Từ năm 1946, cả nước tập trung vào cuộc chiến tranh chống thực dânPháp, có lẽ vì thế mà không có bài viết nào về thơ Quách Tấn đăng trên báo.Sang chặng 1955-1975, trong Nam ngoài Bắc đều
Trang 1
-CAO HOA PHƯỢNG
ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁCH TẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2
-CAO HOA PHƯỢNG
ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁCH TẤN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam.
Mã số: 8220121.
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAMNgười hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Lệ Thanh
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệutrích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận vănđều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm
2018
Tác giả luận văn
Cao Hoa Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giámhiệu, Khoa Sau đại học, Văn - Xã hội, Trường Đại học Khoa học, Đại họcThái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốtquá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viênhướng dẫn TS Trần Thị Lệ Thanh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trongsuốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồngnghiệp đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Cao Hoa Phượng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Giai đoạn trước 1945
2.2 Giai đoạn từ 1945-1975 .
2.3 Giai đoạn từ 1975 đến nay .
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Mục đích nghiên cứu
5 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5 1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 2 Phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận văn
7 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: SỰ HIỆN DIỆN CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁCH TẤN TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI .
1.1 Đôi nét về phong trào “Thơ Mới”
1.2 Nhà thơ Quách Tấn - cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.2.1 Cuộc đời
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
1.3 Vị trí của thơ Đường luật Quách Tấn trong phong trào thơ Mới
Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ QUÁCH TẤN 25 2.1 Cảm hứng về thiên nhiên
2.1.1 Hình ảnh mùa thu
2.1.2 Hình ảnh ánh trăng
2.2 Cảm hứng về Tình yêu Quê hương đất nước
2.2.1 Tình yêu Quê hương đất nước: Những nơi nhà thơ đã đi qua
Trang 62.2.2 Tình yêu Quê hương đất nước: Nơi gia đình đang sinh sống và đoàn tụ 54
2.3 Nỗi niềm hoài cổ 60
Chương 3: NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁCH TẤN 68
3.1 Những nét mới trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ thơ Quách Tấn 68
3.2 Những nét mới trong giọng điệu thơ Quách Tấn 75
3.1.1 Giọng điệu tao nhã, cổ kính 75
3.2.2 Giọng điệu khoan hòa, giản dị 77
3.2.3 Giọng điệu u buồn 78
3.3 Những nét mới trong việc tổ chức nhịp điệu trong thơ Đường luật Quách Tấn 82 3.4 Nghệ thuật kết cấu 84
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ở nửa đầu thế kỷ XX, khi Thơ Mới ra đời và thắng thế, thơ Đường Luật
đại diện cho thơ cũ từ góc độ thể loại Trong khi các nhà thơ Cũ chưa thừanhận cái Mới trong thơ thì ngược lại các nhà thơ Mới lại thừa nhận sự vươngvấn của mình với cái hồn thơ Cũ Nhiều người tuy phải đấu tranh trực diện đểtẩy chay thơ cũ, nhưng trong thâm tâm, tự không muốn cự tuyệt hoàn toàn vớithơ Cũ Tác giả Nguyễn Sĩ Đại có lý khi nhận xét: “Các thi sĩ của phong tràoThơ Mới, vào những năm 30 của thế kỷ này, bằng những trận bút chiến nẩylửa, bằng thực tế sáng tác vẻ vang của mình, ngỡ là đã khâm liệm được mộtnền thơ cũ, chủ yếu là đường luật Nhưng rồi thơ vẫn là thơ, … nhiều ngườitrong số họ đã tự giác học tập, những thi pháp của thơ cổ điển… Dường nhưtrong tận cùng của mọi tìm tòi khám phá, họ đã chạm tới cái mà hàng chục thế
kỷ trước, người ta đã làm”[15] Nghiên cứu để chỉ ra những âm vang của LuậtĐường trong phong trào thơ Mới là một việc làm cần thiết
1.2 Điểm lại những gương mặt tiêu biểu cho dòng thơ Đường luật Việt Nam
ở nửa đầu thế kỷ XX, đầu tiên phải kể đến nhà thơ Quách Tấn Vị trí tiêu biểunày có được không phải chỉ bởi ông là người đại diện cuối cùng cho “Mộttrường thơ đang hồi tẻ nhạt” [35 - tr4] như nhận xét của Chế Lan Viên, màcòn bởi sự kiên định của ông khi chọn thể thơ Đường luật cho hầu hết cácsáng tác của cuộc đời mình Quách Tấn chính là một trong những nhà thơ cócông lớn trong việc kéo dài sinh mệnh nghệ thuật của thơ Đường Luật Việt
Nam đầu thế kỷ XX Sau Mùa cổ điển khái niệm thơ Đường luật đã được tách
ra khỏi khái niệm thơ Cũ Sự lựa chọn những bài Đường luật của Quách Tấn vào Thi nhân Việt Nam chính là sự thừa nhận khả năng thích ứng của thể thơ
Đường luật với cái hồn thơ Mới Nghiên cứu thơ Đường luật Quách Tấn
Trang 8ngoài việc chỉ ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật còn là sự khámphá đặc điểm thơ Đường luật của Quách Tấn trong phong trào thơ Mới.
1.3 Theo tác giả Trần Thị Lệ Thanh ‘‘Trong bối cảnh những năm 30 đầy biến
động và suốt khoảng thời gian thơ Mới thực hiện cuộc cách mạng trong thi
ca, bằng Đường Luật, Quách Tấn vẫn đem đến cho bạn đọc một tiếng nói riêng, tuy nhỏ nhẹ, kín đáo nhưng đầy sức hấp dẫn” [48] Nghiên cứu thơ
Đường luật Quách Tấn vì thế sẽ cho một cái nhìn vừa toàn diện hơn vừa chitiết đối với một hiện tượng văn học diễn ra ở nửa đầu thế kỳ XX
1.4 Mặc dù có nhiều đóng góp cả về số lượng và chất lượng, lại giữ vị trí
quan trọng trong dòng thơ Đường luật Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX, nhưngcho tới nay việc nghiên cứu thơ Đường luật Quách Tấn vẫn chưa được quantâm tương xứng với những gì nó có Đề tài được thực hiện với mục đích cóthể cung cấp thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu và giảng dạy bậc đại họcsau này
1.5 Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Đặc điểm thơ Đường
luật Quách Tấn làm nội dung nghiên cứu Hy vọng đề tài sẽ có những đóng
góp cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Giai đoạn trước 1945
Giữa lúc “thơ Mới” và “thơ Cũ” đang tranh luận trên báo chí thì thơ
Quách Tấn xuất hiện Một tấm lòng ra đời năm 1939 được Hàn Mặc Tử đề bạt
và Tản Đà đề tựa Trong lời đề bạt, Hàn Mạc Tử đánh giá rất cao, còn Tản Đàthì ngợi khen hiếm thấy Tuy nhiên, chỉ riêng sự ưu ái của Hàn Mặc Tử, trước
Một tấm lòng, và sự im lặng của phái mới trước việc xuất bản một tập thơ Cũ,
chưa đủ sức lôi cuốn bạn đọc trở lại với dòng thơ Đường luật Phải đợi đến
Trang 9hai năm sau (1941) khi Quách Tấn cho ra tiếp Mùa cổ điển (ban đầu có tên là
Tấm lòng riêng, tại nhà in Thụy Ký - Hà nội) thì nhiều bạn đọc đã không thể
khước từ một giọng thơ “nhẹ nhàng, êm ái, có sức cuốn hút lạ lùng” [36] màbuộc lòng phải công nhận, thì ra thơ Đường luật vẫn âm ỉ sống và chính nó
chứ không phải ai khác đã kết thúc thời kỳ “phân chia thơ bằng hai chữ mới –
cũ chẳng có ý nghĩa gì” [35] Thậm chí ngay từ khi đọc bản thảo Mùa cổ điển
có tác giả đã thốt lên: “Chỉ một bài Đêm thu nghe quạ kêu, chừng nấy thôi
cũng đủ cho ta thấy thi sĩ đã vượt lên trên những thi sĩ có tiếng như: Bà HuyệnThanh Quan, Yên Đổ, Chu Mạnh Trinh ” [37] Nhà thơ Chế Lan Viên tronglời tựa cũng ghi nhận những nỗ lực của Quách Tấn trong bối cảnh lúc đó:
“Mùa cổ điển bé bỏng, nhưng quá đầy đủ, trước hết đã giải cho ta một mối
lầm ác nghiệt, là phân chia bờ cõi thơ bằng hai chữ Mới - Cũ chẳng có ý nghĩa
gì ” [36 – tr7] Thực chất đây là sự nhìn lại khá lý thú, được tổng kết có lẽ
không chỉ đúng với Mùa cổ điển của Quách Tấn mà còn đúng với nhiều hiện
tượng thơ ca khác ở nửa đầu thế kỷ XX, trong đó có thơ Đường luật
Sau Mùa cổ điển, Quách Tấn còn nhận được nhiều lời khen ngợi công
khai trên báo chí và nhiều lời tán thưởng của bạn bè xa gần qua thư từ Về
chuyện mới - cũ, không ai còn lên tiếng tranh luận gì thêm Đến đầu năm
1942, trong Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh - Hoài Chân mới nhìn lại cuộc
đấu tranh ấy một cách bình tĩnh hơn và tìm cách xác định lại những cáchhiểu khác nhau của hai phái về các khái niệm thơ Mới - thơ Cũ Ông
viết:“Hồn thơ Đường vắng đã lâu, nay lại trở về trong thơ Việt Đêm đã khuya, tôi ngồi một mình xem thơ Quách Tấn Tôi lắng lòng để đón một sứ giả đời Đường, đời Tống Quách Tấn đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía Người đã thoắt hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ ” [42 – tr267].
Trang 10Năm 1943, nhà văn Vũ Ngọc Phan lại dành một vị trí xứng đáng choQuách Tấn trong công trình bề thế của mình “Nhà văn hiện đại” Tác giả
nhận xét:“Ông là nhà thơ rất sở trường về thơ Đường Tất cả thơ trong tập
thơ Một tấm lòng và Mùa cổ điển của ông đều là thơ tứ tuyệt và bát cú” [31
– tr665].
Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn đầu, tuy chưa được quan tâmnghiên cứu đầy đủ và hệ thống, nhưng các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình đềukhẳng định nét đẹp, cái mới trong thơ Đường luật của Quách Tấn Các bài viếtđều trân trọng những đóng góp của thơ Quách Tấn đối với nền văn học ViệtNam hiện đại
2.2 Giai đoạn từ 1945-1975.
Từ năm 1946, cả nước tập trung vào cuộc chiến tranh chống thực dânPháp, có lẽ vì thế mà không có bài viết nào về thơ Quách Tấn đăng trên báo.Sang chặng 1955-1975, trong Nam ngoài Bắc đều có nhắc đến Quách Tấntrong các công trình nghiên cứu, các bộ văn học sử Chương sách viết về
giai đoạn văn học 1930-1945 trong các bộ văn học sử ở ngoài Bắc như: Lược
thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn; Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Văn Sử Địa; Văn học Việt Nam 1900-1945 của Đại
học Tổng hợp Hà Nội, khi viết về văn học lãng mạn các nhà nghiên cứu đều
nhắc đến Quách Tấn với hai tập thơ Một tấm lòng và Mùa cổ điển Trong công trình Thơ ca Việt Nam: Hình thức và thể loại, Bùi Văn Nguyên và Hà
Minh Đức có chỉ ra sự đổi mới, sáng tạo của Quách Tấn qua hình thức thơ cũ
đã đưa ra nhận xét :“Hãy nói những bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật của Quách Tấn trong Mùa cổ điển dù có bị gò bó vào khuôn khổ đối thanh, đối ý,
bằng trắc phân minh, vẫn thoát được, để tạo sự đối mới trong cấu trúc lờivăn Nói chung, các nhà thơ ta vừa kế thừa, vừa nâng cao các hình thức thơ
Trang 11ca cổ truyền, vừa tiếp thu có sáng tạo các thể thơ mới du nhập từ phương
Tây” [30 – tr25].
Trong Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học, Tuệ Sỹ đã chỉ ra
những nét đặc thù của thơ Quách Tấn: “Nhà thơ của chúng ta trong mộtthoáng rung động kỳ diệu nào đó đã đọc ra bản chất tồn tại sâu xa của tạovật Cũng chỉ với tâm hồn ấy mới có thể đọc ra những ẩn ngữ ấy trong lớp vỏ
vô tri và vô nghĩa ấy” [20 – tr539]
Trong Giai Phẩm Văn ra tháng 10 năm 1970, học giả Tam Ích có gởi
cho ông Trần Phong Giao (Tổng thư ký tòa soạn) một bức thư, trong đó viết:
“Còn nói thơ Quách Tấn là điêu luyện, là hay thì ai chả nói được, cái hay của
thơ nó ở đâu đâu ấy, chứ chẳng ở riêng nơi từ, nơi tứ, nơi ý, nơi mạch, hay là
nó ở cùng một lúc ở từ, ở tứ, ở ý, ở mạch, ở cả bốn chốn ấy” [20 – tr109] Trên tạp chí Thời Tập số 15 năm 1974, Hồ Ngạc Ngữ có nhận xét về cái nhìn tâm linh trong sáng tác thơ của Quách Tấn: “Tâm sự văn chương của
tiên sinh đã mở ra một con đường rộng lớn dẫn đến những nguồn cội vi diệucủa thi ca, trong đó có đời sống, con người và thơ đã hòa chan với nhau mộtcách trọn vẹn Tất cả chỉ là một Và nhà thơ là một thiền sư đã phá tan đượcnhững đại nghi trong tâm hồn đến với đời sống bằng chính cái nhìn tâm linh
cao cả nhất”.
Qua những bài viết về Quách Tấn từ 1945-1975 vừa nêu có thể nhậnthấy rõ một điều hầu hết các nhà phê bình đều đánh giá cao quan điểm tíchcực của nhà thơ trong giai đoạn này, đồng thời từ ngôn từ cho đến phong vịthơ đều mang âm hưởng Đường thi với việc tuân thủ tính quy phạm của thểloại nhưng mới ở chỗ dùng từ, đặt câu, hàm súc, đa nghĩa
Trang 122.3 Giai đoạn từ 1975 đến nay.
Tín tuổi vă thơ Đường luật của Quâch Tấn đê được ghi nhận trong Từ
điển văn học Trín câc bâo vă tạp chí như Tạp chí Văn, Tuần bâo Văn nghệ thănh phố Hồ chí Minh, bâo Khânh Hoă đều có đăng nhiều những băi viết
về Quâch Tấn Đặc biệt từ năm 1992 lúc nhă thơ từ giê cõi đời đê có hơn haimươi băi viết về ông, về thơ văn vă câc công trình biín khảo của ông Tất cảđều đânh giâ cao tăi thơ, vị trí của ông trong văn học hiện đại
Năm 2000 Quâch Giao, con trai nhă thơ Quâch Tấn đê chọn lọc “Nhữngbăi thơ kỷ niệm” trong câc bộ Thi phâp, Thi Thoại vă Hồi ký của phụ thđn anh
để biín tập vă cho xuất bản cuốn “Trường Xuyín thi thoại – Những băi thơ kỷniệm” trong đó tập hợp những băi thơ hay của nhă thơ Quâch Tấn đi kỉm vớinhững lời bình, hoặc chú thích về hoăn cảnh sâng tâc Cuốn sâch được đôngđảo bạn đọc đón nhận
Trong bộ Từ điển tâc giả Văn học Việt Nam (2003), Trần Mạnh Thường
cho rằng: “Quâch Tấn lă một nhă thơ chuyín Đường luật Có lẽ từ đầu thế kỷđến nay, không một nhă thơ năo chuyín chú vă có công với thơ luật bằngông; vì ông đê sâng tâc trín ngăn băi thơ Đường, kể cả thơ dịch Đó lă cốnghiến lớn của ông với thơ ca Việt Nam[54 – tr128]
Nhă nghiín cứu Nguyễn Hiến Lí, trong hồi ký của mình đê viết về nhăthơ Quâch Tấn: “Quâch Tấn lă nhă thơ siíng năng nhất, sâng tâc mạnh nhất…Tôi cho rằng từ đầu thế kỷ đến nay không ai có công với thơ luật bằng ông,ông có trín ngăn băi thơ luật, kể cả thơ dịch” [20 – tr279-286]
Trần Đình Sử trong băi Chút duyín với thơ Quâch Tấn đê nhận xĩt:
“Quâch Tấn lă nhă thơ đi ngược lại phong trăo thơ Mới, ông vững tđm lămthơ cũ giữa lúc những lời công kích chế giễu thơ cũ đang rộn lín như ong Vẵng đê thắng”
Trang 13Từ năm 1999 đến 2001 tác giả Trần Thị Lệ Thanh trong hàng loạt cáccông trình bài viết của mình đều lấy dẫn chứng từ những sáng tác của QuáchTấn như: Sự giao lưu văn hoá Đông – Tây và số phận của thể thơ Đường luậtnửa đầu thế kỷ XX, tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 178/1999; Những tiếp giaochuyển đổi giữa cái cũ và cái mới trong thơ Đường luật và thơ Mới ở nửa đầuthế kỷ XX, Thông báo khoa học, số 5/1999, Trường Đại học Sư phạm HàNội; Quách Tấn với thơ Đường luật, Báo Tân Trào Tuyên Quang, số 118tháng 9/1999; Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX: một số lượng đáng kinh ngạc, Thông báo khoa học, số 5/2000, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm 2002, trong Luận án Tiến sĩ về Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XX, tác giả Trần Thị Lệ Thanh lại một lần nữa đặc biệt quan tâm nghiên
cứu và dành nhiều trang viết về thơ Đường luật Quách Tấn Mười năm sau
(2012) trong cuốn Đặc điểm thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, một
lần nữa tác giả Trần Thị Lệ Thanh lại có những nhận xét rất tinh tế về thơĐường luật Quách Tấn Gần đây, trong bài “Những tiếp giao chuyển đổi giữacái cũ và cái mới trong thơ Đường luật Quách Tấn” tác giả Trần Thị Lệ Thanh
đã đưa ra nhiều gợi ý mới mẻ về những cách tân nghệ thuật của nhà thơQuách Tấn trong thể loại Đường luật khi hòa nhập với dòng thơ Mới
Tóm lại, mặc dù đã có một số công trình bài viết quan tâm đến QuáchTấn, nhưng cho tới nay việc nghiên cứu thơ Đường luật Quách Tấn vẫn chưađược quan tâm đầy đủ và hệ thống Điều này đòi hỏi phải có một công trìnhnghiên cứu công phu và đầy đặn hơn để có câu trả lời thỏa đáng về tác giảnày
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ những sáng tác bằng thể thơ Đườngluật của Quách Tấn
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu: Sáng tác thơ Đường luật của Quách Tấn kháphong phú và tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau (trên các sách, báo, văn bảnchép tay…) Tuy nhiên, trong điều kiện thời gian và khuôn khổ, đề tài xinđược giới hạn phạm vi nghiên cứu chính của luận văn là thơ Đường luật
Quách Tấn trong hai tập thơ: Mùa Cổ điển (1939) và Một tấm lòng (1941) Một số tác phẩm trong cuốn Hồi ký Bóng ngày qua và những sáng tác thơ
Đường luật nếu có ở ngoài phạm vi này, chúng tôi sẽ quan tâm khi cần thiếtphải so sánh
4 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá đặc điểm thơ đường luật Quách Tấn từ
đó xác định vị trí, đặc điểm và những đóng góp tiêu biểu của thơ Đường luậtQuách Tấn trong nền văn học Việt Nam hiện đại, giai đoạn nửa đầu thế kỷXX
5 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5 1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm vững và biết vận dụng những lý thuyết cơ bản liên quan đến thơĐường luật để phân tích và nhận diện đặc điểm của thơ Đường luật QuáchTấn như một hiện tượng văn học sử
- Trên cơ sở phân tích những nhân tố tác động đến quá trình sáng tác thơĐường luật Quách Tấn, nghiên cứu, đánh giá những cách tân về nội dung vànghệ thuật của thơ Đường luật Quách Tấn trong phong trào thơ Mới
5 2 Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu về một thể loại thơ của một tác giả trong vănhọc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cho nên luận văn sử dụng phương pháp loạihình để nghiên cứu thơ Đường luật của Quách Tấn, bên cạnh đó còn sử dụngmột số phương pháp hỗ trợ khác như : Phương pháp nghiên cứu tác giả;phương pháp nghiên cứu tác phẩm; phương pháp phân tích - tổng hợp;phương pháp so sánh; phương pháp nghiên cứu lịch sử; phương pháp thống kêphân loại
Trang 156 Đóng góp mới của luận văn
Có thể nói đây là lần đầu tiên đặc điểm thơ Đường luật Quách Tấn đượctập trung khảo sát, phân tích một cách toàn diện, có hệ thống
Kết quả của luận văn có thể góp phần nâng cao hiệu quả của việc tiếpcận thơ Đường luật trong hoạt động dạy và học ở nhà trường Ngoài ra đâycòn là tài liệu tham khảo có giá trị đối với bạn đọc yêu thích thơ văn nóichung và yêu thích thơ Quách Tấn nói riêng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Mục lục, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Sự hiện diện của thơ Đường luật Quách Tấn trong phong
trào thơ Mới
Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Đường luật Quách Tấn Chương 3: Những cách tân nghệ thuật trong thơ Đường luật Quách Tấn
Trang 16Chương 1
SỰ HIỆN DIỆN CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT QUÁCH TẤN
TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI 1.1 Đôi nét về “Thơ Mới”
Năm 1932, được coi là một năm chính thức mở màn của phong trào thơMới.Với sự xuất hiện của rất nhiều những cây bút tên tuổi như: Lưu Trọng
Lư, Phạm Huy Thông, Vũ Hoàng Chương, Vũ Đình Liên Nhưng tiêu biểu
hơn cả phải kể đến bài thơ Tình già của Phan Khôi Bài thơ đã xuất hiện trên
Phụ nữ tân văn và nó đã tạo nên một làn sóng hưởng ứng mạnh mẽ của lớp
thanh niên và gây hoang mang cho lớp Nho học lúc bấy giờ
Xét về mọi phương diện, bài thơ Tình già không phải là một bài thơ
hay Nhưng trong bối cảnh lúc bấy giờ, nó đã gây nên một biến cố văn học.Lực lượng sáng tác chia thành hai mặt trận: Theo phái Mới có Phan Khôi,Thế Lữ, Lư Trọng Lư, Vũ Đình Liên, theo phái cũ có Nguyễn Văn Hanh,Thái Phỉ, Tùng Lâm, Hoàng Duy Từ Tuy nhiên ở giữa hai phái (gọi là phetrung gian), người ta ghi nhận sự hiện diện của thi sĩ Tản Đà
Sau Tình già, gần như ngay lập tức những bài thơ Mới nối tiếp nhau xuấthiện, trong đó những sáng tác đặc sắc gắn liền với những gương mặt tiêu biểulần lượt như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…
Cùng với nhóm thơ như Xuân thu nhã tập, nhóm Bàn thành tứ hữu…Nhờ phong trào thơ Mới mà diện mạo văn hóa Việt Nam giai đoạn này thật sự khởi
sắc, cái tôi cá nhân trữ tình được khẳng định rõ nét, tạo bước nhảy vọt trongquá trình hiện đại hóa văn học như lời khẳng định của nhà phê bình Vũ Ngọc
Phan trong Nhà văn hiện đại: “Ở nước ta, một năm có thể kể như ba mươi
năm của người”[31]
Lúc này, một số nhà thơ Mới họ chỉ trích thơ cũ, họ chê thơ Đường luật
gò bó, khuôn sáo, hình ảnh cảm xúc, thi tứ đều vay mượn Tiêu biểu là các
Trang 17nhà thơ Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên…Trước tình thế ấy, phái thơ cũ cũngphản kháng lại kịch liệt và gay gắt Họ chê những nhà thơ Mới là mù quáng,dốt nát, vì không biết làm thơ Đường luật nên chê bai và không biết trân trọngcác thể thơ truyền thống Cuộc chiến giữa hai phái không cân đối Lực lượngcủa phái mới đông đảo, mạnh mẽ, hăng hái và đặc biệt là trẻ hơn phái cũ nên
họ có sức đột phá hơn Bên cạnh đó các nhà thơ Mới có được sự thuận lợi
nhất định là tờ Phong Hóa và đội ngũ các nhà thơ- là những người có năng
lực, dày kinh nghiệm cùng kiến thức Tây học
Các nhà thơ Mới đã đi tìm hình thể cho thơ, thể hiện cảm xúc chân thực,
đề ra một chuẩn mực mới cho cái Đẹp Người được đánh giá cao với nhữngbước đột phá táo bạo và tài hoa lúc đó là Xuân Diệu Nếu Thế Lữ được xem làngười khai phá của phong trào thơ Mới thì Xuân Diệu là người nối tiếp mạchnguồn đó một cách tinh tế và đưa thơ Mới phát triển đạt tới đỉnh cao Ở thơMới, các nhà thơ đã khẳng định mình và tuyên bố quyền sống của mình, ýthức về mình đã dẫn tới ý niệm về kẻ khác Cảm xúc và tâm trạng mang đậm
tính chủ quan, thể hiện cái tôi cá nhân: Tôi là một, là riêng là thứ nhất của Xuân Diệu trong bài Hy-mã-lạp-sơn hay Tôi là thi sĩ của yêu thương của Nguyễn Bính trong bài Một trời quan tải Nếu thơ Mới ban đầu là lãng mạn
thì về sau lại nghiêng về phía tượng trưng, siêu thực Cái tôi thi nhân đứng ở
vị trí trung tâm, nó làm tăng tính tự giác và hợp quy luật của một trào lưu thơ
Nó hóa thân vào những tư cách mới vừa có bề rộng lẫn bề sâu Tuy thơ Mớivẫn chưa ôm trùm được hết mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như của nghệthuật nhưng nó đã đánh dấu một bước chuyển lớn của thơ trữ tình Việt Nam
từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại với một quan niệm và tư duynghệ thuật mới, hệ thống phương thức mới khi tái hiện hiện thực cuộc sống.Trong quá trình giao lưu văn hóa, sự du nhập của thơ ca Pháp vào thơ caViệt Nam là điều không tránh khỏi Thơ ca Pháp như một luồng gió mới thổivào hồn thơ Việt Thơ Mới đã thoát khỏi sự ràng buộc của thơ cách luật, đổi
Trang 18mới về mặt thi pháp và tư duy thơ, tư duy bằng liên tưởng, bằng tưởng tượng,
bằng cảm giác, bằng âm thanh…là do ảnh hưởng của tư duy thơ hiện đại (ở
đây muốn nhấn mạnh là thơ Pháp) Các nhà thơ Pháp như Baudelaire (1821
-1867), Verlaine (1844 - 1896), Lamartine (1790 - 1869)…đều có ảnh hưởngsâu đậm đến thơ Mới của nước ta Các tác giả như Huy Cận, Xuân Diệu, HànMặc Tử, Đoàn Phú Tứ, Bích Khê… có thể coi là tiêu biểu nhất với nhữngsáng tác thơ mang tính tượng trưng và siêu thực
Nếu ban đầu thơ Mới chịu ảnh hưởng sâu đậm của thơ Pháp thì về sauthơ Mới có sự kết hợp nhịp nhàng giữa Đông và Tây, đó là sự tương hợp âmthanh, màu sắc con người và vũ trụ của Đường thi với thơ Pháp trên cơ sởngôn ngữ và truyền thống văn hóa Việt Thơ Mới đã thay đổi thơ trữ tình tiếng
Việt từ câu thơ điệu ngâm sang câu thơ điệu nói Thơ Mới có thể giải bày mọi
bí mật của cõi lòng riêng tư: từ nỗi buồn, sự cô đơn, những khát khao, sự chántrường, sự cô đơn hưu quạnh…Đặc biệt khi nói tới tình cảm riêng tư của mình
thì thơ Mới thể hiện những đề tài mới, lấy cái tôi làm trung tâm, bộc lộ cái tôi
hết sức đa dạng, hấp dẫn và phức tạp, một cái tôi cá nhân (I’individu) với tưcách là đối tượng nhận thức và phản ảnh của thi ca trong quá trình phát triểncủa văn học Các nhà thơ Mới đã gạt bỏ mọi ràng buộc ước lệ, luân lý… củamột thời kỳ để trở về với con người mình, tìm thấy chính mình, họ nói bằng
những rung cảm trực tiếp nhất và mãnh liệt nhất Trong việc trở về cái tôi của
mình, thơ Mới đã gặp gỡ, hòa đồng vào văn hóa dân tộc và nhân loại
Có thể nói, thơ Mới là một bước phát triển đạt đến sự hiện đại cả về mặtbiểu hiện cũng như cảm hứng thi ca, với nhiều tác phẩm đạt đến trình độ kiệttác và đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần, mở rộng cảm xúc và làmcho cảm quan của con người nhạy bén hơn, tâm hồn tinh tế và hướng tới cáiđẹp hoàn hảo hơn Nếu ban đầu thơ Mới chịu ảnh hưởng thơ ca Pháp thì về
Trang 19sau nó là sự tổng hợp của thơ lãng mạn và thơ tượng trưng Pháp với thơ caTrung Quốc, chủ yếu là Đường thi và thơ ca truyền thống của dân tộc.
1.2 Nhà thơ Quách Tấn - cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.2.1 Cuộc đời
Quách Tấn tự là Đăng Đạo, hiệu Trường Xuyên quê ở Thôn TrườngĐịnh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn, tỉnhBình Định hiện nay) Ông thường trú tại số nhà 12, đường Bến Chợ, NhaTrang Thân phụ là Quách Phương Xuân, thông tỏ chữ Pháp Quách Tấn sinhnăm 1910 mất năm 1992 Ông thuộc vào một trong số những tác giả có tuổithọ cao nhất làng văn Sinh thời, ông mang nhiều bút danh khác nhau nhưĐịnh Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão Giữ Vườn Bình sinh Quach Tấnrất yêu thích văn thơ Thân mẫu ông là Trần Thị Hào, tinh thông chữ Hán,thuộc nhiều thơ Nôm và viết chữ Hán rất đẹp Chính truyền thống gia đình đã
có những tác động, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời, tính cách đặc biệt là việclựa chọn đi theo con thơ với những bài thơ Đường luật của nhà thơ QuáchTấn
Năm 1929, ông lập gia đình Vợ tên là Nguyễn Thị Nhiếp - hiệu ThanhTâm, người ở thôn Phú Phong, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định Vợ chồngông sinh được 12 người con, sống đến lớn được 8 người, hiện còn 6 (2 nam, 4nữ)
Lúc nhỏ Quách Tấn học chữ Hán, đến năm 12 tuổi bắt đầu học chữ Quốcngữ và Pháp ngữ tại trường Pháp Việt Quy Nhơn Năm 19 tuổi( năm 1929),ông đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học ( Primaire Supérieur) Năm 20 tuổi (1930),ông được bổ nhiệm làm Phán sự Tòa sứ tại tòa khâm sứ Huế, rồi chuyển lêntòa sứ Đồng Nai Thượng ở Đà Lạt Năm 25 tuổi (1935) ông lại chuyển về tòa
Trang 20sứ Nha Trang Năm 35 tuổi (1945), ông tản cư về Bình Định, tham gia khángchiến chống Pháp, làm thủ quỹ cho Ủy ban ủng hộ kháng chiến và Mặt trậnLiên hiệp Quốc dân huyện Bình Khê (1945 - 1949) Năm 1949, ở tuổi gần 40,Quách Tấn mở trường Trung học tư thục Mai Xuân Thưởng tại thôn AnChánh, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định Năm 1951 ông được điều động dạytrường Trung học An Nhơn, rồi trường Trung học Bình Khê (1951- 1953).Năm 1954 ông hồi cư về Nha Trang được tái bổ vào ngạch thư ký hành chính.
Từ đó đến năm 1965, ông đã làm việc tại tòa hành chính Quy Nhơn, Sở Dulịch Huế, Ty Kiến thiết Nha Trang, Tòa hành chính Nha Trang Năm 1965,ông về nghỉ hưu và tiếp tục viết văn làm thơ
Năm 1987, một việc đau đớn đã xảy đến, Quách Tấn bị mù cả hai mắt.Tuy nhiên ông vẫn nỗ lực dùng trí nhớ của mình đọc cho con cháu ghi chéplại những chuyện xưa, tích cổ, những tài liệu cũ rất hiếm người để lưu lại chothế hệ sau Từ đấy cho đến khi từ giã cõi đời, tuy tuổi cao và mắt mù, nhưngông vẫn ở tại số nhà 12, đường Bến Chợ, phường Xương Huân, thành phốNha Trang Ông đã chút hơi thở cuối cùng vào hồi 7 giờ 10 phút ngày 28tháng 11 năm 1992, hưởng dương 82 tuổi Hiện nay, ngôi nhà vẫn còn concháu của Quách Tấn ở và đó cũng là địa điểm thăm viếng của nhiều người yêuthích thơ văn
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Quách Tấn làm thơ từ năm 1925 lúc học Đệ nhất niên (ngang lớp 6 hiệnnay) ở trường Trung học Quy Nhơn (Collège de Quy Nhon) Thầy dạy là giáo
sư Hà Văn Bình, sách học là cuốn Quốc văn trích diễm của Dương Quảng
Hàm Lúc ra trường (1929), Quách Tấn đã thành thạo các nguyên tắc về cácthể thơ Đường luật và các thể thơ Việt Nam Đến năm 1932, nhờ sự chỉ dẫnnhiệt tâm của Tản Đà và Phan Sào Nam ông mới chính thức bước vào làng
Trang 21văn thơ Tác phẩm của ông thường đăng ở An Nam tạp chí (Hà Nội), Phụ nữ
Tân Văn (Sài Gòn), Tiếng dân (Huế).
Vậy là, từ những buổi đầu Quách Tấn đã được tiếp thu một nền giáo dục
mà ở đó thơ cổ điển vẫn đang là mẫu mực Dưới sự chỉ dạy của Tản Đà (vừa
là thầy vừa là bạn), đặc biệt dưới sự chăm sóc, dạy dỗ của cụ bà thân sinhTrần Thị Hào vốn giỏi chữ Hán, những quan niệm, vốn sống, kiến thức banđầu về một nền Hán học trong ông đã hình thành buổi sơ khai Rõ ràng, điềukiện xã hội và gia đình đã là hai yếu tố quyết định chi phối đến khuynh hướngsáng tác và sự nghiệp văn chương của Quách Tấn
Quách Tấn làm thơ chuyên về thơ Đường luật, văn viết chuyên về những
đề tài có liên quan đến quê hương, dân tộc hoặc thiên nhiên Trong nhữngngày đầu ấy, Quách Tấn kết bạn cùng Hàn Mặc Tử, nhờ có thầy, có bạn màviệc sáng tác ngày càng tiến bộ Thời bấy giờ, thơ Mới nổi lên đả phá thơĐường luật (thường gọi là thơ cũ) một cách hết sức kịch liệt, nhưng QuáchTấn vẫn thủy chung, tin tưởng làm thơ Đường luật
Với 82 tuổi đời và hơn 60 năm cầm bút, Quách Tấn đã để lại cho đời
nhiều tác phẩm văn học ở đủ các thể loại Những sáng tác của ông gồm: Một
tấm lòng, nhà in Thụy Ký, Hà Nội xuất bản với việc Tản Đà viết lời Tựa
[35-tr7-9], Hàn Mặc Tử viết lời Bạt [35, tr89-93]; Mùa cổ điển (1941) do nhà in
Thụy Ký, Hà Nội xuất bản, Chế Lan Viên viết lời Tựa vào đầu năm 1941
[36-tr9-16] Tiếp đó vào năm 1942 tập văn xuôi Trăng ma lầu Việt ra đời Tập này viết phỏng theo tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đời Lê và tập Duyên
tiên viết phỏng theo tập Truyền kỳ tân phổ của tác giả Đoàn Thị Điểm được
hoàn tất
Từ 1945 đến 1954, do ảnh hưởng thời cuộc nên việc sáng tác không
được nhiều Tập Vui với trẻ em được sáng tác trong thời gian này.
Trang 22Từ 1955 đến 1975, Quách Tấn sáng tác đều đặn hơn các thời kỳ trước: từ
năm 1958 đến 1960 xuất bản 4 tập Nghìn lẻ một đêm Năm 1960, tập thơ Mùa
cổ điển được tái bản có bổ sung thêm 30 bài thơ Đường luật sáng tác từ năm
1945 đến 1955 Năm 1965 xuất bản tập thơ Đọng bóng chiều gồm 108 bài thất ngôn tuyệt cú (không có đề tựa) Trong bản thảo tập thơ này có tên là Lã
mã tiền Tập thơ này khi hoàn thành thì hai miền Bắc Nam tạm thời bị chia
cắt Thơ in xong chỉ gửi tặng chứ không bán Tuy nhiên, hầu hết các nhà văn,nhà thơ đều đọc và có nhiều phê bình trên báo chí Nội dung phê bình có thể
tóm gọn trong một câu: Quách Tấn càng già, làm thơ càng hay.
Năm 1966 cho xuất bản tập Mộng Ngân Sơn gồm 135 bài ngũ ngôn tứ tuyệt (tác giả tự đề tựa) Trong hồi ký Bóng ngày qua, tác giả nhận xét: “Tập
thơ đi từ cảnh chiều xuân của thực mà mộng đến cảnh sớm thu của mộng màthực Xuân là mùa thơ Thu là mùa đạo Như thế là nguồn cảm hứng đi từ tuổivãn niên của Thơ đến sơ sanh của Đạo” [38- tr124]
Năm 1973, nhà xuất bản Rừng Trúc (Pari) in lần thứ nhất tập Giọt Trăng
nhân dịp tết Quý Sửu Ấn bản gồm 60 bài thơ ngũ tuyệt
Về thơ dịch, năm 1973, Quách Tấn cho xuất bản một tập thơ dịch Tố
Như thi trích dịch (dịch thơ chữ Hán của Nguyên Du) Tập thơ này, trước
1975, Ban Hán Nôm của trường Đại học Văn khoa Sài Gòn dùng làm tài liệu
học tập và nghiên cứu cho sinh viên Ngoài ra còn có Lữ Đường thi - trích
dịch thơ của Thái Thuận (hiệu là Lã Đường, ông từng là Tao đàn Sái Phutrong hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông thành lập vào cuối thế kỷ XV)
Năm 1988, trong một năm ông cho ra đời ba tập văn xuôi Nhà Tây Sơn (viết cùng với Quách Giao), Họ Nguyễn thôn Vân Sơn và Đôi nét về Hàn Mặc
Tử (hồi ký).
Năm 1992, tập Xứ Trầm hương được tái bản.
Trang 23Năm 1994, tập Vui với trẻ em được ấn hành Đây là một tập vừa thơ vừa
văn viết từ năm 1945 đến 1954 Tác giả dành sự quan tâm riêng đến cho thiếunhi Trong những năm kháng chiến chống Pháp vừa làm công tác giáo dụcvừa tham gia vào công tác địa phương, nhà thơ đã sáng tác những vần thơphục vụ đối tượng thiếu nhi Các bài văn, bài thơ làm ra theo hai tiêu chuẩn:rèn luyện đức tính truyền thống và tăng sự hiểu biết về sinh vật, văn chươngcho lớp trẻ
Năm 1999, nhân dịp tưởng niệm năm thứ 7 ngày mất của Quách Tấn, tập
thơ Trăng hoàng hôn ra đời Cùng năm này, Quách Giao- con trai Quách Tấn cũng xuất bản tập 1 của cuốn Hồi ký Bóng ngày qua có tựa đề Đời văn
chương.
Ngoài những tập văn thơ đã xuất bản, Quách Tấn còn hoàn tất nhiều bản
thảo chưa kịp xuất bản Chẳng hạn về thơ có Vị la phủ (1956), Tiếng vàng khô
(1972); Nhánh lục (1972); Mây cổ tháp (1973); Cánh chim thu (1975); Nửarừng trăng lạnh(1976); Trăng hoàng hôn (1977); Giàn hoa lý (1979); Phấnbướm còn vương (1983); Móc đọng tàu cau (1987); Ao đắp tâm tư (1988) Vềvăn xuôi có Hương vườn cũ (Tập Thi thoại nói về thơ văn cổ từ đời Trần đếnđời Nguyễn); Trong vườn hoa thơ (Thi thoại về thơ Đường luật hiện tại);Những bức thư thơ (Nói về điển tích, giai thoại trong thơ); Bước lãng du (Ghichép giới thiệu những thắng cảnh từ Huế đến Phan Rang); Cảnh cũ còn đây(cổ tích lịch sử về Hà Nội, Huế, Ngũ Hành sơn ở Đà Nẵng); Những mảnhgương xưa (Ghi chép những truyện của Trung Hoa); Trăng ma lầu Việt; Đôinét về Đào Tấn; Hương phấn nàng Hương (Nói về các bài thơ luật của ViệtNam có giá trị bị bỏ quên); Thư gửi các bạn ham đọc Đường luật: viết về phéplàm thơ Đường luật); Dạo quanh hý trường (Chuyện vui về hát bộ); Bát
Trang 24canh tập tàng (Ghi chép những chuyện linh tinh); Những giấc mộng không
mê (Ghi chép lại những giấc mộng thú vị)
Thời điểm năm 1987, do hai mắt bị mù nên Quách Tấn không đọc được,nhưng ông vẫn tiếp tục viết: Vang bóng phong trào Cần Vương tỉnh KhánhHòa; Lướt qua 40 năm thơ văn tỉnh Khánh Hòa (từ 1935 đến 1975)
Qua những sáng tác trên, ta có thể nhận định: Quách Tấn không chỉ lànhà thơ, mà còn là một nhà văn, nhà dịch thuật, nhà biên khảo văn hóa xuấtsắc Ông là một tác giả thành công ở nhiều thể loại văn học
1.3 Vị trí của thơ Đường luật Quách Tấn trong phong trào thơ Mới
Nhìn lại dòng thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX, Quách Tấn khôngphải là một người có nhiều thơ Đường luật nhất Dòng văn học yêu nước vàcách mạng ghi nhận Phan Bội Châu như là một cây đại thụ với số lượng lêntới hơn 500 bài Thứ đến là Phan Châu Trinh hơn 200 bài, Huỳnh ThúcKháng 92 bài Đường luật; Ngô Quang Đoan với Thượng Phong thi văn tập có
72 bài Đường luật, Lê Đại 70 bài Dòng văn học công khai số lượng tác giả,tác phẩm cũng vô cùng phong phú với hàng ngàn tác phẩm của vài trăm tácgiả Theo con số thống kê của tác giả Trần Thị Lệ Thanh thì “từ năm 1917đến 1922 riêng Vũ Tích Cống 45 bài, Nguyễn ái Hoa 15 bài, Vũ Khắc Tiệp
10 bài, Lê Đình Huyến 36 bài, Nguyễn Mạnh Xứng 23 bài Từ 1923 đến
1926 riêng Dương Đình Tẩy 28 bài, Trần Huy Liệu 37 bài, Nguyễn TrungKhuyến 37 bài, Tạ Quang Ninh 23 bài, Nguyễn Văn Năng 52 bài, Bùi HữuDiên 23 bài, Đỗ Khắc Sương 10 bài, Lê Mạnh Trinh 12 bài, Đặng XuânQuýnh 12 bài, Phác Ngọc Phạm Thấu 38 bài, Đoàn Tịnh Canh 75 bài, ĐoànNhữ Nam 43 bài, Nguyễn Hữu Chiểu 22 bài, Minh Phượng 13 bài Từ 1927trở đi thơ Đường luật có giảm đi đôi chút, nhưng ở một số tác giả, cường độsáng tác lại có phần tăng lên Có khi chỉ trong hai năm, Bùi Hữu Yên đã có
Trang 25tới 40 bài, Lê Bạch Như 37 bài, Nhàn Vân Đình 54 bài Thậm chí chỉ mộtnăm (1931), Đông Hồ có 42 bài, Vị Thường Vũ Bắc có 32 bài, Mộng Lan 31bài hoặc chỉ một số báo (số 154) Thiện Trường 22 bài, Từ Vân 10 bài,Nguyễn Sĩ An 15 bài, Mộng Lan 31 bài Đặc biệt miền Bắc, chỉ riêng mục
Văn uyển của tờ Nam phong (từ số 1 năm 1917 đến số 179 năm 1932) đã có
tới 1896 bài ĐL của 148 tác giả Các tờ khác như Trung Bắc Tân văn, Thực
nghiệp dân báo, Khai hoá, Đông Pháp, Hữu thanh… tuy số lượng ít hơn,
nhưng con số cũng lên tới hàng trăm Tờ An nam tạp chí của Tản Đà bị chết
đi chết lại nhiều lần, mà sau 6 lần tái xuất, cũng cho ra mắt bạn đọc tất cả 147bài Đường luật của 42 tác giả”[
Cho nên nếu dùng số lượng tác phẩm để xác định vị trí của thơ Đườngluật Quách Tấn trong văn học nửa đầu thế kỷ XX, thì Quách Tấn chưa chiếm
ưu thế Tuy nhiên, nếu xét riêng dòng thơ Mới thì Quách Tấn lại giữ vị trí số
một Việc cho ra đời hai tập thơ: Một tấm lòng (1939) và Mùa thu cổ điển
(1941) đúng thời điểm phong trào thơ Mới đang lên ngôi và đang ở thời điểmđược xem là rực rỡ nhất, cho thấy không ai khác chính sự dũng cảm lội ngượcdòng của Quách Tấn đã làm nên vị trí xứng đáng của ông trong việc kéo dài
sinh mệnh nghệ thuật của thơ Đường luật và đặc biệt hơn là vị trí người hòa
giải hai mặt trận Mới cũ.
Không phải ngẫu nhiên Hoài thanh, Hoài Chân lại có những nhận xét rấtcông bằng với sáng tác thơ Đường luật của Quách Tấn, trong khi hai ông đang
có hướng nghiêng hẳn về phong trào thơ Mới
Điều kỳ lạ là một người được xếp vào làng thơ Mới nhưng cả hai tập thơ
lại hầu hết được sáng tác bằng Đường luật Một tấm lòng có 74 bài thì trong
đó có tới 67 bài thơ Đường luật (10 bài thất ngôn tứ tuyệt; 4 bài ngũ ngôn tứ
tuyệt, 53 bài thất ngôn bát cú, còn 7 bài là các thể thơ khác) Mùa cổ điển có
Trang 2636 bài thì có tới 34 bài Đường luật (28 bài thất ngôn bát cú; 06 bài thất ngôn
tuyệt cú), còn lại là 2 bài thơ lục bát Nếu Một tấm lòng chưa được đánh giá cao thì đến Mùa cổ điển, tập thơ và tác giả được bạn đọc, nhà phê bình nhiệt
thành đón nhận: “Làng thơ Mới tự mình mở cửa đón mời một người cũ Họkhông nói chuyện hơn thua nữa Thực hành một ý kiến phát biểu ra từ trước,
họ nhã nhặn bỏ luôn cái danh hiệu thơ Mới Từ nay thơ họ chỉ gọi là Thơ”
[40, tr39-40] Mùa cổ điển được mệnh danh là hồn thơ Đường trong thơ Việt
Nam và là điểm gạch nối cách tân giữa thơ cũ và thơ Mới, mà Hoài Thanh đãnhận định “Một tập thơ cũ đã khép lại một thời đại thi ca” [42, tr28-29]
Giữa lúc các nhà thơ đang hăm hở trang bị cho mình thi tứ, vần điệu saocho phù hợp sự lãng mạn, tình yêu thì Quách Tấn lại tỏ lòng trung thành vớilối thơ xưa, như quyết giữ cho trọn vẹn chung thủy với hình ảnh huy hoàngcủa thời quá khứ, những đường nét cổ điển của Đường thi Quách Tấn nói:
“Trong thơ cũng như trong đời, tôi chỉ cười bằng tiếng cười của tôi, chỉ khócbằng nước mắt của tôi và những gì đã ra nơi miệng, nơi bút tôi đều xuất phát
từ đáy lòng Ở đời tôi luôn giữ chữ Thành và chữ Tín Làm thơ, đức thành tínlại quý trọng bội phần” [39] Là nhà thơ rất chung thủy với thơ Đường luật,nhưng ý và tứ trong thơ ông vẫn rất mới, nên không lỗi thời với tiến trình pháttriển của thơ Việt
Có thể xem thơ Đường luật Quách Tấn là một hiện tượng độc đáo củavăn học Việt Nam thế kỷ XX nói chung, thơ ca công khai nói riêng Cũ đấy
mà mới đấy, nó không hề lạc lõng vì mang được tư tưởng mới vào thơ Đườngluật
Thực tế cho thất trong tiến trình văn học Việt Nam có nhiều thể loại vănhọc ra đời, phát triển rồi dần dần mất đi vai trò của nó, thậm chí một đi khôngtrở lại Riêng với thơ Đường luật, trải qua bao nhiêu thăng trầm, cùng với bao
Trang 27sự vận động biến đổi, nó vẫn tồn tại, đứng vững mà không hề trở lên sáo mòn,
cũ kỹ Đặc biệt hơn những bài thơ Đường luật của Quách Tấn xuất hiện giữalúc văn học Việt Nam đang trong giai đoạn chuẩn bị hoàn tất quá trình hiệnđại hóa càng cho thấy Quách Tấn đã đúng khi dũng cảm chọn cho mình mộthướng đi riêng Tác giả đã khẳng định một chân lý giản đơn: quá trình đổimới, hiện đại hóa văn học không nhất thiết phải thay đổi hoàn toàn hình thứcvăn chương cũ đã có sẵn bằng các hình thức mới dù đổi mới luôn là yêu cầucủa sự sáng tạo Tài năng và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ biểu hiệnkhông phải khi nhà văn đó sử dụng một thể loại cũ đã có từ lâu đời hay thểloại vừa mới xuất hiện mà vấn đề cốt yếu nằm ở chỗ tác phẩm có truyền tảiđược những vấn đề nóng bỏng của thời đại và có thổi vào đó linh hồn, cốtcách riêng của cá nhân nghệ sĩ hay không
Có thể nói, thơ Đường luật của Quách Tấn được khẳng định với thơ Mới
và bền vững với thời gian là vì Quách Tấn đã kết hợp được cái tinh tế của thơĐường với cách dùng chữ, dùng ý và nhất là cái chất thơ của lòng thi nhânhòa hợp với sự thay đổi của thời đại Thi nhân đã nói hộ những tấm lòng củanhững con người không cha không mẹ:
“Cảnh có núi sông nhiều thú lạĐời không cha mẹ ít khi vui”
Thì dù là thơ Mới hay thơ cũ lời thơ cũng đều hợp với lòng người.Quách Tấn đã thành công trong việc đưa thiên nhiên vào trong thơ một cách
tự nhiên hòa lẫn với tâm hồn và tình cảm của con người:
Cội tùng bóng ngã sương rơi lệNgõ trúc mây che cuốc giục sầu
(Về thăm quê)
Trang 28Sầu mong rơi lệ khôn rơi lệNhớ gửi vào thơ nghĩ tội thơMưa gió cành dài ngăn lối mộngBèo mây bến cũ quyện lòng tơ
đã tuân theo luật phát triển của thơ ca từ bỏ thơ cũ theo thơ Mới và đã có mộtđịa vị nhất định trong thơ ca Việt Nam Riêng Quách Tấn vẫn giữ cho mìnhthể thơ Đường luật, song đã làm phong phú thêm về hình thức lẫn nội dungvới lời thơ trau chuốt, ý thơ đẹp và đã được văn học sử Việt Nam dành một vịtrí trang trọng trên tao đàn Nhà thơ đã phát huy những cái đẹp của thơ Đường
và hòa hợp những cái mới có ích cho thơ Đường: “Không tranh đấu với ngườinhưng tự tranh đấu với bản thân, tranh đấu không ngừng, tranh đấu để giữvững lập trường, không cho tâm hồn bị đời cuốn trôi”[40, tr748] Nhữngngười yêu mến thơ Đường vẫn tìm được hứng thú trong thơ Quách Tấn.Những người yêu thích cái mới trong thơ Mới vẫn tìm được hương vị nồng
thắm, mới mẻ trong thơ ông Trong lời Tựa tập thơ Một tấm lòng, nhà
Trang 29thơ Tản Đà đã đặt thơ Quách Tấn ngang với nhà thơ Yên Đổ, Hồ XuânHương, Bà Huyện Thanh Quan Nhà thơ mới Chế Lan Viên đã viết báo thừa
nhận thơ Quách Tấn có những câu thơ đẹp nhất trong các câu thơ đẹp nhất
Việt Nam Hoài Thanh cũng đã viết: “Quách Tấn đã tìm được những lời thơ
rung cảm chúng ta một cách thấm thía Người đã thoát hẳn cái lối chơi chữ nóvẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ” [42, tr268]
Thơ của Quách Tấn là sự kết hợp hài hòa cái uyên thâm, trong sáng củathơ Đường, cái giản dị hồn nhiên của ca dao Việt Nam và những rung cảmthiết tha của thơ Mới Thi nhân là minh chứng rõ nét cho quá trình đi tìm sựhòa hợp trọn vẹn của thơ cũ trong thời đại thơ Mới Phong thái ấy ngấm vàoông khiến cho thơ Quách Tấn nói chung, thơ Đường luật nói riêng cũng mangnhững nét đặc trưng rất riêng, sâu sắc mà nhẹ nhàng, giản dị song cũng đầyhương vị, đọng trong sự giao hòa với thiên nhiên đất trời:
“Sân mận chiều nay hoa rụng đầy
Hương sầu theo gió chập chờn bay
Em ơi đừng quét em đừng quétAnh chỉ yêu em những phút này”
Một tấm lòng hòa hợp giữa người và thiên nhiên cảnh vật, một tình yêuthiên nhiên không phân biệt giữa lúc hoa đang nở trên cành và lúc hoa đã héotàn rơi rụng Cảm giác như hoa và người là một Nhà thơ Quách Tấn và thơMới cũng như Quách Tấn với thiên nhiên Quách Tấn là nhà thơ có phong vị
và tài năng nghệ thuật của một nhà thơ Đường, đã hòa hợp được cái cũ, cái
mới, cũng như hòa lẫn thiên nhiên với con người Trong Hương thơ Quách
Tấn của nhóm tác giả Lê Triều Phương đã nhận xét: “Thơ Quách Tấn thuộc
dòng thơ Đường luật Việt Nam chảy suốt từ thơ Nôm cổ điển đến thơ Quốc
Trang 30ngữ hiện đại…Đến Quách Tân thơ Đường luật trở nên thâm trầm, hàm súc vàcàng đi vào nghệ thuật của thể loại, mỗi từ, mỗi ý tưởng đều hàm nghĩa”.
Tiểu kết:
Như vậy, thơ Đường luật Quách Tấn có thể xem là sự tổng hòa giữa tình
và cảnh, giữa tâm hồn và trí tuệ, tài hoa của người nghệ sĩ Điều đó góp phầnkhẳng định sự độc đáo của thơ Đường luật Quách Tấn Thơ Đường luậtQuách Tấn độc đáo bởi vì nhà thơ đã làm nên một dáng dấp, một phong cáchthơ mang đặc trưng riêng rất Quách Tấn
Với Quách Tấn, trong gần trọn 60 năm sáng tác, ông đã để lại cho chúng
ta một sự nghiệp văn học quý giá Qua những sáng tác đó, có thể khẳng địnhQuách Tấn có một vị trí xứng đáng trên thi đàn văn học Việt Nam, một thi sĩhiện đại nhưng mang đậm phong vị Đường thi Chính nhờ hương thơ củaQuách Tấn mà những trang văn học Việt Nam càng thêm phong phú, đa dạngsắc màu- đặc biệt là trong phong trào thơ Mới (1932-1945)
Trang 31Chương 2 NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ QUÁCH TẤN
Sáng tác văn học nghệ thuật nói chung, sáng tác thơ ca nói riêng thuộclĩnh vực sản xuất tinh thần Tác phẩm văn học chứa đựng tình cảm chủ quancủa người nghệ sỹ, cho nên quá trình sáng tác luôn được bắt đầu từ cảm hứngsáng tạo: “cảm hứng là trạng thái tâm lý then chốt và bao trùm trong sáng táccủa nhà văn” [29– tr209] và được biểu hiện trong khi nhà văn tiến hành côngviệc cho đến khi hoàn thành tác phẩm Người nghệ sỹ khi sáng tác là lúc họbộc lộ rõ nhất tâm hồn, tình cảm của mình nên cần có nguồn cảm hứng mãnhliệt: “Người làm thơ không thể không có cảm hứng cũng như tạo hóa khôngthể không có gió vậy tâm người ta như chuông như trống, hứng như chày vàdùi Hai thứ đó đánh vào chuông, vào trống khiến chúng phát ra tiếng, hứngđến khiến người ta bật ra thơ, cũng tương tự như vậy” [27 – tr103] Vì cảmhứng là một trạng thái tâm lý đạt đến độ mê say, nơi kết tinh của ý chí, trí tuệ
và tình cảm dồi dào của nhà thơ nên khi sáng tác không có cảm hứng mà miễncưỡng viết thì không thể có thơ hay được Dưới màu sắc của một nghệ thuậtđiêu luyện, thơ Quách Tấn còn ẩn chứa một tình yêu thiên nhiên tha thiết, mốirung cảm thiết tha tình bạn, tình nhà, tình non sông những quan niệm, gócnhìn sắc sảo về cuộc đời và thế giới xunh quanh Ở đây, người viết xin trìnhbày ba cảm hứng chủ đạo trong thơ Đường luật Quách Tấn
2.1 Cảm hứng về thiên nhiên
Thiên nhiên là đề tài muôn thủa của thơ ca, là người bạn tri âm, tri kỷ vớithi nhân Vì thế, một trong những cảm hứng chủ đạo của Quách Tấn là tìnhyêu thiên nhiên Với Quách Tấn, tình yêu thiên nhiên trong thơ ông có thểđược hình thành từ quan niệm “thiên nhân tương dữ”; “thiên nhân tươngcảm”, xem thiên nhiên không chỉ là khách thể, mà trái lại còn gắn bó, hòa hợp
Trang 32với con người Chính vì thế, thiên nhiên trong thơ ông là hình ảnh thiên nhiênthực, mang dấu ấn cảm xúc cá nhân nhà thơ.
Với hai tập thơ, Một tấm lòng (1939) và Mùa cổ điển (1941) được coi là
hai tập thơ tiêu biểu cho thơ Đường luật của Quách Tấn, giúp tác giả có được
một vị thế trong phong trào thơ Mới Một tấm lòng có 74 bài, trong đó có 67
bài thơ Đường luật (10 bài thất ngôn tứ tuyệt; 4 bài ngũ ngôn tứ tuyệt, 53 bài
thất ngôn bát cú), còn 7 bài là các thể thơ khác Mùa cổ điển có 36 bài thì có
34 bài Đường luật (28 bài thất ngôn bát cú; 06 bài thất ngôn tuyệt cú), còn lại
là 2 bài thơ lục bát Số lượng cụ thể các sáng tác viết về thiên nhiên của tácgiả qua hai tập thơ như sau:
Trang 33Với tập thơ Một tấm lòng, số lượng bài thơ viết về thiên nhiên là 11/67 bài, trong đó tập trung vào khai thác hình ảnh ánh trăng và mùa thu Đến Mùa
cổ điển, số lượng bài thơ viết viết về thiên nhiên là 15/34 bài tập trung vào
hình ảnh ánh trăng, mùa thu Tổng số các bài thơ viết về thiên nhiên trong haitập thơ nói trên là 26/101 bài, chiếm 25,7% Như vậy, có thể khẳng định đề tàithiên nhiên chiếm một số lượng nhất định trong các sáng tác của Quách Tấn
Đến với Quách Tấn, ta nhận thấy rõ trong thơ ông một tình yêu thiênnhiên, một tình yêu chân thật khi con người nghệ sỹ hòa đồng mật thiết vớithiên nhiên và mỗi cảnh sắc của thiên nhiên biến thành một trạng thái tâm hồnngười nghệ sỹ Với tư cách nhà thơ, Quách Tấn luôn muốn hòa điệu cùng vớithiên nhiên Bởi con người sống giữa thiên nhiên, thiên nhiên là cái tôi nuôidưỡng con người, đồng thời thiên nhiên còn là đối tượng, là khách thể để conngười ngắm nhìn thưởng thức, giải bày hay gửi gắm tâm sự
2.1.1 Hình ảnh mùa thu
Quách Tấn là một nghệ sĩ đặc biệt nhất trong các thi sĩ Việt Nam về lốigợi tả thiên nhiên Thơ của ông là sự kết hợp giữa cái giản dị hồn nhiên của cadao Việt Nam và những rung cảm thiết tha của Thơ mới Ở thơ Quách Tấn là
sự hòa hợp trọn vẹn giữa thơ cũ và Thơ mới Nguồn cảm hứng của thi sĩQuách Tấn rất quen thuộc, đó là tấm lòng của ông với thiên nhiên Tấm lòng
ấy là tình và cảnh bên trong hòa hợp với những phản ánh qua cảnh sắc bênngoài Ông dành cho mùa thu một thứ tình cảm rất đặc biệt, ông có rất nhiềubài thơ viết về mùa thu Mỗi bài thơ thể hiện một dáng vẻ, một tâm tình đốivới từng người, từng cảnh vật cũng như đối với non sông, đất nước Mùa thu
là mùa gợi bao nỗi nhớ và hoài niệm thân thương, luyến tiếc
Trang 34Đến với Quách Tấn, chúng ta đến với những cảm xúc mới, những ý lạ,nồng nàn cảm xúc khiến người đọc phải rung động, bồi hồi theo nỗi lòng côđơn của tác giả Quách Tấn, người đã đem cả tài năng và tâm hồn của mình đểviết lên những tác phẩm tràn đầy tình yêu thiên nhiên tha thiết và những nỗiniềm ưu tư về một thời đại Với trái tim tràn đầy xúc cảm của thi nhân, chúng
ta đã bắt gặp rất nhiều từ thu trong các bài thơ: Trong vắt giòng thu; Cảm thu;
Đêm thu; Hiu quạnh; Buổi trưa mùa thu…
Trong tập thơ đầu tiên Một tấm lòng xuất bản năm 1939, tác giả đã tập trung khắc họa bức tranh thiên nhiên- đặc biệt là hình ảnh thu Bài thơ Trong
vắt dòng thu đã đưa tới cho độc giả một cách nhìn mới mẻ về sắc thu:
“Một ve một chén một cần câu,Trong vắt dòng thu rửa sạch sầu
Sống được bữa nào vui bữa ấy,Hơi đâu ngồi nghĩ chuyện đâu đâu.”
Dòng thu qua cách nói hình tượng của tác giả hiện lên như một nguồn
sống, nguồn sức mạnh mới, giúp cho mọi sầu não, ưu phiền, lo lắng trong suy
tư của con người được gột rửa, giúp cho con người được sống thảnh thơi, vô
lo ưu phiền Những câu thơ này làm ta gợi nhớ đến bài thơ “Nhàn” của tác giả
Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Một mai, một cuốc, một cần câu,Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻNgười khôn người đến chốn lao xao.”
(Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trang 35Có thể nhận thấy hình ảnh mùa thu qua tập thơ đầu tay của tác giảhiện lên thật xinh tươi, nhẹ nhàng và có phần giản dị Đến với tập thơ thứ hai,
tập thơ Mùa cổ điển xuất bản năm 1941, đây được coi là đỉnh cao nghệ thuật của Quách Tấn Ở Mùa cổ điển, mỗi bài thơ đều chất chứa ưu tư, ẩn dấu một
nỗi buồn sâu xa Đặc biệt ở tập thơ này, thiên nhiên, cảnh vật và tâm trạng con
người được thể hiện rõ trong không gian mùa thu Bài thơ Đêm thu nghe quạ
kêu đã được dịch và đăng ở thi đàn Pari ( Pháp), bài thơ này Quách Tấn đã
dùng rất nhiều điển tích, điển cố: “Ô y hạng, bến Phong Kiều, sông Xích
Bích”…
Trong đêm thu, màu đen của bóng quạ lẫn vào bóng đêm, chỉ còn lạitiếng kêu rộn ràng trôi theo dòng liên tưởng, hết điển này đến điển khác nốinhau đưa thi sĩ vào sâu trong cõi mộng Vậy đâu là mộng, đâu là thực? Đó làtiếng quạ kêu trong đêm mùa thu tĩnh lặng, với âm thanh vang vọng ngân xa
Những điển cố, điển tích được dùng trong bài thơ Đêm thu nghe quạ kêu
không chỉ dừng lại ở một bến bờ sự tích, sự cố nào mà trôi theo dòng liêntưởng, cảm xúc, cảm giác của dòng sông tâm linh Hình tượng thơ đi từ khônggian đêm đen có quạ đen lẫn vào đêm thâu :
“Từ Ô y hạng rủ rê sangBóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng”
( Đêm thu nghe quạ kêu )
Đến không gian mờ ảo :
“Trời bến Phong Kiều sương thấp thoángThu sông Xích Bích nguyệt mơ màng”
( Đêm thu nghe quạ kêu )
Trang 36Đồng thời, câu thơ còn là ảo, độc đáo của bút pháp thi sĩ Quách Tấntrong việc dùng điển tích cũ theo mạch cảm xúc Điều đặc biệt ở đây là cáchdùng điển tích của thi sĩ Quách Tấn khác với cổ thi Đặc điểm của nó là ítmượn nghĩa của điển, ít hướng về nghĩa của tích, mà nhà thơ dùng điển chỉ đểgợi cảm giác và liên tưởng, có tác dụng tạo phong vị cổ điển, song không hề
cổ mà nó vẫn mới và sinh động Nếu như bao trùm bài Đêm thu nghe quạ kêu
là bóng quạ và tiếng kêu của quạ trong cảnh sắc của mùa thu thì trong Cảnh
thu chính là tiếng lòng của người chinh phu Đó là tiếng thơ, tiếng lòng cảm
thông cho tình cảm của người ở lại cũng như tâm tình người chinh phụ nươngrèm liễu đợi chờ, đành nuốt lệ để khỏi bận lòng người ra đi :
“Gầy úa rừng sương đeo giọt sầuĐây lòng ta đó một trời thuGió vàng cợt sóng sông chau mặtMây trắng vờn cây núi bạc đầuDìu dặt tiếng ve còn vẳng đấyVội vàng cánh nhạn rũ về đâu?
Hỡi người chinh phụ nương rèm liễuSùi sụt chi thêm bận vó câu.”
( Cảm thu – Mùa cổ điển )
Mùa thu qua cảm nhận của thi nhân hiện lên thật sống động, như mộtsinh thể sống, có suy tư, có tính cách: rừng sương thì đeo giọt sầu; gió vàngthì cợt sóng; sông thì châu mặt; mây trắng thì vờn cây…Tất cả hình ảnh thiênnhiên trong bài thơ được dường như đều đồng cảm với tình cảnh của ngườichinh phụ, đó là nỗi buồn- nỗi buồn của kẻ ở lại
Trang 37Đến với Một buổi trưa mùa thu, thi nhân đã diễn tả thâm thúy cái dịu
dàng, trong suốt của vườn thu, của hồ thu, nhạc thu và tình thu:
“Gió tự đâu về? thổi đến mô?
Mấy cành sao rụng bóng hoa nô
Đây vài giọt nhẹ rơi mưa lá,
cả đang tạo nên hồn thu lững lờ Quả thật cảnh vật ở đây thật đắm say lòngngười
Qua những tác phẩm viết về mùa thu được thể hiện trong hai tập thơ
trên, ở mỗi tác phẩm ta nhận thấy rõ Quách Tấn đều thể hiện một ý vị, một vẻ
đẹp riêng rất thâm thúy và nồng nàn Mỗi khi thưởng thức những tác phẩm ấy,tâm hồn chúng ta lại trào lên nỗi nhớ thương man mác về quá khứ, về thiênnhiên, về tình người Đúng như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từngnhận xét: “Quách Tấn đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cáchthấm thía Người đã thoát hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường củanhiều người trong làng thơ cũ”[ 42- tr34]
Trang 38Đến với phong trào Thơ mới, qua cách cảm nhận của các nhà thơ, mùathu không chỉ là thi liệu mà còn được nhìn dưới nhiều góc độ phân tích tâm lítinh vi, được cảm nhận như sự hòa nhập vào thiên nhiên tràn đầy thanh khí.Các nhà Thơ mới đã miêu tả thiên nhiên với cảm hứng hiện đại Trong tâm tưcủa mỗi người, đều mang một nỗi niềm riêng, tiêu biểu có thể kể tới XuânDiệu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…
Với nhà thơ Xuân Diệu, người được coi là nhà thơ mới nhất trong các
nhà thơ mớ, mùa thu có một vẻ đẹp rất riêng, một vẻ đẹp trong sự sầu muộn,
vẻ đẹp ẩn chứa sâu kín nhưng rất nên thơ Đây mùa thu tới vẫn sử dụng những thi liệu cổ truyền của dòng thơ ca cổ điển, vẫn những “liễu, lệ, vàng, hoa,
sương, gió, mây, chim…” đê xây dựng lên dòng thơ Đường thi Xuân Diệu
miêu tả hình ảnh của một rặng liễu buồn đang đứng chịu tang:
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tangTóc buồn buông xuống lệ ngàn”
( Đây mùa thu tới- Xuân Diệu )
Từ láy “đìu hiu” gợi lên dáng liễu hơi hao gầy đi, dáng đứng buồn lặng
lẽ, có một một cái gì đó như mơ màng, phảng phất “Liễu” ở đây được gợi tả
như một người thiếu nữ có tâm hồn Khi thu sang không gian bao trùm lên làlàn gió mùa thu, làn gió mang lạnh về khiến lòng người xao xuyến, bângkhuâng… Câu thơ gợi hình ảnh mái tóc của người thiếu nữ, một mái tóc dàithướt tha Mùa thu hóa thành một thục nữ mĩ miều, thướt tha và u buồn, đẹpmột vẻ đẹp lãng mạn, cao sang Nàng thu của Xuân Diệu đang nhón gót hàitrên đường biên của phút giao mùa từ hạ sang thu bằng rặng liễu ven hồ
Những câu thơ buồn của Đây mùa thu tới gợi lên một tâm trạng buồn đến tang
tóc Buồn vì cái lạnh len lỏi đâu đây gợi nỗi cô đơn, buồn vì cảnh sắc
Trang 39mùa thu hợp với tâm trạng buồn của tác giả Đúng như nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Mạnh (trong Thơ Việt Nam 1930-1945) đã từng nhận xét :“Xuân người ta vì ấm mà cần tình Thu người ta vì lạnh sắp đến mà rất
cần đôi, cho nên không gian đầy những nỗi nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy”.)
Cái đặc biệt trong bức tranh chiều thu này chính là ở sự nhịp nhàng, hòađiệu của cảnh vật thiên nhiên Khi ta ngắm nhìn bầu trời thu qua vòm lá củacây, màu xanh của da trời chuyển sang màu xanh ngọc, vừa dịu mát, vừa nênthơ Mùa thu ở đây không có lá vàng, lá úa, không thấy sự tàn phai mà ta thấykhông gian của mùa xanh, không gian của sự sống
Thơ Xuân Diệu đã chứng tỏ khả năng kì diệu của tiếng Việt trong việctạo nên những hình tượng ngôn ngữ tuyệt đẹp và diễn tả những sắc thái thậttinh tế của cảm xúc Xuân Diệu đã nhân hóa thiên nhiên bởi nhà thơ ngheđược màu sắc, nhìn được âm thanh, nhất là những gì rơi rụng, héo tàn:
“Hư vô bóng khói trên đầu lạnhCành biếc run run chân ý nhiHây hây thục nữ mắt như thuyềnGió thu, hoa cúc vàng lưng giậu”
( Thu )
Hình ảnh “ý nhi”, “bức gấm”, “thục nữ”, “cúc vàng lưng giậu”, sắc áo
trạng nguyên” đều hết sức tiêu biểu cho phong vị mùa thu trong thơ cổ Ở
Xuân Diệu là sự hòa điệu giữa nỗi buồn man mác của mùa thu với tâm trạngbuồn của một nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu đã hóa thân vào thiên nhiên đểcùng với cỏ cây, hoa lá cảm nhận sự thay đổi của tiết trời vào mùa giao
Trang 40chuyển Nỗi buồn ấy đã tràn ngập trong tâm tưởng nhà thơ, bởi chính nhà thơ
cũng có nỗi niềm”buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn” Xuân Diệu đã đưa
chúng ta vào một thế giới của buồn chán, mênh mông và tuyệt vọng:
“Tôi là con nai bị chiều giăng lướiKhông biết đi đâu đứng sầu bóng tối.”
( Khi chiều giăng lưới )
Đó là khung cảnh chiều thu đầy thơ mộng mà cảnh vật hòa điệu nhịpnhàng, đã khơi dậy trong lòng người niềm khát khao, giao cảm thầm kín màmạnh mẽ, gắn bó những tâm hồn đơn chiếc :
“Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậyLòng anh thôi đã cưới lòng em”
( Thơ duyên- Xuân Diệu )
Cảnh sắc thiên nhiên ở đây có khả năng đánh thức dậy trong tâm linhcon người những kỉ niệm, những khát khao thầm kín để con người được sốngđầy đủ và sâu sắc hơn với mọi cảm giác, cảm xúc và khát vọng của mình Đó
là tiếng ca vui của một tâm hồn “lần đầu rung động nỗi thương yêu” đang đắm say trong hạnh phúc Thơ duyên đã ru ta vào một không khí vô cùng
trong trẻo và êm ái,vào một buổi chiều thu ngân nga bao tiếng huyền hòaduyên cùng lòng yêu cuộc sống, cùng những rung động tinh vi cùa thi sĩ Xuân
Diệu Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam thật tinh tế khi nhận xét rằng : “sự
bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra đầy đủ hơn cả trong những rung
động tinh vi” và khẳng định “đây mới là Xuân Diệu” [42- tr63] Có những
rung động tinh vi ấy, bởi nhà thơ luôn nhìn đời bằng đôi mắt ngỡ ngàng vàcảm nhận thiên nhiên bằng cả tâm hồn, bằng cả cơ thể vô cùng nhạy bén