Tên đề tài:MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH NẮM ĐƯỢC KIẾN THỨC PHẦN ÂM HỌC CỦA VẬT LÍ 7.. Chính vì vậy, qua nhiều năm giảng dạy môn Vật lí 7 tôi đã mạnh dạn áp dụng một số phương pháp gi
Trang 1Tên đề tài:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH NẮM ĐƯỢC KIẾN THỨC
PHẦN ÂM HỌC CỦA VẬT LÍ 7.
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học, đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được kiến thức, phát triển được kỹ năng hành động sáng tạo, tìm tòi của HS Phương pháp giảng dạy của GV góp phần rất quan trọng cho sự lĩnh hội kiến thức đó Trong chương trình Vật lí 7 phần Âm học tuy rất gần gũi với các em về các sự vật hiện tượng cụ thể như: Nguồn âm là gì? Độ cao của âm là gì? Âm truyền qua được những môi trường nào? Tiếng vang là như thế nào? Tuy nhiên để giải thích các hiện tượng Vật lí đó qua kiến thức của bài học là rất khó khăn Vì việc giải thích các hiện tượng này rất trừu tượng, khó hiểu Từ đó các em sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tiếp thu kiến thức của bài học Chính vì vậy, qua nhiều năm giảng dạy môn Vật lí 7 tôi đã mạnh dạn áp dụng một số phương pháp giúp học sinh nắm được kiến thức phần âm học của chương trình Vật lí 7
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1 Đặc điểm tình hình:
Hiện nay chúng ta đã đổi mới SGK, chính vì vậy phương pháp giảng dạy của GV cũng phải đổi mới cho phù hợp với xu hướng chung của ngành giáo dục đã đề ra Tuy nhiên, hiện nay ở HS còn gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp thu kiến thức cũng như mục tiêu của bài học đã đề ra Một trong những khó khăn mà HS gặp phải đó là: Khả năng tiếp thu kiến thức bài học của các em còn hạn chế, một số HS người dân tộc chưa hiểu
hết cách ngôn từ Việt Nam, chính vì vậy mà các em còn "mập mờ" trong nhận thức.
Bên cạnh đó vẫn còn một số em chưa xác định đúng đắn vai trò học tập của mình, chưa nhận thức hết được con đường học vấn là quan trong như thế nào Từ đó kết quả học tập đạt thấp là điều không thể tránh khỏi
Trong năm qua, với cuộc vận động "Hai không" trong toàn ngành giáo dục, kết
quả cho thấy chất lượng giáo dục hiện nay của nước đang trong tình trạng báo động Cụ thể trong năm học qua trường THCS Long Phú có rất nhiều HS yếu kém, HS khá giỏi không cao Chính vì vậy, mỗi GV cần phải có những phương pháp dạy học sao cho phù hợp với chuyên môn mình giảng dạy, nhằm mục đích nâng cao dần chất lượng giáo dục
đi lên Với đặc thù của bộ môn tôi đang giảng dạy là môn Vật lí 7, tôi cũng hiểu được điều đó Tuy nhiên, một số em HS yếu kém hầu như không nắm được mục tiêu kiến thức của bài học đã đề ra Từ đó chất lượng giáo dục là không cao
Năm học 2007 - 2008, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công tôi giảng dạy môn Vật lí khối 6; 7 Nhà trường hiện có 20 lớp học với tổng số học sinh khoảng
670 Trường THCS Long Phú đóng trên địa bàn xã Long Phú, với hai điểm lẻ thuộc hai ấp Bưng Thum và Phú Đức Tuy nhà trường với hai điểm lẻ nhưng sức học của các em
Trang 2đều như nhau Đó là nhờ vào sự quan tâm nhiệt tình của Ban giám hiệu, các cấp lãnh đạo của ngành, của địa phương, nên tình hình học tập của các em có nhiều thuận lợi
Sau đây là số liệu thống kê trong kiểm tra 15 phút mà các em đã thực hiện Số liệu như sau:
STT Lớp TSHS trên 5 Điểm TL(%) dưới 5 Điểm TL(%)
1
2
3
4
5
7A1 7A2 7A3 7A4 7A5
34 34 24 17 25
21 22 9 7 11
62 65 30 42.8 44
13 12 15 10 14
38 35 70 57.2 46
Qua bảng điều tra cho thấy vẫn còn một tỉ lệ khá cao HS dưới trung bình Đây là tình hình chung mà giáo viên nào cũng gặp phải trong quá trình giảng dạy Đó là:
Đối với học sinh:
Mục tiêu chung của phần Âm học là yêu cầu HS phải biết được một số hiện tượng Vật lí thường gặp, chủ yếu dựa vào vận dụng lý thuyết của bài học để trả lời Tuy nhiên khả năng lập luận của các em còn hạn chế, cách diễn đạt còn lúng túng, thiếu chính xác hoặc trả lời không được
Đối với giáo viên:
Dụng cụ dạy học còn thiếu chính xác hoặc mức độ chính xác không cao Trình độ tiếp thu kiến thức của các em không đồng đều dẫn đến kết quả truyền thụ kiến thức để các em nắm vững còn hạn chế
Như vậy, để góp phần hạn chế số lượng HS yếu kém, mỗi giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với chuyên môn mình giảng dạy Nhằm giúp các
em nhận thức đúng đắn vai trò học tập của mình, đảm bảo cho các em có thể nắm được kiến thức của phần Âm học tôi đã thực hiện một số phương pháp sau:
Khi giảng dạy từng bài giáo viên cần sử dụng dụng cụ trực quan để minh hoạ
hoặc chứng minh cho các em thấy được kiến thức là đúng Bên cạnh đó khi sử dụng dụng cụ trực quan các em sẽ cảm thấy thích thú hơn và dễ dàng nắm được kiến thức hơn
Giáo viên ra bài tập, câu hỏi hay những tình huống có vấn đề cho học sinh
bằng những phiếu in sẵn
Yêu cầu học sinh nghiên cứu đoạn sách giáo khoa, tài liệu bổ sung theo chỉ
dẫn để HS nắm được sơ bộ các kiến thức từng phần
Trang 3 Giáo viên định hướng suy nghĩ cho HS về nội dung SGK bằng các câu hỏi tự
lực HS sử dụng các thao tác tư duy kết nối kiến thức các phần còn lại theo trật tự lôgic Đó chính là nội dung kiến thức HS cần lĩnh hội (Có thể chưa hoàn toàn chính xác)
Tổ chức HS thảo luận trước nhóm, trước lớp để xác định những kiến thức đã
xác định được, qua đó khẳng định năng lực của bản thân
Giáo viên làm trọng tài: Nhận xét và đưa ra kết luận về nội dung kiến thức qua
đó HS tiếp thu được trọn vẹn chính xác nguồn kiến thức vốn có từ tài liệu giáo khoa
Ngoài ra giáo viên cũng cần đưa ra câu hỏi trong phần hoạt động nối tiếp để
yêu cầu các em soạn sẵn những kiến thức cần học của bài sau Đây là yêu cầu bắt buộc các em phải làm Nếu làm tốt ở khâu này thì việc truyền thụ kiến thức mới của giáo viên là hết sức nhẹ nhàng, đồng thời tạo cho các em có thói quen tra tìm kiến thức mới và thói quen học tập ở nhà
Tóm lại: Nếu giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp trên thì việc
truyền thụ kiến thức bài học đến với học sinh sẽ đạt được kết quả khả quan hơn
Sau khi tôi áp dụng các phương pháp trên, kết quả đạt được như sau:
STT Lớp TSHS trên 5 Điểm TL(%) dưới 5 Điểm TL(%)
1
2
3
4
5
7A1 7A2 7A3 7A4 7A5
34 34 24 17 25
28 29 19 14 19
82.3 85.3 79.2 82.4 76
6 5 5 3 6
17.7 14.7 20.8 17.6 24
Trên đây là một số phương pháp trọng tâm mà tôi đã áp dụng vào thực tiễn, cụ thể là ở các lớp hiện tôi đang giảng dạy Tôi nhận thấy, sau khi áp dụng một số phương pháp trên hiệu quả dạy học đạt được khá cao, đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu bài học đề ra
2 Bài học áp dụng: Bài 10 NGUỒN ÂM
I MỤC TIÊU:
1 Kiến thức
- Nêu được đặc điểm chung của các nguồn âm
- Nhận biết được một số nguồn âm thường gặp trong đời sống
2 Kỹ năng
Trang 4- Quan sát TN kiểm chứng để rút ra đặc điểm của nguồn âm là dao động.
3 Thái độ: Yêu thích môn học.
II THIẾT BỊ DẠY VÀ HỌC
- GV: Dụng cụ thí nghiệm Hình 10.1; 10.2; 10.3; 10.4; 10.5 SGK
- HS: Xem bài mới
III TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC
1 Ổn định: kiểm tra sỉ số
2 Kiểm tra bài cũ:
3 Bài mới
HĐ1: HĐ1: Tổ chức tình
huống học tập như SGK.
HĐ2: Nhận biết nguồn âm.
Yêu cầu HS đọc câu C1,
yêu cầu HS 1 phút yên lặng.
H: Em nghe được những gì?
Và âm đó được phát ra từ
đâu?
GV: Nhận xét chung.
- Những âm thanh mà em
vừa nghe được đó là nguồn
âm.
H: Vậy nguồn âm là gì?
H: Lấy một vài VD về nguồn
âm mà em biết?
GV: Nhận xét chung.
HĐ3: Tìm hiểu đặc điểm
chung của nguồn âm.
GV: Yêu cầu HS đọc TN1
SGK.
H: Vị trí cân bằng của dây
cao su là gì?
GV: Nhận xét đánh giá.
HS: Dự đoán.
HS: Tiếng xe chạy, tiếng cười của HS, gió thổi…
HS: Vật phát ra âm nguồn âm.
Radio, đàn, kèn, trống…
HS: Đọc TN1 SGK.
HS: Vị trí cân bằng của dây cao su là đứng yên, nằm trên đường thẳng.
I Nhận biết nguồn âm.
Vật phát ra âm gọi là nguồn âm.
VD: Đàn ghi ta, trống, kèn…
II Các nguồn âm có chung đặc điểm gì?
Trang 5- Yêu cầu HS đọc câu C3 và
tiến hành làm TN, H.10.1
SGK trong (2').
H: Em quan sát thấy gì và
nghe được gì?
H: Vậy dây cao su phát ra
âm khi nào?
GV: Nhận xét chung.
- Yêu cầu HSø tiến hành làm
TN, H.10.2 SGK trong (2').
GV: Chú ý gõ nhẹ muỗng
vào thành cốc.
H: Vật nào phát ra âm?
H: Em nhận biết điều đó
bằng cách nào?
H: Cốc thuỷ tinh phát ra âm
khi nào?
GV: Nhận xét chung.
GV: Nói về sự dao động
như SGK.
- Yêu cầu HS tiến hành làm
TN, H.10.3 SGK trong (2').
GV: Giới thiệu âm thoa và
phát dụng cụ cho HS.
H: Âm thoa phát ra âm khi
nào?
GV: Nhận xét chung.
H: Em nhận biết điều đó
bằng cách nào?
H: Qua ba TN trên ta thấy
nguồn âm có chung đặc
điểm gì?
- Yêu cầu HS điền vào phần
kết luận SGK.
GV: Nhận xét chung.
HĐ4: Vận dụng
- Yêu cầu HS đọc câu C6
SGK.
HS: Thảo luận trong (1').
HS: Tiến hành làm TN, H.10.1 SGK trong (2').
HS: Dây cao su rung động và phát ra âm.
- Khi dây cao su rung động.
HS: Tiến hành làm TN H.10.2 SGK trong (2').
HS: Cái ly, cái muỗng.
HS: Lấy tay sờ vào thành ly.
HS: Thành cốc thuỷ tinh rung động.
HS: Tiến hành làm TN, H.10.3 SGK trong (2').
HS: Khi âm thoa rung động.
HS: Lấy tay sờ vào âm thoa.
HS: Kết luận: Khi phát ra
âm, các vật đều rung động
(dao động).
HS: Đọc câu C6 SGK Trả lời:
C6: tuỳ theo HS.
Khi phát ra âm, các vật đều rung động
(dao động).
Trang 6Yêu cầu HS trả lời.
GV: Nhận xét.
H: Em hãy lấy VD về nhạc
cụ mà em biết?
H: Bộ phận nào dao động
phát ra âm?
GV: Nhận xét chung.
- Yêu cầu HS đọc câu C8 và
đưa ra phương án của mình.
GV: Nhận xét đánh giá.
GV: Tiến hành TN trong
câu C9.
- Yêu cầu HS lần lượt trả lời
các câu hỏi trong SGK.
GV: Nhận xét đánh giá câu
trả lời của HS.
HS: Đàn ghi ta.
- Dây đàn rung động và phát ra âm.
HS: Đọc câu C8 SGK.
C8: Tuỳ theo HS
C9: a) Ống nghiệm và nước trong ống nghiệm dao động.
b) Ống có nhiều nước nhất phát ra âm trầm nhất, ống có ít nước nhất phát ra âm bỏng nhất.
c) Ống có ít nước nhất phát
ra âm trầm nhất.
Ống có nhiều nước nhất phát ra âm bổng nhất.
4 Tổng kết toàn bài:
- Khi nào vật phát ra âm?
- Nguồn âm là gì? Lấy VD minh hoạ?
- Khi thổi sáo bộ phận nào dao động phát ra âm?
5 Hoạt động nối tiếp.
- Về nhà học bài, xem phần “có thể em chưa biết” Xem trước bài mới.
Bài tập về nhà:
- Tần số dao động là gì? Đơn vị của tần số?
- Dao động nhanh chậm có liên quan gì đến tần số?
- Vật phát ra âm cao hơn khi nào? Mối quan hệ giữa dao động, tần số và âm phát ra?
- Thế nào gọi là hạ âm, siêu âm?
- Làm bài tập 10.1 10.4 SBT.
III KẾT LUẬN.
Trang 7Qua thực tế giảng dạy và kết quả thu được thể hiện ở các bài kiểm tra của HS,
cho thấy phương pháp trên nhằm tăng cường hoạt động tự học của HS đã nêu trên có
những chuyển biến tích cực HS thay đổi nếp học tập thụ động sang tự học chủ động, qua
đó nâng cao dần khả năng làm việc tự lực với SGK cho học sinh Rèn luyện ý thức tự
giác trong học tập của mỗi cá nhân HS , động viên năng lực làm việc của toàn thể lớp,
gây không khí thoải mái, hào hứng trong nhận thức Do đó phát huy được tối đa năng lực
của từng cá nhân dẫn tới cá thể hoá việc học tập tối ưu Rèn luyện cho HS kỹ năng quan
sát, phân tích tổng hợp, so sánh … Đặc biệt nâng cao kỹ năng trình bày, thể hiện trước
tập thể cũng như trong trả lời câu hỏi, trong kiểm tra Ngoài ra còn có thể giải quyết
những khó khăn về thời gian hạn chế của một tiết học Từ đó giảm dần tỉ lệ HS yếu
kém, thu hẹp mức trung bình và từng bước nâng cao dần tỉ lệ HS khá, giỏi với chất lượng
cao
Long phú, ngày 29 tháng 11 năm 2007 Người thực hiện
Hồ Việt Cảnh