Tuy vậy, trong thực tiễn cũngnhư khoa học Nation và Ethnie/Ethnic không thể là một, mà đây là hai kháiniệm hoàn toàn khác nhau... Đó là việc làm của ngành dân tộc h
Trang 1CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CHỦNG TỘC, DÂN TỘC VÀ TỘC NGƯỜI
1.1 Chủng tộc và quốc gia dân tộc
1.1.1 Khái niệm về chủng tộc và các đặc điểm phân biệt giữa các chủng
tộc.
a Khái niệm về chủng tộc:
Theo quan điểm của nhân học hiện đại thì về mặt sinh học, toàn thể nhânloại hiện nay trên trái đất làm thành một loài duy nhất- loài Homo sapiens.Phân cấp trực tiếp dưới loài là chủng tộc
Vậy chủng tộc là gì? Một trong những tác giả đầu tiên nêu lên việc phânloại chủng tộc là học gia người Pháp F.béc- ni-ê Trong tài liệu công bố năm
1684, ông chia phân loại theo vùng cư trú thành các chủng tộc Linne, nhà phânloại học người Thụy Điển phân biệt các loại hình, ngoài những đặc trưng hìnhthái cơ thể, ông còn gắn với một trạng thái tâm thần Trước đây nhân học coichủng tộc là một cá thể có những đặc điểm tương đồng Do đó, đã hình thànhnguyên tắc loại hình trong phân loại các chủng tộc mà nội dung chủ yếu là chidựa vào sự kết hợp trừu tượng các đặc điểm hình thái ( như kiểu phân loại củanhà nhân học người Pháp Đơnike thừa nhân, không phải là sự tập hợp đúng đắncác chủng tộc căn cứ trên mỗi quan hệ gần gũi thực giữa chúng
Hiện nay, những hạn chế của định nghĩa cổ điển về chủng tộc đã được bổsung trên cơ sở những nhân thức mới Đó là vai trò của khu vực địa lí trong quátrình hình thành chủng tộc Nhiều nhà khoa học đã có lí khi cho rằng, chủng tộcxuất hiện do kết quả của sự sống cách biệt của một nhóm người này đối vớimột nhóm người khác Nói đến sự sống cách biệt chính là đề cập tới khu vựcđịa lí và các điều kiện tự nhiên Việc gắn chủng tộc với khu vực địa lí được cácnhà nhân học Xô Viết gọi là nguyên tắc địa lí trong phân loại chủng tộc Gầnđây việc phát hiện quần thể sinh học lại góp phần hoàn chinh hơn một địnhnghĩa về chủng tộc Quần thể sinh học được hiểu là một tập hợp những cá thểcùng loài sống trong cùng một vùng địa lí, có một quá trình phát sinh phát triểnchung nhau và được đặc trưng bởi những đặc điểm hình thái- sinh lí nhất địnhvới những đặc tính sinh thái nhất định.v.v Có thể thấy từng cá thể riêng biệtkhông thể có những đặc trưng này Chủng tộc không phải là một tập hợp cá thểgộp lại căn cứ vào những tương đồng mà là một tập hợp quần thể
Vậy, chủng tộc là một quần thể( hay tập hợp quần thể mà ta quen gọi là
những nhóm người) đặc trưng bởi những đặc điểm di truyền về hình thái- sinh lí mà nguồn gốc và quá trình hình thành của chúng liên quan đến một vùng địa vực nhất định Hay nói một cách khác, chủng tộc là những nhóm người có một
Trang 2số đặc trưng hình thái giống nhau Những đặc trưng đó được di truyền lại.
Chủng tộc là yếu tố sinh vật học, không phải là yếu tố xã hội Chủng tộc vàquốc gia không liên quan với nhau Nhiều dân tộc có thể ở trong một chủng tộc
b Các đặc điểm phân biệt giữa các chủng tộc
Trong số những đặc điểm xác định chủng tộc, loại cơ bản nhất vẫn lànhững đặc điểm hình thái bề ngoài cơ thể như màu da, màu mắt và hình dạngtóc, sự phát triển lớp lông thứ ba, những nét biểu hiện ở đầu, mặt, chiều caothân v.v Ngoài ra, còn mở rộng tới những đặc điểm về hình thái bộ răng, hìnhthái đường vân trên lòng bàn tay Phần lớn chúng là những đặc điểm có cấu trúc
di truyền phức tạp Theo các nhà nhân học, mỗi đặc điểm được quy định bởigen, nên mức độ biến dị có giới hạn trong phạm vi loài Trong giai đoạn sớmcủa quá trình hình thành chủng tộc, chúng mang tính chất của loại đặc điểmthích nghi với điều kiện tự nhiên, nhưng về sau do ảnh hưởng quyết định củamôi trường xã hội đã chuyển thành những đặc điểm trung tính, không còn cónghĩa gì hơn đối với lịch sử phát triển của xã hội
Việc xác định các đặc điểm phân loại chủng tộc là vấn đề phức tạp Trênđại thể, người ta thường lấy một tổng hợp những đặc trưng ấy trong những điềukiện nhất định Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản:
1- Sự cấu tạo của sắc tố
Sắc tố biểu hiện trên cơ thể người bao gồm màu da, màu tóc, màu mắt.Nhân loại có nhiều màu da khác nhhau từ trắng hồng đến đen sẫm Chung quylại có 3 dạng: màu sáng ( trắng hồng, trắng vàng) ; màu trung gian ( da hơi nâu)và da nâu sẫm hay da màu tối Theo tiêu chuẩn này, người ta chia loài ngườilàm 3 chủng tộc: da trắng, da đen, da vàng Màu mắt cũng có nhiều loại; màumắt sẫm (đen, hạt dẻ ); màu trung bình ( xám hay nâu) ; nhạt, sáng ( xanh thẫmhay da trời ) Màu tóc bao gồm: tóc sẫm mầu ( đen nâu) ; Màu trunggia( hung); màu sáng ( tóc vàng)
2- Dạng tóc
Dạng tóc bao gồm hai loại; tóc thẳng và tóc uốn dạng sóng, xoăn tít Tócthẳng là loại tóc mọc thẳng từ da đầu, cắt ngang có tiết diện tròn Tóc xoăn mọcxiên từ da đầu cắt ngang có tiết diện bầu dục
3- Mức độ nhiều hay ít của lớp lông thứ 3 trên cơ thể
Lớp lông thứ 3 trên cơ thể (râu và lông) chi xuất hiện khi đến độ tuổi nhấtđịnh Thời kì trong bào thai, lông bao phủ cơ thể, khi gần chào đời lớp lông nàyrụng và bắt đầu mọc tóc, lông mi, lông mày Lớp lông thứ 3 trên cơ thể tùy từngchủng tộc mà mức độ có khác nhau
4- Hình dạng khuôn mặt
Trang 3Nhìn trực diện, hình dạng khuôn mặt có 3 loại: rộng, hẹp, trung bình Trắc
diện mặt do xương gò má phát triển nhiều hay ít quy định Xương gò má rộngvà cao sẽ có khôn mặt rộng và cao Theo thang chuẩn có các chi số sau: mặtquá ngắn≤ 78,9; mặt ngắn: 79,0- 83,9; mặt trung bình: 84,0- 87,9; mặtdài≥88,0
5- Hình dạng mắt
Hình dạng mắt chủ yếu là đo mí trên phát triển nhiều hay ít quy định.Nếu mí trên phát triển sẽ tạo ra nếp mí trên làm cho mắt hẹp lại Nếu mí trênquá phát triển thì sẽ tạo ra một nếp gấp hình lưỡi liềm ở góc mắt phía mũi, tạo
ra nếp mí mắt, có 4 chuẩn số; không có nếp, ít phát triển, phát triển trung bình,phát triển nhiều
6- Hình dạng mũi
Hình dạng mũi chủ yếu do xương và sụn phát triển nhiều hay ít quy định,tạo ra góc mũi cao hay thấp, sống mũi thẳng, khoằm, lõm, rộng hay hẹp Muốnxác định sống mũi, thấp, rộng, hẹp, cách tính như sau:
N x 100 N: Bề ngang mũi ( cánh mũi)
=
D D: Chiều dọc mũi
Các chi số cho thấy: ≤ 69,9- mũi hẹp; 70-84,9 – mũi trung bình; 85- mũirộng
Về hình dạng lỗ mũi, có 3 chuẩn số; tròn, tam giác, bầu dục
7- Hình dạng môi
Môi được phân thành 4 loại: mỏng, vừa, dày và rất dày
8- Hình dạng đầu
Hình dạng đầu nhìn từ trên xuống với 4 loại: đầu dài, đầu trung bình, đầungắn, đầu quá ngắn Chi số đầu được tính theo công thức:
Trang 49- Tầm vóc
Tầm vóc là chi đô cao của con người, có sự phân biệt giữa nam và nữ.Theo các nhà phân loại học, tầm vóc trung bình của nam là 164- 166,9cm; củanữ là: 153- 155,9 cm Sự chêng lệch giữa nam và nữ từ 8-12cm Trên thế giớicó nhiều dân tộc người có chi số tầm vóc trung bình dưới 150cm như ngườiPíchmê ( trung phi), người Busmen ( Nam Phi)
Người Nêgritô ở đông nam hồ Sát ( Đông Phi) Có tầm vóc trung bình caonhất thế giới là 182cm
10- Tỉ lệ thân hình
Ti lệ thân hình là ti lệ giữa bề dài của mình, đầu, cổ với chiều dài của chân.Trên thực tế, 2 người cao bằng nhau nhưng chưa chắc chân đã dài bằng nhau.Cách phân loại như sau:
- Nếu mình ngắn chân dài; khổ người hình dài
- Nếu mình và chân bằng nhau; Khổ người trung bình
- Nếu mình dài chân ngắn: Khổ người hình ngắn
Phần lớn nhân loại thuộc khổ người trung bình và những người có tầm vóccao đều thuộc khổ người hình dài
Hình dáng răng ở từng đại chủng có khác nhau Ví như ở người Môngôlôit( đại diện Mông Cổ ) và người Ôtxtralôit ( đại diện Ôxtrâylia) : răng cửa hìnhlưỡi xẻng ( 2 gờ nổi cao, giữa lõm xuống) với số lượng trên 60% Đối vớingười Ôrôpôit và Nêgrôit, vân xoáy ít hơn
Ngoài các đặc điểm trên, người ta còn căn cứ vào dáng cằm, độ rộng hẹpcủa miệng, mức độ phát triển cung lông mày, vành tai ( và dái tai), nhóm máuv.v Trong những trường hợp cụ thể nhất định, người ta còn có thể lấy thêmmột số đặc trưng thứ yếu Ví dụ ở người Busmen thì da nhăn kể cả người còntrẻ, ở người Hôtentốt thì lớp mỡ bụng dày, ở người Papua thì bắp thịt ngực nởv.v
1.1.2 Khái niệm về dân tộc
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dân tộc Theo cáchhiểu truyền thống thì dân tộc là khái niệm dùng để chi một cộng đồng người ổnđịnh được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định vớinhững đặc trưng cơ bản sau:
+ Có chung lãnh thổ
+ Có một phương thức sinh hoạt kinh tế chung
+ Có một ngôn ngữ giáo tiếp chung
Trang 5+ Có một nên văn hóa và biểu hiện trong tâm lý dân tộc
Dân tộc- tộc người là một cộng đồng người hình thành và phát triển tronglịch sử với 3 đặc trưng cơ bản sau:
+ Cộng đồng về ngôn ngữ; bao gồm ngôn ngữ nói viết hoặc chi riêngngôn ngữ nói Tuy nhiên không phải có bao nhiêu ngôn ngữ là bấy nhiêu dântộc, hiện nay có 2000 dân tộc xong có tới 4000 ngôn ngữ khác nhau, có dân tộcdung ngôn ngữ các dân tộc khác như tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp
+ Các đặc điểm chung thuộc bản sắc văn hóa: Những biểu hiện cụ thểcủa văn hóa vật chất, tinh thần ở mỗi dân tộc phản ánh truyền thống lối sống,phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc đó, lịch sử phát triển củadân tộc gắn liền với lịch sử văn hóa, truyền thống dân tộc đó
+ Ý thức tự giác tộc người: đây là tiêu chí quan trọng nhất phân định mộtdân tộc thể hiện ý thức khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc dùnhiều tác động thay đổi về địa bàn cư trú, lãnh thổ hay tác động ảnh hưởng củagiao lưu kinh tế, văn hóa
1.1.3.Khái niệm về tộc người
* Dân tộc (xã hội Tư bản và xã hội Xã hội chủ nghĩa), gồm Minority Ethnic groupe và Etat Ethnic/Nation - Loại hình cộng đồng người của xã hội
hiện đại Cở sở của sự hình thành loại hình cộng đồng Dân tộc bao gồm: mối
quan hệ kinh tế, mối liên hệ văn hoá, mối liên hệ ngôn ngữ, mối liên hệ lãnhthổ, mối liên hệ ý thức tự giác tộc người, rất chặt chẽ trong nôi bộ cộng đồng
Như vậy, Dân tộc là cộng đồng thống nhất bền vững về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh
thổ, văn hoá và ý thức tộc người.
Mỗi dân tộc có thể bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau; song song và đồng hành bên cạnh dân tộc, là các loại hình cộng đồng người tiền dân tộc
(bộ tộc, bộ lạc, ) Thường thì các loại hình tiền dân tộc này tồn tại ở các khu
vực, các quốc gia có trình độ kinh tế – xã hội kém phát triển hơn Trong các xãhội hiện đại, các cộng đồng dân tộc mới vẫn có thể đang trong quá trình hìnhthành Đó là quá trình tộc người ở xã hội hiện đại
Thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nóđược dùng để chi các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người(unité Ethnie) Trong Dân tộc học, khi đó Ethnie tương ứng như ethnic, ethnos,ethikum, ethnea,… Cho đến khoảng những năm Sáu mươi của thế kỷ XX, thuậtngữ Ethnie mới được sử dụng rộng rãi, kể cả ở Liên Xô (Hiến pháp Liên Xô
1977 dùng Ethnos thay cho bộ tộc, bộ lạc,…) Tuy vậy, trong thực tiễn cũngnhư khoa học Nation và Ethnie/Ethnic không thể là một, mà đây là hai kháiniệm hoàn toàn khác nhau Trong khi Dân tộc (Nation) phải là một cộng đồngchính trị, bao gồm cư dân của một quốc gia có chung một nhà nước, một chính
Trang 6phủ, có luật pháp thống nhất,… thì Tộc người (Ethnic/Ethnie) là cộng đồngmang tính tộc người, không nhất thiết phải cư trú trên một cùng lãnh thổ, cóchung một nhà nước, dưới sự quản lý điều hành của một chính phủ với nhữngđạo luật chung thống nhất.
Mặc dù các trường phái Dân tộc học có nhiều quan điểm khác nhau về tộcngười, xong tất cả đều thống nhất: Tộc người chi các cộng đồng mang tính tộcngười bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia, và cáccộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệtđó là cộng đồng tộc người tiến bộ, hay cộng đồng tộc người còn đang trong quátình phát triển
1.2 Quá trình hình thành và phát triển tộc người
Người Kinh hiện diện ở Quảng Ngãi bắt đầu chủ yếu từ thế kỷ XV trở đi,
đa số là những nông dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng Thanh - Nghệ di cưvào khẩn hoang đất đai, lập thành làng mạc
Dưới thời các chúa Nguyễn, có một số người Hoa từ các vùng QuảngĐông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam (Trung Quốc) đến sinh sống ở Thu Xà,các cửa biển Sa Cần, Sa Huỳnh và một số điểm ở trung du Người Hoa đóngvai trò tương đối quan trọng trong sự phát triển kinh tế của vùng đất QuảngNgãi thời bấy giờ thông qua hoạt động buôn bán thịnh đạt ở Thu Xà Nhưngtrải qua các cuộc chiến tranh, người Hoa phần đã phiêu tán đi nơi khác, phầnhòa nhập vào cộng đồng người Việt, không còn các cộng đồng làng xã đặc thù.Dưới thời Pháp thuộc, cho đến hết năm 1975, có một số người Pháp, Mỹ,
Ấn Độ, Chà Và (Java) đến sống ở Quảng Ngãi, nhưng chủ yếu là chuyển cưtạm thời, hoặc không thành cộng đồng riêng Do vậy, ở vùng đồng bằng tinhQuảng Ngãi, ngoài dân tộc Việt là đáng kể nhất, không có cộng đồng nào khác
Ở miền núi, về dân tộc có sự ổn định hơn Miền núi Quảng Ngãi có cácdân tộc Hrê, Cor, Ca Dong sinh sống; họ là cư dân bản địa lâu đời, sống theotừng khu vực và có sự đan xen nhất định, có sự giao lưu, buôn bán với nhau vàvới người Việt ở miền xuôi lên buôn bán, khai khẩn Từ sau năm 1975, có mộtít người các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc vào, song chi là đơn lẻ và hòanhập vào các cộng đồng địa phương Do vậy, nói đến dân cư, dân tộc ở miềnnúi Quảng Ngãi cũng chi đề cập chủ yếu đến các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong vàKinh
Đến năm 2005, dân tộc Kinh chiếm 88,8%, Hrê 8,58%, Cor 1,8%, CaDong 0,7%; số người thuộc 13 dân tộc thiểu số khác chi chiếm 0,12% dân số
Do vậy, nếu tính về dân tộc thì ở Quảng Ngãi có đến 17 dân tộc, nhưng thựcchất cũng chi có 4 dân tộc có số lượng cư dân đáng kể Nhìn chung, khối cộngđồng dân cư Quảng Ngãi phát triển theo tiến trình của lịch sử, cùng đoàn kết,
Trang 7chung sức chung lòng trong công cuộc chống phong kiến - đế quốc, dựng xâyquê hương giàu đẹp.
1.3.Tiêu chí xác định dân tộc (tộc người)
Xác định tiêu chí của một dân tộc (nation) hay một tộc người( ethnie), một nhóm địa phương cũng cần một cái nhìn toàn diện Cộng đồngngười trước hết thuộc một hay nhiều chủng tộc, phân bố trên một lãnh thổ nhưthế nào, tại sao, dân số đông hay ít, đơn ngữ hay đa ngữ, sinh hoạt kinh tế, tổchức xã hội ra sao, tuân theo một tín ngưỡng tôn giáo nào, lối sống và sinh hoạtvăn hóa biểu hiện thế nào, đặc biệt là có ý thức thuộc về dân tộc hay tộc ngườinày, tức là có ý thức chấp nhận một tên gọi, thuộc về một số phận lịch sử nhấtđịnh nào Đó là việc làm của ngành dân tộc học theo thuật ngữ thường dùng củatrường phái Pháp, Nga ( Liên Xô cũ) hay của ngành Nhân học văn hóa( anthropologie culturelle) theo thuật ngữ của trường phái Anglo – saxons Tuynhiên trong hoàn cảnh cụ thể một nước, xác định thành phần của một dân tộc,hay một tộc người thông thường chọn những tiêu chuẩn nổi bật, ví dụ nếu ởĐông Nam Á, tiêu chí nhân chủng không quan trọng bằng ở Châu Mỹ La Tinh,ở đó sự lai tạp giữa các giống người đen, trắng,vàng, giữa các cư dân của cácquốc gia khác nhau đến tụ cư sinh sống, ngược lại ngôn ngữ, văn hóa lại nổitrội đặc biệt đối với những vùng các tộc người cư trú xen kẽ ở miền núi
Xác định một dân tộc hay một tộc người cũng thường dựa trên những tiêuchí giống nhau Có điều nếu tiêu chí quan trọng đối với dân tộc là lãnh thổ, lànhà nưóc ( thiết chế chính trị), thì quan trọng đối với một tộc người, một nhómđịa phương lại là văn hóa, là tính tự giác Để tiện trình bày, tôi giới thiệu từngtiêu chí trong đó sẽ nói rõ sự khác biệt về tầm quan trọng của từng tiêu chí đốivới dân tộc, cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng chính trị xã hội và đối với tộcngười, nhóm địa phương – cộng đồng tộc người
1.3.1 Ngôn ngữ
Người trong một dân tộc hay một tộc người dễ dàng nhận ra nhau, cho dùở nước này hay nước khác một phần là qua ngôn ngữ Nên có thể nói ngôn ngữlà dấu hiệu khó có thể thiếu được trong việc xác định một dân tộc, một tộcngười, trừ những trường hợp biệt lệ
a Đối với các thành viên của một quốc gia dân tộc, đó là ngôn ngữ chínhthức được dùng trong hành chính của quốc gia đó.Loại ngôn ngữ này thườngtập trung vào một số ngôn ngữ có tính phổ biến trên thế giới, có chức năng giaotiếp vượt ra khỏi biên giới tộc người hay quốc gia dân tộc Liên Hiệp Quốccông nhận sáu ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nga, Hán, Tây Ban Nha và Arập, được sửdụng trong các cuộc họp và các văn bản của cơ quan đầu não thế giới này Có
12 ngôn ngữ được sử dụng cho 2/3 dân số thế giới, là tiếng nói chính thức của
Trang 8quốc gia, là tiếng mẹ đẻ thứ hai, hoặc là sinh ngữ bắt buộc ở các trường trunghọc, là tiếng nói giao tiếp trong giới thượng lưu Tiếng Anh có 800 triệu ngườisử dụng, được nhiều nước với 403 triệu người coi là tiếng nói chính thức dùngtrong hành chính, 55 triệu ở Anh ( theo số liệu năm 1984), 210 triệu ở Mỹ, 14triệu ở Canađa, 15,6 triệu ở Australia v.v …Tiếng Tây Ban Nha có 156 triệungười sử dụng, trong khi đó ở Mexico và Trung Mỹ là 81,1 triệu, ở Caribe 18triệu, ở Nam Mỹ 89,5 triệu, ở Mỹ 14 triệu, ở Philippines 0,5 triệuv.v… TiếngHán ( Quan hỏa) là tiếng nói chín thức của nước CHND Trung Hoa với hơnmột tỷ dân, là tiếng nói giao tiếp của các cư dân Hoa trên toàn thế giới, là sinhngữ học trong trường học nhiều nước ở Viễn Đông, nhưng gần đây lại chưaphải đã là tiếng phổ biến ngay trong tộc người Hán, vì số dân nói các phươngngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ, v.v… lên đến hàng chục triệu.Tiếng Hindi ( An Độ) cũng vậy, là một trong hai tiếng nói chính thức của ẤnĐộ, nhưng số đông người An Độ thuộc các tộc người khác lại ít biết TiếngPháp có khoảng 110 triệu người sử dụng, là tiếng nói chính thức của nước Phápvà một số nước khác Ơ Pháp có 51 triệu, Canada 5,8 triệu, Mỹ 2,6 triệu, Bi 4triệu Tiếng Pháp có nhiều phương ngữ như Normand, Picard, Wallon, Angevinv.v…, là sinh ngữ dạy trong nhiều nước, đặc biệt là các nước trong cộng đồngFracophone Tiếng Nga là tiếng nói chính thức của Liên Bang Nga, xưa củaLiên bang Xô Viết, là sinh ngữ phổ biến ở nhiều trường đại học các nước đượcnhiều tộc người phi Nga coi là tiếng mẹ đẻ thứ hai (16,3 triệu), hay sinh ngữthứ hai ( 61,3 triệu), là tiếng nói của nhiều bộ phận cư dân các nước, ví dụ ở
Mỹ có 334.615 người ( số liệu 1970), 31.795 người ở Canada, một thời đa số ởcác nước xã hội chủ nghĩa Tổng cộng có hơn 280 triệu người sử dụng ( số liệucủa Liên Xô 1986) Tiếng Bồ Đào Nha là tiếng nói chính thức trong nước ( 10triệu), nhưng lại là tiếng nói chính thức của Braxin (125 triệu) Ơ Mỹ có365.000 người nói tiếng Bồ Đào Nha, ở Canada 87000, ở Goa ( An Độ)
250000, ở Ma Cao 2000 người… Tổng số toàn thế giới có 154 triệu người sửdụng tiếng Bồ Đào Nha Tiếng Arập phân bố rộng rãi ở miền Trung Cận Đôngvà Bắc Phi với số lượng 200 triệu dân, phân ra nhiều ngôn ngữ gần gũi nhaunhư tiếng Ai Cập, Algeria, Marocco, Tunisia, Iraq, Syria, Sudan, Tiểu vươngquốc Arập v.v…, nhưng còn phổ biến trong thế giới Hồi giáo, với số lượng hơnmột ti dân, trong các tầng lớp thượng lưu và chưc sắc đạo Hồi
Một số quốc gia dân tộc khác cũng có tiếng nói chính thức của dân tộcmình mang tính hành chính Có những nước và liên bang có hai, ba v.v… ngônngữ nổi trội (Thụy Sĩ có tiếng Đức, Ý, Pháp), Canada ( Anh,Pháp), Bi ( Đức,Pháp) Có hiện tượng ngoài ngôn ngữ chính thức quốc gia ( An Độ với tiếngHindi; Pakistan với tiếng Urdu v.v…), vẫn có thêm một thứ tiếng thứ hai, tiếngAnh phổ biến trong văn bản hành chính, trong trường học Tiếng nói chính thức
Trang 9của một quốc gia dân tộc thông thường là tiếng nói của tộc người có vị trí tậphợp các tộc người khác trong quốc gia đa tộc người: tiếng Pháp, tiếng Đức,tiếng Nga, tiếng Hindi, tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Ba Lan, tiếngThụy Điển v v… Nên những tiếng nói của tộc ngưởi đó vừa là tiếng nói của tộcngười ( Việt) vừa là tiếng nói của cả nước ( tiếng quốc ngữ).
b Sự xuất hiện các ngôn ngữ quốc gia, nhất là các ngôn ngữ có tính toànthế giới hay khu vực, dẫn đến sự thui chột các ngôn ngữ tộc người Theo cuốnsách của Viện ngôn ngữ trong tình hình gần đây, ở Mỹ đã mất đi 22/ 189 tiếngnói các tộc người, ở Brazil 30/238, Liêng bang Xô viết ( cũ) 4/ 161, An Độ10/391, Inđônesia 3/669 Thật là buồn cười, các tác giả cuốn sách đó cho biết ởViệt Nam đã mất đi 1/77 ngôn ngữ, đó là tiếng Tayboi ( Tây bồi)
Tiếng nói của mỗi tộc người cũng có thể bao hàm nhiều phương ngôn haythổ ngữ Đó là hệ quả của sự cư trú tách rời của cư dân một tộc người, thườngdẫn đến sự ra đời các nhóm địa phương Tình hình này thường xảy ra với cáctộc người nhỏ, cư trú ở miền núi, lại ở vùng hay phải chuyển cư, đời sốngkhông ổn định Bức tranh của tình hình các tộc người thiểu số ở Nam TrungQuốc, Đông Nam Á cả lục địa lẫn hải đảo là một thí dụ Nên ta không lấy làmlạ trong một tộc người, có khi vẫn cùng chung nét sinh hoạt, văn hóa, lại nói haingôn ngữ; nhưng trong hai ngôn ngữ đó vẫn có một ngôn ngữ giao tiếp hay mộtvăn tự để giao tiếp Đó là trường hợp tộc người Sán Chay ( Cao Lan – Sán Chi)và Chu Ru ở Việt Nam Đó cũng là trường hợp một số nhóm Dao và nhómNùng trong cộng đồng tộc người Dao và Nùng Trên thế giới, ta cũng thườnggặp hiện tượng này như cộng đồng người Choang, Di v.v… ở người xứ Walls,cộng đồng Gallois của xứ Galles, cộng đồng Gaélic của người Ireland v.v…Ngược lại, cũng không loại trừ có những tộc người đã mất ngôn ngữ mẹ đẻ, sửdụng một ngôn ngữ khác, vẫn tồn tại như một tộc người Ơ nước ta, người Ơ
Đu thường ngày trao đổi bằng tiếng nói của các tộc người khác Tiếng mẹ đẻchi coi như một phương tiện lúc sắp về già học để biết, nhằm có thể “ nóichuyện” được với người thân sau khi đã khuất Một bộ phận người Kháng,người La Ha v.v… ở Tây Bắc đã quên tiếng mẹ đẻ
c Ngôn ngữ là một yếu tố xác định một tộc người, một dân tộc cho dù cónhững biệt lệ kể trên Có nhà ngôn ngữ học đã nói: “ Ngôn ngữ còn, dân tộccòn, tộc ngưòi còn” Thật thế, ngôn ngữ mẹ đẻ là thân thương với mọi người, làtiếng nói từ tuổi thơ được người mẹ “ đánh thức cả một quá khứ dân tộc” tronglời ru trẻ thơ, là tiếng nói thiêng liêng của một chiến binh ngã trên chiến trườngtrước khi rời đồng đội Ngôn ngữ là một ngọn cờ đấu tranh để bảo vệ sự sốngcòn của một tộc người, đối diện với chính sách đồng hóa ngôn ngữ của ngườicầm quyền Ơ nước ta, cuộc đấu tranh truyền bá bảo vệ tiếng quốc ngữ nở rộvào những năm 30, 40 thế kỷXX là một bộ phận của cuộc đấu tranh yêu nước
Trang 10đương thời Qua tiếng nói, con người biểu đạt một cách sinh động, độc đáo, rấtcụ thể tất cả những chi tiết của cảnh quan đầy biến động của môi trường tựnhiên, cũng như của những quan hệ xã hội phức tạp và nhạy cảm giữa conngười và con người trên tất cả các lĩnh vực từ thiết chế gia đình, xã hội đếnnhững tình cảm, những tín ngưỡng, những giá trị của tộc người Tất cả đượcphản ánh vào những công trình nghệ thuật: lời thơ, tiếng hát, bài văn, cho đếnnhững lệ luật, những truyền thuyết, huyền thoại, những áng sử thi bất hủ Nócũng còn được phản ánh vào những bài thuốc dân tộc, những bí truyền nghềnghiệp, những luân lý, đạo đức,triết học v.v… được truyền miệng hay ghi bằngvăn tự, truyền từ đời này qua đời khác Với hơn 6000 ngôn ngữ và hàng vạnphương ngữ hay thổ ngữ và hơn 500 văn tự, phần lớn kho tàng văn hóa phi vậtthể các tộc người được lưu giữ lại qua quá trình lịch sử Đến nay, mặc dầuchính sách diệt chủng, đồng hóa dân tộc, đồng hóa ngôn ngữ không còn làchính sách của những quốc gia đa tộc người, mọi người đều phải nói đến sựbình đẳng, tôn trọng ngôn ngữ và tộc người; song tư tưởng của nó, cộng thêmáp lực của thế giới công nghiệp, của toàn cầu hóa sẽ dẫn đến sự thui chột cácngôn ngữ tộc người, nhất là của các tộc người nhỏ yếu sinh sống ở những miềnít có điều klện phát triển.
1.3.2 Lãnh thổ
a Một quốc gia dân tộc bao gồm một tộc người hay nhiều tộc người cũngphải được xây dựng trên một lãnh thổ nhất định , được cai quản bởi một nhànước.Một khi quốc gia dân tộc phát triển , thì ngược lại , lãnh thổ của các tộcngười cư trú ở đó lại mất đi sự bền vững của nó.Nếu thuở ban đầu,một hay hai
ba tộc người đông về dân số,phát triền kinh tế – văn hóa , tập hợp xung quanhmình các tộc người tạo lập nên một nhà nước, quy định một lãnh thổ quốc gianhất định, chưa có sức chi phối các tộc người cùng cư trú, lãnh thổ tộc ngườicòn được tôn trọng Về sau, khi nhà nước trung ương vững mạnh, tính thốngnhất quốc gia được củng cố, thành viên các tộc người trong một quốc gia đượctự do di chuyển, thì lãnh thổ các tộc người cũng không còn nguyên vẹn.Nguyên nhân rất phức tạp, tùy theo những thời kỳ lịch sử khác nhau của tìnhhình từng khu vực, từng nước cụ thể
Trong thời kỳ tiền công nghiệp, sự mở rộng bành trướng lãnh thổ củanhững tộc người mạnh trong khu vực đã dồn các tộc người yếu ở những vùngngoại vi, những quốc gia yếu vào những chỗ khong ổn định Ở phía Nam sôngDương Tử và vùng lục địa Đông Nam Á, dưới sự bành trướng của tộc ngườiHán, lãnh thổ tộc người của các cư dạn xưa gọi là Man, là Bách Việt, tổ tiêncủa các dân tộc người nói ngôn ngữ Tạng – Miến, Nam – Á và Nam – Thái bịđảo lộn Một bộ phận trụ lại, cam chịu sống trong những lĩnh thổ đã bị thu hẹp,lại luôn biến động bởi các cuộc chiến tranh giữa các tộc người với nhau, tranh
Trang 11giành đất đai ở những miền hiếm đất, sống xen kẽ hoặc độc lập trên một lãnhthổ Một bộ phận đông hơn di cư xuống các nước Đông Nam Á lục địa, làmthay đổi bộ mặt của các nước quốc gia dân tộc và các tộc người ở đó, để hìnhthành các cộng đồng người, quốc gia dân tộc hay tộc người, như hiện nay Nên
ta thấy ở những nước, đặc biệt là ở miền núi, lãnh thổ các tộc người thườingkhông liền đất trên một khu vực có nhiều tộc người sinh sống
Sang đến thời kì công nghiệp, tình hình mở rộng, bành trướng lãnh thổkhông dừng ở trong một khu vực, mà mang tính toàn cầu Các tộc người mạnhcủa những cường quốc châu Âu đi tìm đất, chiếm thị trường, truyền đạo, dẫnđến sự đảo lộn đáng sợ trong phạm vi toàn cầu Những tộc người châu Au lập
ra các quốc gia dân tộc mới trên cơ sở những trung tâm công nghiệp : Mỹ,Australia, Canada, New Zealand, Nam Phi v.v…,thay đổi đường biên giới cácquốc gia theo ý mình, như ở châu Phi,châu Mỹ, phần nào ở châu Á, thay đổithành phần dân tộc ngưòi trong một quốc gia, tạo nên các giống người lai(Trung Nam Mỹ), xé nát các tộc người bản địa, đẩy họ vào cá khu vực tập trunghoang dại, tiêu diệt không thương tiếc những thổ dân, điển hình là ngườiTasmania(Australia)và những người bản địa châu Mỹ, châu Australia Trongthời gian này, nước Nga Sa Hoàng cũng bành trướng ra những vùng xungquanh, phía bắc xuống vùng biển Trắng và biển Baren, phía Nam đến vùngCaucasia, phía đông tiến mạnh qua dãy núi Uran tới vùng Siberia, đến tận mũiBering và Xakhalin
Hiện nay, bản đồ các quốc gia dân tộc là tương đối ổn định, ngoại trừ mộtsố vùng còn có một số điểm nóng bỏng những vùng châu Phi,vùng Balkan,Caucasia, Trung Á, Nam Á v.v…Nên ta có thể nói rằng lãnh thổ các quốc giadân tộc với một đường biên giới đã được xác định, đã được Liên Hiệp Quốccông nhận chiếm số đông; số còn lại phải chăng có sự điều chinh với sự thỏahiệp giữa các quốc gia dân tộc liền kề Nên tiêu chuẩn có một lãnh thổ với mộtnhà nước cho một quốc gia dân tộc là điều không còn phải bàn cãi
Cũng cần nói thêm lãnh thổ quốc gia dân tộc, với đường biên giới củamình, thay đổi cùng với sự mở rộng hay thu hẹp lãnh thổ, gắn liền với số phậnlãnh thổ các tộc người của một quốc gia,một nhà nước Nó không có quan hệ gìvới biên giới tộc người, nhiều khi cắt ngang qua các lãnh thổ tộc người Bọnthực dân lợi dụng tính ngẫu nhiên này, đã cố ý xác định biên giới các nướcthuộc địa của chúng trong thời kỳ thực dân, tạo ra các đường biên giới quốcgia dân tộc, không dựng trên tính lịch sử, cắt ngang trên lãnh thổ tộc người mộtcách giả tạo Sau khi các quốc gia dân tộc kiểu đó, đặc biệt là ở châu Phi, lácđác ở các châu khác,được độc lập,những mâu thuẫn giữa các tộc người nảy nở.Bọn chúng lại đục nước béo có, xui nguyên dục bị, gây ra những cuộc chiến
Trang 12tranh giữa các tộc người trong một quốc gia hay giữa hai quốc gia nhằm buộccác quốc gia non trẻ này lệ thuộc vào chúng, dễ bề để chúng bóc lột.
b Đối với một tộc người, cần phải nói không một tộc người ban đầu nào
cư trú trên một lãnh thổ nhất định Chính trên cơ sở đó, họ mới tạo ra đượcnhững đặc trưng mang tính tộc người rất riêng biệt, nhờ thái độ ứng xử với môitrường tự nhiên để khai thác sử dụng các tài ngyuên, cũng như cùng nhau xâydựng những thiết chế gia đình, xã hội, những đặc trưng văn hóa, lễ nghi, thờcúng v.v…Tiếp sau, lãnh thổ tộc người hoặc được mở rộng hoặc bị thu hẹp,quan hệ giữa các tộc người xung quanh cũng thay đổi ngày chặt chẽ hơn theohai hướng bạn thù Hình thành các liên minh tộc người, các cuộc hôn nhân kháctộc, sự vay mượn văn hóa,học tập kĩ thuật sản xuất, tiến đến sự cộng cư trênmột lãnh thổ, hay đúng hơn là các cộng đồng lãnh thổ tộc người đan xen vàonhau trên một khu vực nhất định
Đối với các tộc người lớn, với xu thế mở rộng không gian xã hội ra phạm
vi toàn thế giới, từng bộ phận thiên di sang các miền đất mới, chinh phục hoặcchung sống với các tộc người bản địa, có trường hợp hình thành các quốc giadân tộc mới Những cộng đồng ngôn ngử Anh, Pháp, Nga… đã hình thành nhưnhững bộ phận của tộc người chủ thể tại các nước Sau hai cuộc chiến tranh,mới cách đây gần 30 năm, người Việt đã có những cộng đồng đồng tộc kháđông ở các nước Mỹ, Pháp, Nga, Australia v.v… Người Ả rập, người vùngBalkan, người Armenia, người Ba Lan, người Nga, người Hán v.v… cũng vậy.Các tộc người nhỏ đã hình thành những cộng đồng ở các nước khác nhaunguyên nhân chủ yếu là do chiến tranh, do đi tìm đường sống như những người
Ả rập, đặc biệt người Palestin, Afghanistan, vùng Balkan, Trung Á, Đông NamÁ(Lào, Khơme) v.v… Người Tsưgan vẵn lang thang tại khắp các nước Người
Do Thái đã thành lập nhà nước Israel(14-7-1948), nhưng đa số vẫn cư trú ở cácnước khác nhau, ở Mỹ, Liên Bang Nga, các nước Tây Âu v.v… Trong từngnước, các tộc người cũng không ở trong lãnh thổ riêng của mình, tỏa ra sốngtrong các thành thị, thị trấn, các tinh khác nhau Tình hình này thấy rõ rệt ở ViệtNam, nhất là sau ngày thực hiện công cuộc đổi mới Hàng chục vạn người dânmiền núi phía Bắc đã vào lập nghiệp trong các tinh Tây Nguyên, đặc biệt tinhĐắc Lắc và Lâm Đồng, hàng chục vạn người khác tỏa ra các thành thị, thị trấn,các tinh đồng bằng Ngược lại hàng triệu người đồng bằng lên miền núi lậpnghiệp
Xem như vậy, ta có thể kết luận, tiêu chí lãnh thổ là tiêu chí bắt buộc đốivới một dân tộc, với một nhà nước, không nhất thiết đối với một tộc người
Cộng đồng kinh tế:
Trang 13Một điều hiển nhiên, buổi ban đầu khi một tộc người lớn hay nhỏ, có cùngmột tên gọi, nói một thứ tiếng, cùng sống trên một lãnh thổ, phải có chung mộtcộng đồng kinh tế để duy trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng Những tàiliệu về dân tộc học có nhiều chứng cớ chứng minh điều đó, nhất là tài liệu vềcác tộc người còn tồn tại trong giai đoạn sơ khai của loài nguời như ở châuAustralia và đảo Tasmania Họ có một lãnh thổ riêng để hoạt động săn bắn, háiluợm Ta cũng lại thấy ở các tộc ngưòi khác như ở các châu lục, vì điều kiện tựnhiên và xã hội cư trú ở miền hẻo lánh như cư dân Siberia Đất Lửa, rừng nhiệtđới Đông Nam Á hay lưu vực sông Amazon Họ tuân thủ một tập quán với mộttri thức, một trình độ kỹ thuật sản xuất yếu kém, một cách cố chấp Nhưng mộtkhi tiếp xúc với các tộc nguời văn minh hơn, một khi bản thân bước sang xã hộinông nghiệp, với việc cải tiến mau chóng công cụ sản xuất, khai thác hiệu quảtài nguyên thiên nhiên, một khi nằm trong một quốc gia dân tộc nhất định, sựphân công lao động xã hội phức tạp, ta thấy trong một tộc ngưòi đã có sự khácnhau về lực lượng sản xuất : chăn nuôi du mục, trồng trọt, nghề thủ công,thương mại Đến thời điểm đó cộng đồng kinh tế của tộc nguời bị phá vỡ.
Không một tộc người nào có thể sinh sống tự cấp tự túc bằng sản phẩmlao động tự mình sản xuất Sự trao đổi hàng hóa giữa các tộc người dược tiếnhành : giữa các cộng đồng chăn nuôi du mục và trồng trọt, giữa các cộng đồngcó ưu thế về từng loại tài nguyên kéo theo sự ưu thế về một hay những ngànhnghề nhất định, nhất là trong trường hợp sự thống nhất cộng đồng lãnh thổ tộcngười bị phá vỡ Tình hình của các tộc người thiểu số Việt Nam là một thí dụ.Đã xuất hiện việc trao đổi hàng lấy hàng, qua đơn vị tiền tệ hay vật ngang giá,giữa các tộc ngưòi sống ở thung lũng và trên rẻo cao, sống ở đồng bằng vàmiền núi, miền ven biển và lục địa Cộng đồng kinh tế bao trùm lên từng quốcgia dân tộc với một nhà nước chi phối sự giao lưu hàng hóa và thuế quan Bướcsang xã hội công nghiệp, sự hình thành một thị trường kinh tế chung của mộtquốc gia là rõ ràng, thông qua một kế hoạch chung của nhà nước; đồng thờichịu sự chi phối của một thị trường mang tính toàn khu vực hay toàn cầu
Nên với tình hình hiện nay, các tộc người, các nhóm địa phương khôngthể tồn tại như một cộng đồng kinh tế chung, nhất là trong tình trạng cư dân tộcngười đã cư trú phân tán và đã cộng cư cùng các tộc người khác Sự thiếu vắngcộng đồng lãnh thổ tộc nguời dẫn đến sự không thống nhất cộng đồng kinh tế.Có chăng, ở những nơi số dân trong một tộc ngưòi còn cư trú tập trung, họ bịchi phối bởi những lợi ích kinh tế chung, tiến hành những cung cách sản xuấtchung Ta có thể kể đến những đặc điểm kinh tế của các tộc người tùy theo khuvực lịch sử văn hóa giống nhau: cư dân chăn nuôi du mục, với những bày đàngia súc khác nhau:cừu, dê, bò, ngựa… hay cư dân trồng trọt với các loại lươngthực chủ yếu khác nhau: lúa, mạch, ngô, sắn, khoai sọ (taro) v.v…, cư dân miền
Trang 14cực bắc như ở Siberia hay miền Đất Lửa ở cực Nam, cư dân du cư trên biểnnhư những nhóm Đãn (Trung Quốc), Bồ Lô (Việt Nam), các nhóm ở Philippin,Indonesia…
Ở đây cần chú ý trường hợp người Tsưgan, một cư dân đã mất tổ quốccách đây gần 2500 năm, nay vẫn tiếp tục sống thành từng bầy, lang thang trongmột vùng đất rộng lớn Họ có một cung cách sống, với các nghề nghiệp đặc biệtriêng cho nam giới và phụ nữ
Đối với một dân tộc hay quốc gia dân tộc tình hình lại khác Do xuất hiệnmột nhà nước, do khẳng định một lãnh thổ riêng, mỗi một dân tộc có một cộngđồng kinh tế chung Dưới thời kì xã hội nông nghiệp, có thể cộng đồng kinh tếchưa được bền chặt, do sự chi phối của chính quyền trung ương chưa thật chặtchẽ ( phương Đông), hay do bị chia ra thành các lãnh địa cát cứ (phương Tây ),nhưng không thể có một quốc gia dân tộc không có một cộng đồng kinh tếriêng Tất nhiên, cộng đồng kinh tế đã gắn kết chặt chẽ hơn dưới thời kì xã hộicông nghiệp Do đấy, mới xuất hiện hình thức dân tộc tư bản chủ nghĩa hay xãhội chủ nghĩa Nhưng sự bền chắc cũng phụ thuộc vào các nước mạnh trên toàncầu hay trong khu vực Hiện nay, có thể nói không có một quốc gia dân tộc nào,mà nền kinh tế không bị phụ thuộc vào các nước khác Hiện tượng lệ thuộc vàonhau về kinh tế đã trở thành phổ biến trong quan hệ các quốc gia dân tộc
Ta có thể nói rằng cộng đồng kinh tế là điều kiến bắt buộc khi ra đời mộttộc người (hay tiền tộc người: bộ lạc - thị tộc), nhưng nó không chi là một tiêuchí của một tộc người bất kì Ngược lại, để là một dân tộc, với một nhà nước,thì một tiêu chí quan trọng lại là cộng đồng kinh tế
1.3.3 Đặc trưng văn hóa
Muốn xác định văn hóa như một tiêu chí của một tộc người hay một dântộc, trước hết phải nghiên cứu tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể và phi vậtthể theo nghĩa rộng của nó Đó là tất cả những cái gì mà tộc người hay dân tộcđó sáng tạo hay tiếp biến của các tộc người , dân tộc khác trong quá trình lịchsử, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác Từ đó, các tộc người và dântộc mới chọn lọc ra những yếu tố gì được coi là thân thương, là thiêng liêng, làđặc trưng để phân biệt bản thân với các tộc người, dân tộc khác “Văn hóa baogồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộckhác”(UNESCO).Văn hoá tạo nên cái surmoi tức là cái tôi cộng đồng, cáichúng ta Cái đó là bền vững, gần như khó thay đổi, hay đúng hơn chi đượcthêm thắt, bổ sung qua từng thời đại, tạo nên một cái gì xuyên suốt từ quá khứ,qua hiện tại đến tương lai của một dân tộc
Xét cho cùng, yếu tố cấu thành những đặc trưng văn hóa đó thường ở lĩnhvực văn hoá phi vật thể Thực ra rấr khó phân biệt một ranh giới rõ ràng giữa
Trang 15văn hóa vật thể và phi vật thể.Một văn hoá vật hóa vật thể luôn mang trongmình nó những yếu tố không thể đo đếm được Cùng một căn nhà trệt hay nhàsàn, thậm chí một cái bát, cái chén v.v…, mỗi tộc người cũng để lại trên dấu ấnriêng biệt của nó trên hình dáng, trong cấu trúc, ở các mô típ trang trí, các màusắc v.v…Một bộ y phục may cắt giống nhau cũng được các tộc người, dân tộctạo nên những dáng khác lạ với những màu sắc, những hoa văn, khẳng định cáiriêng của mình, với các cộng đồng người xung quanh Ngược lại, những vănhóa phi vật thể luôn phải biểu hiện dưới những dạng vật chất cụ thể, ngay nhưtrong lĩnh vực thờ cúng nghi lễ Tuy nhiên, giá trị của văn hóa vật thể và phi vậtthể lại có một phương thức tồn tại và phát triện khác nhau Phần phi vật thểtrong các đơn vị vănb hóa tập thể hay văn hóa phi vật thể là cái đi sâu và tâmthất của cộng đồng, được các tộc người , dân tộc trân trọng, nâng niu, gìn giữthường được chọn làm biểu tượng, làm vật tượng trưng cho dân tộc, địaphương.
Văn hóa đặc trưng của một tộc người, một dân tộc cũng chưa phải lànhững biểu hiện trong sinh hoạt đời sống văn hóa hằng ngày Nếu khi xưa trongthời kì nông nghiệp, những yếu tố văn hóa truyền thống còn được bảo lưu khábền chặt qua tầng lớp thượng lưu, rồi mới lan tỏa dần ra dân chúng Một tộcngười, một dân tộc có thì giờ ngẫm nghi, thu nhập cải biên cho thích hợp Quátrình tộc người hay dân tộc hóa diễn ra rất lâu, rất ít có trường hợp yếu tố vănhóa ngoại lai còn giữ lại nguyên vẹn Nhưng ngày nay, dưới tác động mạnh mẽcủa thời kỳ công nghiệp mang tính toàn cầu, những yếu tố văn hóa ngoại laitràn vào, có khi trực tiếp ngay với người dân, dồn dập khó còn để thời gian chocon người lựa chọn, sàng lọc Nên trong sinh hoạt đời sống thường ngày, nhữngyếu tố truyền thống và du nhập đan xen nhau, cùng tồn tại
Một điều dễ nhận thấy cho dù trong đời sống thường ngày, mọi người đãquen sử dụng những yếu tố văn hóa ngoại lai, như trong lĩnh vực ăn, ở, mặc, đilại, lao động, nói năng, thậm chí suy nghĩ, tín ngưỡng, nhưng họ vẫn chưa nhậnnhững giá trị văn hóa đó là văn hóa tộc người hay dân tộc Ở Việt Nam phổbiến câu nói cửa miệng: nhà Tây, đồ Mỹ, thức ăn Tàu, máy móc Nhật Bảnv.v… Ngược lại, họ vẫn nhận những giá trị văn hóa mang tính dân tộc hay tộcngười từ những yếu tố văn hóa truyền thống của tổ tiên, mà nay họ chi chiêmngưỡng chứ không sử dụng
Vậy chi có những giá trị văn hóa, cho dù là vật thể hay phi vật thể, đượcchấp nhận có tính tộc người hay dân tộc, một khi chúng đã trở thành nhữngbiểu tượng sâu sắc in đậm trong tình cảm, trong tư tưởng của tộc người hay dântộc, mới trở thành văn hóa đặc trưng của tộc người hay dân tộc
Sự đóng góp những yếu văn hóa các tộc người, thành viên của một dântộc, vào kho tàng văn hóa cộng đồng quốc gia dân tộc, nhiều hay ít là tùy thuộc
Trang 16vào trình độ phát triển, vào số dân của từng tộc người Đó là những giá trị vănhóa được toàn thể dân tộc chấp nhận như của bản thân Có thể là những tuậtngữ của tiếng nói các tộc ngưòi được sử dụng trong quốc ngữ, là những giá trịvăn hóa: trang phục, nhà cửa, công trình kiến trúc, vănn hóa nghệ thuật, lễ hội,các điểm hành hương, tín ngưỡng, tôn giáo; đặc biệt là những đóng góp vàolịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, những trận đánh giỏi, tên tuổi cácdanh nhân, các vị anh hùng tiêu biểu của từng tộc người Tóm lại, đó là nhữnggì tạo nên không chi là lòng tự hào của riêng từng tộc người, mà của toàn dântộc, tạo nên một bản sắc của tất cả các tộc người trong một dân tộc.
Đối với dân tộc Việt Nam, ta có thể thấy trong bộ tự vựng tiếng Việt, đồngthời là tiếng Quốc ngữ, những từ của các cư dân Môn – Khơme, Tày – Thái,Nam – Đảo, Hmông – Dao v.v… Ta tự hào với các bộ trang phục, các kiến trúcnhà cửa(nhà dài của người Ê Đê, nhà sàn của các dân tộc), những tháp Chàm,chùa Khơme, khu mộ táng Tây Nguyên, điệu xòe Thái, cồng chiêng, đàn Tơrưng, krông pút của người Thượng, những bộ sử thi của người vắng bóng ởngười Việt, giàu có ở các tộc người anh em, các công trình văn học như Sóngchụ sôn sao, Khun Lú, Náng ủa, Đẻ đất đẻ nước, Nam Kim Thị Đan, những địađiểm như Mường Thanh, Buôn Ma Thuộc, Bà Đen, Bẩy Núi, đền bà ThiênYana; nhất là những trang lịch sử được các tộc người trên đất nước chung sứcviết lên qua các cuộc khởi nghĩa từ Hai Bà Trưng đến các cuộc đấu tranh chốngngoại xâm, trải dài lịch sử, gắn liền với tên tuổi của Lý Thường Kiệt, TrầnHưngĐạo, Lê Lợi, Quang Trung, gần đây với hai cuộc kháng chiến thần thánhgiải phóng dân tộc, mà tên tuổi của Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại.Văn hóa tộc người và văn hóa dân tộc vẫn có sự phân biệt Mỗi tộc ngườivẫn có những đặc trưng sinh hoạt văn hóa của riêng bản thân, thường lấy đó đểphân biệt với tộc người khác ở xung quanh Những đặc trưng đó thường đượccác nhà nghiên cứu tìm tòiphân tích bằng phương pháp so sánh để khẳng định.Đó là kết quả một quá trình nghiên cứu công phu, nhưng với dân chúng có điềuhộ chấp nhận, có điều đặc trưng để khẳng định cái ta, phân biệt với cái khác tamang tính tộc người, nhiều khi chi là những dấu hiệu đơn giản, dễ nhận thấytrong cuộc sống, như một nét khác nhau qua cách ăn uống(người Tày ăn cơm,người Hmông ăn ngô), trong cách ăn mặc(người Tày mặc áo dài, người Nùngmặc áo ngắn), giọng nói, những điều kiêng cử, thờ cúng v.v…
Vậy nên, đối với một tộc người, cũng như một dân tộc, tiêu chí xác địnhvề văn hóa là những đặc trưng trong lối sống văn hóa của tộc người, dân tộc,chứ không hẳn là tổng thể sinh hoạt văn hóa diễn ra thường ngày Những đặctrưng đó bền vững đi sóng đôi với tộc người hay dân tộc qua những chặngđường lịch sử, đã trở nên một mảng đời của tộc người, của dân tộc không thểchia cắt Nó tạo nên một tính cách văn hóa của dân tộc, của tộc người
Trang 17Cần lưu ý nếu một nhóm địa phương chấp nhận tộc thuộc về một tộc ngườiqua một số đặc trưng sinh hoạt văn hóa tộc ngưòi nhất định, thì một tộc ngườichấp nhận mình thuộc về một dân tộc nhất định, cũng phải thấy bản thân gắn bóvới một số đặc trưng sinh hoạt văn hóa của một quốc gia dân tộc, và cũng cónhững đặc trưng sinh hoaạt văn hóa riêng để phân biệt với tộc người khác.
1.3.4 Ý thức tự giác
Khi bàn về ý thức quốc gia dân tộc là bàn đến việc một cá nhân, một bộphan hay có trường hợp cả cộng đồng thuộc về một tộc người nào đó tự nguyệngia nhập làm công dân của một quốc gia, tuân thủ nhà nước, hiến pháp, phápluật, có nhiệm vụ và trách nhiệm với quốc gia đó Họ mang tấm căn cước củadân tộc vừa theo nghĩa đen, vừa theo nghĩa bóng Việc gia nhập của một tộcngười vào một quốc gia dân tộc là kết quả của cả một quá trình lịch sử rất phứctạp, đa dạng, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của từng nước Điều đó là một việchoàn toàn tự nguyện, tự nguyện thấy cần gia nhập, để được cố kết với các tộcngười anh em, có thêm sức mạnh để bảo vệ và phát triển không chi riêng tộcngười mình, mà toàn thể dân tộc
Một khi đã là thành viên của một quốc gia dân tộc, với một lãnh thổ cóđường biên giới ổn định và thiêng liêng, có chung một nhà nước, thì tất cả cáctộc người trong cộng đồng quốc gia dân tộc đó, đã thấy được số phận của họgắn liền với lịch sử của dân tộc mà họ đã góp công xây dựng, đã trở thành mộtkhối thống nhất không thể chia cắt, đã tạo cho mình một tinh thần dân tộc, chấtkeo dính kết các tộc người Họ cùng đồng cam cộng khổ những lúc khó khăn,cùng nhẫn nhục trong thời gian nước mất nhà tan Chính những giờ phút đắngcay khổ nhục đó lạ liên kết họ trong sự đồng cảm, tạo cho họ một ý chí khôngchịu khuất phục, một tinh thần yêu nước cao cả Tinh thần đó được nuôi dưỡng,kết rắn lại bởi những ngày lễ kỷ niệm dân tộc, những công trình tưởng niệm từngười chiến sĩ vô danh cho đến các danh nhân, các tướng lĩnh có công trạng, từnhững đền đài, những trang lịch sử, những huyền thoại Lá quốc kỳ, bản quốc
ca, tấm quốc huy đối với các tộc người đã trở thành thiêng liêng, một thứ thiêngliêng không đượm sắc thái tôn giáo Dân tộc Việt Nam có đầy đủ những chứngcớ đó Một ngàn năm đêm trường nô lệ, những năm daì sát cánh bên nhauchống ngoại xâm một trăm năm mất nước đã liên kết các tộc ngừơi với mộttâm nguyện rửa cái nhục mất nước Và hiện nay, đứng trước caí nhục nghèonàn, lạc hậu, họ lại thành một khối, cùng nhẫn nhục, cắn răng quyết tâm, ngàymột ngày hai, để vươn lên bằng anh bằng chị, để dân tộc Việt Nam lại ngẩngcao đầu trên bốn biển năm châu, thoát cảnh lệ thuộc về kinh tế, từ đấy dẫn đếnlệ thuộc về chính trị
Trang 18Ý thức tự giác thuộc về một dân tộc của các tộc người cần được nuôidưỡng giáo dục, để mọi người tự nguyện thấy cần phải đặt lên trên hay són gđôi với ý thức tộc người của bản thân.
Ý thức tự giác tộc người bao gồm tất cả những tiêu chí nói trên từ tên gọi,ngôn ngữ, lãnh thổ, những đặc điểm kinh tế, đặc trưng sinh hoạt văn hóa đượchình thành trong lịch sử, một lịch sử bi tráng, thăng trầm, tất cả tạo nên một sốphận chung của tộc người Ý thức đó tưởng như đồng nhất với ý thức của một (hoặc hai, ba) tộc người đứng ra tập hợp các tộc người khác xây dựng nên quốcgia – dân tộc, ví dụ như tộc người Pháp với dân tộc Pháp, tộc người Nga vớidân tộc Nga, tộc người Việt với dân tộc Việt Nam Thật ra, nếu đi sâu tìm hiểu,lịch sử đã minh chứng rằng cộng đồng dân tộc gắn liền với vận mệnh của tất cảcác tộc người Dân tộc Việt Nam được xây dựng ngay từ ban đầu trên cơ sở chíít là hai khối Âu và Lạc, bao gồm trong từng khối đó các tộc người khác nhau.Dân tộc Việt Nam phát triển lên nhờ công sức của các tộc người cư trú từ trướcvà các tộc người tự nguyện gia nhập về sau Dân tộc Trung Quốc, Ấn Độ hayĐức , Pháp, Nga, Mỹ v.v… cũng tương tự Trong xã hội có áp bức giai cấp, ápbức dân tộc không tránh khỏi các cuộc xung đột, chiến tranh giữa các tộc ngườikhông tránh khỏi động cơ gia nhập một cộng đồng quốc gia của các tộc người,có trường hợp là không thật tự nguyện Một khi đã gia nhập, trở thành thànhviên một dân tộc, các tộc người với tư cách công dân, đã là một khối thống nhấtđấu tranh bảo vệ tổ quốc và đấu tranh để xóa bỏ những bất công trong xã hội,cũng như những bất công đang còn tồn tại giữa các tộc người
Có thể nói một cá nhân có hai ý thức song trùng: ý thức tộc người và ýthức dân tộc
1.4 Hiện trạng nghiên cứu các tộc người ở Việt Nam
1.4.1 Yếu tố dẫn đến các chách thức phân chia nhóm tộc người
Sự phân chia nhỏ xã hội thành các tầng lớp khác nhau về địa vị kinh tế, địavị chính trị, học vấn, kiểu dáng nhà ở, nơi cư trú, phong cách sinh hoạt, cáchứng xử, sở thích nghệ thuật Đây là một trong những khái niệm cơ bản của xãhội học Đó là một khái niệm để chi sự phân chia các cá nhân hay các nhóm xãhội thành các tầng lớp khác nhau Mỗi tầng bao gồm các cá nhân, các nhóm xãhội có địa vị kinh tế, chính trị, uy tín giống nhau Phân tầng xã hội diễn ra trênmọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị cho đến văn hóa, v.v Khi nói đến phân tầng xã hội, các nhà xã hội học đề cập đến bất bình đẳngxã hội, coi đó như một yếu tố cơ bản cho việc hình thành nên sự phân tầng xãhội Một số tác giả lưu tâm đến sự biến đổi hình thức của phân tầng xã hội, vàcho rằng điều đó phụ thuộc vào tính chất "mở" của hệ thống xã hội Một số tácgiả khác quan tâm đến sự phân phối không đồng đều các lợi ích giữa các thành
Trang 19viên trong xã hội, coi đó là nguyên nhân dẫn tới sự phân tầng xã hội Phân tầngxã hội và bất bình đẳng xã hội có mối quan hệ mật thiết Bất bình đẳng lànguyên nhân, phân tầng xã hội là kết quả Sự không ngang nhau về mọi lĩnhvực giữa các cá nhân trong xã hội dẫn đến cơ hội và lợi ích của các các nhân làkhông như nhau, từ đó dẫn đến việc các cá nhân hay các nhóm xã hội có cùngchung lợi ích sẽ tập hợp lại thành một nhóm Nhiều nhóm có cơ hội và lợi íchkhác nhau ra đời Có nhóm lợi ích và cơ hội nhiều, có nhóm thì ít, từ đó dẫnđến phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội không có ý nghĩa tuyệt đối Do vị thế xã hội của các cácnhân có thể thay đổi, từng ngày, từng giờ, có cá nhân hôm nay thuộc tầng lớpnày, mai lại thuộc tầng lớp khác Bởi vì cơ hội và lợi ích của họ không còn nằmtrong tầng lớp đó nữ
1.4.2 Hiện trạng phân chia tộc người theo nhóm ngữ hệ ở Việt Nam
a Một số khái niệm về thuật ngữ dân tộc
Trên thế giới hiện nay người ta thường dùng các thuật ngữ:
Dân tộc bản địa (Thổ dân, Dân bản xứ), Dân tộc thiểu số bản địa, bộ lạc,bộ tộc, sắc tộc, tộc người, dân tộc thiểu số, dân tộc ít người Sự tồn tịa nhiềuthuật ngữ đó, do những nguyên nhân gắn liền với sự phát triển của các dân tộctrên thế giới và sự xáo trộn của mỗi nước qua các thời kỳ biến thiên lịch sử;như nước Mỹ, trước kia là nơi sinh sống của các bộ lạc người Anh Điêng, bịngười Châu Âu xân nhập vào thế kỷ XV, XVI, đến ngày 14/7/1776, 13 bangthuộc địa của Anh đã thống nhất lại thành hợp chủng quốc Hoa Kỳ Do đó ởnước Mỹ, người da trắng chiếm hơn 80%, còn các nhóm người khác đã sinhsống ở đây từ trước, họ gọi là dân bản địa (thổ dân, dân bản xứ); Bộ tộc là thuậtngữ, chi sự phân biệt màu da hoặc sắc thái văn hoá hoặc để chi dân tộc thiểu sốnói chung; Dân tộc ít người hoặc cộng đồng người này, cộng đồng người kia làám chi người có nguồn gốc từ nhiều nước đến nhưng số lượng ít hơn so với dântộc chủ thể của nước đó; dân tộc thiểu số là thuật ngữ mà Trung Quốc sử dụngtrong mối quan hệ giữa dân tộc thiểu số và người Hán Những khái niệm trênkhông đơn giản chi là học thuật mà là vấn đề có nội dung chính trị của nó
Ở nước ta dùng thuật ngữ dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số Dân tộcViệt Nam hoặc cộng đồng các dân tộc Việt Nam được dùng để chi tất cả cácdân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam, khôngphân biệt nguồn gốc Khái niệm này đồng nghĩa với quốc gia đa dân tộc haycòn gọi là quốc gia - dân tộc Thuật ngữ dân tộc ở nước ta đã được sử dụngngay từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập (nay là Đảng Cộngsản Việt Nam)
Trang 20Chúng ta không thừa nhận có dân bản xứ, thổ dân, vì tất cả các dân tộc củanước ta đều là những cư dân, là chủ nhân của đất nước Việt Nam, cũng khôngcông nhận có bộ tộc, bộ lạc hoặc tộc người.
Hiện nay chúng ta đang sử dụng thuật ngữ dân tộc đa số và dân tộc thiểusố, vậy nên hiểu thống nhất là:
- Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dântộc Việt Nam, tức là dân tộc Kinh (Việt), dùng thuật ngữ này là nói trên phạm
vi cả nước chứ không là nói trên địa bàn vùng hoặc địa phương nào đó
- Dân tộc thiểu số, thuật ngữ này không đồng nghĩa với dân tộc chậm pháttriển, càng không phải là dân tộc lạc hậu, khái niệm đó là chi những dân tộc cósố người ít hơn so với dân tộc đa số Trong đó kể cả dân tộc Hoa, còn ngườiHoa không có quốc tịch Việt Nam là Hoa Kiều
b Thành phần dân tộc và tộc danh
- Về thành phần dân tộc: Trên thế giới, do thành tựu nghiên cứu và nhậnthức về dân tộc mà mỗi nước có sự công nhận danh mục thành phần dân tộc ởnước mình, vì thế đại bộ phận các nước về cơ cấu dân tộc, quan hệ dân tộccũng rất phức tạp Theo một số tư liệu năm 1996 cho biết: trong 166 nước thì1/3 số nước này tương đối đồng nhất về dân tộc, nhưng dân tộc đông nhất cũngchi chiếm trên 90% dân số nước đó như Nhật Bản, Triều Tiên, Ixraen, Ailen ,1/2 số nước dân tộc đa số (chủ thể) chưa chiếm đến 70% số dân nước đó, 1/4 sốnước là khoảng 50%, cá biệt có dân tộc là thiểu số của nước này nhưng lại là đasố của nước kia; hoặc là đa số của nước này cũng là đa số của nước kia nhưngười da trắng ở Anh với người da trắng ở Úc và một số nước khác
Ở Việt Nam, việc xác định thành phần dân tộc căn cứ theo 3 tiêu chuẩn:+ Ý thức tự giác dân tộc, tức là ý thức về sự thống nhất của các thành phầntrong cộng đồng người thể hiện bằng một tên gọi chung
+ Ngôn ngữ
+ Văn hoá
Theo kết quả nghiên cứu rất công phu và trong nhiều năm của các nhàkhoa học, sau khi đã có sự thống nhất giữa Uỷ ban khoa học xã hội, Uỷ ban dântộc của Chính phủ, năm 1979, Chính phủ đã uỷ nhiệm Tổng cục thống kê lầnđầu tiên công bố danh mục dân tộc ở nước ta để phục vụ tổng điều tra dân số.Theo đó, đến thời điểm 1979 nước ta có 54 dân tộc Việc xác định 54 dân tộc ởthời điểm đó là có cơ sở khoa học và pháp lý Tuy nhiên về thành phần dân tộchiện nay, cũng còn ý kiến cho rằng qui định như ttrên có rộng quá không? Hayxếp một số nhóm (tộc người) vào một dân tộc có đúng không? Hoặc có ý kiến
Trang 21đề nghị công nhận thêm dân tộc do đó chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứutrên cơ sở khoa học và phù hợp với nguyện vọng của đồng bào dân tộc.
- Về tộc danh: Là tên gọi của dân tộc Sau khi công bố danh mục thànhphần dân tộc thì tên gọi của các dân tộc được xác định một cách rõ ràng Đồngbào các dân tộc rất phấn khởi và tự hào từ nay đã được gọi theo đúng tên gọicủa chính dân tộc mình Khác với trước đây, dưới thời Pháp thuộc bọn thống trịđã dùng những tên gọi khinh miệt chia rẽ các dân tộc như: Thổ (Tày), Mán(Dao), Mèo (Mông), Mọi (chi chung một số dân tộc ở miền núi) tuy nhiên vềtên dân tộc trong thời kỳ ban hành trước đây không ghi bằng tiếng phổ thôngmà ghi theo giọng nói nên khi đọc có dân tộc đã có người đọc sai một ly đi mộtdặm như HMông đáng lẽ phát âm gần giống như từ Mông của tiến g Việt, lạiđọc chệnh đi là "Hơ Mông" là sai hoàn toàn
c Về dân số:
- Các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu người, chiếmkhoảng 14% dân số chung của cả nước:
+ Năm dân tộc là Tày, Thái, Khơme, Mường, Hoa, mỗi dân tộc có hơn 1triệu người
+ Ba dân tộc là Nùng, Mông, Dao có số dân từ trên 50 vạn đến 1 ttriệungười
+ Chín dân tộc là Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Sán Chay, Chăm, Xơ Đăng, SánDìu, H'rê, Cơ Ho có số dân từ 10 vạn đến 50 vạn người
+ Mười bảy dân tộc có từ 1 vạn đến dưới 10 vạn người
+ Mười bốn dân tộc có từ 1 ngàn đến dưới 10 ngàn người
+ Năm dân tộc có từ 194 đến dưới 1.000 người
Theo số liệu điều tra năm 1989 cho biết: có 6 dân tộc giảm số dân, chủ yếulà do khi tiến hành điều tra dân số chưa chú ý đến vấn đề dân tộc nên thiếuchính xác, thực chất không có dân tộc nào bị suy giảm về dân số Dân tộc Ơ
Đu, công bố có 31 người, nhưng Hội đồng dân tộc của Quốc hội tiến hành mộtđợt giám sát ti mi kiểm tra lại toàn bộ theo phương pháp của điều tra dân số, kếtquả đến thời điểm tháng 3/1993 là 194 người
- Số dân của dân tộc thiểu só ở nước ta nêu trên cho thấy không phải là ítvề lượng, do đó khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội đã không dùng khái niệmdân tộc ít người vì dân số của một số dân tộc không phải là ít so với dân sốnhiều nước trên thế giới Thực vậy, năm 1990 thế giới có 205 nước thì 145nước có số dân dưới 9 triệu người Như nước Áo có 7 triệu, Đan Mạch có 5triệu, Na Uy 4 triệu, Phần Lan 5 triệu, Thuỵ Điển 8 triệu v.v , thì số dân củadân tộc thiểu số nước ta đã nhiều hơn số dân của mỗi nước này Hơn 70 nước
Trang 22có dân số dưới 1 triệu như Ô-Man, Ghi-Nê Bít-sao, Guy-A-Na vậy là chiriêng dân tộc Tày và dân tộc thiểu số có số dân đông nhất trong 53 dân tộc thiểusố cũng đã có số dân lớn hơn số dân của mỗi nước đó, dân tộc Mông có số dântrung bình cũng đã lớn hơn dân số của những nước như: Lúc-Xăm-Bua, CộngHoà Síp, Ghi-nê xích đạo, Ma rốc
- Thành phần dân tộc và số dân của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nhưtrên cho thấy chiến lược đại đoàn kết dân tộc ở nước ta có ý nghĩa quan trọngxuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc
d Về xã hội
- Do lịch sử để lại của đất nước ta và sự phát triển của mỗi dân tộc, cộngvới điều kiện tự nhiên và địa bàn cư trú, nói chung trình độ phát triển của cácdân tộc thiểu số so với dân tộc đa số còn thấp, giữa các dân tộc, phát triển cũngkhông đồng đều:
+ Có dân tộc, có vùng đã định canh định cư như Tày, Nùng, Thái, Mường,Khơme, Chăm nhưng có dân tộc còn mang nặng tính chất du canh du cư nhưMông, Dao, Cơ Ho, Ba Na, M'Nông đó là khoảng cách lớn giữa một xã hộicòn ở thời kỳ du canh, du cư nay đây mai đó, dựa vào thiên nhiên và lệ thuộcvào thiên nhiên là chính, với một xã hội đã phát triển cao hơn, với trình độ sảnxuất là thâm canh và có cuộc sống định cư
+ Đời sống vật chất và tinh thần giữa các dân tộc, bên cạnh một số trungtâm văn hóa có tính chất tiêu biểu như Tày, Nùng ở Đông Bắc, Thái ở Tây Bắc,Gia Rai, Ê Đê, Ba NA ở Tây Nguyên, Khơ Me ở Nam Bộ, Chăm ở DuyênHải Trung Bộ Nhưng nói chung sự phát triển của các dân tộc thiểu số cònthấp so với dân tộc đa số, giữa các dân tộc và các vùng cũng có sự chênh lệchvới nhau, đặc biệt là số đồng bào dân tộc ở vùng cao, biên giới, vùng sâu, vùngxa còn rất nhiều khó khăn và kém phát triển về mọi mặt Tuy nhiên cũng códân tộc đã phát triển tương đối như Khơ Me, Hoa, Chăm
Xoá bỏ khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc đólà vấn đề cốt lõi để giải quyết chính sách bình đẳng, đoàn kết dân tộc, muốnvậy:
- Phải có chính sách đối với từng vùng, từng dân tộc như chủ trương chínhsách định canh định cư đối với đồng bào còn du canh du cư Chương trình hỗtrợ dân tộc đặc biệt khó khăn cho những dân tộc còn ở trình độ rất thấp vàchương trình 135 cho vùng đặc biệt khó khăn
- Phải có chương trình, giải pháp để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,giúp cho đồng bào phát triển (đầu tư kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội)
Trang 23- Có chính sách đào tạo cán bộ thích hợp với từng dân tộc và trong từnggiai đoạn cụ thể, như mở các trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dự bịđại học và chế độ cử tuyển vào trường đại học
e Về địa bàn cư trú:
- Các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú chủ yếu ở miền núi, chiếm 3/4 diệntích cả nước, một số sinh sống ở đồng bằng, hải đảo và đô thị
- Cư trú trên toàn tuyến biên giới và vùng cao
- Cư trú phân tán và xen kẽ với nhau, không hình thành một vùng lãnh thổriêng biệt
Đặc điểm cư trú đó, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế và an ninh quốc phòng của nước ta:
+ Về phát triển kinh tế, tiềm năng đất đai và rừng chủ yếu là ở miền núi,tài nguyên khoáng sản, nguồn thuỷ năng phần lớn cũng tập trung ở vùng này.Địa bàn đó vừa là mái nhà, là môi trường cho cả nước, vừa có ý nghĩa quantrọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước mà tiềm năng phát triểncây công nghiệp, chăn nuôi rất lớn
+ Về an ninh quốc phòng, địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí,ý nghĩa bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trong thời bình cũng như khi có chiến tranh.+ Cơ cấu dân số ở miền núi đang và sẽ thay đổi theo sự phát triển của đấtnước, nhưng vị trí của vấn đề dân tộc không hề thay đổi Nhiều tinh như LạngSơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu dân tộc thiểu số chiếm trên70%, Hà Giang, Cao Bằng chiếm trên 90% Trong khi đó cơ cấu dân cư cáctinh Tây Nguyên đã thay đổi ngược lại, nhưng vị trí của vấn đề dân tộc vẫn cònnguyên vẹn
+ Các dân tộc sống xen kẽ là phổ biến, yếu tố này nói lên sự hoà hợp củacộng đồng dân cư, mặt tốt là tạo điều kiện học hỏi, giúp nhau cùng tiến bộ,nhưng cũng dễ va trạm dẫn đến mất đoàn kết Do đó vấn đề đoàn kết dân tộcphải được luôn luôn chú ý ngay từ cộng đồng dân cư ở cơ sở: làng, xóm, ấp,bản đến xã, huyện, tinh và trên phạm vi cả nước
+ Một nước có nhiều dân tộc như nước ta, truyền thống đoàn kết là chủyếu, nhưng cũng còn những mặc cảm, bọn phản động thường lợi dụng vấn đềdân tộc để phục vụ âm mưu, thủ đoạn của chúng Do đó cần phải cảnh giác cao,có chính sách dân tộc đúng và thực hiện nghiêm túc, không để kẽ hở cho bọnphản động và phần tử xấu có thể lợi dụng được
Trang 24CHƯƠNG 2: VĂN HÓA CỘNG ĐỒNGCÁC TỘC NGƯỜI
NGỮ HỆ NAM Á
1 Nguồn ngốc và sự phân bố dân cư
1.1 Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme
Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme hiện nay sống tập trung chủ yếu trên bánđảo Đông Dương và cũng có mặt ở tất cả các nước trong khu vực, đông nhất là ởCampuchia, Việt nam, Thái Lan và các nước khác như: Lào, Malayxia…
Nhóm cư dân Môn-Khơme có số dân không đông lắm, nhưng lại là nhóm cư dân cónhiều thành phấn dân tộc nhất Việt Nam, có 21 dân tộc là: Bana, Brâu, Bru-VânKiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Gié-Triêng, Hrê, Kháng, Mảng, Mnông, Ơ Đu,
Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng, Mạ, Khơme, Khơ Mú
Về nguồn gốc cư dân Môn-Khơme có nhiều ý kiến khác nhau: Giả thiết đượcnhiều người tán thành nhất là của E.Aymonier công bố năm 1904 cho rằng; tổ tiênnhững người ngôn ngữ Môn-Khơme thuộc về chủng tộc Negritiod bắt nguồn từnhững sườn núi nam Tây Tạng rồi chia đôi ra và di chuyển về phương Nam theo 2hướng; hướng Tây Nam sinh ra người Mun du ở Ấn Độ, hướng Đông Nam sinh ratộc người Môn-Khơme ở Đông Dương
Bruk nhà nhân chủng học Lien Xô cho rằng: từ thiên niên kỷ I TCN đại bộ phậnĐông Dương đã có mặt người Môn-Khome từ phía Tây nam Trung Quốc trànxuống
Các nhà nhân chủng học kết luận: thành phần nói ngôn ngữ Môn-Khơme đều là dânbản địa Đông Nam Á lâu đời Cội nguồn của họ từ những dạng chuyển tiếp từAustro-Mongoloid đang trong quá trình phân hóa với những nét đăc trưng phươngNam từ đó sinh ra các loại Vediod và Indonesien của bán đảo Đông Dương cổ đại vềsau phân bố rộng khắp Đông Nam Á
Chính vì vậy các nhà khoa học đều cho rằng cư dân Môn-Khơme là cư dân bản địa,những người đầu tiên lập nghiệp trên bán đảo Đông Dương Tổ tiên của họ là chủnhân của những nhà nước cường thịnh trong vùng Nhưng vào cuối TNKI và đầuTNKII SCN, các quốc gia cổ đại Môn-khome suy yếu dần và lần lượt tan rã, cư dânMôn – Khơ me phần bị tiêu diệt, phần bị đông hóa hoặc tự hòa nhập vào nhữngcộng đồng cư dân khác, một phần bị phân hóa ra thành nhiều tộc người, nhữngnhóm địa phương cư trú xen kẽ với các dân tộc khác
Trong lịch sử cư trú, trên lãnh thổ Việt Nam, cư dân Môm-Khơme cũng có nhiềubiến động về dân số, thành phần tộc người và lãnh thổ tộc người Hầu như các nhómMôn-Khơme đã di chuyển địa bàn cư trú nhiều lần do nhiều nguyên nhân khácnhau: chiến tranh, loạn lạc, đời sống du canh du cư, bệnh tật, quan hệ tộc người…Nhưng nhìn chung sự di chuyển đó không phải là những cuộc thiên di lớn, hình như
Trang 25họ chi chuyển cư quanh quẩn trong vùng vốn là địa bàn cư trú truyền thống của tổtiên họ.
Địa bàn phân bố của nhóm cư dân Môn- Khơme rải rác trải dài trên toàn bộ lãnhthổ nước ta từ Tây Bắc đến Trường Sơn- Tây Nguyên và đến tận bằng sông CửuLong, ở Tây Bắc- Nghệ An Việt Nam hiện nay, thuộc cư dân Môn-Khome có 5 dântộc sinh sống, thường được gọi là người Xá, đó là; người Kháng, Mảng, Xinh Mun,Khơ Mú, Ơ Đu.Trong đó người Kháng, Xinh Mun và Mảng là những tộc người cưtrú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam và một phần lãnh thổ Lào hiện nay
Về nhân chủng, họ có những yếu tố thuộc loại hình Indonesien và cả loại hình Nam
Á thuộc tiểu chủng Mongoloid phương Nam, người Khơ Mú có số dân đông nhấttrong nhóm Môn-Khơme ở tây Bắc, nhưng đại bộ phận mới đến Việt Nam chưalâu.Tổ tiên của họ cư trú ở vùng Mường Xoa (Lào) Sau nhiều biến động lịch sử,nhất là khi người Thái chiếm đất Lào, một bộ phận người Khơ Mú đã di cư sangViệt Nam, sống ở vùng biên giới Việt- Lào ở Tây Bắc và vùng núi Nghệ An
Người Ơ đu cũng sinh sống lâu đời vùng biên giới Việt-Lào ở miền Tây Nghệ An.Nhưng khi người Thái, Hmông, Khơ Mú đến địa bàn cư trú của họ dần bị thu hẹplại, một số cũng bị đồng hóa, số còn lại sống xen kẽ với các dân tộc mới đến
Vùng Bắc Trường Sơn, thuộc miền núi Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, vàmien Tây Quảng Nam, Đà Nẵng là địa ban cư trú của một nhóm Môn- Khơme đó làngười Bru-Vân Kiều, Tà Ôi, Cơ Tu Có ý kiến cho rằng: quê hương chính của tộcngười này là vùng trung, nam Lào giáp biên giới Việt- Lào Với những biến động ởLào, các tiểu quốc Môn-Khơme ở đó tan rã, nên một bộ phận thuộc các dân tộc nóitrên đã di cư sang vùng đất Việt nam cách ngày nay khoảng 300-400 năm Nhưngcũng có nhiều truyền thuyết của các dân tộc này: nói về quê hương tổ tiên của họchính là vùng đât hiện nay họ đang sống
Vùng đất cao nguyên phía Tây miền Trung Việt Nam( thường gọi là Tây Nguyên) vàmiền núi các tinh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên là địa bàn cư trú lâu đời của một nhóm Môn-khome thường được gọi là Co, Hre, Brau, Rơ măm Cho đến nay, tàiliệu khảo cổ học còn quá ít ỏi, nên có sự hạn chế trong việc tìm hiểu nguồn gốc cácnhóm dân tộc này nhưng tư liệu dân tộc học, văn học dân gian, đã cho biết nhóm cưdân Môn-Khơme đã có mặt ở vùng Tây nguyên từ rất sớm như người Bana, qua cáctruyện cổ thường cho rằng tổ tiên của họ ở vùng đồng bằng, người Gié-triêng vốn cưtrú lâu đời ở Lào, họ chi mới sang việt nam cách đây 2-3 thể kỷ, và hiện nay bộphận đồng tộc chủ yếu của họ vấn sinh sống ở vùng Nam Lào
Các nhóm cư dân Môn – Khơ me ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên đều thuộc lọahình Indonesien khá điển hình của vùng đất này, nhưng họ mới chi trở thành nhữngthành viên trong cộng đồng dân tộc Việt trong 3-4 thế kỷ nay
Khác với đa số các cộng đồng tộc người thuộc nhóm Môn- Khơme sinh sống ở vùngrừng núi, người Khơme lại sinh sống chủ yếu trên đồng bằng châu thổ, như chúng tađã biết, vào những thế kỷ đầu CN, người Đồng Nai trên cơ sở kinh tế nông nghiệp
Trang 26đã có một bộ phận tiến về phía nam để chinh phục vùng châu thổ sông Cửu Long.Chính bộ phận này đã góp phần xây dựng nên nước Phù Nam cổ đại tồn tại từ thế kỷthứ II đến thế kỷ VII-VIII, họ đã tạo nên khu dân cư trù phú trên nền tảng kinh tếnông nghiệp truyền thống kết hợp với mở mang nhiều ngành nghề thủ công, mởmang hoạt động buôn bán Nhưng sau một thời gian phát triển phôn vinh trongchừng 5-6 thế kỷ Phù Nam đã nhanh chóng tàn lụi và sụp đổ vào thế kỷ VII-VIII,các thành phố cũng như khu dân cư phồn vinh một thời của Phù Nam cổ đại đều bịngập chìm trong bùn lầy châu thổ ven biển Nam Bộ lãnh thổ Phù Nam trở thànhhoang địa Chính trong bối cảnh đó, một bộ phận cư dân Chân Lạp đã hướng sự pháttriển vào vùng châu thổ sông Cửu Long, đó là nguyên nhân của sự gặp mặt củangười Khome trên đồng băng Nam Bộ cho đến tận bây giờ.
Lúc đầu người Khơme chưa đủ đông và đủ mạnh để khai phá moi vùng đầm lầymênh mông hoang dã của đồng bằng sông Cửu Long, họ chi quần cư thành nhữngPhum, sóc trên các vùng đất cao ven thềm các sông cổ, ven biển
Cho đến thế kỷ XVII, khi người Việt nam và một bộ phận người Hoa di cư đến cùnggóp sức với người Khơme mở mang vùng đất mới thì đồng bắng song Cửu Longmới được khai phá và chinh phục thực sự, và trong sự nghiệp đó, người Khome dầntrở thành một thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
1.2 Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường
12.1 Dân tộc Việt (Kinh)
Tổ tiên người Việt từ rất xa xưa đã định cư chắc chắn ở Bắc bộ và bắcTrung bộ Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, người Việt luônlà trung tâm thu hút và đoàn kết các dân tộc anh em xây dựng và bảo vệ Tổquốc
Dân tộc Việt có tên gọi khác là Kinh Người Kinh cư trú khắp tinh,nhưng đông nhất là các vùng đồng bằng và thành thị
Dân số: 55.900.224 người, chiếm 86,83% dân số toàn quốc
Ngôn ngữ: Người Việt có tiếng nói và chữ viết riêng Tiếng Việt nằmtrong nhóm ngôn ngữ Việt Mường (ngữ hệ Nam Á)
1.2.2 Dân tộc Mường
a Nguồn gốc
Người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ởvùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ,
b Sự phân bố dân cư
Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê công bố năm 1989, dân tộcMường ở Việt Nam mới chi có 914.396 người nhưng 10 năm sau, tức năm
1999, vẫn theo kết quả Tổng điều tra dân số của Tổng cục Thống kê công bố,người Mường đã tăng lên 1.137.515 người
Trang 27Người Mường sống tập trung ở các thung lũng hai bờ sông Đà (Phú Thọ,Sơn La, Ba Vì, Hòa Bình) và khu vực trung lưu của sông Mã, sông Bưởi (cáchuyện Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc của tinh Thanh Hóa).Người Mường ở Thanh Hoá gồm hai bộ phận: Mường Trong (Mường gốc) vàMường Ngoài (người Mường di cư từ Hoà Bình vào) Sang đến tinh Nghệ
An hầu như không có người Mường sinh sống (năm 1999 chi có 523 ngườiMường trong toàn tinh) Ngoài ra ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cũng có gần27.000 người mới di cư vào trong những năm gần đây
Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, người Mường sống tập trung ở cáctinh: Hòa Bình (479.197 người, chiếm 63,3% dân số của tinh), ThanhHóa (328.744 người, chiếm 9,5% dân số của tinh), Phú Thọ (165.748 người,chiếm 13,1% dân số của tinh), Sơn La (71.906 người, chiếm 8,2% dân số củatinh), Ninh Bình (46.539 người), Hà Nội (khu vực Ba Vì),Yên Bái, Đắk Lắk.Số người Mường ở các tinh nói trên chiếm khoảng 98% số người Mường ở ViệtNam năm 1999
1.2.3 Dân tộc Thổ
Dân tộc Thổ là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.Người Thổ có các tên gọi khác như Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, TàyPọng, Con Kha, Xá Lá Vàng
a Nguồn gốc
Người Thổ có nguồn gốc từ nhóm Việt - Mường di cư lên miền núi trởthành cộng đồng người Thổ
b Sự phân bố dân cư
Nhóm địa phương: Kẹo, Mọn, Cuối, Đan Lai - Ly Hà, Tày Poọng
Dân tộc này có khoảng 69.000 người, chủ yếu sinh sống tại miền tâytinh Nghệ An (80 %) và tinh Thanh Hóa (13 %)
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thổ ở Việt Nam códân số 74.458 người, có mặt tại 60 trên tổng số 63 tinh, thành phố Người Thổ
cư trú tập trung tại tinhNghệ An (59.579 người, chiếm 80,0% tổng số ngườiThổ tại Việt Nam), Thanh Hóa (9.652 người, chiếm 13,0% tổng số người Thổtại Việt Nam), Lâm Đồng (966 người), Đồng Nai(657 người), Đắk Lắk (541người), Bình Dương (510 người), thành phố Hồ Chí Minh (362 người), ĐiệnBiên (226 người), Đắk Nông (216 người), Hà Nội (211 người)
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường,ngữ hệ Nam Á
1.2.4 Người Chứt
Tên gọi khác: Rục, Arem, Sách
Trang 281.4.1 Nguồn gốc và sự phân bố dân cư
a Nguồn gốc
Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở haihuyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tinh Quảng Bình
b Sự phân bố dân cư
Nhóm địa phương: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.
Dân số: 6.022 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Quê hương của người Chứt vẫn Ở Bố Trạch, Quảng Trạch Sau này họ ditán phần lớn lên vùng núi Minh Hóa, BốTrạch
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ NamÁ)
1.2.3 Nhóm ngôn ngữ Nam Á khác
* H’mông - Dao
Nhóm ngôn ngữ H’mông – Dao, gồm 3 dân tộc: Hmông, Dao, Pà Thẻn
di cư đến Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX cư tru phân tán ở miền núiViệt Bắc, Tây Bắc và miền núi Thanh - Nghệ
* Nhóm hỗn hợp
Nhóm hỗn hợp gồm 4 dân tộc: La Chí, Pu Péo, Cơ Lao, La Ha di cư từnam Trung Quốc đến Việt Nam cách đây vài ba thế kỷ phân bố chủ yếu ở phíaTây và Đông Bắc (biên giới Việt Trung)
2 Đặc trưng văn hóa các tộc người Môn - Khơ me
2.1.Một số yếu tố văn hóa tinh thần
2.1.1 Ẩm thực:
Cư dân môn-khome chủ yếu ăn gạo tè và gạo nếp Ngoài ra họ còn ăn thêm ngô, khoai, sắn…Bữa sang và bữa tối được coi là hai bữa chính Trong dịp lễ tết, hội hè: gạo nếp, gạo tẻ được chế biến thành nhiều món khác nhau Thức ăn hang ngày có cá, rau, cùng một số sản phẩm hái lượm từ thiên nhiên như rau sắn, măng…
Đồng bào rất ưa chuộng các món ăn tái, nướng, xào chua, luộc, các món thịt xào chua, măng chua
Rượu cần: là đồ uống phổ biến của cư dân Môn-Khơme, chế biến và uống rượu cần đã trở thành phong tục, nét văn hóa trong đời sống của đồng bào Đồng bào uống rượu cần trong các dịp lễ hội: lễ rước hồn nước, lễ mững cơm mới, lễ cầu mùa, lễ cầu mùa, đón khách quý…
Trang 29Thuốc lá: là thứ thuốc hút phổ biến của đồng bào nhóm môn-khome, từ nam giơi, thiếu nữ đều hút thuốc Thuốc được quấn cả lá theo kiểu sâu kén hoặcđồng bào hút bằng tẩu.
Đặc điểm riêng
Cư dân Môn-khome ở Tây Bắc có cách uống độc đáo: là uống bằng mũi Ở người Kháng (nam giới) còn giữ được tục lấy muối, ớt, tỏi, hành, rau thơm, hòanước bỏ vào chai lọ, vỏ bầu, trong bữa ăn lấy nước đó bỏ vào mũi (gọi là tu mui) Người ta cho rằng, sau khi lao động mệt nhọc, được uống thứ nước đó thìsẽ hết mệt nhọc
Ở người Khơme ở Nam Bộ được: ưu đãi với hệ thống kênh rạch, đầm hồ…chi chit đã cung cấp cho họ nguồn hải sản phong phú, dồi dào Vì vậy bữa ăn của người Khơme thiên về yếu tổ thủy hải sản, như thức ăn hàng ngày của họ là tôm,cá, ếch nhái…
2.1.2 Trang Phục
Trang phục của các dân tộc nhóm Môn- Khơme nhìn chung vẫn còn bảo lưu các yếu tố của văn hóa truyền thống Trang phục của các nhóm dân tộc này gồm:
- Nam thì đóng khố, cởi trần
- Nữ thì có hai kiểu đó là mặc áo, quấn váy hay có nơi dùng loại váy ống dài che cả thân từ ngực xuống
Mùa đông thì: người ta khoác thêm tấm vải choàng cho ấm.
Đi sâu vào 3 vùng có nhóm dân tộc Môn- Khơ me sinh sống ta thấy những sự riêng biệt trong trang phục, điều đó được biểu hiện ở:
+ Ở nhóm phía Bắc: trong 5 tộc người có sự giao thoa với văn hóa Thái, trang phục của phụ nữ Mảng độc đáo bởi cách trang trí búi tóc trên đinh đầu và chiếc tạp dề trắng thêu hoa văn quấn quanh ngực dài tới bắp chân, trang phục người Khơ Mú nổi bật với cách trang trí hàng bạc và vỏ ốc trước thân áo phụ nữ.
+ Trang phục của 15 dân tộc Trường sơn- Tây nguyên giống nhau trong cách cắt may, tạo dáng và các dải hoa trang trí trên áo, váy và hai đầu khố Các dân tộc này phổ biến: váy cổ truyền là áo cánh ngắn chui đầu, không có vê cổ, nền gấu bằng chi màu Có nơi chị em mặc áo dài tay cổ chui, không có lá cổ Cổ áo và váy thường là những hoa văn đỏ, vàng, trắng, xanh cách trang trí hoa văn trên nền vải đi đôi với hoa văn trên thân váy tạo nên sự hài hòa, duyên dáng và độc đáo riêng của từng dân tộc.
Như phụ nữ Tà Ôi, Cơ Tu, dệt trong tá hạt cườm, các dân tộc Mạ, Cơ Ho, Chơ Ro… dệt trang trí hoa văn hình học, hình động vật, hình người bằng các màu trên nền vải trắng.
Đàn ông đống khố trong lao động và sinh hoạt hàng ngày Vào dịp lễ hội hay tiếp đài khách thì họ sử dụng khố dài để tua trang trí bằng hạt cườm.
Tấm choàng: là nét riêng độc đáo của trang phục tây nguyên Đó là tấm vải nhuộm màu chàm đậm, trang trí hao văn thân dài, dùng cho cả nam và nữ trong các dịp hội hè, lễ tết thông thường người ta choàng từ vai xuống chân cũng có khi tấm choàng được khoác chéo trước ngực dấu hiệu của chiến binh ra trận + Vùng Nam Bộ lại có những đặc điểm riêng biệt hẳn so với trang phục của cư dân nhóm Môn- Khơ me: đó là thường trang phục phụ nữ Khơ me giống người kinh hơn ở địa phương, kiểu y phục áo bà ba với chiếc khăn sẵn vắt vai, đội đầu hay quang cổ Những dịp lễ tết phụ nữ mạc áo dài qua gối, thân rộng, tay áo chặt, hai bên sườn ghép them 4 miếng vải theo theo chiều dọc từ nách đến gấu áo.
Ngày cưới chú rể: mặc áo xà rông, áo cổ đứng màu đỏ, cài khuy trước ngực, cô dâu mặc áo màu đỏ thắm, quàng khăn trắng, đội mũ cổ truyền.
Trang 302.1.3 Kiến trúc nhà ở
- Đặc điểm chung:
Nhóm Môn- Khơme nhà thường có hai loại: nhà sàn và nhà trệt nhưng chủ yếu ở nhóm Môn Khơ me là loại nhà nhà sàn, làm các vật liệu có sẵn trong tự nhiên như tre, nứa, gỗ và lá rừng để lợp Không gian được làm dựa trên sự ứng xử linh hoạt, đa năng biến hóa phong phú, vừa hòa nhập dễ dàng với tự nhiên, môi trường, vừa thích hợp với hoạt động đời sống nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp của vùng nhệt đới ẩm gió mùa, của cơ cấu gia đình lớn hay nhỏ.
- Đặc điểm riêng:
Nhà của những dân tộc vùng Tây Bắc kiến trúc đơn giản, kỹ thuật thô sơ không có mộng chi có ngoẵm, lấy dây rừng buộc lại Nhìn chung, nhà chi có hai mái, không có chân ở hai đầu hồi, nhà có hai cầu thang lên xuống, một gian cho nam giới, một gian giành cho nữ giới Nơi quan trọng nhất là cột thờ ma, nơi tiếp khách và bếp lửa, nơi ngủ của vợ chồng gia chủ…
Ngôi nhà truyền thống của khu vực Trường Sơn- Tây Nguyên là ngôi nhà dài hay ngắn, nhưng những ngôi nhà sàn dài hiện nay đang bị thay thế bằng những ngôi nhà sàn ngắn.
Ngôi nhà sàn dài cửa ra vào ở hai đầu hồi, trong nhà chia dọc thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên ngăn thành buồng nhỏ, cho gia đình sinh hoạt riêng (gọi là các bếp), còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung, tiếp khách, họp bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người, đan nát…
Nét đặc trưng quan trọng nhất của ngôi nhà vùng này: là kết cấu “khung cột, không có vì kèo”, khung đứng liên kết với cột xà, cột không liên kết với xà ngang mà liên kết trực tiếp với xà dọc Chính từ đặc trưng này: làm ngôi nhà mang màu sắc độc đáo.
Các ngôi nhà dù ngắn hay dài thì đều được bố trí mở cửa chính hướng về ngôi nhà công cộng gọi là nhà rông Nhà rông thường được dựng ở những vị trí trung tâm của làng: là nơi vị trí trung tâm của làng, là nơi thuận tiện cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng Sự đồ sộ, hùng vĩ, lạ lẫm qua phần mái: mái thấp, mái cao, mái hình chữ nhật, mái thẳng, mái cong tạo nên vẻ đẹp hoành tráng cho ngôi nhà rông, kiến trúc và cách trang trí mỹ thuật công phu Ngôi nhà công cộng cao lớn và đẹp đúng nổi bật giưa làng đó là trụ sở của làng nơi các bô lão tế tựu để bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi thanh niên chưa vợ và trai góa vợ ngủ đêm, nơi tiến hành các nghi lễ phong tục củ cộng đồng, nơi tiếp khách lạ của làng
2.2 Một số yếu tố văn hóa tinh thần
2.2.1 Đời sống và quan hệ xã hội
Đặc điểm chung về xã hội:
Cư dân nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me sống gắn bó với nhau đựa trên 2 mối quan hệ: là quan hệ cộng cư và quan hệ dòng họ, họ cư trú thành làng, bản, buôn Làng là đơn vị tổ chức xã hội cơ bản và tự trị trong xã hội Mỗi làng gồm: nhiều gia đình, dòng họ khác nhau sinh sống gắn bó, đoàn kết với nhau trên địa vực nhất định và riêng biệt tự quản dựa vào luật tục.
Ý thức cộng đồng trong buôn làng cao: vai trò to lớn của các thiết chế tự quản buôn làng, luật tục, già làng, trong nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me đã có sự phân hóa giàu nghèo, nhưng sự phân hóa giai cấp còn đang manh nha, quan hệ đoàn kết tương trợ mạnh mẽ, dân buôn làng bản trong danh dự, chất phát, trung hậu.
Đứng đầu mỗi làng là già làng được nể trọng, có vai trò quan trọng đời sống của làng vì là người am hiểu về phong tục tập quán của làng và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất.
Xã hội được thiết lập trên cơ sở phụ quyền khá vững chắc, trong làng: mỗi họ có một vị trưởng họ có vai trò quan trọng Trưởng họ thay mặt các thành viên trong họ quan hệ với dân làng, giải quyết các công việc liên quan đến nội bộ như ma chay, cưới xin, hòa giai các xích mích trong nội bộ, tế nông nghiệp…
- Bên canh những đặc điểm chung thì các dân tộc nhóm Môn- Khơ me có những nét đặc trưng của xã hội: Đối với các dân tộc Môn- Khơ me ở Tây Bắc đồng bào không cư trú trên một đơn vị xã hội lớn hơn bản Họ sống thành từng bản nhỏ: khoảng 10 nóc nhà, cũng có khi trong bản sống xen kẽ với các dân tộc khác, một bản như vậy gồm một số gia đình đồng tộc Còn trong đơn vị mường, trên bản thì họ sống xen kẽ vói
Trang 31các dân tộc khác, trong các mường của người thái thì địa vị xã hội của họ là tầng lớp chịu nhiều lệ thuộc của phong kiến thái trước đây Người thuộc các dân tộc này giỏi lắm là làm trưởng bản, còn dù có thế lực đến đâu trước đây cũng không được tham gia vào bộ máy cai trị của mường.
- Gia đình:
Hình thái gia đình: là gia đình phụ quyền, gia đình lớn chi còn lại dấu vết, tàn dư, phổ biến là gia đình nhỏ, hạt nhân, tiểu gia đình phụ quyền, trong gia đình vai trò của người đàn ông được đề cao Trong các gia đình vợ chồng con cái sống hòa thuận, tương đối bình đẳng, tuy việc dựng vợ gả chồng là do cha mẹ tự quyết định nhưng tự do con cái vẫn được tôn trọng : đó là đôi trai gái tự do yêu nhau, tìm hiểu và kết hôn Ở nhóm Môn- khơ me hôn nhân một vợ một chồng: là nguyên tắc cơ bản trong xây dụng gia đình Tuy nhiên: các dân tộc này tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn rất đậm nét Địa vị của người phụ nữ trong gia đình được tôn trọng như vai trò của người mẹ trong việc gần gũi kho thóc, phân phát thức ăn cho các thành viên, tục chồng mang họ vợ khi ở rể, tục lại mặt…
Nét đặc trưng được biểu hiện đậm nét ở mỗi vùng miền:
Ở nhóm cư dân Môn- Khơ me Tây Bắc tàn dư của chế đọ mẫu hệ khá đậm nét đặc biệt thể hiện qua: vai trò của các ông cậu trong gia đình.
Ở người Khơ Mú: Ông cậu vừa có nhiệm vụ, vùa có quyền lợi liên quan đến gia đình cháu, khi dựng vợ gả chồng cho con bố mẹ phải xin ý kiến ông cậu, người chồng còn cư trú bên nhà vợ, quyền coi sóc com cái thuộc về ông cậu Khi vợ chồng ra ở riêng, ông cậu phải dựng bếp, phải đốt lửa bếp, cho các hạt giống và giống gia súc cho bố mẹ các cháu của mình, khi sinh cháu, ông cậu đặt tên và thay mặt bà ngoại cho các cháu chiếc vòng và chiếc địu Khi gia đình em gái có xung khắc ông cậu có quyền can thiệp, trách mắng em rể.
Ở người Bru- Vân Kiều, người Khơ Mú, người Cơ Tu còn tồn tại dấu vết, hôn nhân liên minh ba bộ tộc: là họ A gả con gái cho họ B thì dòng họ B không được gả con gái cho họ A mà phải gả con gái cho họ C.
2.2.2 Cưới xin
Cư dân nhóm Môn- Khơ me thường trai gái được tự do yêu nhau, cha mẹ thường tôn trọng sự lựa chọn bạn đời của con Lễ hỏi thường trải qua các nghi thức: dạm, hỏi, cưới và sau này khá giả thường tổ chức thêm lễ cưới lễ cưới lần nữa.
Nói chung việc cưới xin diễn ra nhiều bước và tương đối tốn kém Như lễ cưới của người Bru: nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng ban bêm không ngủ ở nhà mà ngủ ở nhà công cộng, có khi họ đưa nhau ra những chà nhỏ ở xa làng để tìm hiểu ( gọi là tục đi “ sim” khi hai bên đã ăn ý với nhau thì họ trao tín vật cho nhau Sau đó người con trai cũng như người con gái tìm lấy một người mối để truyền đạt ý muốn của mình tới cha mẹ.
Khi hai bên nhất trí nhà trai bẻ của lần nữa, lần này: ngoài tiền mặt anh ta còn đưa cho người con gái những vật dụng khác như khăn, áo, vải vóc Lễ cưới gồm: có nồi đồng, bạc nén, chuỗi hạt cườm, và nhất thiết phải có một thanh kiếm, lúc nhà trai trao thanh kiếm cho nhà gái phải đưa đằng chuôi ra trước; làm ngược lại, cuộc hôn nhân coi như bị xóa bỏ Sau khi người con gái đã theo đoàn nhà trai về nhà chồng nhà gái cho 4, 5 thanh niên đuổi theo, làm như để đi tìm kiếm người con gai đó nhưng cuối cùng nhập vò đoàn người trên với tư cách như những người đi đưa dâu.
Hôm sau đoán nhà trai sang nhà gái thì nhà gái lại tiến hành đòi của Hầu như: người nào trong gia đình nhà gái cũng được quyền đòi của Thường thường: người ta đòi giá rất cao đến nỗi gia đình giàu có đến mấy cũng không đủ trả ngay trong một lúc và sẽ là món nợ đối với đôi vợ chồng này Có lẽ cũng bởi những giàng buộc đó mà vợ chồng người Bru ít có trường hợp bỏ nhau, hay đàn ông lấy nhiều vợ.
Chính vì thế: hôn nhân người Bru mang tính chất buôn bán và có những tàn tích của hôn nhân cướp đoạt Người phụ nữ được coi là tài sản mà gia đình và họ hang của cô ta không giao cho người rể tương lai, nếu chưa được đền bù hoặc nhận tiền đền bù một cách thích đáng, thể hiện qua thách cưới, đòi của Vì giá phải trả cho bố mẹ, ông cậu và các anh enm trai của cô gái rất lớn nên cô ta trở thành người thừa kế của những người đàn ông trong gia đình như anh, em trai, bố chồng, con riêng của chồng khi chồng chết người đàn ông này phải lấy người vợ góa đó Một di sản bắt buộc theo luật tục nhiều hơn là họ đòi quyền đối với người phụ nữ.
Trang 32Ở người Mảng theo tập tục, ở gia đình đón dâu diễn ra cuộc đánh nhau thật sự giữa họ hàng nhà trai và nhà gái người ta tin rằng cuộc đánh nhau càng ác liệt thì hạnh phúc lứa đôi càng bền chặt
Các dân tộc này có tục chia của cho người chết là những thứ mà người chết thường dùng như từ đồ ăn thức uống đến vật dụng trong nhà, từ trang phục, công cụ lao động đều được chia… Những người chết bình thường thì được chôn trong bãi mộ chung của làng: thi hài được bảo quản trong nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, người chết vì bệnh tật Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đói với người chết
do tai nạn như chết đuối, rắn cắn, hổ vồ… và chết do chiến tranh đâm chém Những cái chết bất đắc kỳ tử như vây: thi hài không được mang vào nhà mà phải ami táng tức khắc một cách thầm lạng.
Tuy nhiên cũng có tùy theo mỗi vùng miền mà các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me lại có phong tục tang ma khác nhau:
Chảng hạn như người Kháng có tục sắm sửa cho người chết những thứ cần thiết như khi còn sống để họ tiếp tục “sống” ở “thế giới bên kia”, nhà để ở bên mộ thường là lều mồ Lều cấu trúc theo kiểu nhà đất với
4 cột chồng bốn góc và hai cột cao đỡ đòn nóc Xung quanh không thưng vách: để tượng trưng cho việc chia nếp nhà (như khi còn sống) cho người chết, người ta đỡ một phần gianh trên mái nhà ở, đem đi lợp lều mồ Đầu mồ có chôn một cột cao bên trên có hình con chim bằng gỗ tượng trưng cho con ngựa của họ hàng để người chết cưỡi ngựa về vói tổ tiên ở “thế giới bên kia”, trên cột gỗ còn treo một cái áo của người chết, làm dấu cho vợ chồng ở “bên kia thế giới”có thể dễ dàng tìm gặp nhau Sau khi đưa người chết tới nơi an nghi cuối cùng con cháu, vợ chồng, anh em, họ hàng chưa được phép lên nhà ngay mà phải tập trung bên đống lúa ở dưới gầm sàn nơi người chết nơi người chết vẫn ngủ khi sống để cho ông cậu cắt mỗi người một dúm tóc trên trán bỏ vào bát, trong đó có ít nước, một quả trứng gà luộc bóc vỏ hoặc một con cá sấy khô, rồi đem vứt ở vệ dường lối đi ra mộ Đây là: việc làm cho ma (hồn người chết) khỏi quyến luyến hồn người thân.
Ở người Bana, Xơ đăng, Giẻ- triêng có tục chôn treo: quan tài được gác trên bốn cột gỗ chắc, từng cặp được bắt theo chữ X, quan tài cách mặt đất 50- 60cm.
Người Tà ôi quan niệm vạn vật đều có linh hồn nên họ theo tín ngưỡng đa thần đó là:thần
nước( giàng đak), thần chỗ ở gia đình( giàng Anteng), thần nhà dài( giàng Đanh), chi phối mọi mặt đời sống của họ.
Trước đây, người Mnông theo quan niệm đa thân đặc biệt là các vị thần nông nghiệp và các vị chư hầu rồi sau này đạo Thiên Chúa và nhất là đạo Phật đã xâm nhập và phát triển ở vùng người Mnông.
Ỏ Khome thì ảnh hưởng của Ấn Độ mạnh nên ở đây, Phật giáo rất phát triển
Trang 332.2.5 Văn hóa văn nghệ
Văn học dân gian
Các dân tộc nhóm Môn-khome có một nền văn học dân gian phong phú với nhiều huyền thoại, truyền thuyết, ca dao…kể về nguồn gốc tộc người, dòng họ, ca ngợi tinh thần đấu tranh chống thiên tai, phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày, họ có những làn điệu hát đối đáp, giao duyên của nam và nữ Đăc biệt ngừi Bana có điệu H omon người ta hay gọi là trường ca Homon thường là: một truyện nhiều nhân vật, nhiều tình tiết, có tầm cỡ vừa-hay dài Cốt truyện thể hiện bằng văn vần theo luật thơ ca dân tộc xen lẫn những đoạn văn xuôi đôi xứng cặp, thường được trình bày dưới dạng hát ngâm Đề tài cốt truyện là nói về các anh hùng thủa sơ khai, những nhân vật cứu loài người, cứu dân tộc khỏi hiểm họa to lớn.
- Về âm nhạc
Các dân tộc nhóm Môn-khome có rất nhiều nhạc cụ phong phú và đa dạng như: cồng chiêng là tiêu biểu nhất và các loại đàn, sáo… được làm ra từ nguồn có sẵn trong tự nhiên là những yếu tố chính tạo dựng nên nền văn nghệ dân gian Môn-khome.
Trong văn hóa phần lớn các dân tộc Tây Nguyên cồng chiêng đóng vai trò quan trọng quán xuyến cuộc sống con người Một bộ cồng chiêng có từ 3 đến 15 cái, trong đó có cồng (loại có núm) và
chiêng( loại không có núm) Với quan niệm cộng đồng gồm 2 nửa- hôm qua và hôm nay- thế giới hưu hình luôn có liên hệ với thế giới vô hình mà cồng chiêng với âm thanh , với âm nhạc và sức mạnh thiêng liêng của nó là “cầu nối”.
Hầu hết: mọi hoạt động văn hóa của người Tây Nguyên đều có cồng chiêng, đứa trẻ sinh ra tiếng cồng chiêng vang lên báo hiệu đón nhận một thành viên mới của cộng đồng, đứa trẻ lớn lên trong một không gian đầy nhạc cồng chiêng Đón cón người vòa đời là nhạc cồng chiêng lại cũng là nó sễ tiễn đưa con người ấy ra huyệt mộ, linh hồn người ấy sẽ theo cồng chiêng về với tổ tiên Có thể nói cuộc đời con người “dài theo tiếng cồng chiêng”.
- Nghệ thuật tạo hình, kiến trúc
Các dân tộc nhóm Môn-khome còn rất nổi bật với nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật kiến trúc phong phú như: nhà rông, nhà sàn dài, nhà mồÂA…
Có lẽ nhiều tài năng sang tạo nghệ thuật và kiến trúc của người Môn-Khơme ở Tây Nguyên dành cho nhà mồ Trang trí và tượng nhà mồ đa dạng về kiểu dáng đó là: những hình khối, những hình trang trí, những tượng gỗ Hai bên của vào nhà mồ thấy tượng cặp nam nữ, thường là khỏa thân, mô tả các bộ phận sinh dục, những tượng ngồi xổm, 2 tay ôm má, mang tính sầu tư, giống như đứa trẻ ngồi trong bào thai Những tượng ở các ngôi mội tù trưởng giống như: tượng nô lệ đi hầu hạ người đã chết Những lớp tượng nam nữ, tượng ngồi giống bào thai mang ý nghĩa phồn thực và tái sinh cảu người khuất Tượng chi là: những nét phác, những nhát dao vạc, khoét mạnh bạo, có phần thô tháp, nhưng lại đầy sức sống.
3 Các đặc trưng văn hóa của tộc người Mường
3.1 Một số yếu tố văn hóa vật chất
Trang 34Trang phục nam
Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông Đầu cắt tóc ngắn hoặc quấn khăn trắng Quần lá tọa ống rộng dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi
là khăn quần Xưa có tục để tóc dài búi tóc Trong lễ hội dùng áo lụa tím hoặc
tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác đôi áo chúng đen dài tới gối, cái cúc nách và sườn phải
Trang phục nữ
Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo Khăn đội đầu
là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổbiến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cáchân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy Cạp váy nổi tiếng bởicác hoa văn được dệt kỳ công Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộxà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịtbạc
Áo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn) Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người Kinh, ống tay dài, áo màu nâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu khác không phải loại vải cổ truyền) Bên trong làloại áo báng, cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn Đầu thường đội khăn trắng, xanh với phong cách không cầu kỳ như một số tộc người khác Váylà loại váy kín màu đen Toàn bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể Đây là một phong cách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu vực láng giềng (trừ nhóm Thái Mai Châu, Hòa Bìnhdo ảnh hưởng văn hóa Mường mà mặc thường ngày tương tự như họ) Nhóm Mường Thanh Hóa có loại áo ngắn chui đầu, gấu lượn, khi mặc cho vào trong cạp váy và cao lên đến ngực Phần trang trí hoa văn trên cạp váy gồm các bộ phận: rang trên, rang dưới, và cao Trong các dịp lễ, Tết, họ mang chiếc áo dài xẻ ngực thường không cài khoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng vừa phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong Nhóm mặc áo cánh ngắn xẻ ngực thường mang theo chiếc yếm bên trong Về cơ bản giống yếm của phụ nữ Kinh nhưng ngắn hơn
3.1.3 Kiến trúc nhà ở
Trang 35Người Mường sống trong những ngôi nhà sàn truyền thống, địa bàn cư trú tập trung chủ yếu ở những dải đồng bằng thung lũng hẹp, doi đất ven sông, ngòi, dưới chân các dãy núi hay trên các đồi gò thấp Làng bản mường sống tập trungthành từng chòm, từng xóm, ẩn khá kín dưới màu xanh của cây cối trồng quanhnhà Các bản mường thường có khoảng từ 20 đến 30 nóc nhà, và nếu bản to thì có thể nhiều hơn nữa Bản làng thường dựng nơi gần nguồn nước, gần đồng ruộng, thuận lợi cho lao động sản xuất Tuy vậy, bản làng của người Mường ít khi lộ rõ để người ngoài dễ phát hiện vì được bao bọc bởi luỹ tre và cây ăn quả.Đường vào bản thường là những con đường mòn nhỏ quanh co tạo cảm giác dễ nhầm, dễ lạc Và đối với người Mường, họ không coi trọng việc dựng nhà lập bản sao cho thuận tiện giao thông đi lại Vì lẽ đó mà muốn vào bản làng hay nhà của người Mường thường phải băng qua con đường nhỏ nối làng với đườngchính hoặc lội qua những con suối, ngòi.
Với người Mường nói chung, nhà là nơi diễn ra và chứng kiến những sự kiện như sinh, hôn, tử của một vòng đời Từ đó, ngôi nhà không chi có ý nghĩa đối với gia đình mà còn mang ý nghĩa cộng đồng xã hội, không chi là nhu cầu về vật chất là để trú ngụ nắng mưa, ngủ nghi, mà còn đáp ứng nhu cầu tâm linh.Người Mường rất trọng hướng nhà, vì vậy, hướng nhà phải do một thầy địa lý có tiếng chọn riêng theo tuổi của gia chủ Họ quan niệm làm nhà đúng hướng sẽ đem lại tài lộc và may mắn đến cho gia đình
Theo quan niệm của người Mường, làm nhà không được ngược hướng với đồi núi, chính vì vậy, bề ngoài, nhà của người Mường có vẻ không theo một quy luật nào Nhà dựng ở đồi gò thì lưng dựa vào đồi gò, cửa hướng ra khoảng không thung lũng, cánh đồng trước mặt Nhà dựng ở ven sông thì mặt có thể hướng ra dòng sông hay hướng vào trong Tất cả những cái tưởng chừng là
"lộn xộn" đó lại tạo cho bản làng của người Mường Thanh Sơn cảm giác vừa vững vàng vừa cởi mở với những nét độc đáo riêng
Nhà sàn của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền Việc dựng nhà sàn của người Mường là kết quả của một quá trình dài đúc rút kinh nghiệm cư trú Điềuđó thể hiện ở bản mo nổi tiếng họ là "Te tấc te đác" (đẻ đất đẻ nước) Trong bản
mo đồ sộ này có đoạn nói về sự ra đời của nhà sàn người Mường Mo rằng: Khi
người Mường sinh ra nhà chưa có nên phải sống trong các hang núi, hốc cây, họ phải đối mặt với nhiều thiên tai hiểm hoạ Một hôm, ông Đá Cần (còn gọi là lang Cun Cần) bắt được một con rùa đen trong rừng đang định đem ra làm thịt Rùa van xin Đá Cần tha chết và hứa nếu được thả thì rùa sẽ dạy cho ông cách làm nhà để ở, làm kho để lúa để thịt:
Bốn chân tôi làm nên cột cái
Nhìn sườn dài, sườn cụt mà xếp làm rui
Nhìn qua đuôi làm trái
Nhìn lại mặt mà làm cửa thang cửa sổ
Trang 36Nhìn vào xương sống làm đòn nóc dài dài Muốn làm mái thì trông vào mai
Vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách Lấy chạc vớt mà buộc kèo
Lần dựng thứ nhất, nhà đổ Ông Đá Cần doạ làm thịt rùa Rùa lại phải dặn lấy gỗ tốt mà làm cột làm kèo… Từ đó, người Mường biết làm nhà để ở.
Việc dựng nhà của người Mường đòi hỏi nhiều côngđoạn, nhiều sức lực nên họ có tục giúp đỡ nhau Người giúp gỗ, người giúp lạt, người giúp công, giúp sức Trước kia, để nhận được sự giúp đỡ của dân làng, gia đình làm nhà phải chuẩn bị một lễ nhỏ mang đến nhà Lang để nhờ Lang báo cho mọi ngườitrong bản làng biết Mỗi gia đình sẽ cử một người đến giúp Người ta phân công những công việc cụ thể cho mỗi thành viên đảm nhận như xẻ gỗ, đan nứa, pha tre, đan gianh cọ, lợp mái… Gia chủ làm nhà tuỳ vào điều kiện kinh tế mà nhận sự giúp đỡ khác nhau Nhà khá giả thì mọi người giúp ít và ngược lại Theo tục này, ở xã Xuân Đài có lệ khi một người làm nhà thì tuỳ vào khả năng mà giúp gỗ,lạt, nứa, lá, và mỗi nhà góp ba đến năm cân gạo nếp,hai chai rượu, một con gà… Lệ này ở mỗi xóm lànglại có những quy định khác nhau Ở xã Tân Phú thì có lệ mỗi gia đình đưa cho gia chủ bốn trăm "phá" (tức là hai trăm cây nứa gập đôi) Nói chung, tục giúp nhau trong việc làm nhà của người Mường Thanh Sơn như đóng góp nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm và ngày công thể hiện sự quan tâm chung của cả bản làng, tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết cộng đồng sâu sắc
Trong quá trình dựng nhà của người Mường, thầy mo có vai trò tương đối quan trọng Mở đầu
việc dựng nhà, ông mo làm lễ cắm cọc vào nơi làm cầu thang Sau đó, chủ nhà cày ba luống làm lệ trên nền làm nhà Ông mo đi sau vảy nước vào những luống cày đó và khấn vía lúa Người làm nhà chuẩn bị vài cụm lúa đã tuốt hết hạt chi còn cọng rơm ném ra xa rồi cầm đòn xóc đâm vào cụm lúa nâng lên Mỗi lần nâng đòn xóc lên rồi lại để xuống và hát giang ý nói rằng "lúa đẹp, lúanặng, lúa bay về nhà để cho no cho đủ…" Ông mo nâng các cụm lúa lên trên tay rước đi vài vòng rồi giang mo "đẻ đất đẻ nước" đoạn nói về rùa dạy dân làm nhà Tiếp theo ông mo vảy một thứ nước mà người Mường cho đó là nướcphép vào những hố chôn cột để xin thần linh cho gia chủ làm nhà mới
Trang 37Người Mường kiêng không để mấu của đòn tay quay xuống mặt sàn Khi bắc đòn tay thì ngọn phải quay về gian cuối, gốc ở gian đầu nơi có cầu thang lên xuống Gian này được gọi là gian gốc Sào nhà gác lên thượng lương Gốc sào cũng phải quay về gian gốc Tre nứa dùng làm nhà phải không được cụt ngọn, không bị sâu hay bị đốt cháy dở Gỗ làm nhà phải là loại gỗ chắc đảm bảo không mối mọt và thường là gỗ lim xanh, mài lái… Người Mường đặc biệt quan tâm đến những cây gỗ mọc ở núi đá như giống gỗ heo vì giống gỗ này chặt đốn thì mềm nhưng khi chôn xuống đất hàng trăm năm cũng không mục mại Có nơi người Mường còn kéo gỗ rangâm bùn tại ngòi, suối khoảng một hai năm mới vớt lên làm.
Những cây gỗ được chọn làm cột, sau khi lắp mộng,dựng khung, được chôn thẳng xuống những hố đã đào sẵn sâu khoảng 20 – 30 cm Tục chôn cột nhà, ngoài dụng ý cho vững chắc khung nhà khi lợp mái,làm sàn, làm vách, còn có ý nghĩa tâm linh, thể hiệncho sự hoà hợp âm dương, một biến thể của tín ngưỡng phồn thực Cho đến nay, đa số người Mường đã thay đổi tục chôn cột nhà bằng cách nângcột lên mặt đất và kê lên những phiến đá chống mối mọt Tuy nhiên cột nhà của người Mường Thanh Sơn không được gia công bào gọt nhiều như cột nhàcủa người Thái và người Mường ở Hoà Bình Nếu cột nhà của người Thái Sơn La được xẻ, bào, đẽo cho vuông thành, thì cột nhà của người Mường Thanh Sơn chi bào lớp vỏ ngoài và để tròn
Người Mường dùng con xỏ bằng tre, con then bằng gỗ, đinh kèo bằng gỗ… để đóng thay cho đinh sắt Họ dùng lạt mây, giang hoặc tre bánh tẻ để buộc níucác ngoàm đẽo hoặc cột kèo Khung nhà sàn của người Mường được dựng hoàn toàn bằng cách ghép
mộng, đục đẽo mà thành Đòn tay (tôn thảy) được
đặt dọc mái nhà Đòn tay cái có miếng tre kẹp chặt đòn tay vào đầu cột cái gọi là cái khoá kèo Mái nhàlợp bằng lá cọ hoặc bằng cỏ gianh Những
cây nứa ngộ (loại nứa to và dày) vàng óng được lựa chọn kỹ để pha nan kẹp lá (như cái gắp dùng để kẹp
Trang 38cá nướng) Cứ như thế, những kẹp lá cọ được đưa lên mái buộc thẳng vào dui mè Đây là cách lợp máinhà theo tục truyền thống còn tồn tại phổ biến cho đến ngày nay Tuy vậy ở một số nơi, người Mường đã thay cách lợp nhà Lá cọ được đưa lên lợp vào dui mè mà không cần kẹp nữa Mái nhà sàn khum khum hình mai rùa.
Nếu như nhà sàn của người Mường ở Hoà Bình phổbiến là bốn mái (hai mái đầu hồi và hai mái dài) Sàn nhà thấp giống sàn nhà của người Thái thì nhà sàn của người Mường ở Thanh Sơn cũng như nhà sàn Yên Lập chủ yếu là loại nhà sàn hai mái mà không có mái đầu hồi Mái nhà dốc vảy gần sát sàn Nhà của người Mường không có sàn thềm bên ngoàinhư của người Thái Sàn nhà được làm bằng những cây bương già thẳng pha thành mảnh dát xuống lượcbỏ mắt và cạnh sắc ghép liền với nhau, dùng lạt mâybuộc chặt kết thành từng mảnh buộc chặt vào khungsàn Những sàn nhà của nhà Lang trước đây thì thường dùng gỗ tốt như lim, gụ làm sàn nên qua thời gian sử dụng, những tấm ván lên nước bóng láng Từ mặt đất lên sàn nhà thường cao khoảng 2 đến 2,5 m tuỳ từng nơi ẩm thấp hay cao ráo
Công việc làm nhà tiến hành trong 4 – 5 ngày thì kếtthúc Ngày lợp mái, gia chủ tổ cúng tổ tiên, thổ công cai quản nơi mình ở Lễ cúng gồm xôi nếp và thủ lợn bày ở khoảng đất trống chọn làm sàn Nhà làm xong, gia đình lại tổ chức cúng tổ tiên, thổ công, ma rừng, ma cây, ma bến nước, ma đồi gò… thông báo rằng gia đình đã có một ngôi nhà mới, mời tổ tiên về chung vui với con cháu phù hộ gia đình may mắn
Nhà của người Mường thường ba đến năm gian Những gia đình đông con thì nhà lên đến bảy – mười hai gian Những ngôi nhà như vậy ngày nay còn rất ít Nhà dù ít hay nhiều gian đều có một sàn bên trái để bắc cầu thang và máng nước sinh hoạt Gian đầu tiên từ cầu thang lên gọi là gian gốc Đây là gian quy tụ mọi tính linh thiêng của ngôi nhà, là nơi xuất phát những tục lệ đối xử hành vi của con người với ngôi nhà
Trang 39Ở gian gốc có một cây cột to hơn các cây cột khác
trong nhà gọi là cột gốc (còn gọi là cây cột chồ) ở
đầu góc nhà gần cầu thang Cây cột gốc được người Mường trân trọng đặt khám (bàn thờ) thờ tổ tiên Mọi người kể cả chủ hay khách đến nhà chơi đều không được bôi nhọ, dựa lưng, gác chân, buộc đồ vật hay treo quần áo vào cột này Phần cột dưới sàn cũng không được buộc trâu bò hay dựng, treo công cụ lao động Người Mường quan niệm nếu phạm phải những điều cấm trên thì bị coi là xúc phạm đếngia đình, tổ tiên và thần linh
Gian nhà gốc chi dành riêng cho nam giới Phụ nữ trong nhà không được ngồi nghi hoặc làm việc ở đây Trong các ngày trọng đại như hôn lễ, ma chay thì chi nam giới có vai vế trong dòng họ được ngồi
ăn uống
Tại gian nhà linh thiêng này có một cửa sổ làm sát đến sàn nhà gọi là cửa sổ "voóng" linh thiêng, không ai được đưa vật gì hay chui qua Cửa sổ voóng chi dành để đưa quan tài ra ngoài khi gia chủ có tang ma Đối diện với cột chỗ ở gian gốc có một cột nhà tương đối quan trọng Ở chân cột này, ngườiMường để vào cum lúa đã tuốt hết hạt Đầu cột đội một cái giỏ thủng biểu hiện cho âm tính (người Mường gọi là nường) Bên cạnh đó, người Mường treo một đoạn tre tước xơ một đầu cho bông lên biểu hiện cho dương tính (gọi là nõ) Điều này thể hiện đời sống tâm linh, nói lên sự hỗn hợp, cân bằng
âm dương, sự ổn định và thuận hoà của cả gia đình.Gian thứ hai của ngôi nhà (gian kế theo gian gốc) dành cho nam giới ngủ nghi Gian giữa thường là gian để thóc và làm bếp Lúa gặt ở ruộng nương về phơi khô khi chuyển lên nhà được để ở đây Họ xếp lúa vào một cái quây như cái bồ thủng đáy đan bằngnứa hoặc giang để gần bếp Bếp của người Mường là rất công phu Khuôn bếp được làm bằng loại gỗ đặc biệt cứng, có đường viền xung quanh, đáy lót bằng bẹ chuối rồi rải bùn lên trên Khi chuyển bếp mới, người Mường tìm một số loại cỏ thơm như cỏ mật phơi khô để vào bếp đốt lấy tro rồi mới
bắc kiềng nấu nướng Bếp thường đặt trên trục nhà
Trang 40nơi nóc dọi xuống Có nhà bếp đặt gần cửa sổ để thông gió, tránh khói và hoả hoạn Tuy vậy, việc đặt bếp ở cửa sổ ít được ưa chuộng hơn vì người
Mường quan niệm nếu đặt bếp gần cửa sổ thì hơi ẩm từ bếp toả ra ngôi nhà không đều Nhà người Mường thường có hai bếp chuyên dụng Một bếp đểnấu nướng thức ăn, và phụ nữ, trẻ em trong gia đìnhngồi sưởi Một bếp nhỏ hơn đặt ở gian gốc dùng để cho đàn ông trong gia đình ngồi sưởi vào mùa đông và đun nước uống hàng ngày hoặc tiếp khách Bếp này người phụ nữ trong gia đình ít khi được ngồi hoặc sử dụng, trừ phụ nữ cao tuổi như bà, cụ hay con gái út được yêu quý nhất
Gian cuối cùng là nơi dành cho phụ nữ sinh hoạt có chạn bát, để đồ dùng gia đình, nơi sửa soạn cơm nước Gian này được ngăn với các gian khác trong nhà bởi một tấm liếp Đây cũng là nơi người phụ nữthay quần áo và ngủ nghi Đầu hồi nhà, người Mường để một cái cối đuống và một cối tròn Cối đuống không chi dùng để giã thóc gạo mà còn là phương tiện để gia đình báo nhà có việc lớn như đám cưới mà tang ma Bên cạnh đó, cối đuống còn là một nhạc cụ sử dụng để gõ những bản nhạc vui trong ngày lễ tết, hội hè với những bản đuống rộn ràng âm vang, người Mường gọi là "đâm đuống" hay "châm đuống" Dưới sàn nhà, người Mường nuôi gà, trâu hoặc để cất các công cụ sản xuất như cày, cuốc, liềm, nong, nia… Nhà của người Mường thường chi có một cầu thang Song những ngôi nhà dài từ 7 - 12 gian thì phải làm hai cầu thang ở hai đầu nhà Những nhà có hai cầu thang như vậy khá hiếm vì người Mường quan niệm đó là sự xui xẻo, kiêng kị, của nả sẽ không giữ được trong nhà "vào đầu này ra đầu kia"
3.2 Một số yếu tố văn hóa tinh thần
3.2.1 Đời sống và quan hệ xã hội
Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất
thoải gần sông suối ở tinh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái Phần trên