1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGƯỜI lái đò SÔNG đà NGUYỄN TUÂN

38 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 97,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả công tác ôn thi Trung học phổ thông Quốc gia (THPT QG) là đích hướng tới của các nhà trường. Để hoạt động này thực sự hiệu quả và có tính chuyên môn cao thì việc tổ chức hội thảo chuyên đề là việc vô cùng cần thiết. Đáp ứng yêu cầu đó của ngành giáo dục, mỗi môn học cần xây dựng hệ thống các chuyên đề bồi dưỡng ôn thi THPTQG chuẩn để làm tài liệu dùng chung cho các đơn vị. Trong chương trình Ngữ văn 12 có trích dẫn khá nhiều tác phẩm với nhiều thể loại phong phú. Trong đó, các tác phẩm là truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch.... thì việc hoạt động dạy học diễn ra tương đối thoải mái, các thầy cô nhận được nhiều sự tương tác từ phía học sinh và thu được những kết quả tốt sau các giờ dạy. Nhưng riêng đối với tác phẩm văn học viết theo thể loại kí thì ngược lại. Việc giảng dạy văn bản kí đòi hỏi người dạy phải nắm chắc đặc điểm thể loại, đó là tính xác thực. Trong tác phẩm kí tác giả thường không hư cấu mà chỉ lựa chọn những sự việc, những con người có giá trị nổi bật trong cuộc sống để phóng bút. Nếu thầy cô chỉ thỏa mãn với kiến thức có sẵn trong văn bản thì khó giảng hay được, dẫn đến giờ học bài kí muôn thuở vẫn khô khan, học sinh khó tiếp nhận được văn bản. Vì thế, có thể nói rằng giảng dạy một tác phẩm kí là sự khó khăn, vất vả, công phu đối với giáo viên, thậm chí sau khi học xong, nhiều học sinh vẫn chưa hình thành được kĩ năng đọc hiểu thể kí.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG ÔN THI THPT QUỐC GIA

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ- NGUYỄN TUÂN

( NGỮ VĂN 12)

Đối tượng học sinh: Lớp 12

Số tiết bồi dưỡng: 07 tiết

A LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

Nâng cao hiệu quả công tác ôn thi Trung học phổ thông Quốc gia (THPTQG) là đích hướng tới của các nhà trường Để hoạt động này thực sự hiệu quả và cótính chuyên môn cao thì việc tổ chức hội thảo chuyên đề là việc vô cùng cần thiết.Đáp ứng yêu cầu đó của ngành giáo dục, mỗi môn học cần xây dựng hệ thống cácchuyên đề bồi dưỡng ôn thi THPTQG chuẩn để làm tài liệu dùng chung cho cácđơn vị

Trong chương trình Ngữ văn 12 có trích dẫn khá nhiều tác phẩm với nhiềuthể loại phong phú Trong đó, các tác phẩm là truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch thì việc hoạt động dạy học diễn ra tương đối thoải mái, các thầy cô nhận đượcnhiều sự tương tác từ phía học sinh và thu được những kết quả tốt sau các giờ dạy.Nhưng riêng đối với tác phẩm văn học viết theo thể loại kí thì ngược lại Việc giảngdạy văn bản kí đòi hỏi người dạy phải nắm chắc đặc điểm thể loại, đó là tính xácthực Trong tác phẩm kí tác giả thường không hư cấu mà chỉ lựa chọn những sựviệc, những con người có giá trị nổi bật trong cuộc sống để phóng bút Nếu thầy côchỉ thỏa mãn với kiến thức có sẵn trong văn bản thì khó giảng hay được, dẫn đếngiờ học bài kí muôn thuở vẫn khô khan, học sinh khó tiếp nhận được văn bản Vìthế, có thể nói rằng giảng dạy một tác phẩm kí là sự khó khăn, vất vả, công phu đốivới giáo viên, thậm chí sau khi học xong, nhiều học sinh vẫn chưa hình thành được

kĩ năng đọc hiểu thể kí

Trang 2

Để công tác ôn thi THPT QG tránh khỏi những trở ngại trên, tôi tập trung biên soạn

nội dung ôn tập thể loại kí hiện đại Việt Nam qua tùy bút Người lái đò sông Đà của

Nguyễn Tuân Hi vọng rằng, học sinh sẽ hình thành được năng lực đọc hiểu, cảmnhận, phân tích tác phẩm một cách nhuần nhuyễn nhất, giải quyết được tất cả các

đề thi theo phân loại mức độ trong cấu trúc đề thi THPTQG

B NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

I MỤC TIÊU

1 Về kiến thức

- Học sinh nắm được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích, thấyđược vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cuộc sống, con người và quê hương qua nhữngtrang viết chân thực, đa dạng, hấp dẫn của Nguyễn Tuân

- Cảm nhận được vẻ đẹp của con sông Đà và hình tượng người lái đò.Từ đó hiểuđược tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên và con người laođộng ở miền Tây Bắc tổ quốc

- Hiểu một số đặc điểm và sự đóng góp của thể loại kí Việt Nam từ sau Cách mạngtháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX

- Hiểu được đặc điểm, đặc trưng phản ánh hiện thực đời sống của thể loại kí: chânthực, đa dạng, phong phú

- Hiểu được đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm, văn phong tài hoa, uyên bác củaNguyễn Tuân

- Nắm chắc và phân biệt được các dạng đề, từ đó biết cách xử lý các dạng đề

2 Về kĩ năng

- Biết cách đọc– hiểu một tác phẩm kí hiện đại theo đặc trưng thể loại

- Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học

- Nhận ra được đề tài, chủ đề, cảm hứng thẩm mĩ, vẻ đẹp hình tượng, các biện phápnghệ thuật của trích đoạn kí

3 Về thái độ

- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên

- Ngợi ca và trân trọng những con người lao động bình dị

- Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước

- Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

4 Hình thành năng lực

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến thể loại kí hiện đại Việt Nam

– Năng lực đọc – hiểu các tác phẩm kí hiện đại Việt Nam

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về kí văn học

Trang 3

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành tựu, hạn chế, những đặc điểm

cơ bản, giá trị của những tác phẩm kí văn học

– Năng lực phân tích, so sánh đặc điểm của các thể loại kí: tuỳ bút, bút kí, hồi kí,nhật kí

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận

5 Phát triển phẩm chất

- Biết nhận thức được ý nghĩa của kí hiện đại Việt Nam trong lịch sử văn học dântộc

- Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà kí hiện đại đem lại

- Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong kí hiện đại Việt Nam

II Bảng mô tả mức độ nhận thức của học sinh

Nội

Vận dụng Vận dụng thấp Vận dụng cao

– Khái quátđược đặc điểmphong cách tácgiả từ tác phẩm

– Vận dụng hiểubiết về tác giả,hoàn cảnh ra đờicủa tác phẩm đểphân tích giá trịnội dung, nghệthuật của tác

– So sánh phongcách của các tácgiả

- Nắm được sựviệc chính trongkí

– Biết vận dụngđặc điểm thể loại

kí ghi chép lạicác sự việc đãchứng kiến hoặctrải qua

– HS vận dụng,lựa chọn đượccác đề tài gầngũi trong cuộcsống để ghi

– HS biết hệthống, xâu chuỗicác tác phẩmcùng đề tài chủ

đề để khái quát

Trang 4

– HS hiểu được ýnghĩa các chi tiết,các hình ảnh, tiêubiểu đặc sắctrong các tácphẩm kí ViệtNam hiện đại đãhọc.

– Dụng ý củatác giả khi miêu

tả các hình ảnh,chi tiết tiêu biểuđặc sắc trongcác tác phẩm kíViệt Nam hiệnđại đã học

– HS viết đượcđoạn văn hoànchỉnh bộc lộ cảmnhận của bảnthân về ý nghĩamột số hình ảnh,chi tiết tiêu biểuđặc sắc trong cáctác phẩm kí ViệtNam hiện đại đãhọc

– Từ ý nghĩa nộidung các tácphẩm, HS biếtliên hệ, rút ranhững bài họcsâu sắc cho bảnthân, biết điềuchỉnh những suynghĩ, hành vicủa bản thân đểhoàn thiện mình.– HS biết sosánh ý nghĩa nộidung, tư tưởngcủa các tácphẩm

– HS hiểu đượctác dụng của các

HS biết trìnhbày cảm nhận

về giá trị nghệthuật của nhữngchi tiết, hìnhảnh, biện pháp

tu từ…

– HS biết vậndụng ghi chépdạng thể kí, hồi

kí trong đó có sửdụng các biệnpháp tu từ, kếthợp tự sự vớimiêu tả, biểucảm, vận dụng

Trang 5

pháp tu

từ…) tác phẩm

BPTT

các hình ảnh chitiết của các nhàvăn một cách

III HỆ THỐNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO

1 Ôn tập chung về tác giả và tác phẩm

1.1 Tác giả

- Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn

- Ông là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo

- Là nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân sáng tác nhiềuthể loại song đặc biệt thành công ở thể tùy bút

- Tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân về thể loại tùy bút là tập Sông Đà (1960) mà tiêu biểu nhất là tác phẩm Người lái đò Sông Đà.

1.2 Tác phẩm

- “Người lái đò Sông Đà” được Nguyễn Tuân sáng tác trong những chuyến đi thực

tế gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc xa xôi, rộng lớn

- Bài tùy bút được in trong tập “Sông Đà” xuất bản năm 1960

- Bài tùy bút đã khắc họa thành công vẻ đẹp đa dạng của con sông Đà vừa hungbạo vừa trữ tình cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng song ấy

2.1 Hình tượng con sông Đà

Con sông Đà trên trang văn của Nguyễn Tuân hiện lên như một “nhân vật” có haitính cách trái ngược: hùng vĩ, hung bạo và trữ tình, thơ mộng

2.1.1 Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo

– Con sông Đà hũng vĩ, hung bạo được tác giả khắc họa theo trình tự không gian,bằng nhiều chi tiết đặc sắc Trước hết Sông Đà hùng vĩ ở cảnh “đá bờ sông dựngvách thành”, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc “đúng ngọ” (lúc giữa trưa) mới có mặt trời

Có vách đá chẹt lòng sông “như một cái yết hầu”, có quãng con nai, con hổ có lầnvọt từ bờ này sang bờ kia Vì lòng sông hẹp, bờ sông là vách đá cao, nên ngồi trongkhoang đò ở quãng sông ấy “đang mùa hè mà cũng thấy lạnh.”

– Cảnh hùng vĩ của Sông Đà còn thể hiện ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng với hàngcây số “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốtnăm” Đây là nơi nguy hiểm, người lái đò nào đi qua khúc sông này mà không thậntrọng tay lái thì “dễ lật ngửa bụng thuyền ra”

Trang 6

– Sông Đà hùng vĩ còn ở những cái “hút nước” trên sông ở quãng Tà Mường Vát.

Đó là những xoáy nước khổng lồ, được tác giả so sánh “giống như cái giếng bêtông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu” Nước ở đây “thở và kêu như củacống cái bị sặc” Đây là nơi rất nguy hiểm, không có thuyền nào dám men gầnnhững cái “hút nước” ấy Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồngngay “cây chuối ngược” rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đếnmươi phút sau mới thấy “tan xác” ở khuỷnh sông dưới Tác giả đã tưởng tượng: cóngười quay phim táo tợn, ngồi trên chiếc thuyền thúng, rồi xuống đáy “cái hút”Sông Đà mà thu hình thì sẽ có những thước phim ấn tượng, gây cảm giác sợ hãi

– Nhưng hùng vĩ nhất, hung bạo nhất là thác Sông Đà Thác Sông Đà có âm thanh

dữ dội, nhiều vẻ, được tác giả miêu tả: Còn xa lắm mới đến cái thác dưới mà đãnghe thấy tiếng nước “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, so sánh độc đáo: tiếng nướcthác nghe như là “oán trách”, như là “van xin”, như là “khiêu khích”, rồi rống lên

“như tiếng một ngàn con trâu mộng” gầm thét khi bị cháy rừng

– Hình ảnh thác Sông Đà là cả một “chân trời đá” Mỗi hòn đá mang một dáng vẻ,nhưng mặt hòn đá nào trong cũng “ngỗ ngược… nhăn nhúm, méo mó” Sông Đàhình như đã giao nhiệm vụ cho mỗi hòn đá và bày ra “thạch trận” để gây khó khăn,nguy hiểm cho những con thuyền “Thạch trận” Sông Đà có ba vòng vây Vòng thứnhất, thác Sông Đà mở ra “năm cửa trận”, có bốn “cửa tử”, một “cửa sinh” nằm lập

lờ ở phía tả ngạn Vòng thứ hai, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa tử để đánhlừa con thuyền”, cũng chỉ có một “cửa sinh” nhưng lại bố trí lệch qua phía bờ hữungạn Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn nhưng bên phải, bên trái đều là “luồng chết” cả,cái “luồng sống” ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác

– Thác Sông Đà quả thực đã trở thành một loài thủy quái khổng lồ với tâm địa độc

ác Với đặc điểm này, trong cái nhìn của tác giả, Sông Đà có nhiều lúc đã trở thành

“kẻ thù số một” của con người

2.1.2 Con sông Đà trữ tình, thơ mộng

– Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà được tác giả quan sát và miêu tả ở nhiềugóc độ, điểm nhìn, không gian và thời gian khác nhau Quan sát từ trên cao, Sông

Đà có dòng chảy uốn lượn, con sông như mái tóc người thiếu nữ Tây Bắc kiềudiễm Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiệntrong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khóinúi Mèo đốt nương xuân” Nước Sông Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻđẹp riêng: mùa xuân “dòng xanh ngọc bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ” Những chitiết miêu tả của tác giả gợi lên một liên tưởng thú vị: giữa khung cảnh ngày xuânthơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, Sông Đà hiện lên như một mĩ nhân tràn đầyxuân sắc, một thiếu nữ đương độ xuân thì

Trang 7

– Sau chuyến đi rừng dài ngày, từ bờ sông, tác giả đã thấy Sông Đà thật gợi cảm

“như một cố nhân” Nhìn mặt nước Sông Đà thấy “loang loáng như như trẻ connghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy” Đó là “màu nắng tháng ba Đườngthi”, cùng với hình ảnh bờ Sông Đà, bãi Sông Đà đầy những “chuồn chuồn bươmbướm” tạo nên một cảnh sắc hấp dẫn Nhà văn đã bộc lộ cảm xúc khi nhìn con sôngbằng những so sánh tài hoa: “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tansau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”

– Khi đi trên thuyền, tác giả thấy cảnh vật hai bên bờ Sông Đà vừa hoang sơ nhuốmmàu cổ tích vừa trù phú, tràn trề nhựa sống Ven sông có những nương ngô “nhúlên mấy lá ngô non đầu mùa”, có cỏ gianh đồi núi “đang ra những nõn búp”, có

“đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm” Nhà văn đã có một liêntưởng độc đáo: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên nhưmột nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Dòng sông quãng này “lững lờ như nhớ thươngnhững hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”

2.2.3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng

– Tác giả đã miêu tả Sông Đà bằng những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượngđộc đáo, bất ngờ và rất thú vị Từ ngữ trong bài tùy bút thật phong phú, sống động,giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao

– Câu văn của tác giả rất đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gânguốc, khi thì chậm rãi, trữ tình Con Sông Đà vô tri, dưới ngòi bút của nhà văn đãtrở thành một sinh thể có tâm hồn, tâm trạng

=> Tóm lại, hình tượng Sông Đà được tác giả khắc họa độc đáo, nổi bật với hai đặcđiểm: vừa hung vĩ, hung bạo, vừa thơ mộng, trữ tình Qua hình tượng con Sông Đà,nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, thể hiện tình cảm tha thiết củamình với đất nước Hình tượng con Sông Đà trong bài tùy bút gợi lên ở người đọcsuy nghĩ về trách nhiệm bảo vệ môi trường cho những dòng sông, bởi đó là quàtặng vô giá của thiên nhiên giành cho con người

2.2 Hình tượng người lái đò

2.2.1 Giới thiệu chung về người lái đò

– Cuộc sống của người lái đò là “cuộc chiến đấu” hằng ngày với thiên nhiên TâyBắc, có nhiều lúc trông nó ra thành diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một củacon người Trong cuộc mưa sinh đầy gian khổ ấy, phẩm chất của người lái đò đượcbộc lộ một cách rõ nét thể hiện qua “cuộc chiến đấu gian lao” trên chiến trườngSông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận Sông Đà

2.2.2 Người lái đò trí dũng, tài ba, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm

– Phẩm chất của người lái đò được thể hiện qua cuộc vượt thác sông Đà Thác Sông

Đà bày ra “thạch trận” với ba vòng vây để tiêu diệt con thuyền Nhưng người lái đòdũng cảm, bình tĩnh, hiên ngang vượt qua từng vòng vây của thác

Trang 8

– Ở vòng vây thứ nhất: Thác Sông Đà mở ra “năm cửa trận”, có bốn “cửa tử”, một

“cửa sinh” Cửa sinh nằm “lập lờ ở phía tả ngạn” Khi con thuyền xuất hiện, phốihợp với đá, nước thác reo hò làm “thanh viện” cho đá, những hòn đá bệ vệ oaiphong lẫm liệt Có hòn đá trông nghiêng thì y như là đang hỏi cái thuyền “phảixưng tên tuổi trước khi giao chiến” Hòn đá khác thì lùi lại một chút và “tháchthức” cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào Không một chút nao núng, ông đò hai taygiữ mái chèo để khỏi bị hất lên khi sóng trận địa phóng thẳng vào mình Nhìn thấycon thuyền và người lái đò, mặt nước “hò la vang dậy”, ùa vào mà “bẻ gãy cánchèo”, võ khí của người lái đò Sóng nước thì như thể quân liều mạng, vào sát nách

mà “đá trái mà thúc gối” vào bụng và hông thuyền, có lúc chúng “đội cả thuyềnlên” Nước bám lấy thuyền như đô vật “túm lấy thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mìnhra”… Ông đò đã bị thương, nhưng ông “cố nén vết thương”, hai chân vẫn “kẹp chặtlấy cuống lái” Cuộc chiến đã đến hồi quyết liệt, sóng nước “đánh hồi lùng, đánhđòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗ hiểm Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe

rõ tiếng chỉ huy “ngắn gọn tỉnh táo” của người cầm lái Và ông lái đò đã phá xongcái “trùng vi thạch trận” vòng thứ nhất của thác Sông Đà

– Không một chút nghỉ tay, ông lái đò tiếp tục phá luôn vòng vây thứ hai của thácSông Đà Ở vòng thứ hai này, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa tử” để đánhlừa con thuyền Vẫn chỉ có một cửa sinh Nếu ở vòng thứ nhất, cửa sinh nằm “lập

lờ phía tả ngạn”, thì ở vòng thứ hai này, cửa sinh lại “bố trí lệch qua phía bờ hữungạn” Đó chính là khó khăn, thách thức đối với người lái đò Nhưng ông lái đò đã

“thuộc qui luật phục kích” của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này Ông hiểu rằng cưỡilên thác Sông Đà phải “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” Cuộc chiến của ông lái đò ởvòng thứ hai đã bắt đầu Nắm chặt cái bờm sóng đúng luồng, ông đò ghì cương láibám chắc lấy luồng nước đúng mà “phóng nhanh vào cửa sinh” rồi “lái miết mộtđường chéo” về phía cửa đá ấy Thấy con thuyền tiến vào, bốn năm bọn thủy quânbên bờ trái liền “xô ra” định níu con thuyền “lôi vào tập đoàn cửa tử” mà tiêu diệt.Nhưng ông lái đò vẫn “nhớ mặt” bọn này, đứa thì ông tránh mà “rảo bơi chèo lên”,đứa thì ông “đè sấn lên mà chặt đôi ra” để mở đường tiến Những luồng tử đã bỏhết lại sau thuyền, chỉ còn vẳng tiếng reo hò của của sóng thác luồng sinh Tuy vậy,bọn chúng vẫn “không ngớt khiêu khích”, dù cái thằng đá tướng đứng ở cửa vào đã

“tiu nghỉu cái mặt xanh lè” vì bị thua cái thuyền du kích nhỏ bé

– Vượt qua vòng thứ hai, ông lái đò còn phải vượt qua vòng thứ ba nữa Ở vòngvây thứ ba này, thác Sông Đà ít cửa hơn nhưng bên phải bên trái đều là “luồngchết” cả Cái “luồng sống” ở chặng thứ ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ Ônglái đò đã hiểu điều đó Ông cứ “phóng thẳng thuyền” chọc thủng cửa giữa đó.Thuyền của ông đò “vút qua” cổng đá cánh mở cánh khép với ba tầng cửa: cửangoài, cửa trong, lại cửa trong cùng Con thuyền của ông đò “như một mũi tên trexuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái lượn được” Vượt qua vòng

Trang 9

vây thứ ba cũng là vượt qua hết thác Sông Đà Ông lái đò như một người chỉ huylão luyện, đầy bản lĩnh và kinh nghiệm Ông là một nghệ sĩ tài hoa với nghề vượtthác leo ghềnh.

2.2.3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng

– Khắc họa hình tượng người lái đò Sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã sử dụngnhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc Miêu tả ông lái đò vượt thác, tác giả đã sửdụng tri thức của nhiều lĩnh vực như thể thao, quân sự, võ thuật…, với những câuvăn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, hối hả, gân guốc; với từ ngữ sống động,giàu hình ảnh, mới lạ, độc đáo

=> Tóm lại, bằng nhiều biện pháp nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc họathành công hình ảnh người lái đò Sông Đà dũng cảm, tài năng, đầy bản lĩnh và kinhnghiệm Qua hình tượng người lái đò, tác giả ngợi ca người lao động Tây Bắc vớinhững phẩm chất cao quí

Hình tượng người lái đò, cũng thể hiện quan niệm của nhà văn: người anh hùngkhông chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày.Hình tượng người lái đò trong bài tùy bút của Nguyễn Tuân gợi ra ở mỗi chúng tasuy nghĩ về nhiệm vụ của mình trong công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam yêuquí

3 Nghệ thuật

- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và thú vị

- Từ ngữ sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao

- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc khi thì chậmrãi, trữ tình,…

2.4 Ý nghĩa văn bản

- Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và người lao động ở miềnTây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuânđối với đất nước và con người Việt Nam

IV HỆ THỐNG CÁC DẠNG BÀI TẬP

1 Dang 1 : Cảm nhận về đoạn trích văn xuôi

Ví dụ : Đề bài trích dẫn đoạn văn miêu tả dòng sông, hoặc đoạn miêu tả cuộc chiếncủa ông lái đò với dòng sông, và yêu cầu học sinh nêu cảm nhận

Trang 10

- Cảm nhận đoạn: “Con sông Đà tuôn dài…nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” (Chủ yếu là

vẻ đẹp trữ tình)

2 Dạng 2: Cảm nhận về hình tượng nhân vật

Ví dụ: Cảm nhận về hình tượng sông Đà, hình tượng ông lái đò

Từ cảm nhận về hình tuượng nhân vật học sinh làm nổi bật phong cách nghệ thuậtcủa Nguyễn Tuân

3 Dạng 3: Nghị luận ý kiến bàn về văn học

Ví dụ: Những ý kiến bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

4 Dạng 4: Dạng đề so sánh, liên hệ

Ví dụ: - So sánh Huấn Cao (Chữ người tử tù ) và ông lái đò

- So sánh hai đoạn văn miêu tả sông Đà và Sông Hương (Ai đã đặt tên chodòng sông– Hoàng Phủ Ngọc Tường)

V MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN

1 Rèn luyện phương pháp đọc- hiểu cho học sinh

Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, môn học bắt buộc ở cả 3 cấphọc, hướng tới việc hình thành phát triển năng lực đọc, viết tiếng Việt (năng lựctiếp nhận và xử lý thông tin, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực trình bày, nănglực tạo lập các loại văn bản cần thiết trong cuộc sống) Dạy học đọc hiểu là mộttrong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong tiếpnhận văn bản Nếu như trước đây chúng ta coi phân tích tác phẩm hay giảng văn làmột phương pháp đặc thù của dạy văn, thì hiện nay đã có những thay đổi trongcách tiếp cận này Hướng dẫn học sinh đọc hiểu không có nghĩa là nhằm cảm thụmột chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học màhướng dẫn cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề

về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tựđọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân Hoạt động đọc hiểu của họcsinh cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đọcđúng, đọc thông, đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo Khi hình thànhnăng lực đọc hiểu của học sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm

mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy

Trong quá trình đọc hiểu học sinh cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:

– Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân – là những hiểu biết về chủ

đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại củavăn bản

– Thể hiện những hiểu biết về văn bản

+ Tìm kiếm thông tin, đọc lướt để tìm ý chính, đọc kỹ tìm các chi tiết

Trang 11

+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, phân tích, kết nối, tổng hợp…thông tin

để tạo nên hiểu biết chung về văn bản

+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản

– Vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bảnkhác nhau, sẵn sang thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sốngyêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu

+ Đọc các văn bản khác (ngoài chương trình, sách giáo khoa) có cùng đề tài/ chủ đềhoặc hình thức để thực hiện củng cố hiểu biết và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu

+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể từ việc vận dụngnhững hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu

– Đọc tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân: học sinh cần làm nổi

bật được:

+ Đề tài: Viết về dòng sông quê hương Việt Nam.

+ Thể loại: Tùy bút (bút kí) có cấu trúc tự do phóng túng, hầu như không có luật lệ,

quy phạm gì chặt chẽ, câu thúc bởi cốt truyện cụ thể nào…Tùy bút mang tính chấtchủ quan, chất trữ tình rất đậm, nhân vật chính là cái tôi của nhà văn, bộc lộ cảmxúc suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại.Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ

+ Cảm hứng sáng tạo: Nguyễn Tuân đề từ cho tác phẩm: “Đẹp vậy thay tiếng hát

trên dòng sông”.(Wladyslow Broniewski); “Chúng thủy giai Đông tẩu- Đà giangđộc Bắc lưu” (Thơ Nguyễn Quang Bích)

Nguyễn Tuân đã cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của sông Đà Không chỉ sông Đà, sôngnước quê hương, sông tuyến (Bến Hải), sông Gianh – đã chảy vào tâm hồn nhàvăn, đã hóa thân thành những trang viết đẹp Viết “sông Đà”, Nguyễn Tuân muốn

đề thơ, phổ nhạc vào sông nước quê hương Cảm hứng sông Đà đã thành nghệ thuật

“thành một gợi cảm mênh mang” về sông quê, về con người Việt Nam trong bốicảnh ấy Và ông cũng là “Đà giang độc Bắc lưu” trên bình diện nghệ thuật

+ Nội dung của văn bản:

- Hình tượng con sông Đà: Hung bạo, trữ tình

- Hình tượng người lái đò: Tài hoa, điêu luyện trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh

+ Đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân:

Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ: tài hoa uyên bác và dụng nhiều trithức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau để quan sát miêu tả (địa lý,lịch sử, nghệ thuật, quân sự, võ thuật, hội họa, điêu khắc, điện ảnh, thơ ca…) thiênnhiên và con người Tây Bắc Thể tùy bút phóng túng ngôn từ phong phú và điêuluyện

+ Yêu cầu học sinh tìm đọc toàn văn bản “Người lái đò sông Đà”

Trang 12

2 Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại.

a Khái quát về thể kí

- Kí là một loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ kí lịch sử, dùng để ghi chép về conngười, sự vật, phong cảnh…kí bao gồm nhiều thể như: Bút kí, hồi kí, du kí, phóng

b Những đặc trưng cơ bản thể kí

Các nhà nghiên cứu văn học đã nêu ra nhiều cách tiếp cận để nhận diện kí, nhưngcho đến nay vẫn chưa có được một hệ thống lý thuyết thống nhất cho thể loại vănhọc này Song, tựu trung, có thể thấy nổi bật ở kí (có nghĩa là cả tùy bút và bút kí)những đặc trưng cơ bản sau:

- Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật, kí đòi hỏi sự trung thực,chính xác Người viết kí thường quan tâm, tôn trọng những sự kiện xã hội lịch sử,những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống

- Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học Mẫu hình tác giả kí gầngũi với nhà sử học Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành, có thời gian,địa điểm, hành động, và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh, gợi không khí

- Tác giả kí khéo sử dụng tài liệu đời sống kết hợp với tưởng tượng, cảm thụ, nhậnxét, đánh giá Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện suytưởng nhận xét chân thực, tinh tường của nhà văn trước sự việc

- Cái thú vị của kí là ở những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài vớiviệc tái hiện đối tượng Vì vậy, sức hấp dẫn của kí chính là ở khả năng tái hiện sựthật một cách sinh động của tác giả

- Kí ít chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào những liên tưởng, tưởng tượng bấtngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộc sống Điều ấy làm nên cái hay cáiđẹp của một tác phẩm kí

Trang 13

- Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cáitôi tác giả Cho nên, sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái tôi

ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo…)

Những đặc trưng cơ bản trên đây của tác phẩm kí sẽ là điểm tựa cho giáo viên trongviệc giảng dạy tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại

Biểu hiện trong Người lái đò sông Đà:

+ Tổ chức cho học sinh phát hiện ra nét tương đồng và khác biệt của sông Đà đượctác giả phản ánh trong tác phẩm kí, so với những đối tượng tương tự có thật ở ngoàiđời Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật, kí đòi hỏi sự trungthực, chính xác

+ Sông Đà khi đi vào tác phẩm của Nguyễn Tuân trở thành đối tượng thẩm mĩ củanhà văn Con sông Đà nếu chỉ được Nguyễn Tuân ghi chép bằng những số liệu đơnthuần như một nhà địa lí thì cái phần hồn hung bạo và thơ mộng của nó sẽ khôngđược phát hiện Sức hấp dẫn của kí chính là ở khả năng tái hiện sự thật một cáchsinh động của tác giả Nếu chỉ đơn thuần là ghi chép thì tác phẩm kí sẽ hết sức khôkhan, không gây được ấn tượng đối với người đọc

+ Khi khám phá vẻ hung bạo của con sông, cần nhận thấy liên tưởng nhất quán củaNguyễn Tuân Nhà văn hình dung sông Đà như một con thủy quái khổng lồ, có tâmđịa đen tối, với biết bao tướng dữ quân tợn vây quanh Đã thế, con thủy quái mangtên sông Đà còn có hành động, mưu mô ác độc đối với thuyền và người trên sông.+ Như vậy, nhờ vào khả năng sử dụng ngôn ngữ liên ngành và trí tưởng tượng tàihoa của tác giả, học sinh vừa hiểu về đặc điểm thực của sông Đà ở thượng nguồn,vừa bị cuốn hút vào tài năng miêu tả của Nguyễn Tuân

+ Khi khám phá vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông, lại cần phải phát hiện ra sựthay đổi di chuyển điểm nhìn và cách miêu tả Sông Đà không chỉ là quái thú sôngnước nữa, mà đã lột xác trở thành người thiếu nữ có mái tóc tuôn dài, thành cốnhân đầy nỗi niềm lâu ngày gặp lại Điểm nhìn đa chiều bao quát vẻ đẹp của dángsông, màu nước sông Đà bằng cái nhìn xuyên thời gian qua mấy mùa trong năm;của bờ bãi hoang sơ, của mặt nước lặng yên như tờ thảng hoặc đôi con cá quẫy làmgiật mình đàn hươu

+ Còn với hình tượng ông lái đò: Nhân vật này không được khắc họa thành số phậnnhư trong tác phẩm tự sự Thực ra, đó chỉ là một khoảnh khắc trên sông nước đểqua đó Nguyễn Tuân tôn vinh con người lao động trong thời kì mới - thời kì táithiết đất nước xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa

Thực ra, sông Đà được Nguyễn Tuân khắc họa để làm nền cho ông lái nổibật lên Sông Đà càng hung bạo, ông lái đò càng trí dũng, tài hoa Sông Đà có thơmộng, hiền hòa với những vẻ hoang sơ mới thấy ông lái là người yêu thiên nhiên,chan hòa trong cuộc sống, là một người lao động bình dị như bao con người

Trang 14

khác.Từ đó thấy được cách để Nguyễn Tuân tôn vinh vẻ phi thường của một conngười bình thường - một hạt “vàng mười” mà ông đã bỏ công bao ngày để đi tìmtrên mảnh đất Tây Bắc.

c Tổ chức cho học sinh phát hiện được đặc điểm của cái “tôi” tác giả

Là nhà văn có phong cách nghệ thuật đặc sắc Nguyễn Tuân hấp dẫn ngườiđọc bởi “cái tôi” độc đáo, sự tài hoa, uyên bác, giác quan sắc nhọn, tinh tế, nghệthuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, giàu hình ảnh, cảm xúc Sức hấp dẫn của ngòibút Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là ở sự độc đáo, sự giàu

có về chữ nghĩa, sự công phu trong quan sát và lựa chọn ngôn từ…

+ Cái tôi tài hoa: Luôn nhình cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện,góc độ văn hóa thẩm mỹ nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và mỹ lệ của thiênnhiên, đất nước Với đôi mắt của nhà văn suốt đời “duy mĩ”, Nguyễn Tuân đã nhìnsông Đà ở góc độ thẩm mỹ để phát hiện ra vẻ đẹp trữ tình của con sông: Sông Đàđược ông ví như một người con gái đẹp kiều diễm với “áng tóc mun ngàn ngàn vạnvạn sải” với màu sắc của nước sông Đà thay đổi theo mùa, sông Đà gợi cảm, sông

Đà “hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổixưa” Không chỉ nhìn cảnh vật ở điểm nhìn văn hóa thẩm mỹ, Nguyễn Tuân cònnhìn người lái đò ở góc độ nghệ sĩ để phát hiện ra tài năng trong nghệ thuật vượtthác leo ghềnh, khi đã nắm chắc được “binh pháp” của thần sông, thần đá “thuộclòng các luồng sinh tử” của các con thác dữ nên chủ động trong mọi tình huống, cóthể lái con thuyền vút vút qua hàng trăm ghềnh đá ngổn ngang hiểm hóc và NguyễnTuân đã gọi đó là “tay lái ra hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng,một phong thái ung dung, tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảmđược tôi luyện trong lao động và chiến đấu

+ Cái tôi “uyên bác”: “Uyên bác” là sự hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực,nhiều ngành nghệ thuật và có thể cung cấp, đóng góp, lý giải những kiến thức đócho người khác

3 Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy

Bản đồ tư duy là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tậndụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách ghi nhớ chi tiết để tổnghợp hay để phân tích một vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh Cách ghichép này khoa học, giúp cho học sinh dễ nhớ và dễ ôn tập hơn Việc nhớ và ghi lạicác thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng phương pháptruyền thống Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy sẽ có những ưu điểm sau:

– Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng

– Quan hệ hỗ trợ tương ứng giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọngthì sẽ nằm vị trí càng gần ý chính

– Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác

Trang 15

– Ôn tập và ghi nhớ sẽ rất hiệu quả và nhanh hơn.

– Thêm thông tin (ý) dẽ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ

– Mỗi bản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ

– Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bát chapthứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng vàlinh hoạt cho việc ghi nhớ

Như vậy, bản đồ tư duy là một công cụ lý tưởng cho việc giảng dạy và trìnhbày các khái niệm trong lớp học Bản đồ tư duy giúp cho giáo viên tập trung vàocác vấn đề cần trao đổi cho học sinh, cung cấp một cái nhìn tổng quan về chủ đề

mà không có thông tin thừa Học sinh sẽ không phải tập trung vào việc đọc chépdài dòng, mà thay vào đó sẽ lắng nghe những gì mà thầy cô giáo diễn đạt Hiệu quảbài học sẽ tăng lên

Khi dạy học bài “Người lái đò sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân, giáo viên

có thể tóm tắt hoặc cho học sinh ghi lên bảng tóm tắt lại nội dung bài học theo bản

hình tượngsông Đà vàsông Hương từ

- Bình luận ý kiếnnhận xét về Ônglái đò, về consông Đà

Trang 16

đó suy nghĩ vềviệc bảo vệcảnh quanthiên nhiên đấtnước

-Suy nghĩ về hai

ý kiến đánh giá

về tác phẩm.-Phân tích đoạnvăn nhằm sáng tỏvấn đề LLVH-Cảm nhận sông

Đà để làm nổi bậtquan niệm về cáiđẹp, PCNT củaNT

-Phân tích nhânvật người lái đò

để làm sáng tỏphương diện nộidung, nghệ thuậtcủa tác phẩm

2 Đề bài và lời giải minh họa

2.1 Đề 1 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Ông đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc sông Đà đã 10 năm liền vàthôi làm đò cũng đã đôi chục năm nay Tay ông lêu nghêu như cái sào Chân ônglúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng Giọngông nói ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông Nhỡn giới ông vòi vọi như lúcnào cũng mong một cái bến xa nào trong sương mù Quê ông ở ngay chỗ ngã tưsông sát tỉnh Ông chở đò dọc, chở chè mạn, chè cối từ Mường Lay về Hòa Bình,

có khi chở về đến tận bến Nứa Hà Nội Ông bảo: Chạy thuyền trên sông không cóthác, nó sẽ dễ dại tay chân và buồn ngủ Cho nên ông chỉ muốn cắm thuyền ở Chợ

Bờ, cái chỗ biên giới thủy phận cuối cùng của đá thác sông Đà…

Trên dòng sông Đà, ông xuôi ngược hơn trăm lần rồi Chính tay ông giữ lái

đò độ sâu chục lần cho những chuyến thuyền then đuôi én sâu mái chèo Trí nhớông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòngtất cả những luồng nước, những con thác hiểm trở sông Đà, với người lái đò ấy,như thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc lòng từ dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấmthan, chấm xuống dòng…

Trang 17

(Người lái đò sông Đà – Tuyển tập Nguyễn Tuân – NXBVH

2008)

Câu 1 Xác định thể loại văn bản và những phương thức biểu đạt của đoạn văn

trên Việc kết hợp nhiều phương thức biểu đạt như thế mang lại hiệu quả gì?

Câu 2 Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất, có hiệu

quả nhất trong đoạn văn

Câu 3 Vì sao ông đò Lai Châu chỉ muốn cắm thuyền ở chỗ biên giới thủy phận

cuối cùng của đá thác Sông Đà?

Câu 4 Viết từ 3- 5 câu về tình cảm của tác giả với ông đò qua đoạn văn trên?

Đáp án:

Câu 1.

- Thể loại văn bản: tùy bút

- Những phương thức biểu đạt của đoạn văn: tự sự, miêu tả, biểu cảm

- Việc kết hợp nhiều phương thức biểu đạt giúp nhà văn vừa tái hiện chân thực,sinh động đối tượng, sự việc vừa bày tỏ tư tưởng, tình cảm một cách dễ dàng, hiệuquả, giúp người đọc dễ hiểu, dễ tiếp cận

Câu 2.

- Biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất, có hiệu quả nhất trong đoạn văn: biệnpháp so sánh

- Tác dụng: Khắc họa ông lái đò với vẻ đẹp từng trải, hiểu biết, thành thạo nghề lái

đò và nắm chắc đối tượng chiến đấu của mình

Câu 3.

- Ông đò Lai Châu chỉ muốn cắm thuyền ở chỗ biên giới thủy phận cuối cùng của

đá thác Sông Đà là vì “Chạy thuyền trên sông không có thác, nó sẽ dễ dại tay chân

và buồn ngủ”

- Điều đó chứng tỏ ông đò là người gan dạ, quen với việc đối mặt với hiểm nguy,biến những thử thách khó khăn trở thành thuận lợi

Câu 4.

Tình cảm của tác giả với ông đò:

Nguyễn Tuân khắc hoạ hình tượng người lái đò sông Đà với vẻ đẹp bình dị mà phithường, như một biểu tượng đẹp của con người Việt Nam trong công cuộc xâydựng đất nước Đó là một cách nhìn, một cách khám phá và khẳng định vẻ đẹp củacon người Việt Nam trong thời đại mới Ca ngợi hình tương người lái đò sông Đàchính là một cách tôn vinh tài năng, ý chí, nghị lực của con người trong công cuộcchinh phục thiên nhiên

Trang 18

2.2 Đề 2 Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:

Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩnhiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mùkhói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trênSông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà.Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canhhến của Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt mộtngười bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gìmỗi độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà đen như thực dân Pháp đã

đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứthế mà phiết vào bản đồ lai chữ

Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đãhơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mìnhsắp đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ connghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lênmột màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ Sông

Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông,vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng

Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại

cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc chốcdịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy

Thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Líđời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi quamột nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người

Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianhđẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên nhưmột nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còixúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu

(Người lái đò sông Đà – Tuyển tập Nguyễn Tuân – NXBVH

2008)

Câu 1: Nêu nội dung của đoạn trích trên.

Câu 2: Phân tích giá trị thẩm mĩ của các từ ngữ được in đậm trong đoạn văn.

Câu 3: Để làm nổi bật vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của con sông Đà, Nguyễn Tuân đã

có những liên tưởng như thế nào? Hiệu quả nghệ thuật của những liên tưởng đó?

Câu 4: Văn bản trên gợi trong em những cảm xúc gì?

Đáp án:

Câu 1: Nội dung : Vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của sông Đà

Trang 19

Câu 4: Cảm xúc yêu thiên nhiên, tự hào về vẻ đẹp phong phú của quê hương đất

nước mình

2.3.Đề 3.

Trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà”, có đoạn Nguyễn Tuân viết: “Đá ở đây

từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền” Lại có đoạn: “Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

Cảm nhận về hai đoạn văn trên, anh (chị) hãy lí giải điểm khác biệt trong cách miêu tả con sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân.

Hướng dẫn:

a Mở bài

– Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa, độc đáo, thành tựu trên các các thể loại: truyệnngắn và tùy bút Là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật và cuộc sống.Tuy cuộc đời cầm bút vắt qua hai giai đoạn trước và sau Cách mạng Tháng Támnhưng sáng tác của ông thống nhất ở cái nhìn duy mĩ về con người và sự vật

– Tác phẩm được sáng tác nhân một chuyến đi công tác của nhà văn lên vùng núiTây Bắc và được in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960)

- Dẫn vấn đê cần nghị luận (2 đoạn văn): Vẻ đẹp phong phú của Sông Đà- nét tínhcách đối lập

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w