dịch được đề cập phía trên, cần lưu ý và làm rõ về hai loại giao dịch liên quan đến chuyển dịch vốn ra nước ngoài và chuyển dịch vốn vào từ nước ngoài, cụ thể là:

Ngày đăng: 29/11/2020, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w