1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NGUỒN nước và CHẤT LƯỢNG nước

14 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 29,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước là nguồn sống cho mọi sinh vật trên trái đất. Vai trò của nước đối với hệ sinh thái là tham gia cấu trúc khí quyển, điều hoà khí hậu, đất đai và thành phần cần thiết cho sự sống của mọi sinh vật và con người.

Trang 1

NGUỒN NƯỚC VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC

1 Ý nghĩa của nước đối với sự sống và sức khỏe loài người

Nước là nguồn sống cho mọi sinh vật trên trái đất Vai trò của nước đối với

hệ sinh thái là tham gia cấu trúc khí quyển, điều hoà khí hậu, đất đai và thành phần cần thiết cho sự sống của mọi sinh vật và con người

Nước rất cần thiết hàng ngày đối với con người Người ta có thể nhịn ăn nhiều tuần mà vẫn còn sống, nhưng nếu vài ngày mà không được bổ sung nước thì sẽ chết

1.1 Ý nghĩa sinh lý của nước đối với sự sống con người

Nước là một trong những thành phần cấu tạo của cơ thể Tùy theo tính chất sinh lý và chức phận của từng tế bào cơ quan mà tỷ lệ nước được phân bố trong

cơ thể khác nhau Tuổi càng trẻ thì tỷ lệ nước càng cao (trẻ sơ sinh tới 97%), người trưởng thành (60 - 70%) và người già chỉ còn dưới 60% thể trọng cơ thể

Tỷ lệ nước trong các tế bào, các mô cơ quan tổ chức cơ thể lại càng khác nhau nhiều như: men răng chỉ có 0,2%, mô mỡ: 30%, gan: 70%, cơ bắp: 76%, buồng trứng: 86% và nhiều nhất là thủy tinh dịch tới 99%

Nước tham gia vào quá trình chuyển hoá vật chất hàng ngày của cơ thể để đảm bảo sự trao đổi chất, mang các chất dinh dưỡng tới mọi nơi để xây dựng, nuôi dưỡng tế bào, mô, tổ chức và đào thải các sản phẩm chuyển hóa ra khỏi

cơ thể

Nước tham gia vào sự cân bằng nội môi, áp lực thẩm thấu và kiềm - toan Nước tham gia vào quá trình điều hoà thân nhiệt cho cơ thể

Nước cung cấp các chất khoáng và các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể; đặc biệt là: iôt, fluor, sắt

Ngoài ra, mọi hoạt động sinh hoạt văn thể mỹ, vệ sinh cá nhân của con người đều cần đến nước

Lao động quân sự thuộc loại lao động nặng, bộ đội phải hoạt động trong mọi tình huống, mọi điều kiện địa hình, thời tiết Do đó, vấn đề bảo đảm nước ăn uống, sinh hoạt có chất lượng tốt và đầy đủ cho bộ đội là rất quan trọng, góp phần đảm bảo sức khoẻ, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ

1.2 Vai trò của nước đối với môi trường xã hội

- Hoạt động sản xuất: Bất kỳ một loại hình sản xuất nào dù là sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp nuôi trồng, sản xuất công nghiệp hay dịch vụ thì đều phải cần có nước

- Điều hoà thời tiết khí hậu:

Trang 2

Môi trường nước có vai trò rất quan trọng đối với thời tiết và khí hậu Nước tham gia điều hoà khí hậu, nhờ tỷ nhiệt của nước khá cao đóng vai trò như một

ổn nhiệt hấp thu nhiều nhiệt và thải nhiệt từ từ vào không khí, nên những vùng ven biển hoặc vùng có lượng nước mặt lớn, nhiệt độ không khí tương đối ổn định không dao động quá nhiều trong một ngày; ở những vùng sa mạc, lượng nước trong đất thấp, do vậy đất thu nhiệt kém, khả năng giữ nhiệt cũng kém nên nhiệt độ không khí ban ngày nắng nóng thì rất cao, ngược lại ban đêm do đất kém giữ nhiệt nên nhiệt độ không khí xuống rất thấp

- Thảm thực vật và ổn định hệ sinh thái:

Nước có vai trò to lớn trong sự phát triển thảm thực vật và ổn định hệ sinh thái Nhờ có nước, đất giữ được độ ẩm thích hợp giúp cho hệ vi sinh vật trong đất phát triển và chúng đóng vai trò quan trọng giúp cho quá trình phân hủy các chất hữu cơ thành khoáng chất và tạo mùn; các loài vi khuẩn nitrosomonas có khả năng cố định đạm làm cho đất màu mỡ do vậy thảm thực vật sẽ được chăm bón và phát triển nhờ lượng phân bón trong tự nhiên

1.3 Ý nghĩa vệ sinh dịch tễ của nước

Nước sạch mang nhiều lợi ích cho con người, nhưng nếu nước bị nhiễm bẩn các loại vi trùng gây bệnh, ô nhiễm các chất độc hại lại là môi trường trung gian lan truyền một số bệnh đường tiêu hoá nghiêm trọng đối với con người

Số lượng và chất lượng nước sinh hoạt không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ, gây ra các bệnh lây truyền qua đường nước và các bệnh liên quan đến nước

Nước là môi trường trung gian truyền bệnh, đặc biệt là các bệnh tiêu hoá và hay gây ra các vụ dịch lớn

Dịch tả hiện nay vẫn là một vấn nạn đối với các nước nghèo, nhất là các quốc gia ở châu Phi và châu á Đó là bệnh lưu hành có tính chất địa phương và đặc điểm nguồn nước như ở ấn Độ, Indonesia, Iraq Khi kiểm tra chất lượng nước sinh hoạt ở vùng nông thôn miền Bắc Nigeria trong mùa nóng khô thấy: tỷ

lệ mắc các bệnh đường ruột tỷ lệ thuận với mức độ ô nhiễm nước

Một bệnh mà tác nhân gây bệnh được truyền qua nước ăn uống, nước rửa thực phẩm đến người cảm thụ được gọi là bệnh truyền qua nước Vi khuẩn thuộc các bệnh này là các bệnh nhiễm khuẩn tả, lỵ trực khuẩn, viêm gan A

2 Nhu cầu của nước đối với con người

2.1 Tiêu chuẩn về số lượng nước sạch

- Số lượng nước sạch ở Việt Nam hiện nay được quy định như sau:

+ Cấp nước cho thành phố: 100lít/người trong 24 giờ

Trang 3

+ Cấp nước cho thị trấn: 100 lít/người trong 24 giờ.

+ Cấp nước cho nông thôn: 60 lít/người trong 24giờ

Chúng ta đang thực hiện chương trình cung cấp nước sạch, Đến năm 2020,

có 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 60% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn của Bộ Y tế

- Nhu cầu về số lượng nước cần thiết phải bảo đảm cho các hoạt động của con người hàng ngày trung bình khoảng 60 lít/người, gồm có:

+ Nước uống và nấu thức ăn : 5 lít

+ Nước dùng cho sinh hoạt tắm giặt: 45 lít

+ Nước dùng cho vệ sinh nhà ở: 10 lít

2.2 Tiếp tế nước cho bộ đội hoạt động dã ngoại

Trong những điều kiện đặc biệt khó khăn, bộ đội đóng quân và luyện tập ở những vùng khan hiếm nước cũng phải bảo đảm số lượng nước sạch cho nhu cầu nước sinh lý do ăn uống là khoảng 2,5 lít/người

Công tác bảo đảm tiếp tế nước cho các hoạt động quân sự tại dã ngoại là một trong những nhiệm vụ quan trọng và hết sức khó khăn

2.3 Cân bằng nước của cơ thể

- Nhu cầu lượng nước sinh lý được đưa vào cơ thể qua đường ăn uống: Nước vào ống tiêu hoá, một phần nhỏ được hấp thu ở khoang miệng, thực quản, dạ dày nhưng chủ yếu là được hấp thu ở ruột non và ruột già Sự hấp thu nước ở ruột non xảy ra rất nhanh Từ các tế bào nhu mô ruột, nước di chuyển vào khoảng gian bào, mao mạch rồi đổ về tĩnh mạch cửa về gan và theo dòng tuần hoàn đến các cơ quan Một lượng nhỏ nước đi theo hệ thống ống bạch huyết

- Nước được thải trừ ra khỏi cơ thể bằng 4 con đường:

+ Thải trừ qua da dưới dạng mồ hôi

+ Thải trừ qua phân: lượng nước thải trừ qua phân không nhiều; trong điều kiện bình thường, lượng nước thải trừ theo phân khoảng 100 ml mỗi ngày đối với người trưởng thành

+ Thải trừ nước qua thận: nước được đào thải qua thận ở dạng nước tiểu + Thải trừ nước qua phổi: một lượng nước được thải trừ qua hơi thở Lượng nước này phụ thuộc vào nhiệt độ cơ thể, thể tích hô hấp, nhiệt độ và độ ẩm không khí môi trường bên ngoài

- Cân bằng nước là cân bằng giữa lượng nước hấp thu và lượng nước thải trừ của cơ thể

Trang 4

3 Các nguồn nước thiên nhiên và phương pháp khai thác sử dụng

Nước được sử dụng trong ăn uống, sinh hoạt phục vụ đời sống con người, được khai thác từ rất nhiều nguồn khác nhau, nhưng chúng đều có mối quan hệ với nhau trong chu trình tuần hoàn của nước (chu trình nước) Nước từ bề mặt đất, sông, suối, ao, hồ, đại dương bay hơi kết thành mây Mây gặp lạnh tạo thành mưa rơi xuống Nước mưa ngấm vào lòng đất tạo thành nước ngầm, rồi nước ngầm được khai thác sử dụng lại trả về nước bề mặt

Nước trong tự nhiên tồn tại ở 3 trạng thái cơ bản là trạng thái lỏng, trạng thái khí còn gọi là hơi nước và trạng thái rắn ở dạng băng đá Tổng lượng nước trên hành tinh là không thay đổi, tuy nhiên sự phân bố của chúng có thể có sự biến động

Các nhà khoa học cho biết khoảng 97,2% lượng nước trên hành tinh chúng ta

là nước mặn, nguồn nước này được phân bố ở các đại dương Về nguyên tắc nguồn nước đại dương do có hàm lượng NaCl cao, trung bình khoảng 35 gam/lít, do vậy không thể sử dụng trực tiếp để cung cấp nước ăn uống

Khoảng 2% tổng lượng nước trên hành tinh ở dạng nước đóng băng, phân bố

ở 2 cực của trái đất, đây là nguồn nước ngọt, do hơi nước ngưng tụ, do sự đóng băng Về nguyên tắc nguồn nước này có thể được sử dụng cung cấp nước sinh hoạt, đã có những dự án có tính khả thi kéo những tảng băng lớn từ Nam cực về lục địa để khai thác nước ngọt

Khoảng 0,8% tổng lượng nước trên hành tinh là nước bề mặt, nguồn nước này được phân bố ở các hồ, sông, ngòi, suối, nước đồng ruộng trong đó một phần đáng kể là ở vùng hồ lớn (great lake) thuộc châu Mỹ và một số hồ ở châu

á, trong đó bao gồm một phần nước ngấm xuống đất qua các lớp kiến tạo để trở thành nước ngầm Nước bề mặt được phân bố và tích lũy theo cao trình của mặt đất, phụ thuộc thảm thực vật, tính chất thổ nhưỡng và cuối cùng chảy dần ra biển Nguồn nước bề mặt là nước ngọt, có đủ điều kiện cung cấp nước ngọt cho

ăn uống và sinh hoạt, cung cấp nước cho mọi hoạt động của hệ sinh thái lục địa trong tự nhiên cũng như mọi hoạt động sản xuất nuôi trồng trong nông nghiệp và cũng như trong sản xuất công nghiệp

Khoảng 0,001% tổng lượng nước trên hành tinh ở dạng hơi nước còn gọi là nước không trung mà khi hơi nước ngưng tụ thành những giọt nước lớn hơn, trọng lượng tăng dần theo sức hút của Trái đất rơi xuống mặt đất gọi là nước mưa Nguồn nước mưa là nước ngọt và là nguồn bổ sung cho nguồn nước bề mặt

3.1 Nước mặt (nước bề mặt)

Trang 5

Nước mặt bao gồm nước sông, suối, ao, hồ và kênh rạch là thuộc loại nước bẩn, không nên dùng vào việc ăn uống và sinh hoạt cho con người

- Nước ao hồ, kênh rạch: thường là nguồn nước tù, bị ô nhiễm nhiều do các

chất vô cơ, hữu cơ và vi sinh vật được thải xuống từ mặt đất chủ yếu là do sinh hoạt tắm rửa vệ sinh cá nhân Khả năng tự làm sạch của nước ao hồ kém hơn nước sông suối

- Nước sông: là nguồn nước lưu động, song thường bị ô nhiễm do nguyên

nhân của các chất thải, rác thải từ hai bên bờ, do nước thải công nghiệp, có nơi

là nước thải bệnh viện

- Nước suối: thường trong, nhưng nếu chảy qua các khu rừng có lá độc rơi

xuống hoặc các khu vực ô nhiễm dân cư cũng có thể gây độc hại cho người sử dụng

Trong những điều kiện bộ đội luyện tập dã ngoại, khó khăn về khai thác nước ngầm, người ta phải sử dụng nước sông, suối vào việc ăn uống, song phải

có biện pháp cải tiến chất lượng nước như lắng lọc, khử trùng, phân chia khu vực đoạn sông suối cần sử dụng cho phù hợp với yêu cầu đảm bảo vệ sinh Phương pháp khai thác nước sông, suối để sử dụng thông dụng nhất là đào giếng thấm lọc hoặc hào lọc cạnh bờ sông, suối

3.2 Nước ngầm

Một phần nước mưa thấm xuống đất, gặp lớp đất đá ít thấm nước tạo thành nước ngầm và có khả năng di chuyển tạo thành mạch ngầm Mức nước ngầm phụ thuộc vào địa hình và lượng mưa Dựa trên cấu tạo địa chất học của nguồn nước người ta phân ra thành các nguồn: Nước ngầm nông, nước ngầm sâu, nước khe đá và nước ngọt nổi

- Nước ngầm nông: Là lớp nước ở trong đất, trên lớp đất ít hoặc không thấm nước ở gần mặt đất nhất Mức nước thay đổi nhiều theo lượng mưa Nước thường chứa nhiều sắt Giếng đào trên lưu lượng nước ngầm nông nếu dùng nhiều dễ bị ô nhiễm bởi các khu vực xung quanh vì tạo thành hình phễu do sức hút của giếng Do đó, giếng cần đào xa các nguồn gây ô nhiễm, có thành giếng, sân giếng, rãnh thoát nước, có bể lọc khử sắt Hầu như các đơn vị bộ đội đóng quân dã ngoại thường phải khai thác nước ngầm nông để sử dụng bằng đào giếng khơi là chủ yếu

- Nước ngầm sâu: Là lớp nước ở sâu trong lòng đất, nằm giữa 2 lớp đất ít

hoặc không thấm nước Đây là nguồn nước tốt, dồi dào ở vùng trung du có đá ong, các giếng đào thường là giếng lấy nước ngầm sâu nên nước trong, ít sắt và chất lượng thường tốt Nếu mạch nước ngầm sâu nằm nghiêng sẽ tạo thành lớp nước bị ép Khi đào sâu tới lớp nước này thì nước sẽ dâng lên cao, có khi phun

Trang 6

cao lên mặt đất gọi là giếng phun Phương pháp khai thác nước ngầm chủ yếu là khoan giếng với độ sâu hàng trăm mét; từ đó dẫn nước vào các nhà máy nước để

xử lý cải thiện chất lượng nước Đây là phương pháp tạo nguồn nước sạch tốt nhất

Đối với vùng ven biển có lớp nước ngọt nổi: là nước mưa thấm qua đất, cát, sỏi hình thành một lớp nước ngọt nổi trên mặt lớp nước mặn ven biển Hai lớp nước này khuếch tán chậm vào nhau ở mặt tiếp giáp; vì vậy nếu đào giếng sâu sẽ lấy phải lớp nước mặn Dân cư ven biển thường phải khai thác sử dụng nguồn nước này bằng cách đào giếng có độ sâu thích hợp

Ngoài ra còn loại nước khe đá: là nước chứa trong các khe đá ở núi, sâu trong lòng đất đá, nguồn nước này dễ bị bẩn do ô nhiễm bên ngoài, con người ít

sử dụng nguồn nước này

3.3 Nước mưa

Về chỉ tiêu chất lượng hoá học và vi sinh vật học thì nước mưa sạch nhất Nước mưa được xem như nước cất tự nhiên, song không phải hoàn toàn tinh khiết Nước mưa cũng bị nhiễm bẩn bởi bụi, hơi khí độc, thậm chí cả bụi trong không khí, mái nhà, bể chứa Một số chất khi tạo với hơi nước trong không khí tạo thành các axit và có thể gây ra mưa axit, gây nhiều thiệt hại cho môi trường sinh thái, cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng

Với phong trào ngói hóa, mái bằng hóa, với lượng mưa phong phú nên nước mưa là nguồn cung cấp nước quan trọng cho các gia đình ở nông thôn và nhiều đơn vị quân đội ở hải đảo Tuy nhiên cần giữ sạch hệ thống thu nhận nước mưa (mái nhà, nền xi măng ), đường ống dẫn nước tới bể lọc, bể dự trữ Bể chứa nên đậy kín để tránh bọ gậy và sự phát triển của tảo

4 Chất lượng nước và tiêu chuẩn nước sạch bộ y tế

Tiêu chuẩn nước sạch được đánh giá theo "Tiêu chuẩn Vệ sinh nước ăn

uống" của Bộ Y tế, năm 2018 (QCVN01-2018/BYT), ý nghĩa về một số chỉ tiêu

thường dùng của tiêu chuẩn đánh giá nước sạch, như sau:

4.1 Các yếu tố vật lý, cảm quan

- Độ trong: Nước phải trong, nước đục là do có những chất lơ lửng (đất

cát ) trong nước Nguồn nước đang trong mà bị đục chứng tỏ có sự thẩm lậu của các chất bẩn ô nhiễm từ môi trường bên ngoài vào

- Độ đục: Độ đục là lượng các hạt đục có trong nước, ngược với độ đục là độ

trong của nước Nước đục là do trong thành phần của nước có các tiểu thể rắn gọi

là hạt đục Các hạt đục đó phần lớn là các hạt sét, một số trường hợp là do sự tủa của một số chất vô cơ trong nước ngầm như sắt Các vi khuẩn trong nước thường

Trang 7

bám quanh các hạt đục, như thế các hạt đục giúp cho sự nhân lên và phát triển của

vi khuẩn, tránh sự tác dụng của các hoá chất khử trùng nước Do vậy, muốn khử trùng nước có hiệu quả, phải khử đục trước khi khử trùng Nếu nước đục, hiệu quả khử trùng rất kém Nước đục cho cảm giác rất mất an toàn khi sử dụng Trong tự nhiên, nước đục là biểu hiện sớm của sự ô nhiễm mà bằng mắt thường rất dễ dàng quan sát được Tiêu chuẩn độ đục được tính theo đơn vị NTU, giá trị giới hạn là 2 NTU

- Màu: Nước tốt phải không có màu Nước có màu đen thường do sự ô

nhiễm của các tạp chất hữu cơ đang thối rữa; nước có rêu, tảo thường có màu xanh; nước có màu vàng thường có gỉ sắt

- Mùi vị: nước dùng cho ăn uống sinh hoạt phải là nguồn nước không có mùi

vị lạ Nước nhiều sắt có mùi tanh, nước chứa nhiều muối (ven biển) có vị mặn, nước chứa magie có vị chát

4.2 Các yếu tố hoá học

- Chất hữu cơ (độ oxy hóa): sự có mặt của chất hữu cơ trong nước chứng tỏ

nguồn nước đã bị ô nhiễm, vì đó là sản phẩm phân hủy của các tổ chức động vật, thực vật, của các chất thải Các chất hữu cơ có hai nguồn gốc: động vật và thực vật Chất hữu cơ có nguồn gốc động vật báo hiệu sự nguy hiểm của nước có thể kèm theo các vi khuẩn gây bệnh

Lượng chất hữu cơ trong nước được tính theo lượng oxy hoá của thuốc tím (KMnO4 ); tiêu chuẩn cho phép 2,0 mg/lít nước

Nước trong thiên nhiên thường xuyên bị nhiễm bẩn bởi các hợp chất hữu cơ

có nguồn gốc động vật và thực vật như phân, nước tiểu của người và động vật, xác chết, rác mục, lá thân cây, củ rễ quả thối rữa Khi các chất nói trên rơi vào môi trường nước được các vi sinh vật lên men phân hủy và bị nước thủy phân thành các hợp chất đơn giản hơn như các Albuminoid, thành phần của chúng rất phức tạp, khó có thể định lượng riêng rẽ từng loại chất mà gọi chung là những hợp chất hữu cơ Trong điều kiện đủ oxy, các hợp chất hữu cơ bị oxy hoá để tạo

ra NH3, NO3, NO2, Do vậy trong thực tế người ta phải xác định các hợp chất hữu cơ bằng cách gián tiếp dựa vào lượng oxy tiêu thụ để oxy hoá chúng, nên chỉ tiêu này có tên gọi là độ oxy hoá

- Amonia: bao gồm cả 2 dạng, dạng không ion hoá như NH3 và dạng ion

hoá NH4+

Amonia có mặt trong môi trường là do sản phẩm của quá trình chuyển hoá từ các hợp chất hữu cơ, urê trong nước tiểu Sự có mặt của amonia trong nước chứng tỏ nước đang bị nhiễm bẩn Lượng amonia tự nhiên có trong nước mặt và

Trang 8

nước ngầm thường thấp khoảng 0,2mg/l Các nguồn nước bị giam trong môi trường yếm khí có thể có nồng độ Amonia cao hơn lên tới 3mg/l Sự chăn nuôi gia súc quy mô lớn có thể làm gia tăng lượng Amonia trong nước bề mặt Tác hại trực tiếp của amonia tới sức khoẻ ít được chứng minh, liều độc thực nghiệm lên tới 200 mg/kg thể trọng Tuy nhiên sự có mặt của amonia trong nước lại là bằng chứng của nước ô nhiễm hữu cơ nhất là ô nhiễm phân và nước tiểu do đó

có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người, ngoài ra lượng Amonia cao làm cho quá trình khử trùng nước khó khăn và tốn kém hơn

Giá trị giới hạn của amonia theo NH4 là 1,5mg/l

- Nitrite và nitrate: nitrite và nitrate là những ion xuất hiện một cách tự nhiên

do là một phân tử trong chu trình chuyển hoá Nitơ, lượng Nitrate tự nhiên trong nước bề mặt và nước ngầm thông thường chỉ vài mg mỗi lít

+ Trong môi trường nước Nitrit (NO2) không bền dễ bị oxy hoá để trở thành Nitrate Đó là sản phẩm trung gian trong quá trình phân hủy từ Amoniac sang Nitrat Ion nitrit tồn tại rất ngắn trong nước Do vậy nếu có Nitrit trong nước chứng tỏ nước đang bị ô nhiễm

Tiêu chuẩn cho phép là dưới 3,0 mg/lít (khi có cả Nitrit và Nitrat)

+ Nitrat (NO3):

Nitrat là sản phẩm oxy hoá tiếp theo của Nitrit, đó là sản phẩm cuối cùng của

sự phân hủy chất hữu cơ chứa Nitơ Nếu trong nước chỉ có nitrat mà không amoniac và nitrit chứng tỏ nguồn nước bị nhiễm bẩn nhưng đã được vô cơ hoá, nếu có thêm cả Amoniac và Nitrit nghĩa là nước vẫn đang bị ô nhiễm Lượng Nitrat trong nước quá nhiều sẽ gây ngộ độc cho trẻ sơ sinh vì nitrat vào cơ thể trẻ sẽ dễ chuyển thành Nitrit, đó là chất gây Methemoglobin, làm giảm khả năng vận chuyển oxy vào máu Tiêu chuẩn quy định cho là 50 mg/ lít nước (tính theo NO3)

- Chloride: Chloride còn gọi là Clorua (Cl-): trong nước uống có nguồn gốc

tự nhiên, nước thải, nước tan băng tuyết và nơi bị nhiễm mặn Đặc biệt là tất cả các dịch thể của động vật đều chứa Clorua

Nguồn Clorua đối với người chủ yếu là qua thức ăn, lượng này quá lớn so với lượng Clorua trong nước uống Tuy nhiên nồng độ Clorua ở trong nước giếng, ao hồ ở sâu trong đất liền lại là bằng chứng nghi vấn cho sự ô nhiễm của các dịch thể, chất bài tiết hay sự thối rữa của sinh vật Nồng độ Clorua cao còn làm ăn mòn hệ thống đường ống phân phối nước bằng kim loại, vì thế làm tăng nồng độ kim loại trong nước cấp

Giá trị giới hạn đối với clorua ở vùng nước ngọt tiêu chuẩn cho phép là 250mg/lít, ở vùng ven biển có thể cho phép đến 500mg/lít

Trang 9

- Sắt (Fe): lượng sắt có trong nước cần cho cơ thể để tạo máu tạo huyết sắc

tố, nhưng lượng sắt cao quá sẽ bị kết tủa thành màu gạch cua, gây trở ngại tới vệ sinh cá nhân, giặt quần áo và các tiện nghi sinh hoạt khác

Giá trị giới hạn đối với sắt là do những cảm giác phiền toái của sắt mang lại như: vị tanh của nước khi nhiều sắt, nước có màu vàng và nhất là sự ố vàng quần áo đồ vải khi giặt ở nước có nhiều sắt Sắt trong nước cao, khi tủa sẽ bám vào các bề mặt vật dụng, còn làm giảm độ bóng và tính thẩm mỹ của men sứ vệ sinh, do vậy người ta phải xử lý loại bỏ sắt trong nước khi sử dụng cho ăn uống

và sinh hoạt Giá trị giới hạn đối với sắt trong nước là < 0,5 mg/l

- Độ cứng: Độ cứng của nước tuy không có hại gì cho sức khoẻ người sử

dụng nhưng nó gây cản trở rất lớn tới việc sử dụng Độ cứng của nước phụ thuộc vào nồng độ các ion Ca, Mg, Ba, Sr có ở trong nước, nhưng chiếm tỷ lệ cao là các ion Ca và Mg là thành phần chính quyết định độ cứng của nước Có một số

ý kiến cho rằng: nếu độ cứng cao có thể tăng tỷ lệ các bệnh sỏi đường tiết niệu

Có 3 loại khái niệm về độ cứng của nước:

+ Độ cứng tạm thời: là độ cứng do các muối bicacbonat của ion Ca, Mg, như

Ca (HCO3)2, Mg(HCO3)2; loại độ cứng này khi đun sôi nước, độ cứng tạm thời sẽ hết

+ Độ cứng vĩnh cửu: là độ cứng do tất cả các muối khác của Ca, Mg tạo nên như CaSO4, MgSO4, CaCl2, Mg3 (PO4)2, khi đun sôi nước, độ cứng này vẫn giữ nguyên

+ Độ cứng toàn phần: bao gồm độ cứng tạm thời và độ cứng vĩnh cửu Có nhiều đơn vị đo độ cứng như độ Đức, độ Pháp và theo mmol/l trong đó:

1 mg Ca++ = 0,14 độ Đức = 0,025 mmol/l

1 mg Mg++ = 0,23 độ Đức = 0,041 mmol/l

Giá trị giới hạn của độ cứng là 300 mg theo Ca++

4.3 Các chất hóa học vô cơ có độc tính cao ô nhiễm vào nước sạch

Một số chất vô cơ có độc tính cao bị ô nhiễm vào nguồn nước ngầm (nước sạch) chủ yếu là các kim loại nặng như: nhôm, asen, chì, crom, antimon, cadimi, thủy ngân, molipden, bạc hoặc một số nguyên tố ít độc hơn như đồng, kẽm, mangan

- Nhôm (Al): Là nguyên tố phổ biến và phong phú trong lớp vỏ trái đất, nó chiếm khoảng 8% trong tổng số các nguyên tố Nhôm kim loại đã được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ kể cả kỹ thuật keo tụ làm trong nước Trong một số nghiên cứu trên người cho thấy: Sự hiện diện của nhôm liên quan tới những tổn thương ở vỏ não nhất là trong bệnh Alzheimer Giá trị giới hạn của nhôm đối với nước ăn uống là 0,2mg/l

Trang 10

- Arsenic: Nguyên tố này được phân bố rộng rãi trong lớp vỏ trái đất và được

sử dụng nhiều trong công nghệ hợp kim Arsenic xâm nhập vào nước từ các công đoạn hoà tan các chất và quặng mỏ, từ nước thải công nghiệp và sự lắng đọng trong không khí Tại một số địa phương, Arsenic xuất hiện trong nước ngầm do sự ăn mòn các nguồn khoáng vật thiên nhiên Lượng hấp thu Arsenic

vô cơ của cơ thể trung bình hàng ngày từ nước tương đương với lượng hấp thu Arsenic từ thực phẩm

Giá trị giới hạn của arsenic đối với nước ăn uống và sinh hoạt là 0,01 mg/l

- Chì ( Pb): Nguyên tố chì hiện diện trong nước uống có thể do sự hoà tan

chì trong tự nhiên, trong hệ thống ống phân phối nước có vật liệu chì hoặc các mối hàn có chì Lượng chì hoà tan từ nguồn nước có vật liệu chì phụ thuộc vào

pH, nhiệt độ, độ cứng của nước và thời gian nước được lưu trữ, nếu nước mềm

và pH acid thì sự hoà tan chì tăng cao hơn Chì là chất độc, chì thâm nhập qua rau thai rất sớm ngay từ tuần thứ 20 của thai kỳ và có thể tiếp diễn suốt thời gian mang thai Thời gian bán hủy và đào thải chì rất chậm, ở trẻ em sự bán huỷ và đào thải còn chậm hơn so với người lớn

Giá trị giới hạn đối với chì trong nước uống là 0,01mg/l

- Thủy ngân (Hg): Thủy ngân có mặt trong nước bề mặt và nước ngầm dưới

dạng vô cơ, thường khoảng dưới 0,5 microgam/lít Thủy ngân vô cơ tác động chủ yếu trên thận và hệ thần kinh trung ương

Giá trị giới hạn của thủy ngân đối với nước ăn uống là 0,001 mg/l

- Cadimi tồn tại trong tự nhiên dưới dạng quặng cùng với kẽm, chì và đồng Nguồn cadimi trong tự nhiên và nhân tạo, bao gồm các phát thải công nghiệp, việc sử dụng phân bón và các sản phẩm từ nhà máy xử lý chất thải sinh hoạt cho đồng ruộng, đã và đang làm ô nhiễm nguồn đất và nước, gia tăng việc hấp thụ cadimi vào các sản phẩm nông nghiệp và từ đó gia tăng việc tiêu thụ cadimi vào

cơ thể người

- Fluoride: Nguyên tố fluoride chiếm khoảng 0,3 g/kg trong lớp vỏ trái đất.

Các hợp chất của fluoride được sử dụng trong công nghệ luyện nhôm và hợp kim Nước bề mặt lượng fluoride thường không quá cao, chỉ ở mức dưới 1,5 mg/l Tuy nhiên đối với nước ngầm thì hàm lượng fluoride có thể tăng cao hơn nhiều, đôi khi trên 10 mg/l Fluoride hoà tan trong nước rất dễ được hấp thu qua đường tiêu hoá khi ăn uống Giá trị giới hạn của fluoride là từ 0,7 - 1,5mg/l, nếu thấp hơn giá trị này có nguy cơ ảnh hưởng đến men răng, ngược lại nếu cao hơn giá trị này được xem là bị phơi nhiễm lâu dài với fluoride dễ bị các rối loạn về xương và giòn men răng

- Tổng chất rắn hoà tan (TDS): Tổng chất rắn hoà tan chủ yếu là do các muối

Ngày đăng: 24/11/2020, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w