1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐẠI CƯƠNG về vệ SINH LAO ĐỘNG

13 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 80,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vệ sinh lao động 1.1. Khái niệm Vệ sinh lao động là một nghành của khoa học vệ sinh, là một bộ phận của y học dự phòng. Vệ sinh lao động nghiên cứu quá trình lao động của con người, nghiên cứu điều kiện lao động có ảnh hưởng tới sức khoẻ về khả năng công tác của công nhân để từ đó tìm ra phương pháp lao động hợp lý, bảo vệ sức khoẻ công nhân đề phòng các bệnh tật phát sinh trong nghề nghiệp.

Trang 1

ĐẠI CƯƠNG VỀ VỆ SINH LAO ĐỘNG

1 Lịch sử vệ sinh lao động

1.1 Khái niệm

Vệ sinh lao động là một nghành của khoa học vệ sinh, là một bộ phận của

y học dự phòng Vệ sinh lao động nghiên cứu quá trình lao động của con người, nghiên cứu điều kiện lao động có ảnh hưởng tới sức khoẻ về khả năng công tác của công nhân để từ đó tìm ra phương pháp lao động hợp lý, bảo vệ sức khoẻ công nhân đề phòng các bệnh tật phát sinh trong nghề nghiệp

1.2 Vài nét về lịch sử

Những khái niệm đầu tiên nvề vệ sinh lao động, những ảnh hưởng độc học của một số điều kiện lao động trên sức khoẻ của con người đã được nghiên cứu

từ thời cổ xưa

- Thời cổ Ai Cập, Hy Lạp, La Mã và Trung Quốc đã có những tài liệu nói về một số trường hợp bệnh nghề nghiệp

- Trước công nguyên nhà danh y thời cổ Hippocrates (460-377) đã viết về độc tính của bụi tạo thành khi khai thác mỏ Ông đã viết về tác dụng độc hại của chì

- Thế kỷ thứ I: Pơlimi đã viết về tác hại khi hít thở phải bụi khi khai thác lưu huỳnh

- Thế kỷ thứ XVI: Khi công nghiệp mỏ và chế biến kim loại phát triển đã xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu về bệnh nghề nghiệp Năm 1556 Agơricol viết về bệnh nghề nghiệp ở những người thợ mỏ do tác hại của bụi

- Năm 1530 Parasel, một bác sỹ đồng thời là nhà hoá học nổi tiếng đã viết

về điều kiện độc hại và bệnh nghề nghiệp của công nhân mỏ Tyrcl do hít thở bụi lưu huỳnh, hơi thuỷ ngân

- Nhà bác học Italia, Ramazzint (1633-1714) đã viết sách bàn về bệnh tật của các thợ thủ công

- Nửa cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX công nghiệp lớn phát triển đồng thời phát triển những công trình nghiên cứu về vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp Năm 1910 ở Milan - Italia đã thành lập bệnh viện nghề nghiệp đầu tiên Sau đó hàng loạt các trường đại học về y tế công nghiệp, những bệnh viện bệnh

Trang 2

nghề nghiệp được thành lập ở Phần Lan, Nhật Bản, Italia, Mỹ, Anh, Pháp, Đức

và Liên Xô để nghiên cứu những vấn đề về vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp

1.3 Các chuyên ngành về vệ sinh lao động

Vệ sinh lao động ngày càng phát triển và trở thành một môn khoa học hoàn chỉnh có tên là: Y học lao động, bao gồm nhiều môn

- Vệ sinh lao động

- Sinh lý học lao động

- Tâm lý học lao động

- Bệnh lý học nghề nghiệp

- Hoá học, độc chất học công nghiệp

- Thẩm mỹ học lao động

- Thống kê…

2 Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu vệ sinh lao động

2.1 Đối tượng nghiên cứu vệ sinh lao động

- Đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất và các trang bị, các nguyên

liệu, sản phẩm phụ, trung gian, sản phẩm cuối cùng, các chất thải bỏ của quá trình sản xuất về mặt ảnh hưởng của nó đối với sức khoẻ của người công nhân

- Các điều kiện vệ sinh lao động: Yếu tố khí tượng nhiễm bẩn không khí, bức xạ, tiếng ồn, rung chuyển,siêu cao tần, điện từ trường và phóng xạ

- Đặc điểm và tổ chức quá trình lao động

- Những thay đổi chức phận sinh lý trong quá trình lao động

- Tình trạng sức khoẻ của công nhân: tỷ lệ bệnh tật nói chung, bệnh nghề nghiệp và các bệnh không đặc hiệu

- Tình trạng và hiệu quả vệ sinh của các thiết bị bảo hộ lao động như hệ thống thông gió, chiếu sáng, các thiết bị vệ sinh và sinh hoạt, các trang bị bảo hộ lao đông cá nhân, tổ chức lao động

Trang 4

2 2 Nhiệm vụ của chuyên ngành vệ sinh lao động

- Nghiên cứu phương pháp đề phòng các yếu tố có ảnh hưởng tới sức khoẻ công nhân trong quá trình lao động sản xuất

- Nghiên cứu chế độ vệ sinh lao động, vệ sinh cá nhân bệnh nghề nghiệp, giám dịnh khả năng lao động

- Quy định biện pháp cải thiện điều kiện lao động, đề phòng tai nạn lao động và các chấn thương trong sản xuất nhờ đó có thể tạo được những điều kiện lao động phù hợp với vệ sụnh, tổ chức tốt lao động sản xuất, nâng cao được sức khoẻ, khả năng lao động và năng xuất lao động của công nhân

2.3 Phương pháp nghiên cứu vệ sinh lao động

Để thực hiện được những nhiệm vụ trên của vệ sinh lao động, những người làm công tác vệ sinh lao động cần phải tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp khoa học sau:

- Phương pháp hoá học về vật lý để nghiên cứu điều kiện lao động trong

sản xuất về đánh giá hiệu quả các phương pháp cải tạo vệ sinh

- Phương pháp sinh lý học nghiên cứu những thay đổi sinh lý của cơ thể

người dưới ảnh hưởng của điều kiện và tính chất của lao động

- Phương pháp lâm sàng nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện lao động đối

với sức khoẻ của người công nhân Bằng sự phối hợp giữa các bác sỹ vệ sinh lao động và bác sỹ vệ sinh lâm sàng, tiến hành khám sức khẻ, lám các xét nghiệm và các phương pháp chẩn đoán bệnh

- Phương pháp thống kê lâm sàng và vệ sinh để nghiên cứu tình trạng sức

khoẻ tỷ lệ bệnh tật nói chung và bệnh nghề nghiệp nói riêngcủa công nhân Phương pháp thực nghiệm với sự ứng dụng những phương pháp vật lý, sinh hoá, sinh lý, độc học các phương pháp này cho phép lập lại các đều kiện lao động nào đó nhiều lần để nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện ấy trên súc vật Nhưng cần chú ý rằng những số liệu kết quả thu được trong thực nghiệm không thể đem áp dụng máy móc trên người vì cơ thể người khác về số lượng và chất

lượng so với từng loại súc vật.

3 Những khái niệm cơ bản của chuyên ngành vệ sinh lao động

3.1 Những tác hại nghề nghiệp

Trang 5

Tác hại nghề nghiệp là những yếu tố trong quá trình sản xuất và hoàn cảnh lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và khả năng lao động của công nhân Tác hại nghề nghiệp có thể phân loại như sau:

3.2 Tác hại có liên quan với tổ chức lao động không hợp lý

- Thời gian công tác liên tục quá lâu

- Cường độ làm việc quá nặng nhọc, khẩn trương

- Chế độ lao động không hợp lý

- Tư thế bó buộc trong thời gian dài

- Cơ quan bị căng thẳng: cơ quan vận động, hô hấp, hệ thần kinh trung ương, cơ quan cảm giác

3.3 Tác hại có liên quan tới quá trình sản xuất

3.3.1 Các yếu tố vật lý

- Điều kiện khí hậu

+ Nhiệt độ không khí không bình thường

+ Bức xạ nhiệt

+ độ ẩm không khí thấp hoặc cao

+ Kết hợp bất lợi của nhiệt độ, bức xạ nhiệt, độ ẩm, lưu thông khí

- Bức xạ:

+ Bức xạ tử ngoại

+ Bức xạ hồng ngoại

+ Bức xạ Ion hoá: tia X, tia ỏ, , tia vũ trụ, các nguyên tố phóng xạ

+ Sóng siêu cao tần

- áp lực không bình thường:

+ áp lực cao

+ áp lực thấp

- Tiếng ồn và rung chuyển:

3.3.2 Yếu tố hoá học : Bụi và các hoá chất độc trong sản xuất

3.3.3.Yếu tố sinh vật học:

- Nhiễm khuẩn

- Động vật có bệnh (Ví dụ: bệnh Than)

3.4 Các yếu tố có liên quan đến nơi làm việc thiếu phương tiện vệ sinh an toàn

Trang 6

- Thiếu không khí.

- Thiếu ánh sáng

- Thiếu thiết bị vệ sinh hoặc quản lý không tốt các thiết bị đó

- Thiếu thiết bị phòng hộ

Tác hại nghề nghiệp có tác dụng quyết định đối với việc phát sinh các bệnh nghề nghiệp Không nên cho rằng tác hại nghề nghiệp là một hiện tượng không thể tránh được trong lao động nghề nghiệp Nhờ những thành quả của kỹ thuật mới một số tác hại nghề nghiệp đã dược hoàn toàn tiêu diệt

4 Bệnh nghề nghiệp

4.1 Định nghĩa bệnh lý nghề nghiệp (BNN).

BNN là bệnh phát sinh do sự tác động lên cơ thể của những yếu tố độc hại sinh ra trong quá trình lao động sản xuất.

Tuy vậy việc xác định bệnh lý nghề nghiệp không phải đơn giản vì những thương tổn mạn tính này phần lớn là những tổn thương nội khoa, hoặc một số bệnh lý ngoại khoa và chuyên khoa- những bệnh lý này vẫn có thể gặp cộng đồng, những hình thái biểu hiện lâm sàng của bệnh lý nghề nghiệp không phải lúc nào cũng đặc hiệu Bởi vậy để xác định BNN phải thận trọng phải căn cứ xác đáng về: tiền sử nghề nghiệp, dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm

Sự thận trọng để đảm bảo chính xác khi kết luận BNN còn liên quan đến tâm lý những người sản xuất, sự công bằng trong đền bù tỷ lệ mất sức lao động

- Theo ý kiến của nhiều tác giả trên thế giới, định nghĩa BNN có thể được

mô hình hoá như sau:

Với định nghĩa này sẽ mở rộng hơn quan niệm về bệnh lý nghề nghiệp

+ Yếu tố hoá học

+ Yếu tố lý hoá

+ Yếu tố vi sinh vật

+ Yếu tố tổ chức đk

nghiệp

Trang 8

4.2 BNN được hưởng chế độ bảo hiếm

1 Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp

2 Bệnh bụi phổi amiăng nghề

3 Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp

4 Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp

5 Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp

6 Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp

7 Bệnh hen nghề nghiệp

8 Bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp

9 Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen

10 Bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp

11 Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp

12 Bệnh nhiễm độc trinitrotoluen nghề

13 Bệnh nhiễm độc asen nghề nghiệp

14 Bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp

15 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp

16 Bệnh nhiễm độc cacbon monoxit nghề nghiệp

17 Bệnh nhiễm độc cadimi nghề

18 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn

19 Bệnh giảm áp nghề nghiệp

20 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân

21 Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ

22 Bệnh phóng xạ nghề nghiệp

23 Bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp

Trang 9

24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp

25 Bệnh sạm da nghề nghiệp

26 Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do

27 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt và lạnh kéo dài

28 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên, hóa chất phụ gia cao su

29 Bệnh Leptospira nghề nghiệp

30 Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp

31 Bệnh lao nghề nghiệp

32 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

33 Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp

34 Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp

4.3 Đặc điểm bệnh nghề nghiệp:

* Bệnh nghề nghiệp một bệnh mãn tính, hoặc cấp tính: Theo định nghĩa thì

các yếu tố độc hại tác dụng lên cơ thể  gây ra bệnh nghề nghiệp, do đó nó phải mang tính chất mạn tính, hoặc cấp tinh

Ví dụ: Cơn đau bụng chì trong nhiễm độc chì mãn tính cũng dữ dội, cấp tính Bệnh não chì: xuất hiện các cơn hôn mê, co giật

Một số ví dụ khác: Đối với các bệnh lý nhiễm độc nghề nghiệp:

Các yếu tố hoá học xâm nhập từ từ vào cơ thể một lúc hoặc một thời gian ngắn chưa đủ khả năng gây bệnh lý, nhưng sự tích luỹ từ từ các hoá chất, sự tương tác từ từ của phân tử chất độc đối với tế bào tổ chức  lúc đầu sẽ gây những rối loạn chức năng (có khả năng hồi phục), nhưng sự tác dụng thường xuyên đó sẽ đến mức gây ra tổn thương thực thể (không hồi phục)

Quá trình đó là kéo dài, mang tính chất tích luỹ tác dụng Sự diễn biến đó mang tính chất mãn tính

* Bệnh nghề nghiệp phần lớn là bệnh lý nội khoa:

Trang 10

Ví dụ: Bệnh bụi phổi, bệnh nhiễm độc nghề nghiệp, bệnh phóng xạ, bệnh

do sóng siêu cao tần

* Một số bệnh nghề nghiệp thuộc bệnh lý chuyên khoa: Bệnh điếc nghề

nghiệp, da nghề nghiệp, mắt nghề nghiệp

* Một số bệnh nghề nghiệp có thể thuộc bệnh lý của những chuyên khoa khác nhau

Ví dụ: Bệnh nhiễm độc chì: Có thể gồm tổn thương thần kinh, thận, tiêu hoá, tim mạch, huyết học

Bệnh nhiễm độc thuỷ ngân: Thuộc cả chuyên khoa răng miệng, tiêu hoá, thần kinh, tâm thần

* Bệnh nghề nghiệp có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh xã hội:

Ví dụ: ở khoa vi sinh vật có thể bị bệnh vi khuẩn, vi rút từ nguồn nuôi cấy, thử nghiệm, bệnh than từ trâu, bò truyền cho công nhân chăn nuôi: Đây là bệnh truyền nhiễm Hoặc công nhân mắc bệnh lao nghề nghiệp hàng ngày phải phục vụ tiếp xúc với bệnh nhân bị lao  đó là bệnh xã hội do nguyên nhân nghề nghiệp

4.4 Chẩn đoán bệnh nghề nghiệp

Việc chẩn đoán bệnh lý BNN là phức tạp và không ít khó khăn vì nhiều lý do: Diễn biến không điển hình, khó khăn về kỹ thuật, xét nghiệp chuyên biệt, xác định các yếu tố độc hại trong môi trường phức tạp

Bởi vậy để chẩn đoán xác định phải dựa vào:

- Yếu tố tiếp xúc: tức là nghề nghiệp có tiếp xúc, hoặc chịu tác dụng của những yếu tố độc hại một cách rõ rệt được xác định không chỉ bằng lời khai, mà bằng các số liệu thu thập qua đo đạc, xét nghiệm Trong đó yếu tố thời gian là quan trọng để tham khảo

Ví dụ: Bệnh nhiễm độc chì chẳng hạn: ngoài yếu tố khai báo về nghề nghiệp, phải có số liệu cụ thể về: tiếp xúc với loại gì? số giờ, số ngày làm việc, tính chất công việc, nồng độ bụi, hơi chì nơi làm việc là bao nhiêu? lượng chì máu, chì niệu như thế nào? Kết hợp tất cả cả các số liệu thu thập như trên để khảng định một điều: Yếu tố tiếp xúc có rõ rệt hay không?

Khi các yếu tố tiếp xúc không rõ ràng, việc xác định bệnh lý nghề nghiệp

Trang 11

trở nên khó khăn.

- Bệnh cảnh lâm sàng: Là một trong những căn cứ chính để xác định bệnh lý nghề nghiệp Nếu dấu hiệu lâm sàng điển hình, kèm theo có đủ các yếu tố khác: yếu tố tiếp xúc, xét nghiệm, việc định bệnh sẽ dễ dàng Nhưng trong thực tế, thường gặp diễn biến lâm sàng không đầy đủ và rõ rệt, dễ nhầm với các bệnh nội khoa, chuyên khoa hoặc trong những giai đoạn khởi đầu của bệnh, các triệu chứng lâm sàng rất mờ nhạt và mang tính chất chủ quan Trong lúc đó việc chẩn đoán sớm

là một yêu cầu quan trọng đối với bệnh nghề nghiệp Vấn đề chủ yếu ở đây là phải chọn lọc trong các triệu chứng phức tạp để tìm những dấu hiệu mang tính chất đặc trưng, và phối hợp với các yếu tố khác để quyết định chẩn đoán

- Xét nghiệm cận lâm sàng: Là đặc biệt quan trọng, trong nhiều trường hợp mang tính chất quyết định

Ví dụ: Để chẩn đoán nhiễm độc chì NN, ngoài 2 yếu tố đã nêu ở trên (tiếp xúc, lâm sàng), nếu không có xét nghiệm về cận lâm sàng (HC, Hb, HC Basophil tăng,  ALA niệu tăng ) thì không thể khẳng định là nhiễm độc chì Bệnh bụi phổi do bụi SiO2, Amiăng: tuy có yếu tố tiếp xúc rõ, có biểu hiện lâm sàng, nếu không có phim X quang phổi thì cũng không xác định được bệnh

Tuy nhiên, trong thực tế gặp nhiều BNN mà xét nghiệm cận lâm sàng không có thay đổi đó cũng gặp trong các bệnh khác:

Ví dụ: Viêm thận do chì: Protein niệu (+++), đạm huyết cao, nhưng chưa khẳng định được đó là bệnh thận do chì

Có thể nói rằng để chẩn đoán bệnh lý NN, sự kết hợp cả 3 căn cứ vừa nêu ở trên như là một quy định bắt buộc

Khi còn thiếu yếu tố, không nên quyết định vội vàng mà phải theo dõi hoặc kiểm tra thêm

4.5 Điều trị bệnh nghề nghiệp:

Trong nhiều bệnh nghề nghiệp, tổn thương tế bào tổ chức không còn dừng

ở rối loạn chức năng, mà là tổn thương thực thể rõ rệt, bệnh không ngừng tiến triển kể cả khi đã ngừng tiếp xúc, do vậy điều trị bệnh nghề nghiệp trong những bệnh lý này chỉ mang tính triệu chứng và dự phòng biến chứng

Ví dụ: Bệnh Silicose: đã có những tổn thương xơ hoá phổi, tổ chức xơ phát triển thay thế một phần nhu mô, vậy tổn thương đó sẽ không hồi phục

Trang 12

Trong bệnh nhiễm độc mangan: Tổn thương gây ra ở hệ thần kinh trung ương (thể vân), sẽ không hồi phục ở giai đoạn bệnh phát triển Bởi vậy việc điều trị BNN là khó khăn Trong nhiều loại bệnh lý, kết quả điều trị là hạn chế nếu không nói là không điều trị được

Tuy nhiên ở những giai đoạn sớm, nếu phát hiện, ngừng tiếp xúc và điều trị tích cực, thì bệnh lý có thể ngừng tiến triển, một số bệnh lý có thể giảm triệu chứng Song trong thực tế ở Việt Nam hiện nay, do sự hiểu biết về BNN ở giai đoạn khởi đầu không phải là điều dễ dàng

4.6 Dự phòng bệnh nghề nghiệp

Xuất phát từ thực tế là một số bệnh nghề nghiệp không ngừng tiến triển kể cả khi đã ngừng tiếp xúc, do vậy phòng bệnh nghề nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng Để hạn chế đến mức tối đa BNN, việc phòng ngừa mang ý nghĩa tích cực nhất Thực tế nó có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn Các biện pháp phòng BNN có thể khái quát 3 điểm chính:

* Biện pháp kỹ thuật: Biện pháp này quan trọng nhất:

Có liên quan đến các nhà chế tạo máy, quy trình sản xuất, các biện pháp

để bảo đảm vệ sinh lao động Cụ thể:

- Đảm bảo vệ sinh công nghiệp tốt, đầy đủ trang bị bảo hộ lao động tập thể: Bao gồm các biện pháp thông gió hút bụi, làm ướt, sản xuất theo quy trình kín Để làm giảm các yếu tố độc hại

- Trong những điều kiện có thể được: ở những công đoạn tạo ra nhiều yếu

tố độc hại cần được từng bước tự động hoá, thay thế bằng người máy công nghiệp Thay thế nguyên liệu độc hại bằng các nguyên liệu ít độc, hạn chế đến mức tối đa, thậm chí cấm sử dụng một số chất độc hại

* Biện pháp y tế:

- Kiểm tra, xác định các yếu tố độc hại ở môi trường lao động, nếu quá giới hạn cho phép phải đề nghị có biện pháp vệ sinh bảo đảm

- Tuyển chọn công nhân vào lao động phải có đủ yếu tố cần thiết, đặc biệt lưu ý với các chất độc hại để loại trừ những người dễ mẫn cảm

- Tổ chức khám định kỳ, cho điều trị, an dưỡng, tổ chức giám định y khoa

* Biện pháp cá nhân:

Ngày đăng: 24/11/2020, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w