1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẢNG LÃNH đạo đổi mới KINH tế và xây DỰNG nền KINH tế độc lập, tự CHỦ, CHỦ ĐỘNG và TÍCH cực hội NHẬP KINH tế QUỐC tế GIAI đoạn 1986 2007

19 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 96,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn ba phần tư thế kỷ trôi qua kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam vào con đường đấu tranh cách mạng và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và thời đại.Đó là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, xoá bỏ chế độ thuộc địa và nửa phong kiến, lập nên chế độ dân chủ cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc. Đó là thắng lợi của những cuộc kháng chiến oanh liệt chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập thống nhất hoàn toàn, thực hiện trọn vẹn mục tiêu độc lập dân tộc. Đó là thắng lợi của công cuộc đổi mới toàn diện, vững chắc theo con đường xã hội chủ nghĩa làm biến đổi sâu sắc đất nước, xã hội, con người Việt Nam, nâng cao vị thế của nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Trang 1

ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI KINH TẾ, XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ, CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ (1986- 2007)

Hơn ba phần tư thế kỷ trôi qua kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam vào con đường đấu tranh cách mạng và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và thời đại

Đó là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, xoá bỏ chế độ thuộc địa và nửa phong kiến, lập nên chế độ dân chủ cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc Đó là thắng lợi của những cuộc kháng chiến oanh liệt chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập thống nhất hoàn toàn, thực hiện trọn vẹn mục tiêu độc lập dân tộc Đó là thắng lợi của công cuộc đổi mới toàn diện, vững chắc theo con đường xã hội chủ nghĩa làm biến đổi sâu sắc đất nước, xã hội, con người Việt Nam, nâng cao vị thế của nước Việt Nam trên trường quốc tế

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hơn 20 năm qua là một là một chặng đường rất vẻ vang trong tiến trình lãnh đạo của Đảng Những thắng lợi của chặng đường này không chỉ đem lại niềm tự hào cho những người đảng viên cộng sản, mà bất kỳ một người Việt Nam yêu nước nào cũng thấy tự hào, tin tưởng vào Đảng, vào tương lai phát triển của đất nước, dân tộc Hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của nhà nước và sự lao động sáng tạo của toàn dân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn

có ý nghĩa lịch sử, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế Những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế đã và đang nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Công cuộc đổi mới của đất nước ta được xuất phát từ thực tiễn của lịch

sử, từ nhu cầu của đời sống xã hội và sự phát triển của cách mạng Việt Nam Đổi

Trang 2

mới là một quá trình tìm tòi, sáng tạo, thận trọng của Đảng, quá trình đó được hình thành và phát triển từ đổi mới tư duy và trước hết là tư duy kinh tế

1.Quá trình tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới kinh tế và những thành tựu kinh tế của công cuộc đổi mới.

Ngay sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giành được thắng lợi trên phạm vi cả nước, Đảng ta đã tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IV vào tháng 12- 1976 Một trong những nội dung cơ bản của Đại hội là đề ra đường lối phát triển kinh tế nhằm khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh và xây dựng lại đất nước

Sau Đại hội Đảng IV, có nhiều hội nghị Trung ương, trong đó có 5 hội nghị chuyên bàn về kinh tế: Hội nghị Trung ương 2 (2 - 1977) bàn về nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp; Hội nghị Trung ương 3 (12 - 1977) bàn về khắc phục sự trì trệ trong sản xuất và quản lý kinh tế, kế hoạch kinh tế năm 1978; Hội nghị Trung ương 5 (12- 1978), phân tích tình hình kinh tế và xác định các nhiệm vụ lớn; Hội nghị Trung ương 6 (9 - 1979) bàn về những vấn đề kinh

tế cấp bách và sản xuất hàng tiêu dùng; Hội nghị Trung ương 9 (12- 1980) xác định phương hướng nhiệm vụ kinh tế năm 1981

Thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng IV và các hội nghị Trung ương, nhân dân Việt Nam đã phấn đấu và đã đạt nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội Đặc biệt từ Hội nghị Trung ương 6 – (9 - 1979) là Hội nghị mở đầu quá trình đổi mới Với tư tưởng “làm cho sản xuất bung ra”, Hội nghị đã quyết định mở rộng quyền chủ động của cơ sở, cho sử dụng các thành phần kinh tế ngoài kinh tế quốc doanh

và kinh tế tập thể để phát triển sản xuất, ổn định kinh tế và chính trị xã hội Hội nghị cũng đã thừa nhận việc quan tâm lợi ích kinh tế và khuyến khích vật chất là động lực quan trọng thúc đẩy người lao động Nghị quyết hội nghị chủ trương áp dụng một số yếu tố của cơ chế thị trường như giá cả thoả thuận, hợp đồng để đáp ứng nhu cầu của xã hội Những vấn đề này là một bước phát triển mới trong tư duy

Trang 3

kinh tế của Đảng, là những vấn đề có thể được coi là “cấm kị” trong giai đoạn trước đây khi đề cập đến vấn đề kinh tế xã hội chủ nghĩa Đây cũng là Nghị quyết mang tính đột phá mở ra hướng tiếp cận mới về chủ nghĩa xã hội và con đường chủ nghĩa xã hội là phải chấp nhận: nền kinh tế nhiều thành phần; kinh tế thị trường; quan tâm lợi ích người lao động Thực tiễn Nghị quyết trung ương 6 đã đi vào cuộc sống với sự ra đời của hàng trăm xí nghiệp tư nhân, nhất là ở các thành phố lớn và

đã giải quyết được một phần trong đời sống…Tuy nhiên, Nghị quyết trung ương 6 chưa đủ sức giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra

Trong nông nghiệp, cuộc thử nghiệm thành công từ “khoán chui” ở Đồ Sơn (Hải Phòng) là một trong những cơ sở để ra đời Chỉ thị 100 của Ban bí thư (Tháng 11 - 1981) tiến hành khoán sản phẩm đến hộ và người lao động, ổn định nghĩa vụ lương thực và cho phép trao đổi mua bán lương thực dư thừa theo giá thị trường Điều đó đã tạo ra động lực phát triển mới trong phát triển sản xuất nông nghiệp “Khoán” trong nông nghiệp là một bước phát triển mới trong tư duy kinh

tế nông nghiệp của Đảng, vì đó là một hình thức quản lý, tổ chức kinh doanh có lợi, và từ đó quan niệm về Hợp tác xã nông nghiệp cũng cần phải thay đổi

Trong lĩnh vực công nghiệp, từ hình thức “xé rào” của một số xí nghiệp quốc doanh đã gợi mở cho sự ra đời Quyết định 25 - CP của chính phủ (Tháng 1

- 1981) cho phép các xí nghiệp thực hiện kế hoạch ba phần, trong đó có một kế hoạch xí nghiệp tự ký hợp đồng để đáp ứng nhu cầu của thị trường, lần đầu tiên cho phép hình thành yếu tố thị trường trong khuôn khổ kế hoạch hoá Đây là tư duy mới về kinh tế của Đảng với các doanh nghiệp nhà nước

Các thí điểm về cơ chế một giá trong thương nghiệp gắn liền với cách trả lương mới tại Long An đã gợi mở những khả năng vận dụng cơ chế thị trường, khắc phục những sai lệch về giá trị trong cơ chế hai giá Những cải cách đó được nối tiếp bằng nhiều cải cách ở tầm kinh tế vĩ mô đã không ngừng nâng cao sản xuất nông nghiệp và nhiều sản phẩm công nghiệp tiêu dùng mà còn là

Trang 4

những bước tập dượt để ngươi nông dân và xí nghiệp quốc doanh tiếp cận với

cơ chế thị trường trong giai đoạn đổi mới sau này

Nhưng những cải cách đó không đủ sâu sắc và đồng bộ để bảo đảm tăng trưởng kinh tế trong khi Mỹ tiếp tục bao vây cấm vận, sự giúp đỡ của Liên Xô

và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu giảm nhanh làm cho nền kinh tế tiếp tục xấu đi Lạm phát tăng nhanh, đời sống người ăn lương khó khăn nghiêm trọng…tình hình kinh tế và xã hội vẫn trong khủng hoảng và cấp bách đòi hỏi những giải pháp có hiệu lực để ổn định tình hình

Như vậy, giai đoạn từ 1976 - 1986 là thời kỳ mô hình cũ được mở rộng trong cả nước Những sai lầm của mô hình ấy là trở lực lớn đối với sự phát triển, đẩy cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội đến mức gay gắt Đây cũng là thời kỳ mà

tư duy mới về kinh tế được hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn gốc từ thực tiễn và nhu cầu xã hội Việt Nam Chính từ cuộc sống đòi hỏi trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân phải tư duy phân tích tình hình, làm rõ nguyên nhân và vạch ra các giải pháp để thay đổi mô hình cũ, từng bước xây dựng mô hình mới

Để khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, không thể đơn giản chỉ thực hiện những cải cách mang tính giải pháp mà tất yếu phải đổi mới toàn diện bắt đầu tư đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế để đi lên một mô hình mới về xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong thời đại mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới, bắt đầu từ đổi mới tư duy lý luận Đại hội VI của Đảng đã quyết định những nội dung quan trọng trong đường lối đổi mới Đổi mới cơ cấu kinh tế, thực hiện chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ Đổi mới cơ chế quản lý, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh, chú trọng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, quan tâm lợi ích người lao động Đổi mới vai trò và nội dung quản lý, điều hành của nhà nước xã hội chủ nghĩa, làm rõ chức năng quản lý của nhà

Trang 5

nước về kinh tế, xã hội của bộ máy nhà nước Đổi mới hoạt động đối ngoại chuyển sang hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài Đổi mới nội dung và phong cách lãnh đạo của Đảng trên cơ sở nhìn thẳng vào

sự thật, đánh giá đúng sự thật, nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật khách, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí

Trong hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, Đảng ta xem đổi mới kinh

tế là cơ bản, là nhiệm vụ trung tâm, đổi mới về chính trị phải làm đồng thời nhưng phải thận trọng, có bước đi vững chắc Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học, y tế, xây dựng tốt môi trường sinh thái Coi nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị là vấn đề then chốt Sau Đại hội VI, Đảng tiếp tục cụ thể hoá, bổ xung phát triển đường lối đổi mới, chỉ đạo để từng bước thực hiện đường lối Ngày 15 - 4 - 1988, Bộ chính trị ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân và hình thành đơn vị kinh tế hộ Ngày 29 - 3 - 1989, Hội nghị trung ương 6 khoá VI đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể để phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và đề ra 5 nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới Những quyết định quan trọng đó đã thúc đẩy kinh tế phát triển, vượt qua thách thức do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, bảo đảm cho công cuộc đổi mới phát triển đúng hướng Năm 1989, nhờ “khoán 10” mà nông nghiệp phát triển nhảy vọt, không những ta bảo đảm đủ lương thực mà đã có dự trữ và xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới Lạm phát từ mức 774,7% năm 1986 giảm xuống còn 67,1% năm

1991 (số liệu dẫn theo Tạp chí cộng sản số 243 năm 2006, tr 45) Đánh giá sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và kinh nghiệm tiến hành đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: “Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu

Trang 6

hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”1

Đường lối công cuộc đổi mới của Việt Nam được tiếp tục phát triển qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (Tháng 6 - 1991) Đại hội đã thông qua nhiều nội dung, trong đó phát triển đường lối đổi mới kinh tế, xác định ở nước ta bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Các thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ ở nước ta trong thời kỳ quá độ là; kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước Cơ chế vận hành nền kinh tế nước ta là: cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác Đại hội chủ trương tiếp tục đẩy mạnh việc mở rộng quan hệ kinh

tế đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới và trong khu vực

Sau Đại hội VII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có nhiều hội nghị bàn chuyên đề và những nghị quyết quan trọng đưa đất nước vượt ra khỏi khó khăn, giành nhiều thành tựu lớn Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) vào tháng 1

- 1994 đã bổ xung: trong phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải gắn xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt

Từ năm 1991 - 1995, Việt Nam có bước phát triển bứt phá to lớn trong công cuộc đổi Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% Lạm phát giảm chỉ còn 12,7% năm 1995 Đại hội VIII của Đảng (6 - 1996) khẳng định: Nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, hoàn thành nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã xác định rõ hơn về mục

1 Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, H, 1991, tr 49.

Trang 7

tiêu, mô hình, chặng đường, bước đi và những hình thức, giải pháp thực hiện mục tiêu

Thực tiễn của công cuộc đổi mới cho thấy sự cần thiết và vai trò quan trọng của chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là chủ trương nhất quán, lâu dài của Đảng và nhà nước ta Đại hội IX của Đảng (4 - 2001) khẳng định: “đó chính là nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”2 Tạo lập các yếu tố thị trường: thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường vốn, thị trường bất động sản Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010, Đại hội Đảng IX đã nêu rõ mục tiêu đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển để thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Về phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa - thành quả lớn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã được tiếp tục làm rõ thêm trong văn kiện Đại hội X: “Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, điều cần thiết trước hết là nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta Đó là: thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước

và từng chính sách phát triển; hoàn thiện chế độ phân phối chủ yếu theo kế hoạch lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các

2 Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr 86.

Trang 8

nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều hành nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”3

Về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế hiện nay Đại hội X xác định: phải tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức; coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh các ngành kinh tế

có giá trị tăng cao dựa vào tri thức; chúng ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Như vậy, diễn tiến của quá trình dẫn đến đổi mới kinh tế ở Việt Nam chỉ rõ: Đổi mới là giải pháp ra đời từ những đòi hỏi không thể trì hoãn của nền kinh

tế, là kết quả của sự kết hợp giữa sáng kiến của quần chúng với đổi mới tư duy của Đảng và nhà nước Việt Nam Đó là một thành quả lịch sử của dân tộc Việt Nam Với tất cả những thành tựu đạt được, đổi mới là kết quả của trí tuệ Việt Nam và không theo bất kỳ một khuôn mẫu có sẵn trên thế giới

Thời gian hơn 20 năm là rất ngắn so với lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc, nhưng hơn 20 năm đổi mới là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử hiện đại Việt Nam Nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, tự chủ, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội

Kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986 -1990),công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, GDP tăng 4,4%/ năm Việc thực hiện tốt các chương trình, mục tiêu về phát triển lưng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá là

3 Đẩy mạnh to n di àn qu ện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển (Tổng bí thư Nông Đức Mạnh trình b y ng y 18 - 4 - 2006), Báo nhân dân, Ng y 19 - 4 - 2006 àn qu àn qu àn qu

Trang 9

sự thành công bước đầu cụ thể hoá nội dung của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên được Đại hội thông qua Trong đó, ngành nông nghiệp có sự phát triển vượt bậc với chế độ khoán nông nghiệp (1988), giao đất cho nông dân, lấy nông dân làm đơn vị kinh tế Kết quả là năm 1988 Việt Nam còn phải nhập khẩu 450 ngàn tấn lương thực thì năm 1989 không những đủ mà còn xuất khẩu gần một triệu tấn lương thực (Hiện nay chúng ta xuất khẩu gạo 5 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới)

Trong 5 năm (1991 - 1995), thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt tốc độ tăng trưởng toàn diện liên tục tương đối cao, thực hiện vượt mức hầu hết các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) Tăng trưởng GDP hàng năm thời kỳ này đạt 8,2%, vượt kế hoạch đề ra Kết thúc thời kỳ 1991

-1995, Đại hội Đảng VII đã kết luận: đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế

- xã hội, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết

để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Năm 1996 - 2000, là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mặc dù kinh tế nước ta chịu sự tác động tiêu cực của thiên tai, khủng hoảng tài chính thế giới, nhưng vẫn duy trì được tăng trưởng GDP 7%/ năm

Trong thời kỳ 2001 - 2005, GDP tăng bình quân 7,5%/năm, đạt mục tiêu

kế hoạch đề ra, trong đó nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 7% Quy mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005 đạt 838.000 tỷ Đồng, gấp đôi so với năm 1995 GDP bình quân đầu người khoảng 10 triệu Đồng (khoảng 640 USD)4 Tỷ lệ đầu tư phát triển trong GDP tăng nhanh, năm 1990 vốn đầu tư phát triển chiếm 17,3% GDP; năm 2000 lên 28%; năm 2005 mức huy động 38,9% GDP Tổng tích luỹ tăng bình quân thời kỳ 1996 - 2000 là 9,5%/ năm; thời kỳ 2005 là 11,3%/ năm5

4 Dẫn theo Tạp chí kinh tế v d àn qu ự báo, Số 4 - 2006, tr 12.

5 Dẫn theo Tạp chí kinh tế v d àn qu ự báo, Số 4 - 2006, tr 12

Trang 10

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy được lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng làm tăng hiệu quả và chất lượng, tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP đã giảm từ 38,1% năm 1990 xuống còn 27,2% năm 1995, 24,5% năm

2000 và khoảng 20,89% năm 2005 Công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,7%

Nhờ có tiến bộ trong đổi mới,Việt Nam đã vượt qua được qua sự bao vây cấm vận kinh tế Gia nhập ASEAN (1996), APEC, trở thành đối tác kinh tế quan trọng trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt là những thành công trong việc ký hiệp định thương mại và bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, gia nhập

tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006 là một thành tựu quan trọng trong đường lối đổi mới đối ngoại nói chung cũng như thực hiện đổi mới kinh tế đối ngoại

Một trong những thành tựu lớn nhất của đổi mới kinh tế nói riêng cũng như của công cuộc đổi mới là đã khơi dậy sức sáng tạo, tinh thần lao động cần

cù, sự nhanh nhạy trong kinh doanh và ý thức học hỏi cái mới của người lao động Người dân đã khắc phục được thói quen ỷ lại của thời bao cấp, đã phát huy dược tinh thần chủ động, sáng tạo trong tìm việc làm và thu nhập Điều đó

đã làm tăng thêm sự năng động của toàn bộ hoạt động kinh tế, huy động vốn, kinh nghiệm của toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội ở Việt Nam Thành tựu hơn 20 năm đổi mới trên các lĩnh vực nói chung và kinh tế nói riêng có ý nghĩa lịch sử và là bước ngoặt mang tính thời đại Những thành tựu trong sự nghiệp đổi mới không những đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, mà nó còn khẳng định đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn mang tính độc lập, tự chủ, sáng tạo

và là kết quả của trí tuệ Việt Nam

6 Dẫn theo Tạp chí kinh tế v d àn qu ự báo, Số 4 - 2006, tr 13.

Ngày đăng: 14/05/2017, 10:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w