- Trên thế giới cũng xuất hiện thêm nhiều vấn đề toàn cầu, liên quan đến cách mạng công nghệ, như ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, phân hóa giàu nghèo, công bằng, bình đẳng trong ph
Trang 1CHỦ ĐỘNG VÀ
TÍCH CỰC
QUỐC TẾ
Trang 2Nội dung cơ bản :
I Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay
II Quan điểm chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 3III Về tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế và những tổ chức kinh tế quốc tế nước ta đã tham gia.
IV Chủ trương, giải pháp đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tới.
Trang 4I Tính tất yếu khách quan của hội
nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn
hiện nay
1 Cách mạng KH-CN và những tác động vào đời sống kinh tế - xã hội.
2 Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan ngày càng có nhiều nước tham gia.
3 Khu vực hóa và và quan hệ mậu dịch tự
do song phương ngày càng phát triển.
Trang 51 Cách mạng khoa học-công nghệ và
những tác động vào đời sống kinh tế -
xã hội
- Nửa sau của thế kỷ XX, đặc biệt là
từ những năm 70 trở đi, thế giới bước vào một thời kỳ phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ Khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất to lớn, trực tiếp
Trang 6- Với c ông nghệ thông tin và vận
tải phát triển vượt bậc, đã làm
giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống tới vài trăm lần (*)
Trang 7Tiến bộ c ông nghệ này đã có tác động cực kì quan trọng đến toàn bộ các quan hệ kinh tế, nó
đã biến các công nghệ có tính quốc gia thành công nghệ toàn cầu.
Trang 8Ví dụ: Về công nghệ may mặc Một cái máy dù hiện đại cũng chỉ có thể làm ra quần áo bán trong một địa phương hay một quốc gia, và chỉ có thể vươn tới một vài nước lân cận
Trang 9Chúng không thể được bán ở những thị trường xa xôi, vì chi phí vận tải và liên lạc đã làm mất lợi thế so sánh Về cơ bản, đó vẫn là công nghệ mang tính quốc gia Nhưng nhờ có sự tiến bộ trong
Trang 10công nghệ thông tin liên lạc và vận tải, nên Cty NIKE của Nhật chỉ
nắm 2 khâu : sáng tạo, thiết kế
mẫu và phân phối toàn cầu ( còn
sản xuất do các công ty của nhiều nước làm), nhưng đã làm cho công nghệ may mặc có tính toàn cầu
Trang 11Các công nghệ sản xuất xe máy,
ô tô, máy tính điện tử, mấy bay…đã ngày càng có tính toàn cầu sâu rộng Tính toàn cầu này
đã thể hiện ngay từ khâu sản xuất ( được phân công
Trang 12chuyên môn hóa ở nhiều nước) đến khâu phân phối ( tiêu thụ toàn cầu) Rồi có những công nghệ ngay từ khi ra đời có tính toàn cầu như công nghệ vệ tinh viễn thông…Chính công nghệ toàn cầu này là
cơ sở quan trọng đầu tiên, đặt nền móng cho sự đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa.
Trang 13- Tuy vậy, những tiến bộ của
KH và CN đã diễn ra không đều giữa các nước và các khu vực Khả năng tiếp cận và việc sử dụng các tiến bộ KH
và CN của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố :
Trang 14từ hoàn cảnh lịch sử, năng lực nội sinh đến các tác động từ bên ngoài, trong đó các nước tư bản phát triển
có nhiều ưu thế và lợi thế, còn các nước đang phát triển và chậm phát triển đang phải thích ứng với xu thế phát triển mới này với một thời
kỳ chuyển tiếp không mấy dễ dàng
Trang 15- Trên thế giới cũng xuất hiện thêm nhiều vấn đề toàn cầu, liên quan đến cách mạng công nghệ, như ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, phân hóa giàu nghèo, công bằng, bình đẳng trong phát triển, những vấn đề văn hóa, xã hội và đạo đức… đòi hỏi sự phối hợp nỗ lực của các quốc gia - dân tộc để giải quyết
Trang 16- Trong xã hội thông tin, nền kinh tế như một cơ thể sống mà thị trường như một
hệ sinh thái Doanh nghiệp không chỉ
là nơi sản xuất hàng hóa, mà còn là nơi sáng tạo thông tin và tri thức Xã hội thông tin đòi hỏi sự phối hợp hài hòa giữa nền công nghiệp dựa trên trí tuệ với tiềm năng của con người…
Trang 172 Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu
thế khách quan ngày càng có nhiều nước
tham gia
-Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia và quan hệ quốc tế
Trang 18Theo quan niệm của Uỷ ban châu Âu đưa ra, toàn cầu hóa là một quá trình
mà thông qua đó thị trường và sản xuất
ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau do có
sự năng động của việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ, cũng như có sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ
Trang 19- Toàn cầu hóa là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất trên thế giới, gắn liền với sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ CM KH - CN hiện nay đã làm cho LLSX của nhân loại phát triển nhanh chóng theo cấp số nhân, xuất hiện nhu cầu mở rộng mạnh mẽ thị trường thế giới Từ đó xuất hiện quá trình toàn cầu hóa kinh tế
Trang 20-Toàn cầu hóa kinh tế trên thế giới được
mở đầu do các nước tư bản công nghiệp phát động, trước hết vì lợi ích của các nước này, nhằm giải quyết vấn đề thị trường cho sự phát triển của sản xuất Điều đó đã được C Mác dự báo, khi nói
giai cấp tư sản đang “tạo ra cho nó một
thế giới theo hình dạng của nó”
Trang 21Biểu hiện rõ rệt của nhận định này là sự
“không đối xứng” của quá trình toàn cầu hóa, khi các tập đoàn kinh tế chú ý nhiều đến lợi ích kinh tế mà không quan tâm đầy đủ đến các vấn
đề xã hội, an sinh, môi trường; phân phối lợi ích không cân bằng, các nước công nghiệp phát triển được lợi nhiều hơn, các nước đang phát triển và chậm phát triển chịu nhiều thua thiệt.
Trang 22- Mặc dù toàn cầu hóa do các nước tư bản phát triển phát động nhưng lại đang lôi cuốn nhiều nước tham gia, kể cả các nước đang phát triển và chậm phát triển Nguyên nhân của tình hình này là do tham gia quá trình toàn cầu hóa mang lại lợi thế so sánh cho mỗi nước Mỗi nước, với những mặt hàng và lĩnh vực sản xuất cụ thể, tham gia toàn cầu hóa
có thể nhận được những lợi ích cho mình
Trang 23-Mặt khác, toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẫn, ngay giữa các nước, các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, siêu quốc gia Đó là quá trình vừa đấu tranh, vừa hợp tác, để
đi đến những thỏa thuận mà hai bên đều có thể chấp nhận được,
Trang 24phụ thuộc vào tương quan lực lượng của mỗi nước, mỗi tập đoàn Thực tế cho thấy, tới nay đã có 152 nước là thành viên của WTO, bao gồm cả những nước phát triển, các nước đang p.triển và chậm phát triển
Trang 25-Nội dung của quá trình toàn cầu hóa, theo các quy định của WTO là các nước tham gia tổ chức này phải mở cửa thị trường nước mình cho các nước
thành viên cả về thương mại hàng
hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư
Trang 26+Mở cửa thị trường thương mại hàng hóa, các nước phải loại bỏ các hàng rào phi quan thuế, giảm thuế nhập khẩu để hàng hóa lưu thông tự do, không hạn chế từ nước này sang nước khác
Trang 27+Mở cửa thị trường dịch vụ, các nước thành viên phải chấp nhận để các nước thành viên khác tự do thực hiện cung ứng dịch vụ cho các pháp nhân và thể nhân của nước mình theo các phương thức: cung ứng qua biên giới; tiêu dùng ngoài lãnh thổ; hiện diện thương mại; hiện diện thể nhân
Trang 28+Mở cửa thị trường đầu tư, các nước phải mở cửa thị trường nước mình cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư không hạn chế vào các lĩnh vực, trừ các lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia, truyền thống văn hóa của dân tộc
Trang 29- Khi mở cửa thị trường theo 3 lĩnh vực nêu trên, mỗi thành viên phải tuân thủ theo các nguyên tắc của WTO là:
+Không phân biệt đối xử giữa hàng hóa, doanh nghiệp nước mình với hàng hóa doanh nghiệp nước khác kinh doanh trên đất mình (gọi là nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia).
Trang 30+Thực hiện minh bạch, công khai trong cơ chế, chính sách để mọi thương nhân, mọi người có quyền và cơ hội tiếp nhận thông tin như nhau, tạo điều kiện bình đẳng trong hoạt động kinh doanh.
+Thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
+Tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và sự phán xử của cơ quan tài phán quốc tế do tổ chức này thiết lập
Trang 313 Khu vực hóa và quan hệ mậu dịch tự do song phương ngày càng phát triển
-Cùng với sự gia tăng các mối liên kết kinh tế toàn cầu là sự tăng lên nhanh chóng xu hướng liên kết kinh tế khu vực - khu vực hóa kinh tế
và các quan hệ mậu dịch tự do song phương -Khu vực hoá kinh tế là sự liên kết kinh tế giữa một số nước trong một không gian kinh tế nhất định trên cơ sở cùng có lợi, được thể chế hoá bằng các định chế, quy tắc chung và có cơ chế, tổ chức điều chỉnh các hoạt động kinh tế
Trang 32Cơ sở của khu vực hoá là nó đem lại lợi ích lớn hơn cho các thành viên trong cạnh tranh, hợp tác quốc tế hiện nay.
-Ngày nay, do nhu cầu mở rộng thị trường, một số nước đã và đang thảo luận, đàm phán xây dựng thị trường tự
do giữa hai nước, hình thành quan hệ thị trường tự do song phương.
Trang 33-Giữa toàn cầu hóa và khu vực hoá có những khác biệt nhất định và những điểm chung, thống nhất với nhau Cả hai xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và khu vực hoá kinh tế đều có nội
dung cơ bản là liên kết kinh tế
Trang 34Nhưng trên những phạm vi khác nhau, toàn cầu hóa kinh tế
là sự liên kết kinh tế trên phạm
vi toàn cầu, khu vực hoá kinh tế
là sự liên kết kinh tế trên phạm
vi khu vực.
Trang 35II Quan điểm chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta
1 Quá trình hình thành chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta.
2 Về cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế.
3 Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập.
4 Về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 361 Quá trình hình thành chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta
-Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước ta đã chủ trương tham gia các thể chế kinh tế quốc tế Trong Lời kêu gọi Liên Hợp quốc tháng 12 năm
1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
Trang 37+Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ thuật của mình +Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế
+Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc ”
Trang 38Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có chiến tranh kéo dài và cục diện đối đầu hai cực trên thế giới, nước ta bị bao vây cấm vận nhiều năm, nên quan hệ kinh tế quốc tế của
nước ta chủ yếu với các nước xã hội chủ
nghĩa, có tham gia liên kết, hợp tác trong khuôn khổ của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) từ năm 1978.
Trang 39- Từ Đại hội VI, khi tiến hành đổi mới toàn
diện đất nước, Đảng ta chủ trương “ tham
gia sự phân công lao động quốc tế; tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi”
Trang 40- Đại hội VII, Đại hội VIII của Đảng, đặc biệt là từ Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh:
“Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta
có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với
Mỹ, gia nhập APEC và WTO Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA”.
Trang 41- Đại hội IX của Đảng đưa ra chủ
trương “chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực ” Sau Đại hội
IX, Bộ Chính trị khóa IX đã ra
Nghị quyết 07 về Hội nhập kinh tế
quốc tế NQ Hội nghị Trung ương
9 khóa IX đã nhấn mạnh:
Trang 42“chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc
tế đa phương, song phương nước
ta đã ký kết và chuẩn bị tốt điều kiện để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)”.
Trang 43- Đại hội X xác định phải “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.
Như vậy, sau 20 năm đổi mới, từ nhận thức đúng đắn tính tất yếu khách quan và những vấn đề của toàn cầu hóa, Đảng ta đã xác định
rõ chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Trang 442 Về cơ hội và thách thức trong hội nhập
kinh tế quốc tế
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện để đất nước vươn lên, tiến kịp cùng thời đại.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều
thách thức và có những tác động bất lợi
Trang 453 Những quan điểm chỉ đạo trong
quá trình hội nhập
5 quan điểm chỉ đạo tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế ( HNKTQT ) của Đảng ta được nêu trong Nghị quyết
07 Bộ Chính trị khoá IX về Hội nhập kinh tế quốc tế:
-Một là, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo
vệ môi trường.
Trang 46-Hai là, HNKTQT là sự nghiệp của
toàn dân Trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh
tế, của toàn xã hội, trong đó, kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Trang 47-Ba là, HNKTQT là quá trình vừa hợp tác, vừa
đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức; cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng.
Trang 48-Bốn là, nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh
tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia; tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển, kém phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường.
Trang 49-Năm là, kết hợp chặt chẽ quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững
an ninh, quốc phòng; thông qua hội nhập
để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ
"diễn biến hoà bình" đối với nước ta.
Trang 504.Về chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế
- Về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
+Hoàn toàn chủ động quyết định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng
+Chủ động nắm vững quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh, xác định lộ trình, nội dung, quy mô, bước đi phù hợp; đa dạng hóa, đa phương hóa quan