Vị trí nhóm cổ phiếu Ngân hàng trên TTCK Việt Nam Ở thời điểm hiện tại, có lẽ khi nhắc đến cổ phiếu Ngân hàng trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì chắc hẳn sẽ có không ít nhà đầu tư
Trang 1BÁO CÁO PHÂN TÍCH NHÓM CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG
1.1 Những vấn đề cơ bản về cổ phiếu ngân hàng
1.1.1 Vị trí nhóm cổ phiếu Ngân hàng trên TTCK Việt Nam
Ở thời điểm hiện tại, có lẽ khi nhắc đến cổ phiếu Ngân hàng trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì chắc hẳn sẽ có không ít nhà đầu tư “ngán ngẩm” mà hồi tưởng lại một thời làm mưa làm gió của nhóm cổ phiếu này Thời mà cổ phiếu ngân hàng được coi là “cổ phiếu vua” trên thị trường Nhưng như vậy không có nghĩa là hiện tại nhóm cổ phiếu này phải nhận sự thờ ơ của nhà đầu tư nhà đầu tư Mà ngược lại, nhóm cổ phiếu này vẫn luôn nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các nhà đầu tư tổ chức cũng như cá nhân Không chỉ
vì cổ phiếu ngân hàng có mức độ an toàn cao mà còn vì cổ phiếu ngân hàng luôn có vị trí hàng đầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam xét trên nhiều khía cạnh Đó là:
- Quy mô vốn hoá
Theo thống kê, nhóm cổ phiếu Ngân hàng là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các cổ phiếu niêm yết trên thị trường, không chỉ về số lượng cổ phiếu lưu hành mà còn về giá trị vốn hóa trên thị trường
Mã CK Khối lượng CP lưu hành Giá trị vốn hóa (nghìn tỷ)
Trang 2Theo bảng trên thì đến thời điểm chốt phiên giao dịch ngày 17/09/2010, nhóm 6 cổ phiếu ngân hàng niêm yết chiếm tới 19,88% giá trị vốn hóa thị trường, số lượng cổ phiếu lưu hành chiếm tới 33,4% toàn thị trường, cao hơn tất cả các nhóm ngành khác Theo cách tính điểm của chỉ số VN-Index thì quyến số trong công thức tính chỉ số này chính là số lượng chứng khoán niêm yết thời kì tính toán Như vậy với một số lượng lớn cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên HOSE (khoảng 38%) thì có thể thấy sự nhạy cảm của chỉ số VN-Index với sự biến động của nhóm cổ phiếu Ngân hàng là khá cao
- Sự tác động đến diễn biến chung của thị trường
Theo thống kê về quy mô vốn hóa ở trên thì nhóm cổ phiếu ngân hàng là nhóm cổ phiếu chiếm phần lớn trong quy mô thị trường Dẫn đến sự biến động của nhóm cổ phiếu này sẽ quyết định rất lớn đến xu hướng của thị trường, ít nhất là biến động của chỉ số chung Hơn nữa, do vai trò quan trọng của ngành ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế nên sự biến động của cổ phiếu ngân hàng cũng gây ra những tác động gián tiếp tới các nhóm ngành khác
Thực tế lịch sử cho thấy, nhóm cổ phiếu ngân hàng luôn tăng đầu tiên khi thị trường bắt đầu có dấu hiệu bước vào một chu kỳ tăng điểm Hay nói cách khác, lịch sử khởi đầu một con sóng tăng điểm của thị trường thường là sự bật dậy trước tiên của cổ phiếu ngân hàng
Và diễn biến thị trường thời gian qua là một minh chứng rõ nét cho điều này
Như vậy, sự biến động giá hàng ngày của các cổ phiếu ngân hàng sẽ không chỉ có tác động không nhỏ tới chỉ số của thị trường mà còn tới xu hướng của thị trường chứng khoán
- Chỉ báo tâm lý giới đầu tư
Với 2 khía cạnh trên, có thể khẳng định cổ phiếu ngân hàng là chỉ báo khá tốt cho xu thế của thị trường, đặc biệt là xu thế ngắn hạn Nhiều nhà đầu tư coi sự biến động của nhóm
cổ phiếu này là một chỉ báo tâm lý cho giới đầu tư trước những tín hiệu thay đổi trend của thị trường Sự biến động giá cổ phiếu của nhóm ngành này có thể được coi là chỉ báo khả năng thị trường đảo chiều tăng điểm trong downtrend hay chỉ báo khả năng thị trường đảo chiều giảm điểm trong uptrend
- Sự tương quan giữa nhóm cổ phiếu ngân hàng với các nhóm ngành khác
Trang 3Để thấy được mối tương quan giữa nhóm cổ phiếu ngân hàng với các nhóm ngành khác,
ta xem xét biểu đồ sau
Biểu đồ so sánh số công ty, giá trị vốn hóa ngành (update đến ngày 17/9/2010)
Số liệu trên biểu đồ cho thấy, nhóm ngành ngân hàng chỉ với con số 7 công ty (PVFC cũng có thể được coi là 1 ngân hàng) nhưng lại là nhóm ngành có giá trị vốn hóa cao thứ 2 trên thị trường Nó thể hiện mức độ ưu thế của nhóm cổ phiếu ngành này so với các nhóm ngành còn lại trong nền kinh tế
Tóm lại, với những cơ sở phân tích như trên chúng ta có thể khẳng định vị thế quan trọng của nhóm cổ phiếu ngành này trên thị trường chứng khoán Nó giải thích một điều là không phải ngẫu nhiên cổ phiếu ngành này lại được mệnh danh là cổ phiếu “vua” Tuy nhiên nếu xét đến diễn biến 2 năm trở lại đây của nhóm ngành này nói riêng và của cả thị trường nói chung thì chắc hẳn nhiều nhà đầu tư sẽ đặt ra câu hỏi rằng cổ phiếu ngành ngân hàng hiện tại có còn là “vua” Và nếu là vua thì khi nào “vua” sẽ trở lại ngai vàng ?
1.1.2 Quan điểm giới đầu tư về cổ phiếu Ngân hàng
Để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư, nhà đầu tư cần nắm vững nguyên tắc “top - down” trong hoạt động phân tích Đây là nguyên tắc phân tích cơ bản từ kinh tế vĩ mô đến
ngành, rồi đến doanh nghiệp
Thực tế, trước khi có quyết định đầu tư vào cổ phiếu của một doanh nghiệp, giới đầu tư luôn quan tâm đến yếu tố “ngành” của công ty đó Bởi yếu tố ngành sẽ quyết định rất lớn
Trang 4đến hiệu quả hoạt động, vị thế tài chính và triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp Và trong quan niệm của một số lượng lớn nhà đầu tư thì ngành ngân hàng chính là ngành thể hiện rõ nhất điều đó Đặc biệt, cổ phiếu ngân hàng cũng luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức, các nhà đầu tư và các nhà tạo lập thị trường
Trở lại giai đoạn 2006 – 2007, khi mà cổ phiếu ngân hàng được mệnh danh là cổ phiếu
“vua” trên thị trường chứng khoán Việt Nam ta có thể thấy các nhà đầu tư đã rất ưa chuộng
cổ phiếu thuộc nhóm ngành này
Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, sự hấp dẫn của cổ phiếu ngân hàng với các nhà đầu tư
có vẻ như đã giảm sút Có thể tính an toàn vẫn cao nhưng sự đột biến về lợi nhuận khi tham gia đầu tư nhóm cổ phiếu này lại không hấp dẫn Và phần lớn giới đầu tư giai đoạn này đều quan niệm rằng cổ phiếu ngân hàng hiện tại vẫn tăng trưởng ổn định, triển vọng tốt nhưng khó làm giá, ít có thông tin bất ngờ nên mức độ hấp dẫn về lợi nhuận là không cao Như vậy chúng ta có thể thấy được một sự thay đổi rất lớn trong quan niệm của nhà đầu tư về cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn này so với giai đoạn 2006 – 2007 Đó là:
- Về mức độ rủi ro (hệ số an toàn)
Nhóm cổ phiếu Ngân hàng vẫn là nhóm cổ phiếu có mức thanh khoản cao nhất trên thị trường, tuy nhiên thực tế diễn biến thị trường chứng khoán từ đầu năm 2010 tới nay cho thấy tỷ suất lợi nhuận khi đầu tư vào nhóm cổ phiếu này vẫn ở mức thấp Đặc biệt khi sức cung cổ phiếu nhóm ngành này ngày càng tăng trong khi tỷ suất cổ tức ở mức thấp càng trở thành nỗi lo của không ít cổ đông nắm giữ và những nhà đầu tư đang có ý định nắm giữ cổ phiếu ngân hàng
Mặt khác, quy định tại thông tư 13 (chính thức có hiệu lực từ ngày 01-10-2010) về tỷ
lệ an toàn vốn CAR cũng sẽ tạo ra một áp lực không nhỏ đối với các ngân hàng trong việc đảm bảo các tỷ lệ theo quy định Điều này nói chung cũng đã có tác động lớn tới sự quan tâm của nhà đầu tư với cổ phiếu Ngân hàng
- Về mức độ hấp dẫn lợi nhuận
Trái với giai đoạn 2006 -2007 khi cổ phiếu ngân hàng đã đem lại lợi nhuận rất cao cho các nhà đầu tư thì trong giai đoạn hiện tại cố phiếu thuộc nhóm ngành này lại là một trong những ngành đem lại mức lợi nhuận thấp nhất Theo lý giải của nhiều chuyên gia thì đó là
Trang 5do cổ phiếu ngành này ít có thông tin đột biến hỗ trợ Đặc biệt khi mà nền kinh tế vẫn đang trong giai đoạn hồi phục, và ngành ngân hàng vẫn là ngành đóng vai trò hỗ trợ quan trọng cho sự hồi phục đó
Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là cổ phiếu ngành này hiện tại ít được quan tâm Trái lại, nhóm cổ phiếu ngành này lại luôn được các chuyên gia chứng khoán khuyên nhà đầu tư nên “nhặt” để cho vào “giỏ” đầu tư của mình Vậy đâu là nguyên nhân?
Thứ nhất, các chuyên gia cho rằng trong 6 tháng cuối năm 2010 và các giai đoạn tới,
nền kinh tế sẽ chính thức hồi phục sau khủng hoảng, các doanh nghiệp tăng cường mở rộng sản xuất, dịch vụ tài chính sẽ sôi động Và cổ phiếu ngân hàng đã có thời kì tích lũy khá lâu được kỳ vọng sẽ vực dậy trên thị trường
Thứ hai, là các yếu tố hỗ trợ cho sự phát triển của ngành ngân hàng trong năm 2010
Đó là nhưng quy định về quản lý nợ xấu từ tín dụng bất động sản, sự quản lý điều hành kinh
tế của chính phủ, của Ngân hàng nhà nước theo hướng hỗ trợ tích cực cho sự hồi phục và phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng
Tuy nhiên các nhà đầu tư cũng cần phải lưu ý tới vấn đề “pha loãng” đối với nhóm cổ phiếu ngành này Điều này có thể sẽ làm giảm chất lượng của các cổ phiếu ngân hàng đang niêm yết hiện nay
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá CPNH
Giá cổ phiếu Ngân hàng trên thị trường được quyết định bởi quan hệ cung cầu của nhà đầu
tư Sự biến động giá của cổ phiếu nhóm ngành này chịu tác động chính từ các yếu tố sau:
Yếu tố khách quan
- Tình hình nền KT quốc dân , khu vực và thế giới
Thường thì giá cổ phiếu sẽ có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển (và có xu hướng giảm khi nền kinh tế chững lại hay rơi vào suy thoái) Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh sẽ có triển vọng tốt đẹp, nguồn lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư sẽ lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ Và như vậy, nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu
- Diễn biến chung của thị trường chứng khoán
Trang 6Cổ phiếu nhóm ngành ngân hàng là 1 trong 19 nhóm ngành (ngành cấp 2) trên thị trường chứng khoán Việt Nam Và như vậy sự biến động của nhóm cổ phiếu này cũng sẽ chịu tác động từ xu thế chung của thị trường chứng khoán Hay nói cách khác, khi thị trường tích cực thì cổ phiếu ngân hàng cũng sẽ tăng lên và ngược lại
- Mục tiêu chính sách tiền tệ
Ngân hàng trung ương sẽ căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế và công cụ truyền dẫn
là hệ thống ngân hàng để thực hiện điều hành chính sách tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu quan trọng như bình ổn giá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm thất nghiệp Và như vậy, hiệu quả trong hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ chịu tác động rất lớn từ các yếu tố chính sách
- Các yếu tố quốc tế (các đối tác chiến lược nước ngoài)
Với một thị trường rất nhạy cảm với thông tin như thị trường chứng khoán Việt Nam thì thông tin về động thái của các cổ đông chiến lược của các ngân hàng sẽ nhận được rất nhiều sự quan tâm từ phía các nhà đầu tư trong nước Bất kì một sự thay đổi nào về tỷ lệ sở hữu cổ phiếu ngân hàng của các tổ chức này sẽ có tác động rất lớn tới quyết định mua bán của nhà đầu tư Không chỉ với riêng nhóm cổ phiếu ngân hàng mà còn cả với các cổ phiếu khác trên thị trường Có thể lấy ví dụ về vụ thoái vốn của Ngân hàng ANZ đối với mã cổ phiếu STB vào thời điểm đầu năm 2010
Yếu tố chủ quan
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh
Một yếu tố quan trọng trong phương pháp phân tích cơ bản đối với một mã cổ phiếu
đó là nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Bởi điều này sẽ quyết định đến giá trị doanh nghiệp, từ đó nó sẽ tác động đến sự biến động giá của
cổ phiếu trong tương lai Vì vậy các nhà đầu tư khi phân tích cần hết sức chú ý đến vấn đề này, đặc biệt là hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng
- Tiến trình tăng vốn
Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ thì đến cuối năm 2010, các ngân hàng thương mại phải bảo vốn điều lệ tối thiểu đạt 3.000 tỉ đồng Thực tế, đứng trước áp lực
Trang 7này các ngân hàng tỏ ra khá tự tin nhưng tuy nhiên thì với tình hình thị trường chứng khoán không được khả quan như hiện nay thì quy định trong NĐ 141 lại là một áp lực lớn cho việc tăng vốn thành công Bởi chắc chắn việc tăng vốn phải đi kèm với việc mở rộng bộ máy,
mở rộng quy mô, tăng tài sản, lợi nhuận…Điều này chắc chắn sẽ tác động mạnh đến hiệu quả hoạt động của chính ngân hàng
1.2 Phân tích nhóm cổ phiếu Ngân hàng
1.2.1 Tính đặc thù của ngành Ngân hàng
Để đầu tư có hiệu quả, nhà đầu tư cần có phương pháp phân tích phù hợp với từng danh mục cổ phiếu, đặc biệt là cổ phiếu ngân hàng Bởi đây là cổ phiếu của một nhóm ngành đặc thù trong nền kinh tế Tính đặc thù của ngành ngân hàng được thể hiện qua các khía cạnh
- Vai trò của ngành ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế
Ngân hàng thương mại dù ở quốc gia nào cũng là nhịp cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế Với vai trò là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, các ngân hàng thường xuyên tác động đến bộ máy kinh tế thông qua các chức năng chính là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và tạo tiền Nhờ đó mà các hoạt động trong nền kinh tế được bôi trơn một cách có hiệu quả
- Mặt xích truyền dẫn và thực hiện chính sách tiền tệ
Để thực hiện mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ một cách có hiệu quả, Ngân hàng trung ương cần sử dụng linh hoạt các công cụ điều tiết lượng tiền trong lưu thông nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như thúc đẩy tăng trưởng, hạn chế thất nghiệp và đặc biệt
là ổn định tiền tệ Phần lớn các công cụ đó chỉ được thực thi hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực từ phía các ngân hàng thương mại như việc chấp hành các quy định, quy chế về thanh toán, cho vay hay việc nâng cao hiệu quả hoạt động Thông qua các ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông, thực hiện điều hành chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất một cách có hiệu quả
- Loại hình hoạt động nhiều rủi ro
Với đặc điểm chính là kinh doanh tiền tệ, thực hiện chức năng chuyển hóa tài sản, huy động và đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế thì hoạt động của ngân hàng luôn phải đối
Trang 8mặt với rủi ro Từ rủi ro tài chính như rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản đến rủi ro phi tài chính như rủi ro hoạt động, danh tiếng và rủi ro pháp luật
Với những đặc điểm mang tính đặc thù của ngành như trên, đòi hỏi phải có một phương pháp phân tích phù hợp đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng Và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành từ việc phân tích môi trường kinh doanh, đánh giá tình hình hoạt động, tổng hợp giao dịch, nhận định triển vọng, phân tích định giá và phân tích kỹ thuật một danh mục cổ phiếu ngân hàng
1.2.2 Phân tích môi trường kinh doanh
Khi phân tích môi trường kinh doanh của ngành ngân hàng nhóm nghiên cứu sẽ sử dung mô hình PESTLE (Political, Economic, Social, Technological, Legal and Enviromental) Tuy nhiên, sẽ không đi sâu vào phân tích từng yếu tố, mà chỉ phân tích về tình hình kinh tế vĩ mô, tác động tổng quát tới hoạt động của các ngân hàng và điểm nổi bật của tình hình kinh tế 8 tháng đầu năm 2010 để có cái nhìn tổng quan về môi trường kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Tiếp tục thực hiện điều hành chính sách tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế ở Việt Nam trong năm 2009 thì NHNN đã đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ cho năm 2010 một cách linh hoạt, thận trọng, chặt chẽ để kiểm soát tốt mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng đối với nền kinh tế, điều hành lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán của các hệ thống ngân hàng, góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010
Điểm nổi bật trong việc điều hành chính sách tiền tệ 8 tháng đầu năm đó là những chuyển biến tích cực của nền kinh tế khi tính đến cuối tháng 8 tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng ước tăng 17,75% so với cuối năm 2009 Tín dụng đối với nền kinh tế đến cuối tháng 8 năm 2010 ước tăng 16,27% so với cuối năm 2009 Tổng phương tiện thanh toán tháng 8 năm 2010 ước tăng 16,31% so với cuối năm 2009
Bên cạnh những yếu tố tác động từ môi trường vĩ mô thì mức độ cạnh tranh trong ngành cũng đặt ra các thách thức không nhỏ cho các ngân hàng thương mại Các ngân hàng luôn phải nâng cao mức độ hấp dẫn về lãi suất cũng như chất lượng dịch vụ để thu hút tiền gửi từ khách hàng cũng như việc cho khách hàng vay Mức độ cạnh tranh càng cao khi có
Trang 9sự xuất hiện thêm của nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài Bởi các ngân hàng ngoại này không vướng vào những rào cản mà nhiều ngân hàng trong nước đang mắc phải Điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấu trong cho vay bất động sản Hay lợi thế về công nghệ, dịch vụ Internet banking
Như vậy thông qua việc phân tích môi trường kinh doanh, chúng ta sẽ thấy được cơ hội và thách thức đối với các ngân hàng thương mại của Việt Nam Để từ đó tạo cơ sở cho việc đánh giá chính xác tình hình hoạt động của các Ngân hàng, tạo tiền đề cho sự đổi mới, hoàn thiện hệ thống
1.2.3 Đánh giá tình hình hoạt động của các Ngân hàng
1.2.3.1 Thông qua các báo cáo tài chính
Trên cơ sở các báo cáo tài chính, nhóm nghiên cứu sẽ tính toán và so sánh một số chỉ tiêu tài chính “đặc trưng” trong phân tích cổ phiếu, đại diện cho 4 ngân hàng VCB, CTG, ACB &
STB, bên cạnh đó sẽ xem xét một số chỉ tiêu tài chính của ngành
Số liệu update tính toán ngày 17/09/2010
Theo bảng trên ta có thể rút ra nhận xét cơ bản về tình hình hoạt động của các ngân
hàng như sau:
Do đặc trưng tính chất hoạt động của ngân hàng nên các ngân hàng thường duy trì một
hệ số nợ cao (hệ số ROA thấp hơn nhiều so với ROE)
Nếu căn cứ theo chỉ tiêu ROE thì VCB là ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt nhất trong số các ngân hàng niêm yết ROE tính đến thời điểm 17/9 đạt 27,6%, cao hơn rất nhiều
so với trung bình của ngành (20,7%) Điều này được lý giải phần nào do nguồn vốn chủ sở
Trang 10hữu tăng thấp hơn tốc độ tăng của lợi nhuận Cho thấy triển vọng hiệu quả hoạt động của VCB trong các tháng còn lại của năm 2010
Hệ số P/E cơ bản của các ngân hàng đều ở mức thấp so với P/E của các ngành khác, cũng như của toàn thị trường khi P/E cơ bản của toàn thị trường trên HOSE hiện là 14,7 và của HNX hiện là 12.1 (Theo stoxpro 2.4 update ngày 17/9/2010)
EPS 4 quý gần nhất của các Ngân hàng duy trì ở mức từ 2300 đến 3600 đồng/cp Như vậy nếu xét theo chỉ tiêu này thì cổ phiếu Ngân hàng không thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư Tuy nhiên, nếu nhìn vào từng cổ phiếu thì hầu hết các cổ phiếu ngân hàng hiện đều đang có mức P/E rất hấp dẫn (nhỏ hơn 10x)
Xét theo hệ số β thì hầu hết các ngân hàng đề có hệ số này nhỏ hơn 1 Cho thấy mức độ rủi ro khi đầu tư vào 1 cổ phiếu ngân hàng hay 1 danh mục các cổ phiếu ngân hàng trong tương quan với toàn bộ thị trường là thấp Đặc biệt là ở Việt Nam, khi mà ngành ngân hàng vẫn là ngành đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế và nhận được rất nhiều sự ưu đãi từ phía Chính phủ cũng như sự hỗ trợ từ phía NHNN
1.2.3.2 Thông qua mô hình Camels
Trong phần trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá tổng quan nhất về cổ phiếu Ngân hàng thông qua 1 số chỉ tiêu tài chính đặc trưng Và để làm rõ hơn về tình hình hoạt động, chúng tôi sẽ sử dụng mô hình Camels với 6 bộ chỉ số: C (mức độ an toàn vốn),
A (Chất lượng tài sản có), M (Chất lượng quản lý), E (Lợi nhuận), L (Thanh khoản) và S (Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường) để phân tích
- Về mức độ an toàn vốn (Capital adequacy)
Ta xét 2 chỉ tiêu theo bảng sau:
Các chỉ tiêu được tính tại thời điểm 30/6/2010
Như vậy về cơ bản, các ngân hàng hiện đều đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực
Và việc tỷ lệ CAR được điều chỉnh từ mức 8% lên 9% theo thông tư 13/NHNN ban hành
Trang 11ngày 20/9 (có hiệu lực chính thức từ ngày 01/10/2010) sẽ là một bước nhảy để đảm bảo sự
an toàn của cả hệ thống Nó đặt nền móng cho hệ thống Ngân hàng Việt Nam có thể tiếp cận với chuẩn mực của thế giới
Số liệu được tính cho 6 tháng đầu năm 2010
+ Chất lượng tài sản được xem xét thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
+ Chất lượng quản lý: Số lượng thành viên HĐQT, BKS
+ Lợi nhuận: LNTT/VCSHbq, Thu DV/Tổng TN (>20% ở tất cả các ngân hàngThanh khoản: K năng TT ngay = TSC có thể TT ngay/TSN có thể TT ngay, ), đảm bảo các quy định về cho vay của NHNN
+ Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường: GAP = RSA – RSL, các Ngân hàng sẽ đồng thời kết hợp chiến lược quản lý chênh lệch mang tính bảo vệ và chiến lược quản lý chênh lệch năng động để hạn chế rủi ro, đặc biệt là rủi ro lãi suất
Như vậy, theo quy định xếp loại NHTMCP trong Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN thì 4 ngân hàng trên đều đạt đủ tiêu chuẩn về xếp loại A Các chỉ tiêu đã được đánh giá xếp loại bao gồm: Vốn tự có, Chất lượng tài sản, năng lực quản trị, kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng thanh khoản
1.2.4 Giao dịch cổ phiếu Ngân hàng 6 tháng đầu năm
1.2.4.1 Đặc điểm giao dịch của cổ phiếu Ngân hàng
Trang 12Với vị trí, vai trò đặc biệt của cổ phiếu ngân hàng trên thị trường chứng khoán theo phân tích như trên thì giao dịch của loại cổ phiếu này cũng mang một số nét đặc trưng nhất định Đó là:
Thứ nhất, là tính thanh khoản cao
Với sự an toàn cao, cổ phiếu ngân hàng luôn là sự lựa chọn hàng đầu của những nhà đầu tư ít ưa mạo hiểm Đặc biệt là các tổ chức, các quỹ đầu tư hay chính các ngân hàng Chính vì vậy mà cổ phiếu ngân hàng được xếp vào nhóm cổ phiếu có tính thanh khoản tốt nhất thị trường Có thể thấy rõ đặc điểm này trong giai đoạn từ đầu năm 2010 đến nay khi
mà tổng khối lượng khớp lệnh của cổ phiếu ngân hàng luôn chiếm tỷ lệ rất cao so với tổng khối lượng toàn thị trường Theo số liệu thống kê thì nhóm cổ phiếu này chiếm trung bình 9,34% tổng khối lượng khớp lệnh toàn thị trường, trong đó riêng 3 tháng đầu năm con số này lên tới 16% và đóng một vai trò quan trọng giúp VN-Index tăng điểm Tại HOSE, dẫn đầu top thanh khoản tháng 1/2010 thuộc về mã STB của Ngân hàng Sacombank, với hơn 50,20 triệu đơn vị được chuyển nhượng trong tháng Như vậy trung bình mỗi phiên, STB giao dịch 2,51 triệu đơn vị Còn EIB mới chào sàn HOSE trong năm 2009 nhưng cũng đã trở thành cổ phiếu khá “hot” khi được khối ngoại thường xuyên vét cạn “room” Ngoài STB
và EIB thì các cổ phiếu ngân hàng còn lại như VCB, CTG, ACB hay SHB đều có mức thanh khoản rất cao trên thị trường Số liệu thống kê cho thấy trong 6 tháng đầu năm thanh khoản của nhóm cổ phiếu ngân hàng vẫn đứng đầu thị trường khi tổng khối lượng giao chuyển nhượng của 6 mã ngân hàng so với tổng khối lượng khớp lệnh của cả 2 sàn thường
ở mức cao Đỉnh điểm là phiên giao dịch 02/03/2010, khi mà tổn khối lượng khớp lệnh của
6 mã cổ phiếu ngân hàng chiếm tới 16,3% khối lượng khớp lệnh của cả 2 sàn
Thứ hai, giá biến động trong biên độ hẹp
Từ đầu năm đến nay giá của nhóm cổ phiếu ngân hàng thường biến động trong biên độ hẹp, đặc biệt là giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7/2010 Điều này được lý giải một phần do khối lượng cổ phiếu lưu hành của các ngân hàng ở mức rất cao, ít có thông tin bất ngờ nên khó làm giá
Thứ ba, sự phân hóa giữa các cổ phiếu trong ngành
Thời gian qua, các cổ phiếu ngân hàng có sự phân hóa mạnh khi EIB, ACB và CTG được các nhà đầu tư quan tâm hơn cả Hơn nữa, trong khi tỷ lệ trung bình 1 lệnh mua/ trung bình 1 lệnh bán bán của các ngành khác trên thị trường thường chỉ dao động trong khoảng
từ 1.0 - 1.5 thì tỷ lệ này của nhóm cổ phiếu ngân hàng thường dao động quanh mức 2
Trang 13Riêng EIB, ACB, CTG thì tỷ lệ này là 3, có giai đoạn lên tới 4 Điều này có thể lí giải là do trong thời gian vừa qua, nhờ lợi thế về quy mô kết quả hoạt động của 3 ngân hàng trên khá tốt Ví dụ như ACB là Ngân hàng có hiệu quả hoạt động tốt nhất trong các Ngân hàng thương mại khi ROE trung bình 3 năm qua đạt 28,17%, cao hơn rất nhiều so với trung bình của ngành
1.2.4.2 Tổng hợp giao dịch cổ phiếu Ngân hàng 6 tháng đầu năm
Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2010 của nhiều ngân hàng cho thấy mức lợi nhuận ở mức khá cao Điểm chung của các báo cáo này là lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tăng khá mạnh so với cùng kỳ năm trước và vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng lợi nhuận của các ngân hàng Sáu tháng đầu năm nay, lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) đạt gần 823 tỉ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái Trong khi đó Sacombank, lợi nhuận sau thuế của ngân hàng này cũng tăng gần 50%, đạt mức 1.029 tỉ đồng với thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng có mức tăng trưởng gần 30%, trong khi tăng trưởng doanh thu từ dịch vụ chỉ là 19%
Tuy nhiên, sau khi các ngân hàng công bố các con số khả quan về lợi nhuận, nhiều nhà đầu tư vẫn dửng dưng với loại cổ phiếu từng được mệnh danh là "cổ phiếu vua" trên thị trường chứng khoán và giá cổ phiếu của các ngân hàng niêm yết trên sàn còn có xu hướng giảm Thống kê cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2010, ngân hàng luôn là ngành có tỷ lệ giảm điểm mạnh nhất so với mặt bằng chung của thị trường, chỉ số ngành Ngân hàng (VN-Bank) đã điều chỉnh giảm 22,25% và đang đi ngang trong giai đoạn cuối tháng 5 đến nay Điều này đang phản ánh thực trạng các mã chứng khoán nhóm ngành Ngân hàng đã không còn hot như trước Nhà đầu tư có thể thấy rõ điều này khi tìm hiểu 1 số yếu tố như lịch sử giá, kết quả giao dịch, giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, hay của cổ đông lớn, cổ đông nội bộ đối với mã cổ phiếu Ngân hàng, thông qua bảng thống kê sau:
Mã Cp Giá (đ) Khối lượng khớp lệnh (CP) Khối lượng khớp
lệnh trung bình
175 phiên (CP)
Cao nhất
Thấp nhất