1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

33 900 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 108,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm kí “ Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân là một nội dung kiến thức quan trọng trong chương trình thi THPT Quốc gia. Đây là một tác phẩm hay, xuất hiện nhiều trong các đề thi. Việc tìm hiểu tác phẩm một cách sâu sắc giúp học sinh hiểu sâu sắc tác phẩm, thuần thục trong kĩ năng nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi cũng như kĩ năng xử lí và vận dụng tài liệu trong học tập. Đặc biệt, qua chuyên đề, học sinh có thể củng cố và nâng cao phương pháp tự học, chủ động tích cực trong tư duy và bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA

-Tiết 46, 47: “Người lái đò Sông Đà.” ( Nguyễn Tuân)

Các kiến thức cũ trong chương trình Ngữ văn 11

Tiết 40: Tác gia Nguyễn Tuân

- Lý do chọn chuyên đề:

Tác phẩm kí “ Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân là một nội dung

kiến thức quan trọng trong chương trình thi THPT Quốc gia Đây là một tácphẩm hay, xuất hiện nhiều trong các đề thi Việc tìm hiểu tác phẩm một cách sâusắc giúp học sinh hiểu sâu sắc tác phẩm, thuần thục trong kĩ năng nghị luận vềmột tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi cũng như kĩ năng xử lí và vận dụng tàiliệu trong học tập Đặc biệt, qua chuyên đề, học sinh có thể củng cố và nâng caophương pháp tự học, chủ động tích cực trong tư duy và bước đầu làm quen vớicông việc nghiên cứu khoa học

II Mạch kiến thức của chuyên đề

1 Kiến thức chung về tác giả

1.1 Con người Nguyễn Tuân

1.2 Sự nghiệp sáng tác

1.3 Phong cách nghệ thuật

2 Tác phẩm

2.1 Hoàn cảnh sáng tác

2.2 Vài nét về thể loại tùy bút

2.3 Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

III Hệ thống câu hỏi ôn luyện tác phẩm

Trang 2

1 Dạng câu hỏi đọc hiểu

1 Mức độ tái hiện kiến thức và thông hiểu

- Những kiến thức cơ bản về tác giả Nguyễn Tuân: Con người, sự nghiệp,phong cách văn học

- Kiến thức về tác phẩm: Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, thể loại tácphẩm, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, ý nghĩa văn bản

2 Mức độ vận dụng kiến thức (từ cấp độ thấp đến cấp độ cao)

- Cảm nhận được vẻ đẹp đa dạng của con Sông Đà vừa hung bạo vừa trữtình cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy Từ đóthấy được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên và con ngườilao động ở miền Tây Bắc tổ quốc

- Hiểu và yêu mến tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn thể hiện trênnhững trang tùy bút

- Biết phân tích và phát biểu cảm nghĩ của mình về một hình ảnh, đoạnvăn mà học sinh thấy yêu thích nhất trong thiên tùy bút

II Đối tượng giảng dạy

- Học sinh ôn thi THPT Quốc gia.

- Phương pháp thực hành: Giáo viên cần phải cho học sinh viết bài chuyên

đề như cấu trúc đề thi THPTQG theo định kì (có báo trước) và không theo định

kì (bất chợt), chấm chữa bài và uốn nắn những chỗ còn chưa đạt trong bài viếtcủa học sinh Khuyến khích nêu gương những học sinh có bài viết tốt, khen ngợikịp thời những học sinh có biểu hiện tiến bộ từ đó thổi bùng lên ở mỗi em ngọnlửa đam mê, tình yêu văn chương

Trang 3

- Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu để đánh giá mức độ nhận thứccủa học sinh từ đó điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợpvới tình hình thực tế.

III Năng lực cần hướng đến:

- Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ bày tỏ quan điểm, cảm nhận sau khi đọc vănbản

- Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ

- Năng lực tạo lập văn bản nghị luận

IV Số tiết ôn tập: 8 tiết

- 02 tiết ôn tập kiến thức cơ bản

- 04 tiết luyện đề

- 02 tiết kiểm tra đánh giá

PHẦN II: NỘI DUNG

A KIẾN THỨC CƠ BẢN

I Khái quát về tác giả.

1 Con người Nguyễn Tuân

- Nguyễn Tuân là một nhà trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dântộc Lòng yêu nước của ông luôn gắn với những giá trị văn hóa cổ truyền củadân tộc và gắn với tiếng mẹ đẻ, với tình yêu quê hương đất nước

- Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao Ông viết văn là đểkhẳng định cá tính độc đáo của mình; là người ham du lịch và có lối sống tự do,phóng túng

- Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa, uyên bác Ông hiểu biết sâurộng về nhiều ngành nghệ thuật ngoài văn chương, thường dùng con mắt củanhiều ngành văn hóa nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh đểtăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật ngôn từ

- Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thực sự nghề nghiệp củamình Ông quan niệm “Nghề văn là nghề đối lập với nghề có tính vụ lợi kiểucon buôn” và “ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đó không thể có cái đẹp” Ôngquan niệm, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổhạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứngminh cho quan niệm ấy

2 Sự nghiệp sáng tác

Trang 4

Nguyễn Tuân là một nhà văn hóa lớn của văn học Việt Nam Sự nghiệpvăn học của ông trải ra trên hai chặng đường: trước và sau cách mạng thángTám.

+ Vang bóng một thời: Ở đề tài này, Nguyễn Tuân viết về những nétđẹp một thời đã lùi vào dĩ vãng, nay chỉ còn vang bóng Nét đẹp này gắn với lớpnho sĩ cuối mùa

+ Đời sống trụy lạc: Đề tài này đã ghi lại quãng đời hoang mang, bế tắccủa chính nhà văn Cái tôi lãng tử Nguyễn Tuân đã lao vào rượu, thuốc phiện và

cô đào (chiếc lư đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc)

b Sau cách mạng tháng Tám

- Nguyễn Tuân trở thành nhà văn cách mạng, ông hòa mình vào cuộcchiến đấu của dân tộc, sáng tác của ông tập trung vào việc phản ánh hai cuộckháng chiến thần thánh

- Những tác phẩm của Nguyễn Tuân thời kỳ này cho ta gặp hình ảnhcon người Việt Nam vừa tài hoa vừa anh dũng (Đường vui, Hà Nội ta đánh Mĩgiỏi) Ông cũng viết về công cuộc xây dựng đất nước trong đó hiện lên hình ảnhngười lao động Việt Nam cần cù mà hết mực tài hoa, trí dũng

c Phong cách nghệ thuật

- Trước cách mạng, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tómtrong một chữ “ngông” Đó là thái độ khinh đời, làm khác đời dựa trên cái tàihoa, sự uyên bác và nhân cách hơn đời của mình Thể hiện phong cách này, mỗitrang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa và uyên bác

->Nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp khi ông khám phá sự vật ở phương diệnthẩm mĩ, nhìn con người ở phương diện tài hoa, đối lập với con người bìnhthường, phàm tục

- Sau CMT8 Nguyễn Tuân vẫn ngợi ca những con người tài hoa, vẫnhướng đến những cái gì phi thường mãnh liệt, vẫn vận dụng tri thức của nhiềungành văn hóa nghệ thuật để quan sát và mô tả vẫn tô đậm phong cách và cá tínhđộc đáo của mình Điều khác là tinh thần dân tộc và lòng yêu nước được pháthuy mạnh mẽ trong tác phẩm của ông Cái đẹp của con người tài hoa có thể tìmthấy trong nhân dân trên mọi lĩnh vực

II Tác phẩm: “Người lái đò Sông Đà”

1 Hoàn cảnh sáng tác

Tác phẩm là kết quả của cuộc hành trình ngược miền Tây Bắc giai đoạnnăm 1958-1960 đầy trải nghiệm sâu sắc của tác giả, được in lần đầu trongtập Sông Đà(1960) trong một chuyến đi gian nan nhưng đầy hứng khởi về miềnTây Bắc hiểm trở Chuyến đi thoả mãn cái khát khao “xê dịch” của nhà văn,

Trang 5

trong chuyến đi ấy ông đã không quên tìm kiếm “chất vàng” của cảnh sắc thiênnhiên nơi đây, rất hiểm trở nguy hiểm nhưng cũng mang vẻ đẹp hùng vĩ thơmộng say đắm lòng người Vẻ đẹp của con người nơi đây được ông ví như “chấtvàng mười đã qua thử lửa” họ là người dân lao động có trí tuệ, có lòng dũngcảm và sức mạnh chế ngự thiên nhiên.

2 Vài nét về thể loại tùy bút

- Ký là tên gọi trong một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học

và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại), chủ yếu là vănxuôi tự sự trong đó:

- Tùy bút là một thể của ký, tùy bút nghiêng hẳn về trữ tình với điểm tựa

là cái tôi của tác giả Hình thức thể loại này cho phép nhà văn phóng bút viết tùytheo cảm hứng, tùy cảnh, tùy việc mà suy tưởng nhận xét đánh giá, trình bày.Những chi tiết, con người cụ thể trong tác phẩm chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộcảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá (Bản thân Nguyễn Tuân từng định nghĩamột cách khôi hài: Tùy bút là tùy theo bút mà viết)

- Bút ký là một thể của ký, bút ký thiên về ghi lại một cảnh vật mà nhàvăn mắt thấy tai nghe, thường trong các chuyến đi Bút ký tái hiện con người và

sự việc một cách phong phú, sinh động, nhưng qua đó biểu hiện khá trực tiếpkhuynh hướng nghị luận, tự sự, trữ tình tùy theo độ đậm nhạt khác nhau của cácphương thức mà ta có bút ký chính luận, bút ký tùy bút

-> “Người lái đò Sông Đà” là tùy bút pha bút ký

3 Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

3.1 Hình tượng con sông Đà

Con sông Đà trên trang văn của Nguyễn Tuân hiện lên như một “nhân vật”

có hai tính cách trái ngược: hùng vĩ, hung bạo và trữ tình, thơ mộng

a Con sông Đà hùng vĩ, hung bạo

- Con sông Đà hũng vĩ, hung bạo được tác giả khắc họa theo trình tựkhông gian, bằng nhiều chi tiết đặc sắc Trước hết Sông Đà hùng vĩ ở cảnh “đá

bờ sông dựng vách thành”, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc “đúng ngọ” (lúc giữa trưa)mới có mặt trời Có vách đá chẹt lòng sông “như một cái yết hầu”, có quãng connai, con hổ có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Vì lòng sông hẹp, bờ sông là vách

đá cao, nên ngồi trong khoang đò ở quãng sông ấy “đang mùa hè mà cũng thấylạnh.”

- Cảnh hùng vĩ của Sông Đà còn thể hiện ở quãng mặt ghềnh Hát Loóngvới hàng cây số “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùnghè suốt năm” Đây là nơi nguy hiểm, người lái đò nào đi qua khúc sông này màkhông thận trọng tay lái thì “dễ lật ngửa bụng thuyền ra”

- Sông Đà hùng vĩ còn ở những cái “hút nước” trên sông ở quãng TàMường Vát Đó là những xoáy nước khổng lồ, được tác giả so sánh “giống nhưcái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu” Nước ở đây “thở

và kêu như của cống cái bị sặc” Đây là nơi rất nguy hiểm, không có thuyền nàodám men gần những cái “hút nước” ấy Có những thuyền đã bị cái hút nó hútxuống, thuyền trồng ngay “cây chuối ngược” rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầmdưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy “tan xác” ở khuỷnh sông dưới Tácgiả đã tưởng tượng: có người quay phim táo tợn, ngồi trên một chiếc thuyền

Trang 6

thúng, rồi xuống đáy “cái hút” Sông Đà mà thu hình thì sẽ có những thước phim

ấn tượng, gây cảm giác sợ hãi cho người xem

- Nhưng hùng vĩ nhất, hung bạo nhất là thác Sông Đà Thác Sông Đà có

âm thanh dữ dội, nhiều vẻ, được tác giả miêu tả: Còn xa lắm mới đến cái thácdưới mà đã nghe thấy tiếng nước “réo gần mãi lại, réo to mãi lên”, so sánh độcđáo: tiếng nước thác nghe như là “oán trách”, như là “van xin”, như là “khiêukhích”, rồi rống lên “như tiếng một ngàn con trâu

mộng” gầm thét khi bị cháy rừng

- Hình ảnh thác Sông Đà là cả một “chân trời đá” Mỗi hòn đá mang mộtdáng vẻ, nhưng mặt hòn đá nào trong cũng “ngỗ ngược… nhăn nhúm, méo mó”.Sông Đà hình như đã giao nhiệm vụ cho mỗi hòn đá và bày ra “thạch trận” đểgây khó khăn, nguy hiểm cho những con thuyền “Thạch trận” Sông Đà có bavòng vây Vòng thứ nhất, thác Sông Đà mở ra “năm cửa trận”, có bốn “cửa tử”,một “cửa sinh” nằm lập lờ ở phía tả ngạn Vòng thứ hai, thác Sông Đà lại “tăngthêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền”, cũng chỉ có một “cửa sinh” nhưnglại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn nhưng bênphải, bên trái đều là “luồng chết” cả, cái “luồng sống” ở ngay giữa bọn đá hậu

vệ của con thác

- Thác Sông Đà quả thực đã trở thành một loài thủy quái khổng lồ vớitâm địa độc ác Với đặc điểm này, trong cái nhìn của tác giả, Sông Đà có nhiềulúc đã trở thành “kẻ thù số một” của con người

b Con sông Đà trữ tình, thơ mộng

- Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà được tác giả quan sát và miêu tả ởnhiều góc độ, điểm nhìn, không gian và thời gian khác nhau Quan sát từ trêncao, Sông Đà có dòng chảy uốn lượn, con sông như mái tóc người thiếu nữ TâyBắc kiều diễm Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tócchân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai vàcuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Nước Sông Đà biến đổi theomùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng: mùa xuân “dòng xanh ngọc bích”, mùa thu

“lừ lừ chín đỏ” Những chi tiết miêu tả của tác giả gợi lên một liên tưởng thú vị:giữa khung cảnh ngày xuân thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, Sông Đà hiệnlên như một mĩ nhân tràn đầy xuân sắc, một thiếu nữ đương độ xuân thì

- Sau chuyến đi rừng dài ngày, từ bờ sông, tác giả đã thấy Sông Đà thật gợicảm “như một cố nhân” Nhìn mặt nước Sông Đà thấy “loang loáng như như trẻcon nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy” Đó là “màu nắng tháng baĐường thi”, cùng với hình ảnh bờ Sông Đà, bãi Sông Đà đầy những “chuồnchuồn bươm bướm” tạo nên một cảnh sắc hấp dẫn Nhà văn đã bộc lộ cảm xúckhi nhìn con sông bằng những so sánh tài hoa: “Chao ôi, trông con sông, vuinhư thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”

- Khi đi trên thuyền, tác giả thấy cảnh vật hai bên bờ Sông Đà vừa hoang sơnhuốm màu cổ tích vừa trù phú, tràn trề nhựa sống Ven sông có những nươngngô “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, có cỏ gianh đồi núi “đang ra những nõnbúp”, có “đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm” Nhà văn đã cómột liên tưởng độc đáo: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn

Trang 7

nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Dòng sông quãng này “lững lờ nhưnhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”.

c Nghệ thuật xây dựng hình tượng

- Tác giả đã miêu tả Sông Đà bằng những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởngtượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị Từ ngữ trong bài tùy bút thật phong phú,sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao

- Câu văn của tác giả rất đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả,gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình Con Sông Đà vô tri, dưới ngòi bút của nhàvăn đã trở thành một sinh thể có tâm hồn, tâm trạng

Tóm lại hình tượng Sông Đà được tác giả khắc họa độc đáo, nổi bật với hai

đặc điểm: vừa hung vĩ, hung bạo, vừa thơ mộng, trữ tình Qua hình tượng con

Sông Đà, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, thể hiện tình cảm thathiết của mình với đất nước Hình tượng con Sông Đà trong bài tùy bút gợi lên ởngười đọc suy nghĩ về trách nhiệm bảo vệ môi trường cho những dòng sông, bởi

đó là quà tặng vô giá của thiên nhiên giành cho con người

3.2 Hình tượng người lái đò

a Tác giả giới thiệu chung về người lái đò

- Cuộc sống của người lái đò là “cuộc chiến đấu” hằng ngày với thiên nhiênTây Bắc, có nhiều lúc trông nó ra thành diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù sốmột của con người Trong cuộc mưa sinh đày gian khổ ấy, phẩm chất của ngườilái đò được bộc lộ một cách rõ nét, thể hiện qua “cuộc chiến đấu gian lao” trênchiến trường Sông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận Sông Đà

b Người lái đò trí dũng, tài ba, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm

- Phẩm chất của người lái đò được thể hiện qua cuộc vượt tác sông Đà ThácSông Đà bày ra “thạch trận” với ba vòng vây để tiêu diệt con thuyền Nhưngngười lái đò dũng cảm, bình tĩnh, hiên ngang vượt qua từng vòng vây của thác

- Ở vòng vây thứ nhất: Thác Sông Đà mở ra “năm của trận”, có bốn “cửa

tử”, một “cửa sinh” Cửa sinh nằm “lập lờ ở phía tả ngạn” Khi con thuyền xuấthiện, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm “thanh viện” cho đá, những hòn đá

bệ vệ oai phong lẫm liệt Có hòn đá trông nghiêng thì y như là đang hỏi cáithuyền “phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến” Hòn đá khác thì lùi lại mộtchút và “thách thức” cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào Không một chút naonúng, ông đò hai tay giữ mái chèo để khỏi bị hất lên khi sóng trận địa phóngthẳng vào mình Nhìn thấy con thuyền và người lái đò, mặt nước “hò la vangdậy”, ùa vào mà “bẻ gãy cán chèo”, võ khí của người lái đò Sóng nước thì nhưthể quân liều mạng, vào sát nách mà “đá trái mà thúc gối” vào bụng và hôngthuyền, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Nước bám lấy thuyền như đô vật “túmlấy thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”… Ông đò đã bị thương, nhưng ông

“cố nén vết thương”, hai chân vẫn “kẹp chặt lấy cuống lái” Cuộc chiến đã đếnhồi quyết liệt, sóng nước “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗhiểm Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy “ngắn gọntỉnh táo” của người cầm lái Và ông lái đò đã phá xong cái “trùng vi thạch trận”vòng thứ nhất của thác Sông Đà

- Không một chút nghỉ tay, ông lái đò tiếp tục phá luôn vòng vây thứ hai

của thác Sông Đà Ở vòng thứ hai này, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa

Trang 8

tử” để đánh lừa con thuyền Vẫn chỉ có một cửa sinh Nếu ở vòng thứ nhất, cửasinh nằm “lập lờ phía tả ngạn”, thì ở vòng thứ hai này, cửa sinh lại “bố trí lệchqua phía bờ hữu ngạn” Đó chính là khó khăn, thách thức đối với người lái đò.Nhưng ông lái đò đã “thuộc qui luật phục kích” của lũ đá nơi ải nước hiểm trởnày Ông hiểu rằng cưỡi lên thác Sông Đà phải “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”.Cuộc chiến của ông lái đò ở vòng thứ hai đã bắt đầu Nắm chặt cái bờm sóngđúng luồng, ông đò ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà “phóngnhanh vào cửa sinh” rồi “lái miết một đường chéo” về phía cửa đá ấy Thấy conthuyền tiến vào, bốn năm bọn thủy quân bên bờ trái liền “xô ra” định níu conthuyền “lôi vào tập đoàn cửa tử” mà tiêu diệt Nhưng ông lái đò vẫn “nhớ mặt”bọn này, đứa thì ông tránh mà “rảo bơi chèo lên”, đứa thì ông “đè sấn lên màchặt đôi ra” để mở đường tiến Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền, chỉ cònvẳng tiếng reo hò của của sóng thác luồng sinh Tuy vậy, bọn chúng vẫn “khôngngớt khiêu khích”, dù cái thằng đá tướng đứng ở cửa vào đã “tiu nghỉu cái mặtxanh lè” vì bị thua cái thuyền du kích nhỏ bé.

- Vượt qua vòng vây thứ hai, ông lái đò còn phải vượt qua vòng vây thứ ba

nữa Ở vòng vây thứ ba này, thác Sông Đà ít cửa hơn nhưng bên phải bên tráiđều là “luồng chết” cả Cái “luồng sống” ở chặng thứ ba này lại ở ngay giữa bọn

đá hậu vệ Ông lái đò đã hiểu điều đó Ông cứ “phóng thẳng thuyền” chọc thủngcửa giữa đó Thuyền của ông đò “vút qua” cổng đá cánh mở cánh khép với batầng cửa: cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng Con thuyền của ông đò “nhưmột mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái lượnđược” Vượt qua vòng vây thứ ba cũng là vượt qua hết thác Sông Đà Ông lái đònhư một người chỉ huy lão luyện, đầy bản lĩnh và kinh nghiệm Ông là một nghệ

sĩ tài hoa với nghề vượt thác leo ghềnh

c Nghệ thuật xây dựng hình tượng

- Khắc họa hình tượng người lái đò Sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã sửdụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc Miêu tả ông lái đò vượt thác, tác giả

đã sử dụng tri thức của nhiều lĩnh vực như thể thao, quân sự, võ thuật…, vớinhững câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, hối hả, gân guốc; với từ ngữsống động, giàu hình ảnh, mới lạ, độc đáo

Tóm lại bằng nhiều biện pháp nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc

họa thành công hình ảnh người lái đò Sông Đà dũng cảm, tài năng, đầy bản lĩnh

và kinh nghiệm Qua hình tượng người lái đò, tác giả ngợi ca người lao độngTây Bắc với những phẩm chất cao quí Hình tượng người lái đò, cũng thể hiệnquan niệm của nhà văn: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn cótrong cuộc sống lao động thường ngày Hình tượng người lái đò trong bài tùybút của Nguyễn Tuân gợi ra ở mỗi chúng ta suy nghĩ về nhiệm vụ của mìnhtrong công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam yêu quý

3.3 Nghệ thuật đoạn trích

Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và thú vị

Từ ngữ sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao Câu văn đa dạng, nhiềutầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc khi thì chậm rãi, trữ tình,…

4 Ý nghĩa văn bản

Trang 9

Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và người lao động ởmiền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha củaNguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam.

B HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN LUYỆN TÁC PHẨM “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ”- NGUYỄN TUÂN

I Dạng câu hỏi đọc hiểu (3 đề)

Đề 1:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“ Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn

là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện…”

(Nguyễn Tuân - Ngữ văn 12, chương trình chuẩn, tập 1, NXB Giáo dục Việt

Nam, 2007, tr.186 )

Câu 1: Đoạn văn nằm ở phần nào của thiên tùy bút?

Câu 2: Đoạn văn miêu tả đặc điểm nào của con Sông Đà?

Câu 3: Xác định các phép tu từ được sử dụng trong đoạn văn và nêu tác dụng?

Gợi ý:

Câu 1: Đoạn văn nằm ở phần đầu của thiên tùy bút người lái đò Sông Đà.

Câu 2: Đặc điểm: Hùng vĩ, dữ dội, độ cao và độ xiết của những đá bờ sông phía

thượng nguồn

Câu 3: - Biện pháp tu từ: Dùng các giác quan: thị giác, xúc giác, cảm giác so

sánh, liên tưởng: vách đá chẹt lại như một cái yết hầu

- Tác dụng: Nêu lên sự hùng vĩ, hiểm trở, lưu tốc mạnh và ghê gớm

Đề 2:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng

ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là

Trang 10

một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này” (Nguyễn Tuân - Ngữ văn 12, chương trình chuẩn, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2007, tr.187 )

Câu 1: Nêu phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên? Câu 2: Nội dung chủ yếu của đoạn trích trên là gì ?

Câu 3: Trong đoạn trích, Nguyễn Tuân sử dụng nhiều biện pháp tu từ về từ Xác

định biểu hiện các phép tu từ đó và nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật này làgì?

Câu 4: Đoạn trích trên Nguyễn Tuân đã sử dụng tổng hợp tri thức của những

ngành nào? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng đó là gì?

Gợi ý:

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là miêu tả.

Câu 2: Tả về thác nước và đá ở Sông Đà

Câu 3: So sánh: thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như

là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo…

- Nhân hoá: oán trách, van xin, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo , rốnglên , mai phục, nhổm cả dậy, ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó …

- Tác dụng của hình thức nghệ thuật này là: gợi hình ảnh con sông Đà hùng

vĩ, dữ dội Không còn là con sông bình thường, Sông Đà như có linh hồn, đầytâm địa, nham hiểm Qua đó, ta thấy được phong cách nghệ thuật độc đáo củaNguyễn Tuân

Câu 4: - Âm nhạc: tả âm thanh tiếng thác: “nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên”

- Hội hoạ: vẽ bộ mặt của đá: “nhăn nhúm méo mó”

- Quân sự: “mai phục”

- Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng đó là: thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân khi tả dòng Sông Đà Con sông được nhìn ở nhiều góc độ, trở nên sống động, mạnh mẽ, ấn tượng, thể hiện tình yêu thiên nhiên sâu đậm của nhà văn

Đề 3:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“ Thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như đời Lí, đời Trần, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy luống ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh núi đồi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt

mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn cá dầm

Trang 11

xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến Thuyền tôi trôi trên “Dải sông Đà bọt nước lênh đênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà) Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”.

(Nguyễn Tuân - Ngữ văn 12, chương trình chuẩn, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2007, tr.187 )

Câu 1: Nêu nội dung chính của đoạn trích trên?

Câu 2: Trong đoạn văn “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn

nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa…” tác giả đã sử dụng biện pháp tu từgì? Tác dụng của của biện pháp tu từ đó?

Câu 3: Viết một văn ngắn (không quá 10 dòng) trình bày cảm nhận của anh

(chị) về hình tượng sông Đà qua ngòi bút Nguyễn Tuân trong đoạn văn trên?

Gợi ý:

Câu 1: Nội dung: Nhà văn miêu tả vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của Sông Đà ở

đoạn hạ lưu

Câu 2: Biện pháp tu từ: Nghệ thuật so sánh, liên tưởng mới lạ, độc đáo, bất

ngờ giúp nhà văn khắc họa những vẻ đẹp hết sức đa dạng, thơ mộng, trữ tình củacảnh vật ven Sông Đà nơi hạ lưu

Câu 3: Viết một đoạn văn ngắn: Học sinh có thể viết theo cách hiểu của mình

nhưng phải đảm bảo được nội dung của đoạn văn là miêu tả vẻ đẹp thơ mộng,lãng mạn, trữ tình của Sông Đà

II Dạng đề phân tích (4 đề)

Đề 1:

Trong tùy bút Người lái đò Sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã miêu tả Sông Đà: “Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng

có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn

bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực.”

Và “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

(Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục VN, 2015, tr186 và 191)

Anh( chị) hãy phân tích hình tượng Sông Đà trong hai đoạn trích trên,

từ đó nhận xét về sự độc đáo trong cách miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Tuân.

Trang 12

- Người lái đò Sông Đà là một tùy bút thành công của Nguyễn Tuân, được rút ra

từ tập tùy bút Sông Đà

- Hình tượng nổi lên qua hai đoạn trích là con Sông Đà Dưới cái nhìn nghệ sĩcủa Nguyễn Tuân, con Sông Đà không là một tạo vật thiên nhiên vô tri vô giác

mà là một sinh thể có tâm hồn, cá tính và tâm trạng đầy phức tạp

* Phân tích hình tượng con Sông Đà trong hai đoạn văn

- Hình tượng con Sông Đà trong đoạn văn thứ nhất:

+ Vị trí: Đoạn văn miêu tả Sông Đà ở quãng Tà Mường Vát với những cáihút nước khủng khiếp Đây là một trong những đoạn dữ dội, hiểm nguy nhất củaSông Đà

ấn ga

+ Về nghệ thuật: Biện pháp so sánh, nhân hóa, câu văn giàu nhạc điệu, giàuhình ảnh liên tưởng, vận dụng am hiểu về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống

- Hình tượng con Sông Đà trong đoạn thứ hai:

+ Vị trí: Miêu tả Sông Đà trữ tình, thơ mộng thông qua dáng vẻ mềm mại củadòng sông từ trên cao nhìn xuống

tìm thấy ở Sông Đà cảm hứng mãnh liệt bởi đó không phải là một dòng sông

vô tri vô giác mà là một sinh thể có linh hồn, tính cách, thậm chí đối lập nhau,vừa hung bạo vừa trữ tình

Trang 13

- Độc đáo trong cách thể hiện: Ngôn ngữ giàu hình ảnh, câu văn giàu nhịpđiệu co duỗi nhịp nhàng” vận dụng linh hoạt, các biện pháp tu từ, liên tưởng độcđáo, kiến thức uyên bác.

=> Cách khám phá miêu tả trên chính là những nét tiêu biểu trong phongcách nghệ thuật của Nguyên Tuân

hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện…”Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ

lừ trôi trên một mũi đò Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của ‘‘một người tình nhân chưa quen biết" (Tản Đà) Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên…”

+ Vẻ đẹp trữ tình của một quãng sông êm ả, hiền hòa 

++ Thuyền được trôi êm và câu văn mở đầu vì thế cũng trở nên lâng lâng,

mơ màng, không vướng víu với một thanh trắc nào: “Thuyền tôi trôi trên SôngĐà” Cái ý “lặng tờ” được nhắc đi nhắc lại mấy lần theo một kiểu trùng điệp rấtđặc thù của thơ: “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời

Trang 14

Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”, nghĩa là không thể “lặng tờ”hơn được nữa!

++ Thiên nhiên thật hài hoà và mang vẻ trong trẻo nguyên sơ, miêu tả vẻđẹp trữ tình, thi vị, hoang dại, cổ kính của dòng sông

++ Thần thái của dòng sông: Dòng sông như một sinh thế mang nặng tâmtrạng, cảm xúc

++ Không gian: tĩnh mịch, hoang vắng (ngoại trừ thanh âm của “đàn cádầm xanh quẫy vọt lên mặt sóng”

+ Cảm xúc của du khách – nhân vật trữ tình trên Sông Đà

++ Rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp ngây ngất của thiên nhiên và chiêmngưỡng vẻ đẹp bằng đôi mắt của một người nghệ sĩ tài hoa, một người yêu ++ Nhìn cảnh ven sông lặng tờ, người nghệ sĩ liên tưởng tới quá khứ củaquãng sông để so sánh, đối chiếu, khám phá ra vẻ đẹp hoang dại, cổ tích, huyềnthoại kì thú của nó cũng như vẻ đẹp trẻ trung, tươi tắn nảy nở, sinh sôi của cảnhvật thực tại

++ Yêu thiên nhiên nồng nàn, tha thiết; hòa nhập tâm hồn mình với thiênnhiên Người nghệ sĩ ấy với thiên nhiên như một người bạn tri âm, tri kỷ nên rấtthấu hiểu thiên nhiên

++ Khát khao, mơ ước, hi vọng về một tương lai tốt đẹp cho vùng đất TâyBắc xa xôi của Tổ quốc

- Nghệ thuật:

++ Thủ pháp so sánh tu từ, nhân hóa tu từ, điệp câu trúc cú pháp

++ Những nét chấm phá rất tài hoa của nghệ thuật hội họa, điêu khắc:++ Gam màu nhạt tạo cảm giác trữ tình thơ

++ Cách phối hợp thanh điệu, nhịp điệu của câu văn cũng rất tài hoa

* Đánh giá:

- Cả tác phẩm cũng như trích đoạn đã khơi dậy trong lòng chúng ta tìnhyêu thiên nhiên, đất nước mãnh liệt, yêu những con người lao động chân chính,hăng say và đặc biệt càng thêm yêu vùng đất Tây Bắc xa xôi nhưng giàu tiềmnăng của Tổ quốc Việt Nam

- Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” được sáng tác nhân một chuyến đi côngtác của nhà văn lên vùng núi Tây Bắc và được in trong tập tùy bút “SôngĐà”(1960)

Trang 15

- Hình tượng nổi lên trong tùy bút là hình tượng người lái đò Dưới ngòibút của Nguyễn Tuân, người lái đò trở thành một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượtthác ghềnh và hội tụ rất nhiều những vẻ đẹp khác nhau.

* Phân tích hình tượng lái đò trong đoạn trích, đánh giá khái quát

- Cuộc sống của người lái đò là “cuộc chiến đấu” hằng ngày với thiênnhiên Tây Bắc, có nhiều lúc trông nó ra thành diện mạo và tâm địa một thứ kẻthù số một của con người Trong cuộc mưa sinh đày gian khổ ấy, phẩm chất củangười lái đò được bộc lộ một cách rõ nét, thể hiện qua “cuộc chiến đấu gian lao”trên chiến trường Sông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận Sông Đà

+ Ngoại hình và hoàn cảnh sống

++ Ông lái đò được nhà văn miêu tả với những nét ngoại hình và tốchất khá đặc thù cho những người lao động trên sông nước: tay ông lêu nghêu,chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặtghềnh

++ Cuộc sống của người lái đò là “cuộc chiến đấu” hằng ngày với thiênnhiên- một thứ thiên nhiên Tây Bắc dữ dội để giành lấy sự sống từ tay nó về taymình

+ Người lái đò trí dũng, tài ba, giàu bản lĩnh và kinh nghiệm

++ Phẩm chất của người lái đò được thể hiện qua cuộc vượt tác sông Đà.Thác Sông Đà bày ra “thạch trận” với ba vòng vây để tiêu diệt con thuyền.Nhưng người lái đò dũng cảm, bình tĩnh, hiên ngang vượt qua từng vòng vâycủa thác

/ Ở vòng vây thứ nhất: Thác Sông Đà mở ra “năm của trận”, có bốn “cửatử”, một “cửa sinh” Cửa sinh nằm “lập lờ ở phía tả ngạn” Khi con thuyền xuấthiện, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm “thanh viện” cho đá, những hòn đá

bệ vệ oai phong lẫm liệt Có hòn đá trông nghiêng thì y như là đang hỏi cáithuyền “phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến” Hòn đá khác thì lùi lại mộtchút và “thách thức” cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào Không một chút naonúng, ông đò hai tay giữ mái chèo để khỏi bị hất lên khi sóng trận địa phóngthẳng vào mình Nhìn thấy con thuyền và người lái đò, mặt nước “hò la vangdậy”, ùa vào mà “bẻ gãy cán chèo”, võ khí của người lái đò Sóng nước thì nhưthể quân liều mạng, vào sát nách mà “đá trái mà thúc gối” vào bụng và hôngthuyền, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Nước bám lấy thuyền như đô vật “túmlấy thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”… Ông đò đã bị thương, nhưng ông

“cố nén vết thương”, hai chân 3 vẫn “kẹp chặt lấy cuống lái” Cuộc chiến đã đếnhồi quyết liệt, sóng nước “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗhiểm Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy “ngắn gọntỉnh táo” của người cầm lái Và ông lái đò đã phá xong cái “trùng vi thạch trận”vòng thứ nhất của thác Sông Đà Không một chút nghỉ tay, ông lái đò tiếp tụcphá luôn vòng vây thứ hai của thác Sông Đà

/ Ở vòng thứ hai này, thác Sông Đà lại “tăng thêm nhiều cửa tử” để đánhlừa con thuyền Vẫn chỉ có một cửa sinh Nếu ở vòng thứ nhất, cửa sinh nằm

“lập lờ phía tả ngạn”, thì ở vòng thứ hai này, cửa sinh lại “bố trí lệch qua phía bờhữu ngạn” Đó chính là khó khăn, thách thức đối với người lái đò Nhưng ông

Trang 16

lái đò đã “thuộc qui luật phục kích” của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này Ông hiểurằng cưỡi lên thác Sông Đà phải “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ” Cuộc chiếncủa ông lái đò ở vòng thứ hai đã bắt đầu Nắm chặt cái bờm sóng đúng luồng,ông đò ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà “phóng nhanh vào cửasinh” rồi “lái miết một đường chéo” về phía cửa đá ấy Thấy con thuyền tiếnvào, bốn năm bọn thủy quân bên bờ trái liền “xô ra” định níu con thuyền “lôivào tập đoàn cửa tử” mà tiêu diệt Nhưng ông lái đò vẫn “nhớ mặt” bọn này, đứathì ông tránh mà “rảo bơi chèo lên”, đứa thì ông “đè sấn lên mà chặt đôi ra” để

mở đường tiến Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền, chỉ còn vẳng tiếng reo

hò của của sóng thác luồng sinh Tuy vậy, bọn chúng vẫn “không ngớt khiêukhích”, dù cái thằng đá tướng đứng ở cửa vào đã “tiu nghỉu cái mặt xanh lè” vì

bị thua cái thuyền du kích nhỏ bé – Vượt qua vòng thứ hai, ông lái đò còn phảivượt qua vòng thứ ba nữa

/ Ở vòng vây thứ ba này, thác Sông Đà ít cửa hơn nhưng bên phải bên tráiđều là “luồng chết” cả Cái “luồng sống” ở chặng thứ ba này lại ở ngay giữa bọn

đá hậu vệ Ông lái đò đã hiểu điều đó Ông cứ “phóng thẳng thuyền” chọc thủngcửa giữa đó Thuyền của ông đò “vút qua” cổng đá cánh mở cánh khép với batầng cửa: cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng Con thuyền của ông đò “nhưmột mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái lượnđược” Vượt qua vòng vây thứ ba cũng là vượt qua hết thác Sông Đà Ông lái đònhư một người chỉ huy lão luyện, đầy bản lĩnh và kinh nghiệm Ông là một nghệ

sĩ tài hoa với nghề vượt thác leo ghềnh

+ Phong thái ung dung

++ Sau cuộc vượt thác đầy gian nan, nguy hiểm, ông đò nhìn những thửthách đã qua bằng một cái nhìn giản dị mà lãng mạn cái tài của ông đò không

có chút kiêu bạc mà rất gần gũi với đời thường: ngồi trong hang đá họ chỉ bàntán về cá anh vũ, cá dầm xanh, chả ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắngvừa qua nơi cửa ải nước có đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi

* Nghệ thuật xây dựng hình tượng

– Khắc họa hình tượng người lái đò Sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã

sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc Miêu tả ông lái đò vượt thác, tácgiả đã sử dụng tri thức của nhiều lĩnh vực như thể thao, quân sự, võ thuật…, vớinhững câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, hối hả, gân guốc; với từ ngữsống động, giàu hình ảnh, mới lạ, độc đáo

=> Bằng nhiều biện pháp nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Tuân đã khắc họathành công hình ảnh người lái đò Sông Đà dũng cảm, tài năng, đầy bản lĩnh vàkinh nghiệm Qua hình tượng người lái đò, tác giả ngợi ca người lao động TâyBắc với những phẩm chất cao quý Hình tượng người lái đò, cũng thể hiện quanniệm của nhà văn: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn cótrong cuộc sống lao động thường ngày Hình tượng người lái đò trong bài tùybút của Nguyễn Tuân gợi ra ở mỗi chúng ta suy nghĩ về nhiệm vụ của mìnhtrong công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam

Đề 4:

Anh/chị hãy phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con

Ngày đăng: 04/08/2020, 20:01

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w